Như vậy, công ty sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ tác động cùng chiều đến kiệt quệ tài chính, và dòng tiền hoạt động kinh doanh sẽ không chỉ tác động ngược chiều đến kiệt quệ tài chính mà cò
Trang 1kiệt quệ tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam
Lê Hoàng Vinh - Nguyễn Hải Bình
Trường Đại học Kinh tế- Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
Ngày nhận: 25/11/2021 Ngày nhận bản sửa: 09/12/2021 Ngày duyệt đàng: 18/01/2022
Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu cùa bài viết là đánh giá vai trò điều tiết cùa dòng tiền hoạt động kinh doanh đôi với tác động cùa đòn bây tài chính đến kiệt quệ tài chính cho trường hợp các công ty' phi tài chỉnh niêm yết tại Việt Nam Nhỏm tác giả sử dụng phương pháp chọn mâu có mục đích và xác định được mầu nghiên cứu gồm
505 công ty trong giai đoạn 2015- 2020 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiêm toán của các công ty: và tồn tại dưới dạng bảng cân bằng với 3.030 quan sát Theo đó, kết quá ước lượng đã đúc kết rằng đòn bây tài chính tác động cùng chiêu đên kiệt quệ tài chỉnh, dòng tiền hoạt động kinh doanh tác động ngược chiêu đến kiệt quệ tài chính, và dòng tiền này đóng vai trò điểu tiết giảm tác
Financial leverage, operating cash flows and financial distress of listed non-financial
companies in Vietnam
Abstract The purpose of this paper is to evaluate the moderation of operating cash flows on the impact
of financial leverage on financial distress of listed non-financial companies in Vietnam The authors used purposive sampling method and identified a sample of 505 companies in the period 2015- 2020 Research data is collected from audited financial statements of companies, and it is organized as a balanced panel data with 3,030 observations Accordingly, the estimated results concluded that the financial leverage has a positive impact on financial distress, the operating cash flows has a negative impact on financial distress, and this cash flow acts as a moderator to decrease the impact of financial leverage on financial distress Based on the research results, the authors recommend that financial managers need to combine a close analysis of the decision to use financial leverage with the ability to generate money from operating activities; this is expected to ensure the financial health of companies
In addition, the article also implies that the financial distress does not become a serious problem for leveraged companies if financial managers maintain an appropriate balance among inflows and outflows from the operating activities.
Keywords: Operating cash flows; Financial leverage; Financial distress
Le, Hoang vinh
Email: vinhlh@uel.edu.vn
Nguyen, Hai Binh
Email: binhnh19604@sdh.edu.vn
Organization of all: University of Economics and Law, Viet Nam National University- Ho Chi Minh City
Trang 2LÊ HOÀNG VINH - NGUYỄN HẢI BÌNH
động cùa đòn bây tài chính đến kiệt quệ tài chinh Căn cứ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả khuyến nghị các nhà quản trị tài chính cần kết hợp phân tích chặt chẽ giữa quyết định sử dụng đòn bây tài chỉnh với khả năng tạo tiên từ hoạt động sản xuất kinh doanh đê đảm bào sự lành mạnh tài chính cho các công ty Ngoài ra, bài viết còn hàm ỷ răng kiệt quệ tài chinh không trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với các công ty sử dụng nợ nếu duy trì được sự cân đoi phù họp giữa các khoản thu và chi
từ hoạt động kinh doanh.
Từ khóa: Dòng tiền hoạt động kinh doanh, Đòn bây tài chỉnh, Kiệt quệ tài chỉnh
1 Giởi thiệu
Dưới góc độ quản trị tài chính, nợ là nguồn
tài trợ với chi phí cố định, tạo nên đòn bẩy
tài chính cho công ty (Ngô Kim Phượng &
cộng sự, 2021; Home & Wachowicz, 2008;
Arnold, 2013) Lý thuyết đánh đối trong cơ
cấu vốn cho rằng các công ty sẽ phải đối
mặt với kiệt quệ tài chính cùng với quyết
định tài trợ bàng nợ và gia tăng nguồn tài
