1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chấp hành xong hình phạt 2 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) chưa được xóa án tích, vào buổi tối, A dùng dây cáp buộc 2 đầu dây vào 02 gốc cây ngang qua mặt đường (cách mặt đường khoảng 25cm). Sau đó, A nấp sau bụi cây chờ đợi.

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 45,75 KB
File đính kèm Bài tập lớn Luật Hình sự 2.rar (42 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: Chấp hành xong hình phạt 2 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) chưa được xóa án tích, vào buổi tối, A dùng dây cáp buộc 2 đầu dây vào 02 gốc cây ngang qua mặt đường (cách mặt đường khoảng 25cm). Sau đó, A nấp sau bụi cây chờ đợi. Khoảng 10h đêm, B phóng xe với tốc độ cao trên đường, vướng phải sợi dây nên xe đổ, người ngã xuống đường bất tỉnh. A chạy ra lấy xe máy, ví tiền, điện thoại di động của nạn nhân rời khỏi hiện trường. B bị choáng nhưng thiệt hại sức khỏe không đáng kể, số tài sản của người này bị chiếm đoạt trị giá khoảng 30 triệu đồng.

Trang 1

MỤC LỤC

Đề bài 1 Câu 1: Xác định tội danh đối với hành vi phạm tội của A? (2 điểm) 1 Câu 2: Xác định khung hình phạt đối với tội của A? (1,5 điểm) 4 Câu 3: Trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5

điểm) 5

Câu 4: Do bị ngã xe, nạn nhân B không may bị đập đầu xuống đường nên đã

tử vong thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A có thay đổi không? Tại sao? (2 điểm) 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8

Trang 2

Đề bài: Chấp hành xong hình phạt 2 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1

Điều 171 BLHS) chưa được xóa án tích, vào buổi tối, A dùng dây cáp buộc 2 đầu dây vào 02 gốc cây ngang qua mặt đường (cách mặt đường khoảng 25cm) Sau đó, A nấp sau bụi cây chờ đợi Khoảng 10h đêm, B phóng xe với tốc độ cao trên đường, vướng phải sợi dây nên xe đổ, người ngã xuống đường bất tỉnh A chạy ra lấy xe máy, ví tiền, điện thoại di động của nạn nhân rời khỏi hiện trường B bị choáng nhưng thiệt hại sức khỏe không đáng kể, số tài sản của người này bị chiếm đoạt trị giá khoảng 30 triệu đồng

Câu 1: Xác định tội danh đối với hành vi phạm tội của A? (2 điểm)

Trả lời:

Định tội danh được hiểu là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) cụ thể tương ứng được quy định trong

Bộ luật hình sự (BLHS) Có thể nói, định tội danh là việc xác định một hành

vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể nào đó trong số các tội phạm được quy định trong BLHS Để định tội cho một hành vi cụ thể, người áp dụng Luật hình sự phải căn cứ vào CTTP được rút ra

từ những quy định của BLHS Nếu tình tiết của một hành vi phạm tội phù hợp với các dấu hiệu của một CTTP cụ thể được quy định trong BLHS, thì hành vi

đó được xác định theo tội danh của CTTP đó

Căn cứ vào các dữ liệu đầu bài đã cho, ta có thể khẳng định rằng: tội danh đối với hành vi phạm tội của A là tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS.

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS như sau: “1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản ”1

1 Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trang 3

Như vậy, ta có thể thấy: Tội cướp tài sản xâm phạm tới khách thể là quyền sở hữu đối với tài sản, ngoài ra còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích vụ lợi, do chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định

Áp dụng phận tích vào bài ra, ta có:

Thứ nhất, khách thể của tội phạm: A không những xâm phạm đến

khách thể là quyền sở hữu của B đối với số tài sản bị A lấy mất (xe máy, ví tiền, điện thoại di động), mà còn xâm phạm đến sức khỏe tính mạng (quyền nhân thân) của B (do vướng phải sợi dây nên xe đổ, B ngã xuống đường bất tỉnh)

Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm:

- Về hành vi khách quan: A đã có hành vi dùng dây cáp chăng qua

đường để làm cho nạn nhân B đi xe máy vấp ngã để cướp tài sản Hành vi

trên của A thuộc dạng hành vi thứ ba được mô tả trong CTTP – hành vi khác

làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi này tuy không phải là vũ lực cũng như không phải

đe dọa dùng vũ lực nhưng có khả năng làm cho người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt Trong tình huống trên, hành vi của A đã làm

cho B ngã xuống đường bất tỉnh nên không thể làm gì được (công lâm vào

tình trạng không thể chống cự) khi mà A lấy tài sản của B rồi bỏ đi

- Về phương tiện phạm tội: đoạn dây cáp mà A dùng để chăng qua

đường

Thứ ba, mặt chủ quan của tội phạm:

Trang 4

- Về lỗi: A thực hiện tội cướp tài sản với hình thức lỗi cố ý trực tiếp Do

A đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương tiện và cách thức phạm tội (dùng dây cáp buộc 2 đầu dây vào 02 gốc cây ngang qua mặt đường, sau đó nấp sau bụi cây chờ đợi) A còn xác định thời gian thực hiện vào buổi tối (khoảng thời

gian ít người qua lại) Như vậy, A đã có sự tính toán về việc chiếm đoạt tài

sản của B (người qua đường) và đã tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để

thực hiện việc cướp tài sản được nhanh chóng và dễ dàng nhất Về lý trí, khi

thực hiện hành vi cướp tài sản A nhận thức được hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật A cũng nhận thức và biết rõ về hậu quả mà

mình phải gánh chịu khi thực hiện Về ý chí, A có ý thức mong muốn đạt

được mục đích chiếm đoạt được tài sản

- Về mục đích phạm tội: khi thực thiện hành vi phạm tội của mình, A có

mục đích chiếm đoạt tài sản

Thứ tư, chủ thể của tội phạm: Do trước đó A đã chấp hành xong hình

phạt 2 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) là tội phạm nghiêm trọng2 nên A phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên (vì A không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015), không thuộc trường hợp mất năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của

xã hội Vì thế, chủ thể phạm tội ở đây là A đã đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS để nhận thức được rõ hành vi của mình3

 Từ những phân tích nêu trên cùng và đối chiếu với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 BLHS thì hành vi của A đã thỏa mãn các dấu hiệu của tội này

Kết luận: Tội danh đối với hành vi phạm tội của A là tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS.

2 Theo điểm b khoàn 1 Điều 9 BLHS 2015.

3 “Người phạm tội cướp tài sản phải là người đủ từ 14 tuổi trở lên và khi thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.”

Trang 5

Câu 2: Xác định khung hình phạt đối với tội của A? (1,5 điểm)

Trả lời:

Định khung hình phạt là việc xác định hành vi phạm tội đã thỏa mãn CTTP cơ bản có thuộc khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ không và thuộc khung nào (trong trường hợp điều luật có quy định các khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ khác nhau) Trong những trường hợp như vậy, CTTP tăng nặng cũng như CTTP giảm nhẹ là cơ sở pháp lý để xác định khung hình phạt Nếu các tình tiết của hành vi phạm tội phù hợp với dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì khung hình phạt được áp dụng là khung hình phạt có dấu hiệu định khung hình phạt đó Nếu hành vi phạm tội không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì khung hình phạt được

áp dụng là khung hình phạt cơ bản.4

Xét tình huống đã cho, như đã nói ở trên, hành vi phạm tội của A thỏa

mãn các yếu tố CTTP của tội cướp tài sản được quy định tại Khoản 1 Điều

168 BLHS (CTTP cơ bản) Mỗi loại tội phạm có một CTTP cơ bản, ngoài ra

có thể có một hoặc nhiều CTTP tăng nặng giảm nhẹ Những dấu hiệu có thêm trong CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ trong luật hình sự được gọi là những dấu hiệu định khung, vì khi thỏa mãn những dấu hiệu đó sẽ cho phép chuyển khung hình phạt được áp dụng từ khung bình thường lên khung tăng nặng hoặc xuống khung giảm nhẹ Ở đây, A đã có hành vi dùng dây cáp chăng qua đường để làm cho nạn nhân B đi xe máy vấp ngã để cướp tài sản, hành vi phạm tội này của A phù hợp với dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội cướp tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS: “Sử dụng

vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”5

4 Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Phần chung, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 99, 100.

5 “”Thủ đoạn nguy hiểm khác" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS 1999 là ngoài các trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm để thực hiện việc cướp tài sản, người phạm tội có thể dùng thủ đoạn khác nguy hiểm đối với người bị tấn công hoặc những người khác như sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê với liều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân; đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nơi

Trang 6

Thủ đoạn nguy hiểm là việc người phạm tội sử dụng phương pháp gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại và những người khác Tính nguy hiểm của những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng không phụ thuộc vào phương tiện mà phụ thuộc vào phương pháp sử dụng, có thể phương tiện không chứa đựng khả năng gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ nhưng do người phạm tội biết cách sử dụng những phương tiện đó nên tạo ra khả năng gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác6

Cụ thể trong tình huống là A đã dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp tài sản A

đã lợi dụng lúc đêm tối dùng dây cáp buộc 2 đầu dây vào 02 gốc cây ngang qua mặt đường (cách mặt đường khoảng 25cm), hành vi này rất nguy hiểm, bởi nếu người điều khiển phương tiện đi với tốc độ nhanh thì có thể gây thương tích rất nặng hoặc sẽ dẫn đến cái chết cho người điều khiển phương tiện giao thông Và ở đây, B đã phóng xe với tốc độ cao trên đường, vướng phải sợi dây nên xe đổ, người ngã xuống đường bất tỉnh  thủ đoạn trên của

A đã thỏa mãn dấu hiệu của tình tiết tăng nặng khung hình phạt của tội cướp

tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS: “Sử dụng vũ khí,

phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”.

