Trái phiếu doanh nghiệp/ Trung Quốc Trái phiếu và đặc điếm hệ thong tài chính các nền kinh tế mới nôi Một đặc điểm phổ biến của hệ thống tài chính các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc
Trang 1TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN
□ PGS., TS Trương Quang Thông *
TS Đàng Quang vắng, ThS Trương Ảnh Minh **
*ĐạihọcKinhtẽTP.HCM
** Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM
Ngày 10/11/2021, Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước ban hành Thông
tư số 16/2021/TT-NHNN quy
định việc các tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài
mua, bán trái phiếu doanh nghiệp
đã có những tác động không hề
nhỏ đối với giới chủ ngân hàng
và giới chủ doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp bất động
sản Thông tư 16 còn được báo
giới ví von như “3 lằn ranh đỏ”,
ngầm so sánh với các chính sách
gần đây mà các cơ quan giám
sát tài chính - ngân hàng Trung
Quốc đưa ra để kiểm soát khối nợ
khổng lồ của các ông trùm trong
lĩnh vực bất động sản tại quốc
gia này Trong ba tháng cuối năm
2021, liên tiếp những thông tin
đến từ Trung Quốc, liên quan đến
việc mất khả năng thanh toán cùa
các tập đoàn bất động sản hàng
đầu của cường quốc kinh tế hàng
thứ hai trên thế giới Đó là các
trường hợp Evergrande và sau đó
là Kaisa trong hai tuần lễ đầu
tiên của tháng 12/2021
Bài viết nghiên cửu tổng quát
về các đặc điểm và thể chế của thị
trường trái phiếu doanh nghiệp
Trung Quốc nói chung, trong đó
trái phiếu bất động sản chiếm vai
trò chủ đạo Những bài học kinh
nghiệm từ Trung Quốc, những
diêm tương đồng và dị biệt giữa
hai thị trường trái phiếu bất động
sản Trung Quốc và Việt Nam là
cơ sở cho những hàm ý chính sách nhằm phát triển thị trường trái phiếu bất động sản Việt Nam theo một định hướng an toàn và bền vững
1. Trái phiếu doanh nghiệp/
Trung Quốc
Trái phiếu và đặc điếm hệ thong tài chính các nền kinh tế mới nôi
Một đặc điểm phổ biến của hệ thống tài chính các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Việt Nam đó là những nền kinh tế dựa vào ngân hàng, hệ thống ngân hàng tại những nền kinh tế này
là kênh cung ứng vốn quan trọng, nếu không nói là chủ yếu cho nền kinh tế Thế nhưng, nguồn tín dụng ngân hàng cũng có những giới hạn của nó, đặc biệt là khả năng cung ứng vốn trung, dài hạn do nguồn huy động đầu vào của các ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn Do đó, phát hành trái phiếu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có mức độ thâm dụng vốn trung, dài hạn cao như các doanh nghiệp bất động sản, đã trở thành một nhu cầu khách quan như một kênh bổ sung vốn quan trọng cho các hoạt động
Bài viết này chỉ đề cập đến trái phiếu doanh nghiệp, bỏ qua các loại trái phiếu Chính phủ Nếu không tính trái phiếu do các ngân hàng phát hành, thì phần lớn trái
phiếu doanh nghiệp của Trung Quốc là do các doanh nghiệp xây dựng, kinh doanh bất động sản phát hành Loại hình trái phiếu này lại liên quan khá chặt chẽ đến thị trường bất động sản
Trái phiếu bất động sản và vai trò những dạng hình kinh doanh của các chính quyền địa phương
Thị trường đất đai/bất động sản Trung Quốc thực tế chỉ hình thành
kề từ sau năm 1990, gắn với tiến trình đô thị hóa sau những cải cách của Đặng Tiểu Bình, Lãnh đạo tối cao của Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 1992, cũng như các chính sách, chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia nói chung và các địa phương nói riêng Do những khiếm khuyết về