trợ này; và mâu thuần cơ bản của tình trạng
kiệt quệ tài chính xuất phát từ những cam
kết thanh toán nợ gốc và lãi vay cho các
chủ nợ (Brealey & cộng sự, 2008; Arnold,
2013; Home & Wachowicz, 2008)
Lee (1986), Atrill & McLaney (2017), Ngô
Kim Phượng & cộng sự (2021) đều cho
rằng dòng tiền như là mạch máu trong cơ
thể con người, sự thiếu hụt tiền đáp ứng
cho các nhu cầu phát sinh trong quá trình
hoạt động nhưng lại không tìm được nguồn
tài trợ sẽ trở thành môi đe dọa và đây công
ty rơi vào tình trạng mất khả năng thanh
toán, các cam kết trách nhiệm tài chính
với chủ nợ sẽ không được thực hiện như
hợp đồng tín dụng đã ký kết, và công ty
rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Ngược
lại, một công ty với dòng tiền thặng dư dồi
dào được tạo ra từ hoạt động sân xuất kinh
doanh không chỉ đảm bảo trách nhiệm với
các chủ nợ mà còn đảm bảo trách nhiệm
với chủ sở hữu cũng như gia tăng cơ hội
mở rộng đầu tư, tăng trưởng nhàm nâng
cao giá trị công ty
Với bản chất cơ bản của sử dụng nợ và ý nghĩa của dòng tiền gắn với vấn đề kiệt quệ tài chính như đề cập trên, việc đánh giá và tìm ra bằng chứng đáng tin cậy về vai trò điều tiết của dòng tiền hoạt động kinh doanh đối với tác động của đòn bấy tài chính hình thành bởi nợ đến tình trạng kiệt quệ tài chính đảm bảo ý nghĩa khoa học và thực tiễn cho quản trị tài chính công ty Theo đó, bài viết này sẽ trả lời câu hởi nghiên cứu
'Dòng tiền hoạt động kinh doanh có điêu tiết giám tác động cùng chiêu của đòn bây tài chinh đến kiệt quệ tài chỉnh tại các công
ty phi tài chinh niêm yết tại Việt Nam hay không?” Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng
cung cấp thông tin hữu ích về mối quan hệ giữa quyết định tài trợ có chi phí cố định, khả năng tạo tiền và sức khỏe tài chính của các công ty; từ đó các nhà quản trị có thể tham chiếu để đưa ra những quyết định và chính sách tài chính hợp lý
2 Cơ sở lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm và giả thuyết nghiên cứu
Lý thuyết đánh đổi trong cơ cấu vốn theo
đề xuất của Myers (1977) cho rằng công
ty sử dụng nợ hình thành đòn bẩy tài chính không chỉ mang lại giá trị tăng thêm nhờ khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay, mà còn gia tăng tình trạng kiệt quệ tài chính và công
ty phải tốn kém chi phí cho tình trạng này
Sô' 238- Tháng 3 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 25
Trang 3(Brealey & cộng sự, 2008; Arnold, 2013;
Home & Wachowicz, 2008) Tuy nhiên,
kiệt quệ tài chính có thể chỉ là những khó
khăn tạm thời trong việc thực hiện cam kết
và trách nhiệm tài chính với chủ nợ, nhưng
cũng có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng
và công ty bị phá sản (Brealey & cộng sự,
2008) Theo Ngô Kim Phượng & cộng
sự (2021), Lee (1986), Atrill & McLaney
(2017), dòng tiền hoạt động kinh doanh thê
hiện khả năng tạo tiền của công ty, đây là
nguồn lực tài chính vững chắc từ nội lực để
công ty có thể thực hiện trách nhiệm không
chỉ đối với chủ nợ mà còn các cổ đông cũng
như cơ hội tích lũy để gia tăng đầu tư và tạo
giá trị gia tăng cho công ty Như vậy, công
ty sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ tác động
cùng chiều đến kiệt quệ tài chính, và dòng
tiền hoạt động kinh doanh sẽ không chỉ tác
động ngược chiều đến kiệt quệ tài chính mà
còn đóng vai trò điều tiết giảm mối quan hệ
tác động cùng chiều của đòn bẩy tài chính
đến kiệt quệ tài chính tại các công ty
Với bản chất của nợ là nguồn tài trợ mang
tính hoàn trả, dưới góc độ quản trị tài chính,
công ty tài trợ bằng nợ sẽ làm tăng thêm rủi
ro, trong đó có sự gia tăng rủi ro kiệt quệ
tài chính (Brealey & cộng sự, 2008; Ngô
Kim Phượng & cộng sự, 2021) Lý thuyết
thanh khoản của Keynes (1936) chỉ ra rằng
công ty có 3 động cơ nắm giữ tiền là giao
dịch, dự phòng và đầu cơ; theo đó, công
ty có thể tạo ra được dòng tiền hoạt động
kinh doanh thặng dư là cơ sở để gia tăng
lượng tiền nắm giữ và giảm nguy cơ kiệt
quệ tài chính Như vậy, Lý thuyết thanh