Kết luận: Khung hình phạt đối với tội của A là bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 168 BLHS.

Câu 3: Trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5 điểm)

Trả lời:

Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm có tính nguy hiểm cao hơn người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu vì họ

đã bị kết án nhưng vẫn phạm tội lại trong thời gian chưa được xóa án tích về

nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ; dùng dây chăng qua đường để làm cho nạn nhân đi mô tô, xe máy vấp ngã để cướp tài sản ” theo 2 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP,

về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV "các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999, ngày 25 tháng 12 năm 2001.

6 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm : bình luận chuyên sâu, Tập 2, Các tội xâm phạm sở hữu, tr.40, 41.

Trang 7

tội đã bị kết án Muốn biết trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay là tái phạm nguy hiểm thì trước hết ta phải làm rõ được trước đó A đã tái phạm mà chưa được xóa án tích hay chưa; hoặc tội phạm mà trước đó A bị kết án là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và do lỗi cố ý hay vô ý

Xét tình huống đã cho ta thấy, không có tình tiết nói rõ A đã tái phạm trước đó đã tái phạm mà chưa được xóa án tích hay chưa nên ta mặc định là A chưa tái phạm trước đó Mặt khác, tội phạm mà trước đó A bị kết án là về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) với mức cao nhất của khung hình phạt là 05 năm tù  Đây là tội phạm nghiêm trọng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS, nên có thể khẳng định trường hợp phạm tội của A là

tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS: “Tái phạm là trường hợp

đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng , tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý” Hơn nữa trường hợp phạm tội của A còn thỏa

mãn được các điều kiện bị coi là tái phạm:

Thứ nhất, người phạm tội phải là người đang bị kết án và đang có án tích.

Theo đề bài đã cho, A là người vừa mới chấp hành xong hình phạt 2 năm tù

về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điếu 171 BLHS) và chưa được xóa án tích

 Về điều kiện thứ 1, A thỏa mãn

Thứ hai, người đang có án tích đã phạm tội mới và tội phạm đó là tội

phạm cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý Trong tình huống này A đã phạm tội mới là tội cướp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp

 Về điều kiện thứ 2, A cũng thỏa mãn

Kết luận: Trường hợp phạm tội của A là tái phạm.

Trang 8

Câu 4: Do bị ngã xe, nạn nhân B không may bị đập đầu xuống đường nên đã tử vong thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A có thay đổi không? Tại sao? (2 điểm)

Trả lời:

Đối với tội cướp tài sản, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành Hậu quả của tội phạm chỉ là dấu hiệu định khung hình phạt hoặc chỉ là tình tiết để xem xét khi quyết định hình phạt Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về tính mạng thì cần phân biệt hai trường hợp: trường hợp người phạm tội giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: tội giết người và tội cướp tài sản; nhưng nếu người phạm tội không có ý định giết người mà chỉ có ý định cướp tài sản nhưng chẳng may người bị hại bị chết thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết làm chết người

Xét tình huống đã cho, A không có ý định giết người mà chỉ có ý định cướp tài sản do khi dùng dây cáp buộc 2 đầu dây vào 02 gốc cây ngang qua mặt đường A chỉ buộc cách mặt đường khoảng 25cm, khoảng cách này chỉ tạo nguy hiểm đến mức chết người khi người điều khiển phương tiện đi với tốc độ nhanh (thay vì A chăng ngang tầm cổ của người điều khiển phương tiện – đây mới là hành vi có thể đưa đến kết luận là cố ý giết người bởi tính nguy hiểm của nó rất cao) Hơn nữa, hậu quả làm chết người xảy ra là do khi

bị ngã xe, nạn nhân B không may bị đập đầu xuống đường nên đã tử vong.

Đây là trường hợp người phạm tội là A đã gây ra hậu quả chết người và lỗi của A đối với hậu quả này là lỗi vô ý

Như vậy, tội danh của A không đổi và vẫn là tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS Tuy nhiên, khung hình phạt đối với hành vi phạm

tội của A có thay đổi, do có tình tiết tăng nặng làm chết người nên khung

hình phạt của A sẽ chuyển sang khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều

168 BLHS: “bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân”

Trang 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017

2 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP, về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999, ngày 25 tháng 12 năm 2001

3 Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Trường Đại học Luật Hà

Nội, Nxb CAND, Hà Nội, 2017

4 Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Lê Thị Sơn, Bình luận khoa học Bộ luật

Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Phần các tội phạm, Quyển 1, Hà Nội, Nxb Tư pháp, 2018.

5 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội

phạm: bình luận chuyên sâu, Tập 2, Các tội xâm phạm sở hữu Nxb.

TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2002

6 Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015: bình luận chuyên

sâu Phần thứ nhất, Những quy định chung, Hà Nội, Nxb Thông tin và

Truyền thông, 2017

7 Phạm Văn Báu, Tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 10/2010, tr 3 - 9

Ngày đăng: 08/11/2022, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w