cơ chế phân bổ và giám sát thu chi ngân sách, được kích thích bởi những chính sách “thử nghiệm chính sách”, nên quyền lực tự chủ tương đối của các chính quyền địa phương về phương diện kinh
tế - tài chính có thể nói là một sản phâm phân quyền mang màu sắc rất “đặc thù” theo kiểu Trung Quốc Đặc biệt, đó là quyền lực liên quan đến đất đai Hầu hết các tỉnh thành Trung Quốc đều
có những dạng hình kinh doanh được gọi là những cồ máy hay phương tiện tài chính cho chính quyền địa phương (LGFV) LGFV sẽ là “bầu sữa” để bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết trong cơ chế phân bổ ngân sách từ
Trang 2chính quyền trung ương LGFV
chủ yếu tham gia vào các dự án
phát triển đô thị, phát triển cơ sở
hạ tầng tại các địa phương, hoặc
do trung ương không can thiệp
được, hoặc do trung ương “mong
muốn” một cách làm thử nghiệm
nào đó tại các địa phương Các
trường hợp thành công như Thiên
Tân, Thượng Hai về phát triển
cơ sở hạ tầng đô thị là những bằng
chứng ủng hộ cho các dạng hình
LGFV địa phương Mà các LGFV
này lại thường có những quan hệ
vay mượn khá khăng khít với các
ngân hàng địa phương, đặc biệt
là các ngân hàng cồ phần, nơi mà
chính các LGFV cũng là các cổ
đông quan trọng
Cho đen nay, chưa nghe nói đến
những kiểu sản phẩm phát sinh từ
trái phiếu doanh nghiệp ở Trung
Quốc, nhưng các chính quyền địa
phương lại không khó khăn lắm
để cho ra đời những LGFV “phái
sinh”, thông qua cổ phần hóa,
tham gia vốn, đế sau đó, cùng
với LGFV “gốc” tham gia vào
các quan hệ tín dụng, đầu tư với
các ngân hàng thương mại Đến
đây, chúng ta đã có thể hình dung
ra vòng xoáy tiền tệ xung quanh
chính quyền địa phương - LGFV
- ngân hàng - các doanh nghiệp
bất động sản khác Chính quyền
đã dành cho các địa phương ít
nhiều thẩm quyền vay nợ, nhưng
đối với các địa phương, thế vẫn
chưa đủ
Trái phiếu bất động sản -
LGFV và hệ thong ngân hàng
Thông qua các LGFV, các
khoản nợ mà LGFV vay các ngân
hàng địa phương, hay thông qua
phát hành trái phiếu chính là
những cách mà địa phương tránh
không phải kê khai vào nội bảng
các báo cáo tài chính Một đặc
điểm quan trọng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Trung Quốc là vai trò dẫn đạo của các ngân hàng thương mại Kể từ năm 1997, thời điểm thiết lập thị trường trái phiếu tại Trung Quốc, các ngân hàng thương mại
đã được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ưu ái ban cho thẩm quyền như những nhà phát hành
và kinh doanh trái phiếu đầu tiên
Các ngân hàng thương mại kinh doanh trái phiếu qua hai kênh chủ đạo: Kênh nội bảng với các giao dịch trái phiếu trên thị trường liên ngân hàng và kênh ngoại bảng, được biết đến nhiều hơn với các sản phấm quản lý tài sản (WMP - Wealth Management Products) với lợi suất thường cao hơn nhiều so với lãi suất tiết kiệm ngân hàng trong một thời gian dài
ở một mức khá thấp do chính sách
áp chế tài chính đặc thù Trung Quốc Các LGFV và các doanh nghiệp bất động sản khác sử dụng các WMP như những kênh huy động vốn, thay thế và bổ sung cho cách thức truyền thống là vay
nợ ngân hàng Ngược lại, ngân hàng sử dụng các WMP như một phương thức chuyển vốn tài trợ cho các LGFV, các doanh nghiệp bất động sản khác, đặc biệt là trong những thời điểm tín dụng
bị hạn chế hay thắt chặt bởi chính sách trung ương
LGFV và ngân hàng bóng mờ
Đen đây, khi nói về đặc thù kinh
tế địa phương của Trung Quốc, thì các quan hệ chằng chịt giữa các chủ the LGFV, doanh nghiệp bất động sản, WMP, các ngân hàng thương mại, thông qua các kênh tín dụng truyền thống hay trái phiếu, nhiều nhà phân tích đã
ví von như những vòng lặp Một cách dề hình dung hơn, chúng ta
cũng có thê liên tưởng đến những vòng xoáy nào đó, với tâm điếm
là các ngân hàng thương mại, thông qua đó, các hoạt động ngân hàng ngầm/hay ngân hàng bóng
mờ đã có thêm dư địa để tồn tại
và phát triển thông qua những WMP Đó cũng chính là cơ sở
mà nhiều người ví von ngân hàng bóng mờ Trung Quốc theo nghĩa đen chẳng qua chỉ là “bóng mờ” của các ngân hàng hiện hữu
Trái phiếu doanh nghiệp xếp hạng tín dụng
Theo Fitch Rating, tính đến năm 2021, có tất cả 9 tổ chức xếp hạng tín dụng nội địa được cấp giấy phép hoạt động, trong
đó 3 công ty lớn nhất là China Chengxin International Credit Rating (30% Moody’s), Dagong International Credit Ratings và China Lianhe chiếm hơn 60% thị phần Do thị trường trái phiếu Trung Quốc khá phân mảnh với nhiều cơ quan quản lý giám sát, cho nên, mỗi tổ chức xếp hạng tín dụng phái xin những loại giấy phép với những điều kiện khác nhau từ các cơ quan thẩm quyền có liên quan Điều này làm phát sinh những tiêu chuẩn xếp hạng khác nhau tùy theo mỗi thị trường sản phẩm Trên thực tế, đã
có trường hợp cùng một nhà phát hành có thể nhận được những mức xếp hạng khác nhau từ hai
tổ chức có cùng một cơ quan chủ quản, chỉ đơn giản do thị trường trái phiếu giao dịch khác nhau, dù rằng, phương thức xếp hạng của hai đơn vị xếp hạng là như nhau
Sự cạnh tranh khá mạnh mẽ giữa các tồ chức xếp hạng tín dụng nội địa Trung Quốc, do những tiêu chuẩn đánh giá khác nhau, cộng với việc áp dụng ngưỡng tối thiểu cho việc đầu tư trái phiếu doanh
Trang 3nghiệp, theo Fitch Rating, đã làm
bóp méo hoạt động xếp hạng tín
dụng nội địa Trung Quốc
Ba tổ chức xếp hạng tín dụng
quốc tế là Fitch, Moody’s và s&p
đã được cấp giấy phép thành lập
công ty con 100% tại Trung Quốc
Hai tổ chức khác cũng đang chờ
được cấp giấy phép Theo quy
định, các công ty con này được
phép xếp hạng các nhà phát hành
và trái phiếu nội địa
Trái phiếu bất động sản -
Các trường hợp mất khả năng
thanh toán
Tỷ phần trái phiếu bất động sản
trên tổng trái phiếu doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán đã gia
tăng nhanh chóng trong các năm
vừa qua Năm 2021 bắt đầu đánh
iấu bởi các trường hợp China
fortune Land Development,
Tianjin Real Estate Group Dừ
iệu của Bloomberg cho thấy,
tính đến quý 1/2021, trong tổng
số 15,10 tỷ USD trái phiếu doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán
(quốc tế và nội địa), trái phiếu bất
động sản đã chiếm 27%
về trường họp Evergrande
Phải nói, trường hợp Evergrande,
và sau đó là Kaisa, trong những
tháng cuối năm 2021 vừa qua là
một thách thức, một phép thứ lớn
đối với hệ thống tài chính Trung
Quốc Với một núi nợ khổng lồ
hơn 300 tỷ USD trong và ngoài
nước, chỉ riêng việc mất khả
năng thanh toán các khoản cho
vay truyền thống từ các ngân
hàng, hay cho các WMP của các
tập đoàn này có thể dẫn đến tình
huống vỡ nợ chéo trên diện rộng
và các ngân hàng sẽ chịu tác động
đầu tiên nếu như các hiệu ứng vỡ
nợ lây lan mạnh sang lĩnh vực bất
động sản Lĩnh vực bất động sản,
các nhà phát triển bất động sản
đã trở thành một mối quan tâm sâu sắc của nhà chức trách Trung Quốc trong vài ba năm gần đây
Việc thiết lập “Ba lằn ranh đỏ”
hồi giữa năm 2020 cho thấy ít nhiều những quan tâm, cẩn trọng của các cơ quan giám sát tài chính - ngân hàng Trung Quốc đối với khả năng rủi ro quá lớn việc phát hành trái phiếu bất động sản từ các doanh nghiệp
Chỉ cần phạm vào bất kỳ lằn ranh nào trong ba lằn ranh đỏ
đó, vòng lặp hay vòng xoáy tín dụng doanh nghiệp - ngân hàng
sẽ bị đứt đoạn, có thể dần đến một sự đỗ vỡ nào đó, thậm chí có khả năng đưa đến khủng hoảng như trường hợp Evergrande hiện nay
2. Trái phiếu bát động sản tại
Việt Nam
Nhìn lại tiến trình hình thành
và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp/trái phiếu bất động sản tại Việt Nam kể từ sau chính sách đổi mới, chúng ta có thể nhận thấy khá nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc
Thứ nhất, tổng quát về tiến trình phát triển
Thương vụ Vincom phát hành thành công 1.000 tỷ đồng trái phiếu vào tháng 10/2007 có thể xem như một sự kiện quan trọng, đánh dấu sự khởi đầu thuận lợi của một doanh nghiệp bất động sản ngoài Nhà nước trong việc huy động vốn qua kênh trái phiếu Ngay tiếp sau đó, trong năm 2008, một số trường họp phát hành thành công khác như Masan, Sacomreal cũng đã tiếp tục gây sự chú ý Có thế nói, kế
từ đó, sáng kiến và sự năng động của các doanh nghiệp trong việc phát hành các trái phiếu dự án,
trái phiếu bất động sản là những điều đáng mừng đối với giới tài chính và đầu tư, kinh doanh bất động sản, đặc biệt trong bối cảnh kênh cung cấp vốn truyền thống
là ngân hàng có những hạn chế đặc thù của nó
Nếu như trong thời kỳ đầu, thời kỳ giao thời của chính sách đôi mới, chúng ta đã nghe nói khá nhiều về các quan hệ truyền thống giữa các doanh nghiệp Nhà nước và các ngân hàng thương mại Nhà nước (nhóm Big 4), thì
về sau này, chúng ta lại nghe nói nhiều hơn về những quan hệ tiền
tệ giữa các ngân hàng cố phần
tư nhân và các công ty “sân sau”
thông qua những thương vụ sở hữu chéo, cho vay chéo, và đặc biệt là cho vay theo kiếu quan hệ thân gia khá thịnh hành tại Trung Quốc
Ngoài các doanh nghiệp Nhà nước nói chung, Việt Nam đã có những mô hình kiểu như LGFV hay không? Cho đến nay vẫn chưa có công bố nghiên cứu chính thức về chủ đề này Nhưng
ít ra, việc tìm hiểu mô hình LGFV Trung Quốc, khi quay về nhìn lại Việt Nam, cũng gợi cho chúng ta những tên tuổi khá quen thuộc như Tân Thuận (IPC), Tín Nghĩa Corp., Becamex IDC, các tổng công ty và nhóm các công ty con cổ phần hóa, các công ty “sân sau” có thể cần những nghiên cứu đúc kết thỏa đáng hơn
Thứ hai, bối cảnh thị trường trái phiếu bất động sản năm 2021
Tình hình phát hành
Bảng 1 cho chúng ta thông tin tổng quát về doanh số phát hành trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam nói chung trong giai đoạn 2017-2021
Trang 4Theo thống kê của Bộ Tài
chính, trong vòng 11 tháng đầu
năm 2021, các doanh nghiệp đã
phát hành trên 495.000 tỷ đồng
trái phiếu, trong đó, khối lượng
trái phiếu phát hành riêng lẻ
chiếm 94,5% Các tổ chức tín
dụng và doanh nghiệp bất động
sản là những nhà phát hành lớn
nhất trên thị trường, chiếm lần
lượt 33% và 40% (Bảng 2)
Trong số các trái phiếu doanh
nghiệp phát hành riêng lẻ, trái
phiếu có tài sản đảm bảo chiếm
50,9%; không tài sản đảm bảo
chiếm 49,1%
Các chỉ dấu rủi ro
Bảng 3 cho thấy, huy động
vốn từ trái phiếu của các doanh
nghiệp niêm yết chi chiếm 4%
tống tài sản, trong khi đó, đối với
các doanh nghiệp chưa niêm yết,
con số này lên đến 38% Điều này
cho thấy mức độ thâm dụng của
các doanh nghiệp chưa niêm yết
vào trái phiếu Trong năm 2020,
các doanh nghiệp bất động sản
chưa niêm yết chiếm 80% thị
phần phát hành trái phiếu bất
động sản, 20% còn lại thuộc về
các doanh nghiệp bất động sản đã
niêm yết
Theo Fitch, đối với nhóm bất
động sản nói chung, trong số hon
100 doanh nghiệp phát hành trái
phiếu riêng lẻ từ đầu năm đến
ngày 30/11/2021 có 26 doanh
nghiệp ghi nhận lồ
Các chỉ dấu rủi ro càng rõ hơn
khi chúng ta phân tích các hệ số
EBITDA (lợi nhuận trước thuế,
khấu hao và lãi vay) và dư nợ trái
phiếu/tổng nợ vay (Bảng 4) Rất
tiếc ở đây chúng tôi không có dữ
liệu cùa doanh nghiệp bất động
sản mà chỉ có của doanh nghiệp
nói chung So với các doanh
Đơn vị: Nghìn ty
Bảng 1: Doanh số phát hành trái phiếu doanh nghiệp (Việt Nam)
2017 2018 2019 2020 2021
(9 tháng)
Tổng trái phiếu doanh nghiệp phát
Trong đó:
Phát hành riêng lẻ 115 224 314 401 420
Phát hành đại chúng 4 14 21 28 11
Nguồn: Sờ Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, VCBS
Bảng 2: Thị phần phát hành trái phiếu doanh nghiệp (Việt Nam)
2020 2021 (9 tháng)
Dịch vụ tài chính 5% 5% Sản xuất 6% 3%
100% 100%
Nguồn: Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, VCBS
Bảng 3 : Các chỉ tiêu thị phần khác
2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
(9 tháng)
Trái phiếu phát hành/Tổng tài sản
Trái phiếu phát hành/Tổng tài sản
Trái phiếu bất động sản/Trái phiếu doanh nghiệp phát hành (%)
Thị phần trái phiếu bất động sản
Thị phân trái phiếu bất động sản
Nguồn: FiinRatings, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Bảng 4: Các chỉ tiêu phân tích rủi ro
Nguồn: FiinRatings
2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
(9 tháng)
EBITDA (có niêm yết) N/A N/A N/A 1.9 2.2 3 2.5 N/A
EBITDA (chưa niêm yết) N/A N/A N/A 5.3 5.3 5.4 8.1 N/A
Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp/Tổng nợ vay (có niêm yết)
N/A N/A N/A 36% 47% 35% 41% 46%
Trang 5nghiệp CÓ niêm yết, EBITDA
của các doanh nghiệp chưa niêm
yết gia tăng rất nhanh, từ mức
5,40% năm 2019 lên mức 8,10%
vào năm 2020 Riêng dư nợ trái
phiếu trên tống nợ vay của các
doanh nghiệp bất động sản niêm
yết cũng cùng xu hướng nói trên,
lên đến 46% vào 9 tháng đầu
năm 2021 Mức độ thâm dụng
vào nguồn vốn vay trái phiếu của
các doanh nghiệp bất động sản
cả niêm yết và chưa niêm yết nói
chung là khá cao
Vấn đề xếp hạng tin dụng
Theo VCBS (Công ty TNHH
Chứng khoán Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam), tính
đến năm 2021, Việt Nam vẫn chi
có 2 đơn vị chính thức nhận được
giấy phép thực hiện hoạt động
xếp hạng tín dụng, đó là Công
ty Sài Gòn Phát Thịnh Rating và
FiinRatings Riêng FiinRatings
đã tham gia khá nhiều thương
vụ trái phiếu doanh nghiệp, gần
đây nhất trong năm 2021 là Viet
Credit và Bamboo Capital
Với dự thảo Nghị định sửa đổi
Nghị định số 153/2020/NĐ-CP
ngày 31/12/2020 của Chính phủ
quy định về chào bán, giao dịch
trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ
tại thị trường trong nước và chào
bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị
trường quốc tế, trong đó yêu cầu
bắt buộc xếp hạng tín nhiệm hiện
đang hướng chính vào đối tượng
trái phiếu không tài sản đảm bảo,
không bảo lãnh thanh toán,doanh
nghiệp phát hành có kết quả kinh
doanh của năm liền trước năm
phát hành lồ hoặc có lỗ lũy kế
tính đến năm phát hành, việc làm
quen với các chuân mực của các
dịch vụ xếp hạng có thế được kỳ
vọng như một bước đi đúng đắn
'cho một thị trường phát triển lành
mạnh và bền vững
Thứ ha, một số quan sát và nhận xét
Nhìn lại tiến trình hình thành
và phát triển của thị trường trái phiếu bất động sản Việt Nam
kể từ năm 2007 - 2008 đến nay,
có những vấn đề khá “thú vị”
đặt ra: Khá nhiều thương vụ phát hành rơi vào những giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế: ít nhất đó là các trường hợp phát hành vào những năm
2007 - 2008 và 2020 -2021; chưa chính thức ghi nhận bất kỳ lô trái phiếu nào mất khả năng thanh toán; cũng vậy, chưa hề có ngân hàng nào phá sản; một khối lượng lớn trái phiếu, trong đó có trái phiếu bất động sản là do các ngân hàng thương mại nắm giữ
3. Các hàm ý chính sách
Nghiên cứu tổng quát về trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu bất động sản Trung Quốc, hình dung những điểm tương đồng
và dị biệt giữa hai thị trường trái phiếu bất động sản Trung Quốc
và Việt Nam là cơ sở cho những hàm ý chính sách phát triển thị trường trái phiếu bất động sản Việt Nam theo một định hướng
an toàn và bền vừng Có thể kể ra như sau:
Thứ nhất: Trong khi vai trò của
chính quyền địa phương thông qua các LGFV Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo trên thị trường trái phiếu bất động sản Trung Quốc, thì liệu Việt Nam có những doanh nghiệp mang màu sac “LGFV”
hay không vẫn còn là một vấn
đề nghiên cứu còn để ngỏ Tuy nhiên, công thức “chính quyền địa phương + doanh nghiệp” có những sắc màu tương đồng Thực
tế, việc phân quyền cho các chính quyền địa phương đối với công
tác quy hoạch và chỉ định giao đất cho các doanh nghiệp bất động sản không thông qua đấu thầu trong thời gian qua ít nhiều
đã làm bóp méo tính cạnh tranh của thị trường bất động sản Việt Nam và từ đó, là thị trường trái phiếu bất động sản Đó là chưa kế nhiều hệ lụy khác
Thứ hai, xếp hạng tín dụng
cho các doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp bất động sản là một nhu cầu khách quan nhằm tăng tính minh bạch của thị trường Việc mở rộng cấp giấy phép cho các tổ chức xếp hạng tín dụng Việt Nam sẽ góp phần làm tăng mức độ phân hóa
do không bị ảnh hưởng của mức trần tín nhiệm quốc gia quy định bởi các tổ chức xếp hạng quốc
tế Nhà đầu tư cũng sẽ có những phân tích, góc nhìn đa chiều, có tính phân hóa hơn đối với các công cụ nợ
Thứ ba: Nghiên cứu kinh
nghiệm Trung Quốc cho thấy, việc áp dụng ngưỡng xếp hạng tối thiểu cho việc đầu tư trái phiếu, cùng với việc cạnh tranh giữa các
tổ chức xếp hạng tín dụng nội địa thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn xếp hạng không thống nhất
có thể làm bóp méo, suy giảm tính cạnh tranh và minh bạch của thị trường trái phiếu.■
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bloomberg (2021), China's record surge
of defaults driven by property developers.
2 FiinRatings (2021), Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
3 Fitch Ratings (2019), China Corporate Bond Market Blue Book.
4 Kroeber, Arthur R (2016) China's Economy.
5 VCBS (2022), Triển vọng thị trường trái phiểu doanh nghiệp Việt Nam 2022.