khoản hàm ý rằng dòng tiền hoạt động kinh
doanh tác động ngược chiều đến kiệt quệ
tài chính, bên cạnh đó dòng tiền này còn
tham gia điều tiết giảm tác động cùng chiều
của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính
Ong’era & cộng sự (2017) xác định rằng
79,90% phương sai của kiệt quệ tài chính
được giải thích bởi đòn bẩy tài chính đối
với trường hợp các công ty phi tài chính niêm yết tại Kenya Nghiên cứu thực nghiệm của Ikpesu & Eboiyehi (2018), phân tích dừ liệu từ 58 công ty sản xuất niêm yết tại Nigeria giai đoạn 2010- 2016, kết quả khắng định tác động cùng chiều của cấu trúc vốn với sự tham gia bởi đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính, theo đó nhóm tác giả này gợi ý các nhà quản lý công ty cần thận trọng khi lựa chọn cấu trúc vốn, Chính phủ nên khuyến khích công ty ưu tiên nguồn tài trợ nội bộ hình thành từ lợi nhuận giữ lại hơn là huy động các nguồn tài trợ bên ngoài thông qua chính sách thuế, hay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thề chi đạo các ngân hàng thương mại cho vay với lãi suất thấp hơn đối với lĩnh vực sản xuất nhằm tạo sự ổn định cho các công ty Tương tự, Giarto & Fachrurrozie (2020), Abdioglu (2019), Lee & Manual (2019), Dance & Mad (2019), Muigai & Muriithi (2017) cũng đưa ra bang chứng về tác động cùng chiều của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính Nhưng ngược lại, Pourali
& cộng sự (2013) phân tích dừ liệu từ 32 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2007- 2011, Pranowo & cộng sự (2010) xem xét 200 công ty phi tài chính niêm yết tại Indonesia
từ năm 2004 đến năm 2008, đều cung cấp bằng chứng về tác động ngược chiều của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính Low & cộng sự (2001) cho rằng dòng tiền cung cấp thông tin đáng tin cậy để nhận diện kiệt quệ tài chính của công ty với tỷ lệ 82,40% đến 90% Fawzi & cộng sự (2015) khẳng định các chi số dòng tiền có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện kiệt quệ tài chính với mức độ chính xác dự báo tổng thể lên là 82,10%, bao gồm tỷ lệ dòng tiền ròng
từ hoạt động kinh doanh trước lãi vay trên chi phí lãi vay, tỷ lệ dòng tiền ròng từ hoạt động kinh doanh trên tổng nợ, tỷ lệ dòng tiền ròng từ hoạt động đầu tư trên tổng nợ
Trang 4LÊ HOÀNG VINH - NGUYỄN HẢI BÌNH
và tỷ lệ dòng tiền ròng từ hoạt động kinh
doanh trên doanh thu
về dòng tiền tác động đến kiệt quệ tài
chính, xem xét 31 công ty sản xuất thuộc
lĩnh vực dược phẩm và cơ bản niêm yết
tại Indonesia giai đoạn 2013- 2017, Giarto
& Fachrurrozie (2020) kết luận mối quan
hệ ngược chiều Sayari & Mugan (2013)
nghiên cứu trường hợp 124 công ty niêm
yết tại Istanbul, kết luận rằng kiệt quệ tài
chính chịu tác động ngược chiều bởi dòng
tiền hoạt động kinh doanh và cùng chiều
bởi dòng tiền hoạt động tài trợ Finishtya
(2019) cũng xác định mối quan hệ tác động
ngược chiều cùa dòng tiền hoạt động kinh
doanh đến kiệt quệ tài chính
Nhằm gia tăng tính vừng chắc trong kiếm
soát kiệt quệ tài chính, Dance & Mad
(2019) khuyến nghị các công ty cần triên
khai phân tích các hệ số tài chính để cung
cấp thông tin cảnh báo sớm và từ đó thiết
lập chính sách phù hợp để ngăn chặn kiệt
quệ tài chính, công ty cần quan tâm nhiều
hơn đối với đòn bẩy tài chính khí thực hiện
các biện pháp điều chỉnh trong mối quan
hệ với khả năng sinh lời và dòng tiền hoạt
động kinh doanh Theo Abdioglu (2019),
đối với tác động cùa mức độ sử dụng đòn
bẩy tài chính trong cấu trúc vốn đến kiệt
quệ tài chính, tác động này trở nên yếu hơn
khi có sự điều tiết bởi quy mô công ty và
khả năng sinh lời, nhưng sẽ mạnh hơn bởi
sự điều tiết bởi tài sản hữu hình Ngoài ra,
Abdioglu (2019) còn xác định, đối với tác
động cùa cấu trúc kỳ hạn nợ đại diện bời tỷ
trọng nợ dài hạn trong tồng nợ đến kiệt quệ
tài chính, mối quan hệ tác động này trở nên
yếu hơn khi có điều tiết bởi khả năng sinh
lời và tài sản hữu hình
Bên cạnh đó, Giarto & Fachrurrozie (2020)
còn chỉ ra vai trò điều tiết của quản trị công
ty, yếu tố này sẽ làm giảm tác động của đòn
bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính; theo
đó nhóm tác giả gợi ý gia tăng sở hữu của
người quản lý trong công ty Điều này được
kỳ vọng cải thiện hơn nữa về hiệu quả hoạt động và qua đó giảm thiểu nguy cơ kiệt quệ tài chính Muigai & Muriithi (2017) ước lượng dựa theo dừ liệu của 40 công ty phi tài chính niêm yết tại Kenya trong giai đoạn 2006- 2015 và khẳng định rằng quy
mô công ty sẽ điều tiết gia tăng tác động cùng chiều của đòn bây tài chính đến kiệt quệ tài chính, chi tiết hơn nhóm tác giả này còn chỉ ra rằng mối quan hệ điều tiết cũng tương tự nếu sử dụng nợ dài hạn, nhưng vai trò điều tiết theo hướng ngược lại đối với việc sử dụng nợ ngắn hạn
về phương pháp ước lượng, các nghiên cứu thực nghiệm đều tiếp cận dừ liệu bảng,
và từ đó xác định kết quả nghiên cứu và đúc kết theo mô hình tác động cố định (Abdioglu, 2019; Lee & Manual, 2019; Pranowo & cộng sự, 2010), phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (Pourali & cộng sự, 2013), phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Muigai & Muriithi, 2017), phương pháp bình phương tối thiểu và phân tích tương quan Pearson (Baimwera & Muriuki, 2014; Sayari & Mugan, 2013), phương pháp ước lượng hiệu chỉnh sai số dừ liệu bảng (Ikpesu & Eboiyehi, 2018), mô hình hồi quy Logistic (Finishtya, 2019; Dance & Mad, 2019; Giarto & Fachrurrozie, 2020; Ong’era
& cộng sự, 2017; Low & cộng sự, 2001; Fawzi & cộng sự, 2015)
Thông qua phương pháp ước lượng đã được kiểm định nhàm đảm bảo tính vững chắc, gắn kết phù hợp với mục tiêu đề ra, các nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp những bằng chứng đáng tin cậy về tác động của đòn bẩy tài chính và dòng tiền đến kiệt quệ tài chính của các công ty, có thể cùng hoặc ngược chiều tùy trường họp cụ thể Ngoài
ra, một số ít nghiên cứu còn kiếm định tác động của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính khi có vai trò điều tiết của quản trị
Sô' 238- Tháng 3 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 27
Trang 5công ty (Giarto & Fachrurrozie, 2020), quy
mô công ty, tài sản hữu hình và khả năng
sinh lời (Abdioglu, 2019) Nhóm tác giả cho
rằng, để giải thích đáng tin cậy và cung cấp
thông tin hữu ích về tông thể sức khôe tài
chính công ty, sự kết hợp đánh giá các yếu
tố trong những mối quan hệ điều tiết hay can
thiệp mang ý nghĩa thiết thực cho quyết định
quản trị tài chính công ty
Mặc dù đã có những nghiên cứu đánh giá
các mối quan hệ điều tiết hay can thiệp của
các yếu tố khi giải thích cho kiệt quệ tài
chính của các công ty, tuy nhiên các bàng
chứng thực nghiệm từ nghiên cứu Giarto
& Fachrurrozie (2020) và Abdioglu (2019)
chưa đa dạng và chưa khai thác tập trung
vào bản chất hay mâu thuẫn, nguồn gốc cơ
bản của kiệt quệ tài chính; hay Pranowo
& cộng sự (2010) không xem xét yếu tố
dòng tiền trong mô hình nghiên cứu, nhưng
nhóm tác giả có đề xuất ràng các công ty
cần theo dõi các biến số tài chính có ảnh
hưởng đến kiệt quệ tài chính ngay từ đầu
giai đoạn suy giảm của dòng tiền và khi
dòng tiền hoạt động kinh doanh bị thâm
hụt, đây là một tín hiệu cho tình trạng kiệt
quệ tài chính Vì vậy nhóm tác giả cho rằng
đây là khoảng trống nghiên cứu liên quan
kiệt quệ tài chính của các công ty, theo đó
ba giả thuyết nghiên cứu của bài viết lần
lượt được xác định như sau:
Gia thuyết H(: Đòn bẩy tài chính tác động
cùng chiều đến kiệt quệ tài chính
Giả thuyết H,: Dòng tiền hoạt động kinh
doanh tác động ngược chiều đến kiệt quệ tài chính
Giả thuyết H;: Dòng tiền hoạt động kinh doanh đóng vai trò điều tiết giảm tác động cùng chiều của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính
3 Mô hình nghiên cứu
Theo khoảng trống nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu đã xác định tại mục 2, mô hình nghiên cứu được thiết lập với biến phụ thuộc là kiệt quệ tài chính (DISTRESS), biến độc lập là đòn bẩy tài chính (FLEV)
và dòng tiền hoạt động kinh doanh (OCF), đồng thời OCF còn đóng vai trò là biến điều tiết, mối quan hệ giữa các biến được
mô tả khái quát tại Hình 1
Ngoài ra, mô hình nghiên cứu của bài viết còn bao gồm các kiểm soát (CONTROL), bao gồm quy mô công ty (SIZE) và độ tuổi công ty (AGE) Như vậy, mô hình hồi quy được viết như sau:
DISTRESS.- P()+ P|.FLEV.+ P2.OCF|t + P3.(FLEV.OCF)"+ m.CONTROL + £./’
Trong đó', p, a là hệ sô hồi quy, i và t tương
ứng với từng công ty và theo từng năm, j là thứ tự các biến kiểm soát, và £ là sai số của
mô hình
Bàng 1 tổng hợp cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu, trong đó: biến DISTRESS được đo lường theo mô hình của Springate (1978), còn gọi là mô hình S-Score, nếu S-Score lớn hơn 0,862 thể
Nguôn: Đê xuât cùa nhóm tác già
Hình 1 Mô hình nghiên cứu
Trang 6LÊ HOÀNG VINH - NGUYỄN HẢI BÌNH
Bảng 1 Đo lường các biến
Biến Cách đo lường Nghiên cứu thực nghiệm
DISTRESS
S-Scorẹ = 1,03*X1 + 3,07‘X2 + 0,66*X3 + 0,4*X4
X1 = Vốn lưu động/ Tổng tài sản
X2 = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ Tổng tài sản
X3 = Lợi nhuận trước thuế/ Nợ ngắn hạn
X4 = Doanh thu/ Tổng tài sàn
Springate (1978), Abdioglu (2019)
Tổng tài sản
Abdioglu (2019), Lee &
Manual (2019), Pourali &
cộng sự (2013), Giarto &
Fachrurrozie (2020) OCF Dòng tiền ròng hoạt động kinh doanh
Dance & Mad (2019), Fawzi
& cộng sự (2015), Sayari &
Mugan (2013) Tổng tài sản
SIZE Logarit (Tổng tài sản)
Muigai & Muriithi (2017), Ikpesu & Eboiyehi (2018), Abdioglu (2019), Pourali &
cộng sự (2013), Low & cộng
sự (2001), Saýari & Mugan (2013)
AGE Thời gian từ khi hoạt động dưới hình thức công ty
cổ phần đến năm lựa chọn nghiên cứu Sayari & Mugan (2013)
Nguồn: Tông hợp của nhóm tác gia
hiện sức khỏe tài chính tốt, nhỏ hơn 0,862
chi ra tình trạng kiệt quệ tài chính và đúng
mức 0,862 là ngưỡng cảnh báo, chỉ số này
càng cao thể hiện kiệt quệ tài chính càng
thấp và ngược lại; biến FLEV được đại
diện bởi tỷ số nợ, tỷ số này càng cao thể
hiện mức độ sử dụng đòn bấy tài chính
càng cao và ngược lại; biến OCF được
đại diện bởi tỷ lệ dòng tiền ròng từ hoạt
động kinh doanh trên tổng tài sản, tỷ lệ này
dương chứng tỏ dòng tiền hoạt động kinh
doanh thặng dư và công ty có khả năng tạo
tiền và ngược lại; biến SIZE được đại điện
bởi logarit của tông tài sản, thang đo này
đạt giá trị càng cao thể hiện quy mô công ty
càng lớn và ngược lại; bien AGE được đo
lường bởi khoảng thời gian tính theo năm
kể từ khi công ty hoạt động dưới hình thức
công ty cô phần đến năm lựa chọn nghiên
cứu, khoảng thời gian này càng dài thể hiện
độ tuổi công ty càng cao và ngược lại
4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Mầu nghiên cứu bao gồm 505 công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có mục đích Cụ thể, bài viết chọn công ty nếu thòa mãn đồng thời các tiêu chí như sau: (i) Có đầy đủ báo cáo tài chính từ năm 2015 đến năm 2020, (ii) Tất cả báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công ty kiểm toán đều
cỏ ý kiến chấp nhận tính trung thực và họp
lý dựa trên nguyên tắc trọng yếu Tất cả dừ liệu nghiên cứu đều được thu thập từ Hệ thống FiinPro thuộc Công ty cổ phần tập đoàn FiinGroup Nhóm tác già chọn phạm
vi thời gian từ năm 2015 đến năm 2020 nhàm đảm bảo tính nhất quán cấu trúc các khoản mục trong hệ thống báo cáo tài chính được lập theo chế độ kế toán hiện hành, căn
cứ hướng dẫn của Thông tư 200/2014/TT- BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2015
Căn cứ phạm vi nghiên cứu theo thời gian
và không gian nêu trên, dữ liệu nghiên cứu của bài viết được xác định dưới dạng bảng Theo đó, nhóm tác giả thực hiện ước lượng
Số 238- Tháng 3 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 29
Trang 7kết quả hồi quy theo các phương pháp CO'
bản là mô hình hồi quy gộp (POLS), mô
hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô
hình ảnh hường cố định (FEM), kèm theo
là các kiêm định Hausman và Redundant
Fixed Effects đê lựa chọn mô hình phù
họp Tiếp theo, nhóm tác giả thực hiện
kiểm định các hiện tượng phương sai sai số
thay đổi, đa cộng tuyến và tự tương quan;
nếu có một trong những hiện tượng này thì
phương pháp ước lượng bình phương tối
thiểu tổng quát (GLS) sẽ được sử dụng để
khắc phục (Greene, 2018; Susmel, 2015)
5 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
5.7. Thong kê mô tả
Bảng 2 tóm tắt kết quả thống kê mô tả các
biến, theo đó tất cả các biến đều có 3.030
quan sát từ 505 công ty trong giai đoạn 6
năm, dừ liệu tồn tại dưới dạng bảng cân
bằng Biến phụ thuộc DISTRESS trung bình
là 1,4630 và dao động từ mức thấp nhất là
-5,3624 đến mức cao nhất là 18,7491, theo
đó các công ty được đánh giá sức khỏe tài
chính tốt thê hiện qua chỉ sổ S-Score bình
quân trên mức tiêu chuẩn 0,862 (Springate,
1978) Biến độc lập FLEV trung bình là
0,4779 với độ lệch chuẩn 0,2261, cho thấy
các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính
tương đối thấp, nợ chiếm tỷ trọng thấp hơn
vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn tài trợ Biến độc lập đồng thời đóng vai trò biến điều tiết OCF trung bình là 0,0627, dao động từ giá trị nhò nhất là -0,7539 đến cao nhất là 0,9117 với độ lệch chuân là 0,1362, thể hiện rằng các công ty đảm bao khả năng tạo tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, Bảng 2 còn chỉ ra sự đa dạng về quy mô công ty qua thống kê mô tả biến SIZE, và biến AGE cho thấy rằng các công
ty có thời gian hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần trung bình gần 13 năm, thể hiện sự khá vững chắc kinh nghiệm trong quản lý tài chính cũng như triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh
5.2. Phân tích tương quan và vẩn đề đa cộng tuyến
Bảng 3 thê hiện ma trận hệ số tương quan và
hệ số phóng đại phương sai (VIF) Theo đó, với mức ý nghĩa thống kê 1%, biến FLEV
và SIZE tương quan trái chiều với biến DISTRESS, trong khi đó biến OCF tương quan cùng chiều với biến DISTRESS Như vậy, biên động đòn bây tài chính và quy mô công ty cùng chiều với biến động kiệt quệ tài chính, nhưng sự thay đồi dòng tiền thể hiện khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh sẽ ngược chiều với biến động kiệt quệ tài chính Ngoài ra, Bảng 3 còn cho biết mối tương quan âm giữa biến AGE với
Bảng 2 Thống kê mô tả các biến
Độ lệch chuẩn 1,1722 0,2261 0,1362 0,6751 3,5182
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu nghiên cứu bằng Eviews 10
Trang 8LÊ HOÀNG VINH - NGUYỄN HẢI BÌNH
Bảng 3 Ma trận hệ số tương quan và VIF
DISTRESS 1,0000
SIZE -0,1558*** 0,3329*** -0,0051ns 1,0000 1,1293
AGE -0,0110ns -0,0627*** 0,0138ns -0,0277ns 1,0000 1,0040
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu nghiên cứu bằng Eviews 10 (***) \.Ịifc ý nghĩa thống kê là 1%, (ns) Không đảm bảo ỷ nghĩa thống kê
biến DISTRESS không đảm bảo ý nghĩa
thống kê
Bên cạnh đó, hệ số tương quan âm giữa
biến FLEV với biến OCF và AGE lần lượt
là -0,1939 và -0,0627, hệ số tương quan
dương giữa biến FLEV với biến SIZE là
0,3329, đều đảm bảo mức ý nghĩa thống
kê 1%; trong khi đó, mối tương quan giữa
các biến OCF, SIZE và AGE với nhau đều
không đảm bảo ý nghĩa thống kê Do đó,
nhóm tác giả xác định rằng hiện tượng đa
cộng tuyến không phải là vấn đề nghiêm
trọng (Hair & cộng sự, 2006; Gujarati,
2008); kết quả này cũng thống nhất với
tiếp cận bàng VIF Với VIF tại Bảng 3, dao
động từ 1,0040 đến 1,1769 lần lượt cho các
biến AGE, OCF, SIZE và FLEV, tất cả các
trường hợp đều nhỏ hơn 10 khẳng định hiện
tượng đa cộng tuyến không nghiêm trọng
(Hair & cộng sự, 2006; Gujarati, 2008)
5.3 Kết quả ước lượng và các kiểm định
Bảng 4 trình bày kết quả ước lượng kèm các
kiểm định liên quan Nhóm tác giả thực hiện
đồng thời các phương pháp cơ bản đối với dữ
liệu bảng là POLS, FEM và REM, kết quả
kiểm định Hausman và kiểm định Redundant
Fixed Effects tại Bảng 4 đều đạt ý nghĩa thống
kê tại mức 1% cho thấy FEM phù hợp hơn so
với hai mô hình ước lượng còn lại
Căn cứ lựa chọn FEM nêu trên, nhóm tác
giả cho rằng mô hình không có hiện tượng
tự tương quan, bởi vì FEM chỉ quan tâm đến những khác biệt mang tính cá nhân đóng góp vào mô hình nên không có hiện tượng tự tương quan (Susmel, 2015; Hair & cộng sự, 2006) Bên cạnh đó, nhóm tác giả
sử dụng kiểm định Wald với mức ý nghĩa thống kê 1%, kết quả khẳng định có hiện tượng phương sai sai số thay đổi và điều này dẫn đến sự không vững chắc của kết quả ước lượng theo FEM Vì vậy, nhóm tác giả sử dụng phương pháp GLS khắc phục, kết quả ước lượng này được trình bày tại cột cuối cùng của Bảng 4
Kết quả ước lượng theo GLS chỉ ra rằng: (i) Bien FLEV có hệ số hồi quy là -1,0786 với mức ý nghĩa 1 %, khẳng định tác động ngược chiều của tỷ số nợ đến chỉ số S-Score, tức là đòn bẩy tài chính tác động cùng chiều đến kiệt quệ tài chính; (ii) Bien OCF có hệ số hồi quy là 4,4962 với mức ý nghĩa 1%, cho thấy tác động cùng chiều của dòng tiền hoạt động kinh doanh đến chỉ số S-Score, hàm ý dòng tiền thể hiện khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh tác động ngược chiều đến kiệt quệ tài chính; (iii) Biến FLEV*OCF có
hệ số hồi quy là -6,5610 với mức ý nghĩa 1%, xác định rằng dòng tiền hoạt động kinh doanh đóng vai trò điều tiết giảm tác động cùng chiều của của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính; (iv) Theo mức ý nghĩa thống kê 1%, các biến kiểm soát SIZE và AGE được chấp nhận với hệ số hồi quy lần lượt là -0,0738 và -0,0149, khẳng định
Số 238- Tháng 3 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 31
Trang 9Bảng 4 Kết quả ước lượng và các kiểm định
[-11,3680]
-1,7564***
[-8,7519]
-1,4784***
[-11,5689]
-1,0786***
[-28,3890]
[22,0200]
2,4743***
[9,8842]
3,3332***
[13,9591]
4,4962***
[24,8129]
FLEV*OCF -9,5869***
[-17,2262]
-3,6219***
[-7,8961]
-4,9657***
[-11,2362]
-6,5610***
[-21,8834]
[-3,3082]
0,0977ns [0,7651]
-0,0781ns [-1,6274]
-0,0738***
[-7,1493]
[-2,7359]
-0,0556***
[-6,7056]
-0,0342***
[-5,6231]
-0,0149***
[-7,9764]
c 2,5429***[14,4714] 2,3743*** [3,5360] 2,9717***[10,9880] 2,4199***[37,6649]
Redundant Fixed
Effects
2.957,90 [0,0000]
[0,0000]
[0,0000]
Prob (F-statistic) 0,0000 0,0000 0,0000 0,0000
Nguồn: Xừ lý từ dữ liệu nghiên cún bang Eviews 10 (***) ý nghĩa thống kè là ỉ %, (ns) Không đám bao ý nghĩa thông kê
quy mô công ty và độ tuổi công ty tác động
ngược chiều đến chỉ số S-Score, hay nói
cách là các yếu tố này tác động cùng chiều
đến kiệt quệ tài chính
5.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, đòn bẩy tài chính tác động cùng
chiều đến kiệt quệ tài chỉnh: Ket quả ước
lượng theo GLS đúc kết rằng nếu công ty
gia tăng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính
sẽ làm gia tăng tình trạng kiệt quệ tài chính
và ngược lại; kết quả này ủng hộ giả thuyết
nghiên cứu H] của bài viết và thống nhất
với bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu
của Ikpesu & Eboiyehi (2018), Giarto &
Fachrurrozie (2020), Abdioglu (2019), Lee
& Manual (2019), Dance & Mad (2019),
Muigai & Muriithi (2017) Ket quả nghiên
cứu này cung cấp bằng chứng cho tiếp cận
của Lý thuyết đánh đổi trong cơ cấu vốn,
giải thích rằng sự ràng buộc trách nhiệm
tài chính cố định tăng thêm khi công ty gia tăng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, dần đến mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệm suy giảm Với bản chất của các khoản nợ là tính hoàn trả sau một thời hạn nhất định, việc gia tăng mức độ sử dụng nợ khi xem xét lựa chọn nguồn tài trợ sẽ gia tăng mức độ kiệt quệ tài chính nếu công ty không giải quyết hài hòa trong mối quan hệ với yêu cầu về hiệu quả sử dụng nợ cũng như khả năng tạo tiền
Thứ hai, dòng tiền hoạt động kinh doanh tác động ngược chiêu đến kiệt quệ tài chỉnh: Kết quả ước lượng theo GLS khẳng
định rằng các công ty gia tăng thặng dư dòng tiền hoạt động kinh doanh hoặc giảm bớt tình trạng thâm hụt dòng tiền này thì nguy cơ kiệt quệ tài chính sẽ giảm và ngược lại; kết quả này ủng hộ giả thuyết nghiên cứu H, của bài viết và thống nhất với đúc kêt từ nghiên cứu thực nghiệm của Giarto & Fachrurrozie (2020), Finishtya
Trang 10LÊ HOÀNG VINH - NGUYỄN HẢI BÌNH
(2019), Sayari & Mugan (2013) Kết quả
nghiên cứu này là minh chứng cho vai trò
và ý nghĩa của dòng tiền hoạt động kinh
doanh, nếu công ty đảm bảo cân đối hợp
lý trong quản trị dòng tiền thu và chi để từ
đó tạo ra lượng tiền thặng dư từ hoạt động
kinh doanh thì đây sẽ trở thành là nền tảng
vững chắc cho công ty trong việc duy trì và
gia tăng được sự an toàn tài chính Ngược
lại, các công ty liên tục xảy ra tình trạng
thâm hụt dòng tiền hoạt động kinh doanh
với mức độ thâm hụt càng lớn sẽ tất yếu
dẫn đến những khó khăn và thậm chí là
công ty không thể thực hiện các cam kết tài
chính với những chủ nợ, khi đó tình trạng
kiệt quệ tài chính trở nên nghiêm trọng hơn
và khả năng phá sản gia tăng
Thứ ba, dòng tiền hoạt động kinh doanh
đóng vai trò điêu tiết giảm tác động cùng
chiều của đòn bây tài chỉnh đến kiệt quệ tài
chính Kết quả ước lượng theo GLS chi ra
rằng sự phối hợp hợp lý giữa dòng tiền hoạt
động kinh doanh với mức độ sử dụng đòn
bẩy tài chính sẽ góp phần giúp các công
ty có thể giảm thiểu tình trạng kiệt quệ tài
chính, kết quả này ủng hộ giả thuyết nghiên
cứu H3 của bài viết và phù hợp với gợi ý
của Pranowo & cộng sự (2010) cũng như
Lý thuyết thanh khoản của Keynes (1936)
Lee (1986), Atrill & McLaney (2017), Ngô
Kim Phượng & cộng sự (2021) đã khẳng
định vai trò và ý nghĩa phân tích dòng tiền
đối với các công ty có vay nợ, theo đó dòng
tiền hoạt động kinh doanh thặng dư là nguồn
tiền vững chắc đáp ứng cho các nghĩa vụ tài
chính đến hạn thanh toán, vì vậy các công
ty có dòng tiền hoạt động kinh doanh càng
cao sẽ điều tiết giảm tác động cùng chiều
của kiệt quệ tài chính Kết quả nghiên cứu
này cũng đã cung cấp minh chứng thực tiễn
nhằm ủng hộ lập luận về sự cần thiết của
mối quan hệ hài hòa giữa quyết định tài trợ
với các quyết định tài chính khác, hay cụ
thể hơn là mối quan hệ giữa dòng tiền hoạt
động kinh doanh với dòng tiền hoạt động tài trợ nhằm đảm bảo mục tiêu lành mạnh tài chính và tiến đến sự gia tăng giá trị thị trường của công ty
Ngoài ra, kết quả ước lượng còn xác định thêm rằng sự mở rộng của quy mô công ty làm gia tăng tình trạng kiệt quệ tài chính
và ngược lại, mối quan tác động này ủng
hộ lý thuyết quá lớn để thất bại (Roe, 2014), theo đó giải thích rằng công ty phải chi nhiều hơn để tài trợ cho mở rộng quy
mô nhưng lại không kiểm soát chặt chẽ rủi
ro và sự kém hiệu quả trong việc thu hồi vốn, dẫn đến gia tăng khó khăn tài chính
Độ tuổi công ty càng cao cũng là yếu tố giải thích cho sự gia tăng tình trạng kiệt quệ tài chính, kết quả này minh chứng ràng các công ty với thâm niên hoạt động càng cao sẽ có khuynh hướng mạo hiểm hơn khi đưa ra quyết định tài chính, hoặc tính kém hiệu quả có xu hướng gia tăng ở các công
ty hoạt động lâu năm (Loderer & cộng sự, 2009), những điều này làm gia tăng nguy
cơ kiệt quệ tài chính
6 Ket luận và khuyến nghị
Thông qua phân tích dừ liệu của 505 công
ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2020, bài viết đã khẳng định rằng kiệt quệ tài chính của các công
ty chịu tác động cùng chiều bởi đòn bẩy tài chính và tác động ngược chiều của dòng tiền hoạt động kinh doanh; không những thế, dòng tiền hoạt động kinh doanh còn đỏng vai trò điều tiết giảm tác động của đòn bẩy tài chính đến kiệt quệ tài chính Theo
đó, bài viết khuyến nghị rằng các nhà quản trị tài chính cần kết hợp phân tích chặt chẽ quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính kết hợp với khả năng tạo tiền từ sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cho sự lành mạnh tài chính của các công ty Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò trọng
Sô' 238- Tháng 3 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 33