1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tổng quan nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa

3 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 390,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨURESEARCH Nghiên cửu tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ: tổng quan nghiên cửu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Nguyễn Vương Thành Long Khoa Kinh tế - Trường Đại học Thủ

Trang 1

NGHIÊN CỨU

RESEARCH

Nghiên cửu tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ: tổng quan nghiên cửu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nguyễn Vương Thành Long

Khoa Kinh tế - Trường Đại học Thủ Dầu Một

Hiện nay, cácnghiên cứu về hệthống kiểmsoát nội bộ (HTKSNB) và tính hữu hiệu củaHTKSNB đang đượcnghiên cứu rộngrãitrên thế giới cũng nhưtại ViệtNam Tác giảsử dụng phương pháp nghiên cứu địnhtính vớimục tiêu là tổng quan các nghiên cứu nướcngoài và trongnướcvề tínhhữu hiệu củaHTKSNB, đặc biệt là tạicác doanh nghiệp nhỏvà vừa(DNNW),hướng đếnmụctiêu chính là xác định cáckhe hổng

nghiên cứu vềHTKSNB tại DNNW từ đó đề xuất một số hướngnghiên cứu trong tương lai

Với chặng đường phát triển nền kinh tế thị

trường từ cuối những năm 1980, nền kinh tế Việt

Nam đã có những bước tiến nhanh, mạnh và đạt

được nhiều thành tựu vượt bậc, đón những dòng

vốn đầu tư trong và ngoài nước, mởrộngcác hình

thức đầu tư và hình thức sở hữu nhằm xây dựng nền

kinh tế thị trườngtoàn diện theo định hướng Xã hội

chủ nghĩa Sự linh vàpháttriển mạnh mẽtrong nền

kinh tế đãtạonênđộng lực to lớn thúc đẩysựphát

triển mạnhmẽ củacác loại hình doanh nghiệp, sự đa

dạng trong quy mô các doanh nghiệp (DN) Theo

thống kê của Tổng Cục Thống KêViệt Nam, đến năm

31/12/2021, có đến 98% sốdoanh nghiệp làdoanh

nghiệp nhỏ và vừa (DNNW) (bảng 1), các doanh

nghiệp này hiện đang sử dụng một lực lượng lao

động lớn của nền kinh tế vàđóng góp không nhỏ vào

GDPhàng năm của Việt Nam

Những thuận lợi luôn đi kèm với những khó

khăn, các doanhnghiệp đặc biệt là DNNW gặp phải

đó là khà năng huy động và sử dụngvốnhiệu quả,

mức độ áp dụng công nghệ thông tin, trình độ quản

lý rủi ro trong doanhnghiệp và một hạnchế không

thể không nói đến đó là hạn chế trong tổ chức hệ

thốngkiểm soát nội bộ,vớiyêu cầu ngày càng cao về

kiểm soát rủi ro, tuân thủ pháp luật và cung cấp

thông tin với chấtlượng vàsốlượng lớn,đặc biệt là

thông tin mang tính chất quảntrị cho nhà quản lýcó

thể ra quyết định kịp thời và chính xác; bên cạnh

thôngtin còn cung cấp cho các đối tượng sử dụng

ngoài doanhnghiệp

Nhắc đển hệthống kiểm soát nội bộ, nhiều doanh

nghiệp, nhà quản lý thường nghĩ đến xu hướngáp

dụng ERP (Enterprise resource planning Hoạch

định nguồn lực doanh nghiệp) trong các doanh

nghiệp, đó là một hướng đi được đánh giá là đúng

nhưng chưa đủ, đặc biệt trong DNNW có sự khác

biệt lớn về quy mô nên việc áp dụng ERP sẽ trở thành gánh nặng,đặc biệtlàvề tài chính Đểlàm rõ

việc nghiên cứu hiện nayvề tínhhữu hiệu của

HTK-SNB, bài viết đã tổngquan một số nghiên cứu trong

nước và quốctế để đánh giácác hướng nghiêncứu trong tương lai về tính hữu hiệu của HTKSNB, đặc biệt trong DNNW

Theo COSO (COSO, 2012), kiểm soát nội bộ (internalcontrol) là một quá trình bịảnhhưởng bởi Ban giám đốc, các nhàquản lý và các cá nhân khác, được thiếtkế để cungcấp sự đảm bảo hợp lý nhằm mục tiêuhoạtđộng, báo cáovà sựtuân thủ

Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kiểm toán nội bộ trongđơnvị công (INTOSAI,2016) củaTổ chức Quốc tế các cơquankiểm toán tối cao (INTOSAI), do Kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể thiếu được thực hiện bởi mộtthực thể

quảnlý và nhân sự và được thiết kế đểgiải quyết các rủi ro vàđảmbảohợp lýrằng để theođuổi nhiệm vụ thựcthể, các mụctiêu chungsau đây đang đạt được: (1) thựchiện có trật tự,đạođức,kinhtế, hiệu quảvà hiệu quả hoạt động; (2) hoàn thành nghĩa vụ trách

nhiệm;(3) tuân thủ luậtpháp và quy định hiện hành;

(4)bảo vệ tài nguyên chốnglại sự mấtmát, lạm dụng

và thiệt hại Khuông mẫu này dựa trên coso 2004 nên có nhiều nét tương đồng với coso 2004

Theo Liên đoànkế toán quốctế (ISA, 2009), kiểm

soát nội bộ là một phần không thểthiếu trongmột

tổchức hệ thống quản trị và khảnăngquản lý rủi ro,

được hiểu, tác động và được giám sát tích cực bởicơ quan quảnlý,quản lý, và các nhân viên khácđểtận

dụngcáccơ hội và chống lại cácmối đe dọa đểđạt được cácmụctiêu của tổchức

Tại Việt Nam, kiểm soát nội bộ được trình bày

trong chuẩn mực kiểm toán số 315 (B T c VN,

2014) như sau: "Là quy trình do Ban quảntrị, Ban

Trang 2

Giám đốc vàcáccánhân khác trong đơn vị thiếtkế,

thực hiệnvà duy trì để tạo ra sự đảmbảo hợp lý về

khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc

đảm bảo độtin cậy của báo cáo tài chính, đảmbảo

hiệuquả,hiệusuất hoạtđộng,tuân thủ phápluật và

các quyđịnh cóliên quan"

Theo Luật Kế toán, Kiểmsoátnội bộ là việc thiết

lập và tổchức thực hiện trong nội bộđơn vị kế toán

các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ

phùhợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm

phòng ngừa, phát hiện, xửlý kịp thời rủi ro và đạt

được yêu cầu đề ra

Tại Trung Quốc, chủ đề nghiên cứuvề hệthống

kiểmsoát nội bộ đượcnghiên cứukhá nhiều:

- Có thể kể đến các nghiên cứu của Jiang & Li

(2010), dùng phương pháp nghiên cứu định đính

chỉ ra rằng vai trò đạc biệt cua môi trường kiểm

soát, cảnh báo rủi ro, sự trao đổi thôngtin quản lý

yếu kém và hoạt động kiểm soát kém hiệu quả đã

dẫn đến tính hữu hiệu của hệthống kiểmsoát nội bộ

không còn tốt

- Xiao (2011) nghiên cứu bằng cách dùng bàng

câu hỏi khảosát và dùng công cụ thống kêmô tảđể

chỉ ra rằng tại các DNNW, môi trường bên ngoài,

mối liên ket kinh doanh, quản lý tài chínhtốtsẽ tác

động tích cực đến tính hữu hiệu cùa HTKSNB, ngoài

ra,văn hóa doanh nghiệp, phân quyền các vitrí,chất

lượng của Ban kiểm soát không tác động đến tính

hữuhiệu củaHTKSNB

- Wanget al., (2019)đã tìmhiểu về mốiquan hệ

nhân quảcủa tínhhữu hiệu của hệ thốngkiểm soát

nội bộ lên sự phát triển của DNNW đang niêmyết

trên sàn chưngkhoán Trung Quốc Nghiên cứu chỉ

ra rằng, trong đó có vai trò kiểm soát của cổ động

lớntác động đến tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ

trong kiểm soát rủi ro từđó tác động đếnsự tăng

trưởng bền vững của DNNW

Tại các quốc gia khác, việc nghiên cứu về

HTK-SNBvà vai trò của nóđược nghiên cứu từ rất sớm và

có nhiều nghiên cứu chỉracác nhân tố tác động đến

tính hữu hiệu của HTKSNB cũng như vai trò của

HTKSNB tác động đếncáchoạtđọngcủaDNNW, có

thể kể đếncác nghiên cứu như sau:

- Hidayah & Putra (2013) dùng phương pháp

thổngkêmô tả bằngcáchphỏng vấn các chủDNNW

(58 doanh nghiệp)~nghiên cứu chỉ ra vấn đề của

HTKSNB gồm: Thiếu các kỹ năng quản lý do thiếu

năng lực và thiếu giám sát; thiếu ứng dụng công

nghệ thông tin đểquản lý đây là 2 vấn đề lớn nhất

ảm hưởng đến hữu hiệu của HTKSNB; thứ 3, đối

mồ t việc việcphảiphát triển quymô doanh nghiệp

Gần đây, một số tác giả đã tiến hành đo lường tác

động củacác nhântốtác động đến tínhhữu hiệu của HTKSNB như

- Nguyễn VănThắng (Thắng, 2019) đã tiếnhành khảo sát các giámđốc, quản lýnhân sự, quản lý bộ

phậnkiểmsoátnộibộtạihơn 800 doanh nghiệp tại

Việt Nam để đánh giá vai trò của các thành phần

thuộc HTKSNB cótác động đến rủi ro tuân thủ hay không Tác giả dùng thống kê mô tảvà mô hìnhhồi quytuyến tính đểxử lý cáckết quảkhảo sát.Kết quả chỉ ra rằng các thành phần Môi trường kiểm soát, thông tinvà truyềnthông,giám sát có tác độnglàm

giảm rủi ro tuân thủ Qua nghiên cứu chứng tỏ được vai trò quan trọng của HTKSNB đối với doanh

nghiệp được hướng đếnlà mục tiêu tuânthủ cácvăn bản pháp lý củacơquan quảnlý Nhà Nước

- Hà XuânThạchvà Nguyễn Thị Mai Sang (Thạch

& Sang, 2019), đây làmột nghiên cứu công phuvà đầy đủ khi tổng quan các nghiên cứu mức độ tác động củacác nhân tố thuộc hệthống kiểmsoát nội

bộ đếntínhhữu hiệu của HTKSNB và mối quan hệ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nghiên

cứu đã tổng hợp nhiều công trình trong nước và

ngoài nước Kết quả tác giảxâydựngđượcmô hình

tácđộng giữa các biến gồm 6 giảthuyếtvà dùngđề

xuất phương pháp cấu trúc tuyến tính(PLS-SEM) để

đo lườngmức độ tác động

Riêngvề các công trình nghiên cứu về tínhhữu

hiệu của HTKSNB, co rấtít nghiên cứutạiViệt Nam,

số lượng nghiên cứu được tìm thấy trên cơ sở nghiên cứu quốc gia chỉ có 2 công trình đã được

công bố, cụ thể như sau:

- ĐỗThị Huyền và Nguyễn Thị Diệu Thu (Huyền

& Thu, 2016) đã tiến hànhnghiên cứu về tính hữu hiệu của HTKSNBtại các DNNW, trongnghiêncứu

sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, nhấn mạnh việc quản lý rủiro được nhắc đến trong HTK-

SNB là cơ sơ quantrọng để, thành phàn không thê’

thiếucủa HTKSNB từđó đưa ra các kiếnnghị gồm:

xem quản lýrủi ro là ưu tiên, đánh giá rủi ro và cuối cùng là xây dựngkếhoạchhành động

- Phạm QuốcThuần, Nguyễn Cao Cường (Thuần

&Cường,2020) thực hiện nghiên cứu chuyên sâu để đánhgiá tínhhữu hiệu của HTKSNB tạicác DNNW tại Việt Nam, nghiên cửu vẫn dựa trên nền tảng

khuông mẫu coso 2013 Hai tác giả sử dụng tổng quan nhiều nghiên cứu đi trước và xây dựng bảng

khảo sát, thangđo linkert 5 cấp độ, đối tượngkhảo sát là các nhân việc kế toán tại các DNNW trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên nghiên cứu chỉdừnglạiở mức phân tíchnhântốkhám phá EFA

từ đó đưa ra các hàm ýchính sáchmà chưa đánh giá

được mức độ tác động củacácnhân tố đến tính hữu hiệucủa HTKSNB

Trang 3

NGHIÊN CỨU

RESEARCH

Trong quá trình tổng quan nghiên cứu nước

ngoài và trong nước, có thể thấy rõ xuhướng nghiên

cứu nổi trội về HTKSNB nói chung và HTKSNB tại

các DNNWnói riêng, đặc biệt việc nghiên cứu về

tính hữu hiệu của HTKSNB dựa trên khuông mẫu

COSO (COSO, 2012) được nhiều tác giả và nhóm

nghiên cứu lựa chọn Các tác giả và nhóm nghiên

cứu cóthể nghiên cứu từ các nhântố tácđộng đến

sự hữu hiệu của HTKSNB, sau đó mở rộng các

nghiên cứu khi nghiên cứu tác động của HTKSNB

đếncác khía cạnh khác của doanh nghiệp như: hiệu

quả hoạt động, thông tin quản lý, rủi ro doanh

nghiệp Tổng hợp lại các nghiên cứu ta có thể thấy

được các xu hướngsau:

Hìnli 1: Tổng hợp các hướng nghiên cứu về HTKKSNB tại DNNVV

Đặc biệt,khi nghiên cứuvề các nghiên cứu nước

ngoài, ta cóthểdễdàng nhìn thấy được các quốc gia

đang phát triển mạnh sẽ tập trungrất nhiều nghiên

cứuHTKSNB tại cácDNNW,đây làmột trong những

nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao trong

tổngsố các DN đang hoạtđộng, tươngtựnhưViệt

Nam Tuy nhiên, tại Việt Nam các nghiên cứu về

HTKSNB tại các DNNW lại rấthạn chế, phải nói là

các công bố rấtít, đây cũng chínhlà khe hổng nghiên

cứu mà các tác giả và các nhóm nghiên cứu có thể

hướng đến Các hướng nghiên cứu đề xuất có thể

nhưsau:

- Nghiên cứu mức động tác động của các nhân tố

thành phần thuộc HTKSNB tác động đến tính hữu

hiệu của HTKSNB, các nhân tố thành phần có thể

được xây dựng dựa trên khuông mẫu coso hoặc

CO BIT

- Nghiên cứu các nhân tố không thuộc thành

phần thuộc HTKSNB tác độngđến tính hữu hiệucủa

HTKSNB, các nhân tốnày có thể là các nhân tố bên

ngoàiđơn vị (cạnh tranh, môi trườngpháplý, rủi ro

kinh doanh, ) hoặc bên trong đơn vị (ứng dụng

công nghệ thông tin, quymô, cấu trúc vốn, )

- Nghiên cứu mức động tác động HTKSNB tác

động đến các khía cạnh hoạt động của doanh

nghiệp Cáckhía cạnh hoạt độngnày rất rộng lớn, có

thểkể đễn như: hiệu quả hoạt động, năng lựccạnh

tranh, chất lượngthông tin quản lý

Nghiên cứu về HTKSNB ngày càngđược các nhà nghiên cứu quan tâm ngày càng nhiều, đặc biệt

trong môi trườngkinh tế, xã hội và chính trị ngày càng phức tạp thì việc xâydựng đượcmột HTKSNB hữu hiệu là mộtviệc vô cùng quan trọng, đặc biệt, đối với các DNNW, nhóm doanh nghiệp dễ dàng bị tổn thương nhất trong nềnkinh tế nhưng lạilà một nhóm doanh nghiệp vai trò vô cùng quan trọng

trong bất cứ nền kinh tếnào Qua phần tổng quan

nghiên cứu này, tác giả kỳvọng sẽ có thêm nhiều nghiên cứu đóng góp hiệu quả hơn nữa cho việc quản lý,hiệuquả và dem lại hiệu quả cho cácdoanh nghiệpnói chung và tại các DNNW nói riêng./

Framework Commitee ofSponsoring Organization

of The Treadway Commissionn

Hidayah, Y, &Putra, s (2013) Detecting Internal Control Problems Based on COSO and Islamic Perspective: Case on SMEs Tazkia Islamic Finance and Business Review, 8(1)

INTOSAI (2016) GOV 9100 - Guidelinde for

internal control standards for public sector

ISA, I (2009) International Standard on

Auditing 315

Jiang, L, & Li, X (2010) Discussions on the Improvement of the Internal Control in SMEs

International Journal of Business and Management, 5(9)

Xiao, Q (2011) Research on the Statusof SMEs

of Ya’an in the Internal Control Journal of

Managementand Strategy,2(3)

Anh, N H., &Lan, N T N (2019) Hệ thống kiếm

soát nội bộ trong các doanh nghiệp thủy sản

Chính Phủ (2018) Nghị định 39/2018/NĐ-CP,

ngày 11/3/2018, Quyđịnh chi tiếtmột số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính Phủ (2019) Nghị định 39/2019/NĐ-CP,

ngày 10/5/2019,vềtổ chức hoạt động củaQuỹ phát

triển doanh nghiệp nhỏ vàvừa

Huyền, Đ T, & Thu, N T D (2016) Tăng cường quảnlý rủi ro trong xây dựnghệ thống kiểm soát nội

bộ ở doanh nghiệp nhỏ và vừa https://sti.vista.gov.vn/tw/Pages/tai-lieu- khcn.aspx?ItemID=249730

Vu, Q.,&Nga, N T.T (2022) Does the implemen­ tationof internalcontrols promote firm profitabili­ ty? Evidence from private Vietnamese small- and medium-sized enterprises (SMEs) Finance Research Letters, 45

Ngày đăng: 08/11/2022, 14:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm