1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6

62 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường THCS Nguyễn Du
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 552,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6

Trang 1

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 Phát triển năng lực của học sinh thông qua việc rèn các kĩ năng

2.2 Rèn kĩ năng của học sinh theo hướng phát triển năng lực qua các

2.3 Kiểm tra, đánh giá năng lực làm bài văn tả cảnh của học sinh 24

2.4 Ưu điểm của giải pháp mới 25

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ

PHẦN A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Môn Ngữ văn trong nhà trường là một môn học có tầm quan trọng đặc biệttrong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, quan điểm sống, góp phần bồi dưỡng tâmhồn, hoàn thiện nhân cách cho học sinh (HS) Đồng thời là môn học thuộc nhómcông cụ, môn văn còn thể hiện quan hệ với các môn học khác Học tốt môn văn

sẽ hỗ trợ cho các môn học khác và ngược lại các môn học khác cũng góp phầnhọc tốt môn Ngữ văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, gắn học

Trang 2

với hành, gắn kiến thức với thực tiễn, tích hợp các môn học khác nhau trong việcdạy và học môn Ngữ Văn; phát huy cao nhất tính tích cực của HS từ đó nâng caochất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu đổi mới

Kiểu bài mà HS cần tạo lập trong khi học chương trình Ngữ văn Trung học

cơ sở (THCS) là khá nhiều, trong đó có kiểu bài miêu tả, đây là một trong haikiểu bài HS được học ở lớp 6 (lớp đầu cấp THCS), một kiểu bài khá quan trọng.Bởi vì khi tạo lập kiểu văn bản này đòi hỏi HS phải có sự quan sát, có trí tưởngtượng, liên tưởng phong phú; phải biết thể hiện cảm xúc, sự đánh giá của mìnhđối với sự vật, sự việc, con người, phong cảnh, nhằm làm cho những cái đượcmiêu tả hiện ra một cách cụ thể sống động như vốn có trong đời sống

Thế nhưng, qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kĩ năng làm bài văn của HScòn hạn chế, bài làm của các em về kiểu bài miêu tả nói chung, miêu tả cảnh nóiriêng chưa có chất lượng cao, thiếu nét riêng, thiếu sự sáng tạo cần có Vì vậy,việc rèn kĩ năng làm kiểu bài này cho HS lớp 6 là rất cần thiết và quan trọng,giúp các em có kĩ năng viết tốt một bài văn theo yêu cầu

Quả thật, niềm vui của mỗi người giáo viên (GV) dạy văn đâu chỉ là chấtlượng tính bằng con số mỗi năm, mà chính là những ánh mắt long lanh vì đãhiểu bài, những bàn tay tự viết ra được những lời văn óng ánh, những nụ cườithiện cảm với môn văn từ phía HS Để đạt được những điều vô cùng quý giá đó,chúng tôi không chỉ say mê nhiệt tình với công tác giảng dạy mà còn phải luôntìm tòi hướng đi hiệu quả nhất

Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài "Rèn kĩ năng làm bài văn

tả cảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6".

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:

Từ trước đến nay, trong rất nhiều tài liệu, có đưa ra phương pháp làm văn

miêu tả nói chung, phương pháp làm bài văn tả cảnh nói riêng như cuốn “Hướng dẫn tập làm văn 6” do tác gải Vũ Nho làm chủ biên hay cuốn “Những bài làm văn tự sự và miêu tả” của tác giả Nguyễn Quang Minh,… Đồng thời đây cũng là

vấn đề được nhiều GV quan tâm Đã có nhiều đề tài đề cập đến trên các trangweb http://giaovien.net, thuvienbaigiang.com.vn

Tuy nhiên, các tác giả đó đều mới chỉ nêu ra lí thuyết chung chung, và cóđưa một số bài văn mẫu nhưng còn xa vời với thực tế HS ở địa phương, mà chưahướng tới phương pháp rèn kĩ năng làm kiểu bài này

Để kế thừa và phát huy một cách sáng tạo các vấn đề mà các giáo sư, các đồngnghiệp đã đề cập đến, tôi nêu ra một số phương pháp rèn kĩ năng làm bài văn tảcảnh theo hướng phát triển năng lực cho HS lớp 6 nói chung và đặc biệt là HS giỏi

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là giúp các em nắm vững hơn kiểu bài

và các kĩ năng cần thiết, các bước làm một bài văn miêu tả nói chung và bài văn

tả cảnh nói riêng để biết vận dụng sáng tạo khi đưa yếu tố miêu tả vào trong các

Trang 3

kiểu bài khác như biểu cảm, tự sự, thuyết minh và cả nghị luận, góp phần nângcao chất lượng học tập bộ môn cho HS

Ngoài ra, việc rèn kỹ năng làm bài văn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực

sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo, vai trò trung tâm của HS trong quá trình họctập: giúp các em vững vàng hơn, tự tin hơn khi tạo lập văn bản thuộc kiểu bài này,đồng thời sẽ tháo gỡ những vướng mắc, xoá đi tâm lí ngại học văn của một số HS Bên cạnh đó, khi nghiên cứu đề tài này, tôi cũng muốn góp thêm một tiếngnói vào việc đổi mới phương pháp dạy học, giúp bạn bè đồng nghiệp khắc phụcnhững khó khăn về phương pháp rèn kĩ năng làm bài văn miêu tả nói chung, kĩnăng làm bài văn tả cảnh nói riêng cho HS, hướng tới tích hợp kiến thức liênmôn trong dạy và học

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Tìm ra những phương pháp rèn kĩ năng khi dạy bài văn miêu tả cảnh.Đồng thời đa dạng hoá phương pháp, kĩ thuật dạy học góp phần đổi mới phươngpháp dạy học nói chung, phương pháp làm kiểu bài này nói riêng

- Tìm hiểu về tình hình học tập của HS đối với bộ môn về khả năng nắm bắtkiến thức, hứng thú trong học tập, đồng thời giúp các em có những kĩ năng tốthơn khi làm bài văn miêu tả và các kiểu bài khác

- Đồng thời với đề tài này, tôi cũng muốn nghiên cứu cách thức đổi mớikiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS

V ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là phương pháp rèn kĩ năng làm bàivăn tả cảnh theo hướng phát triển năng lực của HS Thực chất đây là hoạt độngdạy của thầy, hoạt động học của trò trong các tiết làm bài văn miêu tả nói chung,bài văn tả cảnh nói riêng cho HS khối 6 ở bậc học THCS

VI PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Ngữ văn lớp 6 (phần văn miêu tả) và HSkhối 6 trường THCS Đồng Giao, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng và phối hợp nhiềuphương pháp trong đó có các phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp trình bày- giải thích;

- Phương pháp so sánh- đối chiếu: so sánh giữa giải pháp cũ thường làmvới giải pháp mới để có sự kế thừa và phát huy;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tìm hiểu kĩ các nội dung, tổng hợpnhững kết quả đã có trong việc rèn kĩ năng theo hướng phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của HS;

- Phương pháp khảo sát- điều tra: các câu hỏi và các bài kiểm tra, đánh giá

để tìm hiểu mức độ hứng thú của HS và rút ra những phần cần điều chỉnh, bổ sung;

- Phương pháp trao đổi, thảo luận: trao đổi với đồng nghiệp để bổ sung,

Trang 4

hoàn thiện các phương pháp rèn kĩ năng cho HS; trao đổi với HS, lắng nghe ýkiến từ phía các em.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Tập làm văn là một trong 3 phân môn của môn Ngữ văn Phân môn này có

vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập của HS Trongchương trình Ngữ văn THCS có nhiều dạng văn bản HS được tiếp cận Văn bảnmiêu tả là một trong những dạng văn bản trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ vănTHCS Cũng như những tác phẩm khác, ngoài mục đích văn chương, văn bảnmiêu tả với những giá trị đặc trưng riêng đã đem lại cho HS những phát triển màmỗi dạng văn bản tạo ra từ chính giá trị của bản thân tác phẩm

Văn miêu tả là loại văn viết ra nhằm trình bày những đặc điểm, tính chất nổibật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,… nhằm làm cho những cái đượcmiêu tả như hiện ra trước mắt người đọc người nghe, giúp họ có thể hình dung rachúng một cách cụ thể, sinh động Nói một cách khác văn miêu tả là loại văn thểhiện những đặc điểm nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,… mộtcách sinh động, cụ thể như nó vốn có trong đời sống Đây là loại văn giàu cảm xúc,giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá của người viết đối với sự vật, sự việc, conngười,…

Vì vậy ta có thể khẳng định rằng: “Thể loại văn miêu tả chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong sáng tác cũng như trong đời sống sinh hoạt của con người” Vậy làm thế nào để giúp HS làm tốt bài văn miêu tả?

Việc cần thiết nâng cao chất lượng, phương pháp rèn kĩ năng làm bài vănmiêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng còn được dựa trên những định hướng đổimới phương pháp dạy học Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về việc “Tiếp tục

đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” chỉ rõ “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, các bậc học [ ] cần áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS những năng lực và tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Chú ý bồi dưỡng những HS có năng khiếu”.

Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá theođịnh hướng phát triển năng lực cho HS là một yêu cầu quan trọng và cần thiết

II CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy, phương pháp dạy kiểu bài rèn kĩ nănglàm bài văn miêu tả nói chung và dạng bài tả cảnh nói riêng đã được chú trọngsong vẫn chưa phát huy tính tích cực của HS GV vẫn dạy theo tính chất khuônmẫu nhất định GV còn thuyết trình nhiều, chưa chú ý thúc đẩy năng lực và tư duysáng tạo của HS Chính vì vậy kĩ năng làm bài của HS khối 6 còn yếu dẫn đếnchất lượng các bài viết của các em chưa cao Khi tả, phương pháp quá đơn điệu;nội dung sơ sài, khuôn mẫu, sáo rỗng; hình ảnh chưa chọn lọc, còn mang tính chất

Trang 5

liệt kê; diễn đạt còn vụng về Các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,hoán dụ… chưa có hoặc ít đưa vào Ở bài viết của HS vẫn còn cách nghĩ, cáchlàm đơn giản như Tiểu học Một số em còn chưa phân biệt rõ các yếu tố tự sự, yếu

tố miêu tả, yếu tố biểu cảm Cách kết hợp giữa các yếu tố này trong bài còn lúngtúng, còn thiên lệch; dẫn đến bài làm chưa hay, chưa sinh động

Quả thật, các em đã quá quen với việc thực hành viết văn dạng văn bản mẫu

và tái tạo văn bản tương tự mẫu ở cấp Tiểu học Cho nên việc sáng tạo một vănbản nghệ thuật đối với các em HS lớp 6 là việc làm vô cùng khó khăn và ít hứngthú Hơn nữa, các em chưa thực sự say mê đọc tư liệu văn học; chưa có sự quansát tìm tòi, còn dựa nhiều vào các bài văn mẫu Điều đó đã làm nghèo nàn vốnngôn từ nghệ thuật quý giá về văn học trong mỗi HS

Bên cạnh đó, phần luyện tập làm dạng bài này trong SGK còn hạn chế.Chính vì thế cũng ảnh hưởng phần nào đến phương pháp dạy của GV và kết quảhọc tập của HS

Từ những cơ sở trên, tôi thiết nghĩ: quá trình rèn kỹ năng làm văn tả cảnhcho HS lớp 6 là một việc làm thiết thực nên làm và làm một cách cặn kẽ để cóhiệu quả tốt nhất

III NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

1 GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM:

Qua kinh nghiệm của bản thân trong nhiều năm giảng dạy và qua nhiều lần

dự giờ các đồng nghiệp, tôi nhận thấy từ trước đến nay, khi hướng dẫn HS cáchlàm bài văn tả cảnh, chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho HS nhữngnội dung kiến thức cơ bản mang tính công thức, hình thức mà chưa dành nhiềuthời gian hướng dẫn HS thực hành viết câu, viết đoạn, diễn đạt,… Trong các giờluyện tập, ôn tập, hay bồi dưỡng HS giỏi, chúng tôi thường hướng dẫn cho các

em cách làm theo trình tự các bước sau:

- Xác định xem đề bài yêu cầu sử dụng những thao tác trong quá trình làmbài như: quan sát, nhận xét, liên tưởng, ví von, so sánh,… để làm nổi bật nhữngđặc điểm tiêu biểu của sự vật

- Xác định được trình tự miêu tả một cách hợp lí Có thể là:

+ Theo trình tự thời gian: một năm theo bốn mùa (xuân, hạ, thu,

Trang 6

đông); một ngày thì theo trình tự sáng, trưa, chiều, tối,

+ Theo trình tự không gian: từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ baoquát đến cụ thể

+ Ngoài ra có thể trình bày theo đặc điểm tiêu biểu nổi bật của cảnh

Giới thiệu cảnh được tả (là cảnh gì? Tả trong trường hợp nào?)

II Thân bài (TB):

Tập trung tả chi tiết từng cảnh theo trình tự đã được lựa chọn vớinhững nét đặc điểm chung- riêng Có thể tả theo:

* Bước 3: Viết bài:

Trong bước này GV thường rèn kĩ năng viết cho HS bằng cách yêu cầu HSviết một đoạn văn sau đó GV chữa

Trên cơ sở dàn bài đã chữa, GV thường yêu cầu HS viết hoàn chỉnh ở nhà.Đôi khi có những GV thường lấy những đoạn văn mẫu, bài văn mẫu đọc cho

HS chép để HS tái tạo văn bản tương tự mẫu như ở cấp Tiểu học

* Bước 4: Đọc lại và sửa lỗi:

Thông thường khâu này ít được GV chú trọng, thường chỉ làm qua loa đạikhái, trong các tiết trả bài hoặc các tiết luyện tập GV thường yêu cầu HS đọc bàiviết (có thể chỉ là một đoạn) sau đó yêu cầu HS khác nhận xét và sửa lỗi về diễnđạt GV cũng nhận xét, sửa một vài lỗi cho HS

Ưu điểm của giải pháp trên:

Nhìn vào trình tự hướng dẫn trên, có thể thấy GV đã hướng dẫn HS làm mộtbài văn tả cảnh theo đúng các bước cơ bản, hướng dẫn HS nắm vững được cáchlàm bài, có một số kĩ năng cơ bản trong khi tạo lập bài văn tả cảnh

Một số hạn chế của giải pháp trên:

* Về phía GV:

+ Qua cách hướng dẫn trên cho thấy quá trình soạn bài và lên lớp chưađược GV chú trọng đầu tư thích đáng Cách xây dựng thiết kế bài dạy của GVhết sức đơn điệu, khô khan, chưa mở rộng, đào sâu kiến thức; chưa đa dạngtrong cách viết đoạn MB, TB hay KB

+ GV chưa thực sự chú ý phát triển năng lực và khả năng tư duy cho HS;cách hướng dẫn tổ chức HS học tập chưa thật sự hấp dẫn, ít tổ chức hoạt động

Trang 7

nhóm, chưa thúc đẩy sự hợp tác, trao đổi thảo luận kiến thức của HS.

+ Giảng dạy rập khuôn theo hướng dẫn, thiết kế mẫu có sẵn, cho dù cónhững nội dung chưa phù hợp với đối tượng HS và với từng vùng miền

+ Cách nhìn nhận về từng tiết dạy như: Luyện kĩ năng quan sát, tưởng tượng,

so sánh và nhận xét trong văn miêu tả; các tiết luyện nói; tiết viết bài hay tiết trả bàicủa GV chưa rõ ràng, còn qua loa đại khái cho xong nhiệm vụ, chưa đầu tư mộtcách thực sự, chưa nghiên cứu cụ thể chi tiết để cung cấp cho HS một cách đúngmực GV dạy HS theo lối học tủ, thuộc từng câu, từng đoạn, một bài mẫu nào đóvới cách học máy móc, học vẹt…

* Về phía HS:

+ Chưa chủ động, tích cực học tập, còn phụ thuộc nhiều vào GV

+ Kĩ năng viết các bài làm văn miêu tả nói chung, văn tả cảnh nói riêng của

HS còn rất yếu Bài viết của các em thiếu sáng tạo Một số em bài văn viết có vẻtrôi chảy, nhưng kiểm tra kĩ thì những bài văn đó hầu như các em vay mượn, saochép gần như hoàn toàn từ các bài văn mẫu…

+ Khi viết bài văn miêu tả mà nội dung các em viết hết sức sáo rỗng, câu từđơn sơ không được trau chuốt Quá trình làm bài các em không biết sử dụng cácbiện pháp nghệ thuật để làm nổi bật đối tượng nên bài viết khô khan, miêu tả sựvật còn mang tính liệt kê, cách viết ít sáng tạo HS chưa biết chọn đặc điểm cốtlõi của sự vật để làm nổi bật sự vật đó…

2 GIẢI PHÁP MỚI

Từ thực trạng đã nêu ở trên, qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và tiếp xúcvới nhiều đối tượng HS, đồng thời qua những chương trình học tập và bồi dưỡngthường xuyên, dự giờ rút kinh nghiệm từ những đồng nghiệp và đặc biệt là quaviệc tiếp thu chuyên đề “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS” tôimạnh dạn xin đưa ra một số biện pháp trong khi dạy HS kĩ năng làm bài văn tảcảnh cho HS lớp 6 Các biện pháp đó tôi đã thực hiện trong các tiết học trên lớpcũng như các buổi ôn tập, bồi dưỡng cho HS

Cũng hướng dẫn HS cách làm bài theo 4 bước trên, tuy nhiên, cái mới của giải pháp là tôi hướng dẫn các em các kĩ năng làm bài một cách cụ thể, sát thực, gắn lí thuyết với thực hành; không chỉ chú ý tích cực hóa HS về hoạt động trí tuệ

mà còn tập trung phát triển năng lực của HS: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, tăng cường việc học tập trong nhóm, đồng thời hướng HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học cũng như kiến thức liên môn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Mĩ thuật, ); vận dụng những hiểu biết tổng hợp về phong tục, văn hóa, vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm của bản thân để giải quyết các vấn đề mà đề bài nêu.

2.1 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HS THÔNG QUA VIỆC RÈN CÁC KĨ NĂNG CẦN THIẾT KHI LÀM VĂN MIÊU TẢ

2.1.1 Kĩ năng quan sát, ghi chép:

Trang 8

Đối tượng của văn bản miêu tả là những sự vật, sự việc, là thế giới thiênnhiên, là con người và cuộc sống của con người Có thể coi đó là một thế giới hếtsức đa dạng, phức tạp và sống động đang diễn ra quanh ta, thay đổi từng ngày,từng giờ Để hiểu và nắm vững đặc điểm của từng sự vật, từng con người phảiquan sát và ghi chép Chỉ trên cơ sở sự quan sát để có những nhận xét, ấn tượng,cảm xúc của mình các em mới bắt tay vào làm được bài văn

Theo tôi, đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất của phương phápdạy- học văn miêu tả Kĩ năng này thường bị HS bỏ qua nên khi làm bài các emthiếu vốn sống thực tế, bài văn nghèo về nội dung ý nghĩa, thiếu sức thuyết phục

Để rèn cho HS kĩ năng này, trước hết tôi hướng dẫn và chỉ ra cách quan sátcủa các nhà văn bằng cách đưa ra các ví dụ cụ thể cho HS học tập Nhà văn Tô

Hoài tâm sự: khi miêu tả Dế Mèn và các con vật khác trong “Dế Mèn phiêu lưu kí” với những nét riêng về đặc điểm, hoạt động, tính nết, “phong tục” của chúng

là do “tôi có nghịch và có bạn bè thân thiết với chúng nhiều” Còn nhà văn Vũ

Tú Nam bày tỏ kinh nghiệm của mình “Tôi say mê chơi các loài dế từ ngày ấy,

để bốn mươi năm sau tôi có đủ tình yêu và hiểu biết để viết “Dế chọi” và “Ong bắt dế”

Để hướng dẫn HS quan sát tôi giao cho các nhóm HS tìm hiểu một số đối

tượng như: cánh đồng lúa quê hương, dòng sông quê em, một danh lam thắng

cảnh, với yêu sưu tầm các tư liệu khác nhau: hình ảnh, tranh vẽ, bài viết, các

đoạn phim,

Sau khi HS trình bày các kết quả của mình, tôi có thể bổ sung một số tư liệu

trình chiếu trên Power Point rồi nêu vấn đề để các em nhận thấy có thể quan sátđối tượng miêu tả trong nhiều hoàn cảnh như: trên đường đi học; qua trò chơi; đitham quan, du lịch, dã ngoại, về quê; trên truyền hình, sách báo, các tác phẩmvăn học nghệ thuật; qua lời kể của người khác Muốn như vậy, các em phải tậpquan sát thực sự, quan sát nhiều lần và bằng các giác quan khác nhau, bằng tâmhồn và cảm xúc của các em, bằng tình yêu thiên nhiên, loài vật Khi quan sát,phải chú ý đến bố cục, đường nét, màu sắc, hình ảnh của cảnh và đặt ra nhữngcâu hỏi để tự lí giải và quan trọng là phải tìm được chi tiết trọng tâm, nét nổi bật,nét riêng của từng sự vật cụ thể; không nên quan sát và chọn chi tiết miêu tả mộtcách tràn lan mang tính liệt kê Nếu là một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch

sử thì cần làm nổi bật giá trị về lịch sử, văn hóa Điều đó giúp các em có thểvận dụng tích hợp với kiến thức của các môn học như Mĩ thuật, Lịch sử, Địa lí,

Ví dụ (VD) với đề bài : Hãy tả cảnh sân trường em vào giờ ra chơi Tôi

chia nhóm cho HS quan sát, ghi chép sau đó trình bày kết quả của nhóm mình.

Các nhóm khác bổ sung, hoàn thiện Qua việc hướng dẫn tôi thấy HS đã tích cựcchủ động trong việc quan sát, các em đã biết quan sát những hình ảnh, cảnh vật

mà các em thích như cảnh sân trường; cảnh thiên nhiên xung quanh; cảnh cáchoạt động của HS chơi các trò chơi hay nô đùa; cảnh HS ngồi ôn bài, đọc báo

và xác định trọng tâm cảnh là các hoạt động của HS diễn ra trên sân trường vào

Trang 9

giờ ra chơi Mỗi nhóm có thể quan sát ở các vị trí khác nhau có thể đứng ở sântrường, ở hành lang hay ở điểm nhìn cao hơn như tầng 2, hoặc tầng 3 của dãyphòng học cao tầng,… đồng thời các em huy động vốn sống, khả năng tưởngtượng và cảm xúc giúp cho việc quan sát được tốt hơn.

Tôi hướng dẫn HS tất cả những điều các em quan sát ghi nhận được cần chép lại vào một cuốn sổ tay Không cần chép dài dòng, mà chỉ điểm qua những nét chính, ngắn gọn Sẽ rất thành công nếu khi quan sát các em có những phát hiện bất ngờ thú vị Những phát hiện này sẽ là điều kiện giúp cho bài làm của các em thêm sáng tạo, độc đáo

Tính chân thực đòi hỏi bài văn miêu tả phải có các chi tiết xác thực, tả

đúng bản chất của đối tượng miêu tả; phải thể hiện được những nét đẹp đẽ,

đúng đắn trong tưởng tượng, trong tình cảm của các em khi bộc lộ thái độ vớiđối tượng miêu tả,… Nhưng nếu đối tượng miêu tả có những mặt chưa tốt,những tiêu cực thì chúng ta cần giải quyết như thế nào?

VD : Tôi nêu vấn đề để HS suy nghĩ, giải quyết: Nếu đề bài yêu cầu tả bến

tàu, bến xe,… nơi đó có lúc xảy ra những cảnh không đẹp mắt như: chen lấn, xôđẩy, mất vệ sinh,… hoặc những hiện tượng tiêu cực: trộm cắp, buôn vé,… thìnên miêu tả thế nào?

Đây là một vấn đề thực tiễn đòi hỏi các em phải thảo luận bàn bạc, nhận ra và giải quyết tình huống Như vậy các em sẽ tự nhận thấy, trong bài làm, các em có thể nói tới hoặc không nói tới các hiện tượng trên Điều này phụ thuộc sự quan sát

và ý định miêu tả của từng em, miễn là bài làm tả được chân thực như đầu bài yêu cầu Nếu bài làm có nói tới hiện tượng tiêu cực, xấu, sai… thì các em cần biểu thị thái độ phê phán của mình với các hiện tượng đó Nhưng nếu có bài làm nào chưa biểu thị được thái độ phê phán đúng mức thì sao?

Gặp trường hợp này tôi luôn bình tĩnh nhận ra rằng điều ấy đã phản ánh năng lực; tư tưởng, tình cảm của các em Do đó tôi sẽ hướng dẫn để HS dần dần nhận ra những mặt cần phê phán và có thái độ phê phán đúng mức Chính qua việc làm như vậy, đã giúp các em luyện tập cách nhìn nhận phân tích cuộc sống, góp phần hình thành nhân cách của HS.

2.1.2 Kĩ năng tưởng tượng.

Có thể khẳng định rằng nếu không có kĩ năng tưởng tượng thì bài văn miêu

tả của các em chắc chắn không thể hay được, dù là văn tả thực Nếu chỉ quan sátghi chép vào bài làm đúng y nguyên những điều đã quan sát ấy thì bức tranhmiêu tả trong bài văn sẽ quá trần trụi, thiếu sức hấp dẫn Vì vậy, HS cần có kĩnăng tưởng tượng và sáng tạo thêm để bổ sung những hình ảnh cho phù hợp, làmcho bức tranh miêu tả trở nên phong phú, sinh động hơn

Để hướng dẫn HS có được những kĩ năng này, khi dạy tôi chỉ cho HS thấyđược vai trò của trí tưởng tượng là rất lớn Nó không chỉ là yếu tố tạo nên sựphong phú cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà còn giúp cho HS tìmđược những từ ngữ và biện pháp nghệ thuật phù hợp để bài văn tả hấp dẫn hơn

Trang 10

Trước hết, tôi lấy VD hướng dẫn để HS thấy được nếu không có tưởng tượngthì nhà văn Tô Hoài không thể xây dựng được một bức tranh phong phú về thế giới

loài vật như trong tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” (SGK Ngữ văn 6 tập 2) hoặc

nhà văn Vũ Tú Nam không thể viết được trang văn miêu tả cảnh thay đổi kì diệu

của màu nước biển trong “Biển đẹp” (SGK Ngữ văn 6 tập 2 trang 47,48).

Thường thì để rèn luyện kĩ năng này ban đầu tôi có thể cho HS trao đổi, đặt câu hỏi so sánh hai đoạn văn để làm rõ vai trò của kĩ năng tưởng tượng trong

miêu tả

VD: So sánh hai đoạn văn miêu tả sau:

Đoạn văn 1: “Trên bãi cỏ sau làng, đàn bò đang gặm cỏ Con nào con nấy

hừng hục ăn một cách ngon lành, không để ý đến xung quanh Tiếng gặm cỏ nghe rào rào Nhìn cảnh tượng ấy thật thú vị biết bao”

Đoạn văn 2: “Con Nâu đứng lại, cả đàn đứng theo Tiếng gặm cỏ bắt đầu

trào lên như một nong tằm ăn rỗi khổng lồ Con Ba Bớp vẫn phàm ăn, tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống, ủi cả đất lên mà gặm Bọt mép nó trào ra, nom nó

ăn đến ngon lành Con Hoa ở gần đấy cũng hùng hục ăn không kém Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ Cu Tũn dở hơi chốc chốc lại chạy tới ăn tranh mảng cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó và đi kiếm một bụi khác” (Cỏ non- Hồ Phương)

Đưa ra hai VD này, tôi cho các em nhận xét, so sánh và thấy được:

+ Ở đoạn văn 1, người tả mới chỉ dùng những câu văn tả thực hoàn toàngiới thiệu cảnh đàn bò gặm cỏ Vì vậy đoạn văn thiếu sức gợi tả, gợi cảm

+ Ở đoạn văn 2, tác giả Hồ Phương đã kết hợp một cách tài tình giữa hìnhảnh tả thực và những hình ảnh sáng tạo nhờ trí tưởng tượng phong phú Có thểnói nhờ trí tưởng tượng phong phú đó mà tác giả khi nghe tiếng đàn bò gặm cỏ

đã liên tưởng tới âm thanh “của một nong tằm ăn rỗi khổng lồ” Và phát hiện ra

được tính cách của từng con bò qua cách gặm cỏ của chúng: Con Ba Bớp thì

“ngổ ngáo”,“phàm ăn tục uống”; con Hoa vốn “tiểu thư yểu điệu” nhưng cũng không cưỡng lại sức hấp dẫn của bãi cỏ non, “hùng hục không kém”; cu Tũn như

một chú bé con dở hơi, tinh nghịch, nũng nịu; chị Vàng đúng là một người mẹdịu dàng, quen nhường nhịn Nghệ thuật nhân hoá kết hợp với nghệ thuật sosánh đã làm cho hình ảnh đàn bò gặm cỏ hiện lên thật sống động dưới ngòi bútmiêu tả sáng tạo của tác giả

Sau đó, tôi thường đưa ra các bài tập rèn kĩ năng tưởng tượng cho HS để tăngcường tính chủ động và tư duy học tập; nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ, nănglực sáng tạo của HS

VD1: Hãy viết tiếp những câu văn sau bằng cách dùng hình ảnh so sánh:

a Con đường làng uốn lượn

b Những chiếc lá bàng mùa đông……

c Những quả dừa lúc lỉu trên cao

VD2: Em hãy sử dụng biện pháp nhân hóa để diễn đạt các ý sau đây sao cho

Trang 11

cách điễn đạt trở nên giàu hình ảnh hơn:

a Vầng trăng quê em.

b Lũy tre xanh đầu xóm.

c Khi diều hâu xuất hiện gà mẹ xoè cánh che chở cho đàn con.

VD3: Em hãy sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh để viết lại đoạn văn sau

sao cho tạo thành đoạn văn mới giàu hình ảnh và giàu sức gợi hơn:

“Đến đầm sen vào mùa hoa nở mới thấy hết vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho con người Mặt đầm phủ kín màu xanh, lấp ló những đóa sen hồng, sen trắng Những đóa sen thi nhau khoe sắc, tỏa hương.”.

Trong các bài tập này, tôi yêu cầu HS phải biết tự viết sáng tạo, biết tìm

điểm mới, điểm riêng, không nên lặp lại các hình ảnh so sánh đã quá cũ, quá sáo

mòn Sau khi hướng dẫn HS làm những dạng bài tập đó, căn cứ vào từng đối tượng HS, tôi đưa ra yêu cầu phù hợp để các em rèn kĩ năng tưởng tượng Và

trong quá trình rèn luyện cho HS, tôi đã thấy các em phát huy được trí tưởngtượng của mình

VD: Khi miêu tả đầm sen, em Phạm Thuỳ Linh lớp 6A viết như sau: “Mỗi bông sen như một toà lâu đài nhỏ bồng bềnh giữa hồ Màu xanh của lá, màu vàng của nhụy, màu trắng phớt hồng của cánh hoa tất cả đang lung linh khoe sắc dưới nắng”.

Hay em Tào Phương Anh lớp 6C lại có sự liên tưởng, tưởng tượng rất riêng:

“ Còn các nụ sen mới đẹp làm sao, từng búp, từng búp tròn lẳn, mũm mĩm tràn trề sức sống, e thẹn núp mình sau những chiếc lá ngắm nhìn những bông hoa mà lòng thầm ngưỡng mộ: các chị hoa thật lộng lẫy, các chị ấy nở bung thành những cánh tròn xoe xoe, bao nhiêu cánh úp vào nhau đều đều, xinh xắn là bấy nhiêu chiếc má xinh xinh, bầu bĩnh.”.

2.1.3 Kĩ năng so sánh

So sánh là hệ quả của quá trình liên tưởng, tưởng tượng Khi quan sát mộtđối tượng nào đó, hình ảnh của đối tượng ấy (từ màu sắc tới hình dáng, từ kíchthước tới trạng thái) thường gợi cho chúng ta nghĩ tới những hình ảnh khác cùngmột nét tương đồng nào đấy Chính sự so sánh này làm cho bài văn miêu tả của

HS hay hơn, và đối tuợng miêu tả hiện lên rõ hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn Chính

vì vậy, tôi coi việc sử dụng kĩ năng này trong quá trình làm bài văn miêu tả là vôcùng quan trọng và hết sức cần thiết Đề cập đến vấn đề này nhà văn Bùi Hiển

viết: “Tiêu chuẩn nghệ thuật đời nào cũng giống nhau - nói ít mà gợi tả được nhiều là tiêu chuẩn cao nhất.

Trong văn miêu tả cũng vậy thôi Đừng tả dài mà tìm hiểu và quan sát thật

kĩ, nắm bắt cho được cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con người, con vật, hoa trái… mà ta tả, rồi bằng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trước mắt người đọc, gợi cho người ta cùng cảm nhận, cùng suy nghĩ với mình…”

Tôi nêu ý kiến của nhà văn Bùi Hiển để các em thảo luận, trao đổi và nêu suy nghĩ của mình Qua đó, tôi hướng dẫn HS thấy được những vấn đề sau:

Trang 12

- Chất lượng của bài miêu tả là “nói ít gợi nhiều”, chi tiết đưa ra không cần

nhiều nhưng phải gợi được cảm giác mãnh liệt nhất, những hình ảnh sinh độnghiện lên trước mắt người đọc, khiến họ nhìn rất rõ và rất có ấn tượng Đươngnhiên cảm xúc mạnh đó, hình ảnh sắc nét đó phải thể hiện được lý tưởng thẩm

mĩ cao đẹp của thời đại, phải hướng tới cái Chân - Thiện - Mĩ, nâng cao tâm hồn

và nhân cách con người

- Yếu tố tạo nên chất lượng trên là cái chi tiết “có góc cạnh, sinh động” thể hiện được “Cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con người, con vật, hoa

trái”… Cái chi tiết này có được do chất lượng của sự quan sát và cách chọn lọc, các

em phải tìm ra những gì “chân thật nhưng lại ít được chú ý”, những gì giúp người đọc “nhìn rất rõ và rất có ấn tượng”, các chi tiết có tính chất tạo hình.

Khi dạy tôi hướng dẫn HS các cách so sánh và VD cụ thể để HS nhận biết

và vận dụng trong khi làm bài của mình :

Có thể so sánh vật với vật, cảnh với cảnh: VD: “Măng chồi lên nhọn hoắt

như một mũi gai khổng lồ xuyên qua đất luỹ mà trỗi dậy” (Ngô Văn Phú), “Vầng

trăng non giữa bầu trời đầy sao hệt như một cái lưỡi liềm vàng ai bỏ quên giữa cánh đồng lúa chín” (Vích-to Huy-gô)

Có thể so sánh vật với con người: VD:“Cây bưởi như người mẹ đang cần mẫn cõng trên mình lũ con đầu tròn trọc lóc” (Đoàn Giỏi).

Hoặc có thể so sánh theo hướng thu nhỏ lại: VD: “Xa xa, những cánh buồm nâu như những cánh bướm rập rờn trên mặt biển”

So sánh theo hướng phóng đại lên: VD: “Chiếc lá tre được thả xuống dòng nước, chòng chành, xoay xoay, rồi trôi đi như một con thuyền, chở theo ước mơ của chúng tôi”

So sánh theo hướng cụ thể hoặc trừu tượng hoá: VD: “Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết Tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn” (Nguyễn Tuân)

Sau đó, tôi đưa ra một số hình ảnh cho các em tự đặt câu, viết đoạn có sosánh và nêu tác dụng của so sánh ấy, rồi sửa những lỗi sai cho các em khi sosánh chưa phù hợp Trên cơ sở hướng dẫn đó, HS của tôi đã có được những cách

so sánh khác nhau về cùng một đối tượng VD cùng viết về sóng biển (trong bàiviết của các em Bùi Linh, Bùi Uyên lớp 6C; Phạm Linh, Trần Lan Trinh lớp 6A),

- Sóng biển vỗ êm ả, rì rào như lời mẹ ru con.

- Những con sóng biển nối đuôi nhau đùa rỡn, tạo nên những âm thanh rì rào như một bản tình ca.

Trang 13

Tôi nhận thấy ở kĩ năng này, một số em vận dụng chưa tốt, chưa chân thật,hoặc có em bỏ qua vì khó nhận xét hoặc không dám nhận xét vì sợ không đúng.Vậy phải nhận xét thế nào để tạo sức hấp dẫn cho bài văn?

Tôi dùng hai cách để hướng dẫn các em:

+ Trước hết, có thể nhận xét trực tiếp bằng lời bình, những câu cảm thán, những

hình ảnh so sánh: VD: “Những bông hoa rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng, nom thật đẹp”(Vũ Tú Nam)

+ Và cũng có thể nhận xét gián tiếp, bộc lộ kín đáo qua việc lựa chọn hìnhảnh miêu tả VD như nhà văn Vũ Tú Nam khi quan sát và miêu tả hình ảnh

những trái mướp lớn nhanh như thổi: “Rồi quả thi nhau trồi ra bằng ngón tay bằng con chuột Rồi bằng con cá chuối to ”

Sau đó tôi tổ chức HS làm việc cá nhân, gọi từng em nhận xét đối tượng

mình tả cho cả lớp nghe với yêu cầu khi nhận xét phải thể hiện những suy nghĩ,cảm nhận riêng về đối tượng; cách diễn đạt mang sắc thái cá nhân, thể hiện đượcnhững liên hệ, trải nghiệm riêng của HS; để tạo sự mạnh dạn tự tin cho các em

và uốn nắn sửa cho các em khi nhận xét chưa chính xác hoặc không phù hợp

2.2 RÈN KĨ NĂNG CỦA HS THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC QUA CÁC BƯỚC LÀM BÀI VĂN TẢ CẢNH.

Theo tôi, đây là một kĩ năng đặc biệt quan trọng đối với HS khi làm bài Ởkhối lớp nào cũng phải rèn kĩ năng này Nhưng đối với HS khối 6, rèn kĩ năng nàykhó hơn các khối lớp trên, bởi lớp trên là sự kế thừa của lớp 6 và nâng cao hơn.Mục đích giúp HS phân tích được đề, nắm chắc thể loại, đối tượng, phạm vi Nắmđược bố cục của bài văn miêu tả cảnh, giống và khác với bài văn tự sự ở điểm nào.Cách đặt câu, dựng đoạn, tách đoạn ở phần thân bài Cách làm một bài văn hoànchỉnh và kiểm tra lại văn bản sau khi làm xong

Để phát huy năng lực của HS, tôi hướng dẫn HS chủ động tích cực trong việc xây dựng các bước làm bài qua các hoạt động cá nhân; tăng cường việc học tập, trao đổi trong nhóm; qua sự tương tác, cộng tác giữa GV và HS, HS với HS; tạo thành các kĩ năng khi làm bài văn Cụ thể như sau:

2.2.1 Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý.

Trong bước này, tôi thường hướng dẫn HS trao đổi, hoạt động thảo luận

nhóm để tìm hiểu đề, tìm ý.

Trang 14

a Tìm hiểu đề:

Để xác định đúng yêu cầu của đề bài, tôi yêu cầu HS trao đổi, hoạt động

nhóm: đọc kĩ đề bài sau đó gạch chân những từ quan trọng Rồi xác định yêu

cầu về thể loại, về nội dung, đối tượng miêu tả, phạm vi giới hạn Khi hướng dẫn

HS tìm hiểu đề, tôi nêu một số đề từ dễ đến khó, đề yêu cầu tả một cảnh và đề tảnhiều cảnh (dạng đề tổng hợp) để học sinh xác định và phân biệt

VD các đề sau:

Đề 1: Tả cảnh cánh đồng lúa chín.

Đề 2: Em hãy tả cảnh quê hương em vào một buổi chiều nắng đẹp.

Với hai đề này, tôi hướng dẫn HS nhận biết, phân biệt đề 1 là đề tả một cảnh(cảnh cánh đồng lúa chín là cảnh trọng tâm, tiêu biểu); còn đề 2 là dạng đề tổnghợp, qua việc đọc kĩ đề, xác định những từ ngữ quan trọng, then chốt

Tôi giao nhiệm vụ cho từng nhóm tự xây dựng hệ thống câu hỏi tìm hiểu đề.

HS tự đặt câu hỏi và trả lời: Đề thuộc thể loại gì? Đối tượng? Nội dung? Phạm vi

tư liệu? Sau đó tôi sẽ khái quát lại trên cơ sở việc tìm hiểu đề của các em VDcách xác định đề 2:

- Thể loại: Tả cảnh (đối tượng tả là quê hương em)

- Nội dung tả: Cảnh sắc của quê hương (gồm những cảnh khác nhau nhưcảnh cánh đồng, cảnh dòng sông, con đường làng )

- Phạm vi giới hạn: Cảnh quê hương em vào một thời gian cụ thể - mộtchiều nắng đẹp

Tôi hướng dẫn cho các em thấy: Đây là một đề bài dạng miêu tả cảnh tổnghợp Vậy thế nào là cảnh tổng hợp và cách xác định đề tổng hợp như thế nào?

Trước hết, tôi nêu vấn đề để các nhóm suy nghĩ, trao đổi, thảo luận và trình bày

ý kiến của mình, trên cơ sở đó tôi hướng dẫn HS cách xác định đề yêu cầu tả

cảnh tổng hợp thường chứa những từ ngữ như: “một miền quê, quê hương em, cảnh vùng quê, hoặc cảnh nơi em ở ” Vậy còn cảnh tổng hợp là như thế nào?

Đó là cảnh gồm nhiều cảnh nhỏ, cảnh lẻ Những cảnh nhỏ, của quê hươngthường là cảnh cánh đồng, dòng sông, con đường làng, cây đa, lũy tre, bờ đê,giếng nước, sân đình sau đó các em phải hình dung được cụ thể về cảnh miêu

tả ở thời gian nào (mùa nào), ở không gian nào (cảnh đó như thế nào) Việc xácđịnh được đúng yêu cầu của đề như ở ví dụ trên sẽ giúp các em rất nhiều trongviệc định hình được đối tượng miêu tả

b Tìm ý: Tôi tổ chức cho HS hoạt động nhóm nhằm hợp tác giải quyết

nhiệm vụ được giao và kết quả sẽ do đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khácnhận xét bổ sung Qua trao đổi thảo luận, HS định hình được hướng đi của bàiviết văn miêu tả cảnh, HS đã hiểu được các bước tìm ý cho bài văn tả cảnh phảitheo một trình tự: Tìm ý bao quát không gian của cảnh chung sẽ tả, sau đó cụ thể

sẽ có những cảnh nào? Cảnh như thế nào? Và phải xác định được các ý lớn, ýnhỏ

- Trước hết, bao quát không gian cảnh được coi là một thao tác ban đầu, rất

Trang 15

quan trọng trong việc định hình tâm thế cũng như điểm nhìn cho người thưởng thứcbức tranh cảnh vật bằng ngôn từ Vậy cách giới thiệu bao quát không gian cảnh như

thế nào Tôi nêu vấn đề để HS suy nghĩ, trao đổi và đưa các cách tìm ý như sau:

+ Để tả bao quát cảnh, trước hết phải có câu xác định vị trí miêu tả kháiquát Thường là một vị trí cao hơn, xa cảnh trung tâm để có thể chụp được toàncảnh miêu tả vào nhãn quan của người quan sát một cách tương đối trọn vẹn.+ Sau câu văn giúp người đọc biết được vị trí của người quan sát là nhữnglời văn nhận xét, đánh giá khái quát đầy nghệ thuật về cảnh chung đó (các em đã

ý thức được rằng: đây là những lời văn sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ saocho cảnh tả phải hiện lên sống động, tự nhiên, hồn hậu, trong sáng sát hợp vớiyêu cầu của đề mà phần trước đã xác định và mang tình cảm riêng của ngườiquan sát cảnh)

* Một vài ví dụ cụ thể:

VD: Tả bao quát cảnh quê hương em vào một buổi sáng mùa thu:

Đứng trên đầu đê, ngắm nhìn toàn cảnh làng quê, tôi như đang đắm mình trong sắc thu vàng của chốn quê hương thanh bình, trù phú.

Hay một VD khác về cảnh quê hương vào buổi sáng mùa xuân :

Đứng giữa cánh đồng, giang rộng cánh tay mà cảm nhận về làng quê Ôi! quê hương tôi đẹp như một người mẹ hiền đang âu yếm những đứa con Thật ấm

áp, thanh bình đầy sức sống

- Những ý cốt yếu nhất trong bài văn miêu tả cảnh là xác định cụ thể nhữngcảnh nào? (Nếu là đề tổng hợp thì cảnh sẽ chia thành nhiều cảnh đơn, còn nếu là

đề tả một cảnh đơn thì cảnh đó như thế nào? có những điểm nổi bật gì?)

HS phần lớn thường sa vào kiểu gặp đâu nói đó và không hề xác định đượcrằng mình đang tả cảnh có mục đích làm nổi lên diện mạo như thế nào, có làmbật lên được tư tưởng chủ đề mà mình đã xác định được ở đầu bài yêu cầukhông Để khắc phục tình trạng này, tôi cho HS luyện kỹ năng xác định, lựachọn những đặc điểm tiêu biểu của cảnh sẽ tả

VD

: Với đề bài “Cảnh khu vườn vào buổi sáng mùa thu”.

Đầu tiên, tôi cho HS xác định chủ đề của cảnh sẽ miêu tả là một cảnh khuvườn tươi tốt, đầy hoa thơm trái ngọt, rất thanh bình, dân dã mà mang được vẻtrù phú của chốn quê hương yêu dấu, đặc biệt cảnh phải mang được dáng dấpcủa thời gian, không gian mà đề quy định (có đặc trưng của mùa thu) Sau đó, tôihướng cho HS tái hiện từng hình ảnh của khu vườn theo trí tưởng tượng của các

em nhưng phải sát với thực tế cuộc sống Có thể là :

Cảnh giàn thiên lý trước sân nhà ngào ngạt dậy hương buổi sớm, hình ảnh cây cau cạnh bể nước với những tàu lá già giang rộng, đọt lá non cao vút; hình ảnh vườn hoa đua sắc vàng thu cùng ong bướm; hình ảnh vườn rau tươi tốt cũng mang đặc trưng mùa thu: cải sen làm dưa đang lên ngồng đang trổ hoa vàng rực, những ngọn mồng tơi đang quăn mình leo lên bờ dậu để ra quả vắt mình sang thu; tiếp đó là hình ảnh hàng cây ăn quả với những hương vị màu sắc

Trang 16

của thu: thơm lựng chuối tiêu trứng cuốc đốm vàng, những trái na mở mắt nhìn nắng thu, cây hồng trái chín như những chấm son trên nền trời thu

Với cách làm như trên, tôi đã cho HS luyện tập tìm đặc điểm cho nhiều cảnhkhác nhau với những thời gian, không gian đa dạng Các em được luyện tập dưới

hình thức: “thi nhau tìm đặc điểm” sau đó tôi hệ thống lại và giúp các em chọn lựa

những đặc điểm tiêu biểu nhất trong mỗi cảnh Như thế sẽ tạo được hứng thú của

HS với cảnh sẽ tả, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động của HS

2.2.2.Bước 2: Lập dàn ý.

Trong bước này tôi thường chia lớp thành các nhóm nhỏ, tổ chức hoạt động

nhóm yêu cầu HS xây dựng dàn ý, mỗi em sẽ suy nghĩ và viết các nội dung của

mình sau đó cả nhóm sẽ thảo luận, tìm ra những ý kiến chung, thống nhất trongnhóm Khi có kết quả các nhóm sẽ trình bày và nhóm khác sẽ nhận xét bổ sung.Sau đó tôi sẽ nhận xét hướng dẫn cụ thể, hoàn chỉnh dàn ý của đề đó nhưng luôntôn trọng sự sáng tạo riêng của các em

VD: Hãy tả cảnh buổi sáng mùa hè trên quê hương em

* MB: Có thể nêu một số ý sau:

- Giới thiệu chung về khung cảnh định tả (thời gian, không gian, điểm nhìn )

- Nêu cảm nhận chung của em về cảnh buổi sáng mùa hè ở quê hương

* TB:

- Tả được cảnh thiên nhiên và con người trong buổi sáng mùa hè trên quê

hương (miêu tả theo một trình tự nhất định: trình tự thời gian, không gian )

- Cảnh thiên nhiên: miêu tả được cây cối, hoa lá, khí hậu, tiết trời mangđặc điểm mùa hè (vừa yên ả, thanh bình vừa tươi vui, náo nức, đầy sức sống)

+ Bầu trời, ánh nắng, cơn gió nhè nhẹ những đặc trưng thời tiết mùa hè;+ Cánh đồng lúa chín vàng, hương lúa thơm ngào ngạt ;

+ Cây cối: còn ướt sương, um tùm sum suê hoa trái, toả bóng mát;

+ Hoa lá với nhiều sắc màu: tiêu biểu hình ảnh những hàng phượng hoa

đỏ rực trên nền lá xanh non hoà lẫn với màu xanh của trời, những cây bằng lăng

* KB: Suy nghĩ, cảm xúc của em về buổi sáng mùa hè trên quê hương.

2.2.3.Bước 3: Viết bài hoàn chỉnh

Đây là một bước quan trọng nhất của một bài làm văn, HS vận dụng kiếnthức tổng hợp và phương pháp làm bài để tự tạo ra một tác phẩm mới của chínhmình, thể hiện sự sáng tạo với lối viết riêng mang dấu ấn cá nhân của mỗi em;đồng thời đây là kết quả lao động của cả thầy và trò trong suốt quá trình dạy học.Chính vì thế, tôi cẩn thận hướng dẫn các em rèn các kĩ năng sau:

a Rèn kĩ năng dùng từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả.

Trang 17

Đối tượng HS lớp 6 là HS đầu cấp THCS nên vẫn có thói quen sử dụngngôn ngữ của HS Tiểu học- ngôn ngữ đơn giản, câu từ còn lủng củng chưa thoát

ý, chưa biết cách lựa chọn từ ngữ tiêu biểu, chọn lọc, giàu hình ảnh Chính vì thếngoài việc cung cấp cho HS một số vốn ngôn ngữ trong văn miêu tả, tôi hướngdẫn các em cách lựa chọn từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật để minh họa chi tiếtthật nổi bật, thật có hồn và giàu hình ảnh

* Trước hết, việc sử dụng từ ngữ trong văn miêu tả là một yêu cầu quantrọng Để làm tốt được, HS phải có một vốn từ phong phú và quan trọng hơn làphải biết lựa chọn tinh tường, sao cho giữa một hệ thống các từ đồng nghĩa, gầnnghĩa, có thể lẩy ra được một vài từ phù hợp, chính xác nhất

Khi rèn cho HS, tôi thường lưu ý các em phải luôn có thói quen tìm từ gợihình, biểu cảm và phải lựa chọn từ ngữ phù hợp Muốn làm nổi bật hình ảnh củađối tượng thì chú ý nhiều đến hệ thống từ tượng hình (tả màu sắc, hình dáng,trạng thái ); muốn làm nổi bật không khí của cảnh thì chú ý tới hệ thống từtượng thanh (mô phỏng âm thanh của tự nhiên)

Tôi đưa ra VD cụ thể: Tìm những từ ngữ gợi hình, gợi thanh khi tả sóng biển

hay tả cơn mưa rào tôi yêu cầu HS làm việc theo nhóm, trao đổi thảo luận và tìm

các từ khác nhau rồi nêu vấn đề: các từ ấy được dùng như thế nào? Sau quá trình

trao đổi, nêu ý kiến cùng với vốn sống thực tế các em tự nhận thấy: Tả cảnh sóng

biển có nhiều từ ngữ gợi hình, gợi thanh: cuồn cuộn, nhấp nhô, lăn tăn, rì rầm, rì

rào, lô nhô, ì oạp Nhưng không phải miêu tả sóng lúc nào cũng dùng được tất cả

các từ ấy Tả sóng biển lúc biển động thì phải dùng từ cuồn cuộn; tả tiếng sóng biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ ì oạp; tả tiếng sóng biển vọng lại trong đêm mà nghe từ xa thì phải dùng từ rì rầm

Ngay cả âm thanh của tiếng mưa rào cũng có sự phân biệt rõ: mưa giáo đầu thì

lẹt đẹt; mưa trên mái tôn thì rào rào; mưa đập vào phên nứa đồm độp; mưa đập vào

tàu lá chuối thì lùng bùng; mưa từ mái tranh giọt đổ xuống sân thì ồ ồ

Sau đó tôi đưa ra các dạng bài tập điền từ vào chỗ chấm; tìm từ lạc trongnhóm từ; sửa từ chưa chính xác trong các câu; sửa lỗi liên kết câu; tìm từ giàuhình ảnh, sinh động để biểu đạt các sự vật, hiện tượng (đối tượng miêu tả) để HSrèn luyện kĩ năng dùng từ…

Tôi có thể cho các dạng bài tập sau:

VD1: Tìm những từ láy, tính từ gợi tả thích hợp để điền vào chỗ trống trong

các câu văn sau :

a, Tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền như lời ru cho làng chài yên giấc ngủ.

b, Những con sóng nô giỡn cùng bãi cát vàng.

c, Những con sóng hiền từ gối lưng lên nhau mạn thuyền

VD2: Cho các từ, cụm từ sau: Nhấp nhô, chấp chới, rập rờn, xanh biêng

biếc, xanh mơn mởn, tấp nập, tung tăng.

Em hãy lựa chọn các từ ngữ phù hợp thay thế cho các từ in đậm trong cáccâu văn sau để được các câu văn cụ thể, sinh động hơn

Trang 18

a, Mùa thu, con sông quê tôi nước rất xanh.

b, Những cánh cò trắng muốt bay trên cánh đồng lúa chín.

c, Xa xa, những ngọn núi cao thấp, vài ngôi nhà thấp thoáng.

VD3: Tìm những từ ngữ gợi tả sắc nắng Chọn khoảng năm từ để viết một

đoạn văn tả cảnh một ngày nắng đẹp

Lưu ý: Việc làm giàu vốn từ cho HS bằng các hoạt động dạy học nói trên,

tôi không chỉ yêu cầu chung chung với HS là các em cần tích luỹ vốn từ đã học

mà quan trọng là giúp các em biết sử dụng “sổ tay vốn từ”, hình thành thói quen khi gặp “từ hay” là ghi ngay vào sổ và phải thường xuyên đọc sách, báo

Thiếu niên Tiền phong, sách những bài văn chọn lọc dành cho HS THCS… để có vốn từ phong phú Đồng thời, tôi lên kế hoạch kiểm tra hàng tháng, biểu dương những HS có sổ tay tích lũy được nhiều từ mới.

* Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ, vấn đề tạo hình ảnh trong khi làm vănmiêu tả cũng rất quan trọng Nếu HS viết những câu văn miêu tả giàu hình ảnhthì sức gợi cảm của bài văn sẽ tốt hơn

Tôi rèn cho các em tạo hình ảnh cho câu văn miêu tả bằng nhiều cách: hoặcdùng những từ ngữ tượng hình, tượng thanh; hoặc bằng các nghệ thuật so sánh,

ẩn dụ, nhân hoá

Để giúp HS thực hiện tốt yêu cầu này tôi thường sử dụng hệ thống bài tậpđiền các từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm vào chỗ trống; tìm những cáchdiễn đạt có cách tạo hình ảnh hay hơn và sau đó là dùng những từ ngữ, biện phápnghệ thuật để viết câu, viết đoạn

Qua các dạng bài tập đó, tôi đã phát huy được năng lực giao tiếp tiếng Việt vànăng lực cảm thụ cho HS: HS không chỉ nắm được cách sử dụng biện pháp nghệthuật trong viết câu còn biết cách liên kết các câu trở thành một đoạn văn hoànchỉnh, hay và hấp dẫn, có thể gây được sự chú ý cho người đọc, người nghe:

Ví dụ: Tôi có thể cho HS làm bài tập sau:

Hãy so sánh các cách diễn đạt sau và cho biết cách diễn đạt nào hay hơn

Em hãy giải thích rõ lí do vì sao mình chọn?

1 Dòng sông chảy qua cánh đồng.

2 Dòng sông lượn qua cánh đồng.

3 Dòng sông vắt qua cánh đồng.

Tôi hướng dẫn để các em nêu cảm nhận của mình và nhận thấy, cả ba câuđều miêu tả về dòng sông nhưng hình ảnh dòng sông trong mỗi câu văn đem lạinhững ấn tượng khác nhau đối với người đọc

Câu 1: Đây là một câu văn tả thực, chỉ miêu tả đơn thuần về hình ảnh một

dòng sông như trong thực tế đời sống Cách viết rất bình thường nên ai cũng cóthể làm được

Câu 2: So với câu 1, cách viết này đã có hình ảnh hơn Bởi với từ “lượn”

câu văn đã góp phần gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh về một dòng sông mềmmại, duyên dáng Vẻ đẹp này góp phần tô điểm thêm cho bức tranh thiên nhiên

Trang 19

Câu 3: Đây là câu văn hay hơn cả Với cách dùng từ “vắt” câu văn giúp

người đọc không chỉ hình dung được vẻ đẹp mềm mại của dòng sông mà còncảm nhận được vẻ đẹp nên thơ, trữ tình của nó Dòng sông ấy như một nhịp cầuthật duyên dáng nối khoảng không gian giữa đôi bờ Câu văn có sức gợi hình,gợi cảm nhiều hơn, cách miêu tả không chỉ bằng thị giác mà còn bằng sự cảmnhận tinh tế, nhạy cảm; bằng tình yêu quê hương thiết tha, sâu nặng Đây cũngchính là một sáng tạo về nghệ thuật tạo hình ảnh trong khi viết văn miêu tả

Rõ ràng chỉ khác nhau một từ thôi nhưng cách gợi hình, gợi cảm của ba câu

đã khác nhau

Trên cơ sở bài tập này, tôi hướng dẫn các em cách dùng từ ngữ, hình ảnhkhi miêu tả để tạo nên những độc đáo, sáng tạo riêng

b Rèn kĩ năng đặt câu, dựng đoạn trong khi làm văn miêu tả.

* Việc sắp xếp ngôn ngữ trong bài văn miêu tả thể hiện sự linh hoạt, sángtạo của mỗi em Câu văn không chỉ đúng nội dung, đúng ngữ pháp mà còn phảihay và độc đáo, phải có sự biến hoá linh hoạt Để rèn cho HS kĩ năng đặt câu,viết câu linh hoạt, tôi thường lưu ý HS lựa chọn kiểu câu phù hợp với hoàn cảnh,với tình huống, với nội dung miêu tả và cả cảm xúc của các em: có thể đan xencâu bình thường và câu đặc biệt, câu đơn với câu phức, câu dài với câu ngắn

và cũng có thể dùng kiểu câu đảo ngữ để gây ấn tượng cho người đọc

VD: Tả đồng quê thanh bình yên ả, HS có thể dùng câu dài như:“Cánh đồng trải xa tít tắp, mênh mông với sóng lúa lăn tăn, gợn nhẹ, đuổi nhau chảy dài đến tận chân trời”.

Tả hoa phượng, dùng câu đảo ngữ như: “Trên cành cây, lác đác xuất hiện những bông hoa phượng đầu mùa”.

* Dựng đoạn văn chính là cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lý,logic, chặt chẽ, mạch lạc HS thường rất lúng túng không biết tả cảnh cụ thể là

tả cảnh gì? Tả như thế nào? Theo trình tự từ đâu? Các em thường sa vào kể lể,liệt kê cảnh một cách tràn lan, không làm nổi bật được những đặc trưng củacảnh và càng không tạo được ấn tượng cho người đọc về cảnh Vậy phải làmnhư thế nào để khắc phục khó khăn này Trước hết tôi hướng cho HS hình dungmỗi một cảnh nhỏ sẽ viết thành một đoạn văn trọn vẹn Đoạn văn đó sẽ đượctrình bày theo trình tự từ khái quát cụ thể Câu đầu đoạn bao giờ cũng là câumiêu tả khái quát cảnh đó

VD: Về một đoạn văn miêu tả cảnh dòng sông: Dưới chân em là dòng sông hiền hoà chảy như một tấm lụa trải dài xa tít Sau câu tả khái quát là một loạt câu miêu tả cụ thể theo trình tự từ gần đến xa theo tầm mắt VD: mùa này nước sông lưng chừng nước, nước sông trong xanh in bóng mây trời sâu thẳm Mái chèo khuấy động làm rung rinh cả những cây tóc tiên dưới đáy Trên mặt sông điểm xuyết những lá trúc vàng bé tẻo teo như những chiếc thuyền tí hon dập dềnh trên sóng nước bao la Cá nước bơi từng đàn đen trũi, nhô lên hụp xuống như những người bơi ếch Những con sóng lăn tăn như những con rắn vẩy

Trang 20

vàng, vẩy bạc đang nô đùa Sóng vỗ nhẹ hai bên bờ lóc bóc nghe thật vui tai Trời chiều, trên sông có những con thuyền hối hả cập bến, chất đầy cau tươi xoài thơm từ các miền đất lạ mang về Tiếng người lao xao trong tiếng hạ buồm cót két bên bờ sông quê

Trong quá trình miêu tả, tôi lưu ý HS chọn trình tự miêu tả phù hợp với vịtrí quan sát kết hợp lời văn so sánh, lời văn nhận xét, đánh giá và sự liên tưởngtưởng tượng phong phú Ý câu trước với câu sau logic với nhau tạo liên kết vềmặt nghĩa Những câu cuối đoạn thường là những câu có ý nghĩa sâu sắc, làmđậm nét cho bức tranh thiên nhiên vì vậy tôi hướng dẫn HS biết dành những lờivăn nổi bật hơn vào cuối đoạn

Theo cách hướng dẫn trên, tôi tổ chức cho HS hoạt động cá nhân với yêu cầu HS viết sáng tạo với các mức độ khác nhau: luyện viết thành nhiều đoạn

cho nhiều cảnh Để hiệu quả hơn, tôi có thể cho chủ đề và yêu cầu HS viết đoạntheo các chủ đề đó hoặc cụ thể hơn, tôi có thể viết trước một câu văn miêu tảkhái quát sau đó cho các em vận dụng các kĩ năng để tạo ra những đoạn vănmiêu tả mang phong cách riêng của mỗi em

c Rèn kĩ năng viết lời văn chuyển cảnh, liên kết đoạn khi làm bài

Lời văn chuyển cảnh không nhiều nhưng có tác dụng rất lớn trong việc liênkết, liên hoàn mạch văn, nó đánh giá trình độ khéo léo của các em khi miêu tảcảnh Tôi sẽ “mách nhỏ” cho HS những thủ thuật chuyển cảnh sau đây:

- Các cảnh nhỏ được nối tiếp nhau một cách tự nhiên theo mô típ liên cảnh

(cảnh kề gần nhau theo tầm quan sát) VD: Chỉ một lát con đường đã dẫn ra tới đầu làng Cây đa giếng nước, sân đình

- Chuyển cảnh nhờ những hình ảnh trung gian VD: “Bờ đê cao to vạm vỡ Chân đê cỏ mọc thành thảm xanh tốt Trâu bò thung thăng gặm cỏ, vểnh đôi tai nghe tiếng sáo trở về Âm thanh ấy lúc trầm lúc bổng, hoà nhịp với tiếng chim hoạ mi lảnh lót rắc đều xuống mặt sông Con sông quê tôi nằm uốn khúc giữa làng rồi chạy dài bất tận”…

- Hướng chuyển cảnh theo gam màu.VD: “Sáng nay ra trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi Màu lúa chín dưới đồng vàng suộm lại Nắng nhạt ngả màu vàng hoe Trong vườn lắc lư những quả xoan vàng lịm Từng chiếc lá mít vàng ối Buồng chuối đốm quả chín vàng Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng”

- Chuyển cảnh bằng cách nối âm thanh với không gian VD: Nối âm thanh của

sự vật bên bờ sông với không gian vắng của bến sông (lấy động làm nổi tĩnh);

“Sóng vỗ nhẹ hai bên bờ lóc bóc nghe thật vui tai Trên sông giờ đây có những con thuyền hối hả cập bến, chất đầy cau tươi xoài thơm từ các miền đất lạ mang về Tiếng người lao xao trong tiếng hạ buồm cót két bên bờ sông quê Chiều dần buông, bến sông trở về vắng lặng Những con đò nằm im đợi khách qua sông ”

- Chuyển cảnh bằng cách liên tưởng theo sự quan sát qua các giác quankhác nhau: Thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác và bằng cả cảm giác nữa VD:

“Vườn cây lao xao, gió thoảng đâu đây mùi hương quả chín, hương hoa thơm

Trang 21

ngọt lịm Tiếng chim líu lo như đem hương thơm ấy bay cao, cao mãi Tu hú kêu trong nắng chiều cho rặng vải ven sông chín đỏ, cho cái chua bay đi, miền ngọt còn lại Hẹn một bến sông quê từng thuyền trái ngọt ra vào Sông quê tôi.”…

Với các phương pháp này tôi cho HS tập viết, kết hợp với học tập tư liệu để

có nhiều cách chuyển cuốn hút

Qua cách hướng dẫn của tôi, các em đã biết chuyển cảnh trong trong các bàiviết của mình Chẳng hạn, để chuyển cảnh trong bài văn tả cảnh mùa thu vớinhững đêm trăng sáng, em Vũ Thu Phương lớp 6C có cách chuyển cảnh theo

gam màu, theo sự quan sát như sau: “Đêm xuống, mảnh trăng nhẹ tênh, mỏng manh trôi bồng bềnh trên nền trời chi chít ánh sao Rồi trăng không còn khuyết

mà tròn tròn vành vạnh khi đến giữa mùa thu Chưa bao giờ mặt trăng tròn và sáng đẹp như thế Ánh trăng sáng vàng, ngọt lịm như rót xuống mặt đất ”

d Rèn kĩ năng viết cách mở bài và kết bài ấn tuợng

Mô hình bố cục của một bài văn miêu tả thông thường gồm ba phần như tôi

đã trình bày ở trên Theo mô hình này thì bài văn miêu tả của HS chỉ MB bằngviệc giới thiệu đối tượng và KB bằng cách nêu cảm nghĩ của người viết Nhưvậy là quá đơn điệu, rập khuôn Để bài văn của các em sáng tạo hơn, tôi hướngdẫn các em chọn một số cách MB và KB khác

- Tôi đưa ra một số đề bài để HS tự luyện theo:

+ Cách MB hay thường là gián tiếp: Có thể giới thiệu cảnh bằng lời mời gọi

du khách để giới thiệu cảnh và bộc lộ cảm xúc của người viết một cách kháiquát Có thể dẫn dắt từ lời thơ, bài hát về cảnh sẽ tả hoặc có thể bộc lộ cảm xúc,hồi tưởng về cảnh để giới thiệu cảnh, (Cách này thường dùng cho HS khá giỏi)+ MB trực tiếp: giới thiệu luôn đối tượng cần tả (Dùng cho học sinh đại trà)+ Nghi vấn: Đặt câu hỏi và khẳng định tình cảm của mình về đối tượng cần tả

Dù là cách MB nào thì tôi luôn lưu ý HS phải đảm bảo đủ ý cần nêu trong đó

- KB không những đủ ý chốt của bài viết mà nên tạo độ lắng cho nốt trầmxao xuyến vang vọng trong tâm hồn người đọc Điều này phụ thuộc vào trình độdiễn đạt của HS, vì vậy tôi hướng các em trau dồi tư liệu văn học Có thể KB

bằng một câu văn tả như: “Đêm đã khuya, vầng trăng càng sáng, vằng vặc trên vòm cao mênh mông như đang thao thức cùng trời đêm.”

Hay “Cánh đồng lúa vẫn rập rờn, rập rờn trong gió Hương thơm dịu dịu toả ra Lan xa Lan xa ”

Cũng có thể KB bằng một lời mở ý hoặc để lửng cho người đọc tự cảmnhận Hoặc KB bằng một vài lời tâm tình trực tiếp với đối tượng được miêu tả

VD kết bài cho đề văn miêu tả cảnh mùa xuân: “Cảm ơn mùa xuân! Cảm ơn những điều kì diệu mà đất trời đã ban tặng cho thiên nhiên và con người”

Hay KB bài cho đề miêu tả cảnh mùa thu trên quê hương như sau: “Chiều thu- quê hương ơi! Hồn tôi như hoá thành tiếng sáo trúc nâng trên môi chú bé mục đồng và hình như thu đang dạo lên khúc nhạc đồng quê; những tiếng lao xao rất nhẹ, rất êm Chiều nay quả là một buổi chiều sâu lắng dìu dịu, nó sẽ in

Trang 22

đậm mãi trong ký ức tuổi thơ tôi”.

Trên cơ sở hướng dẫn của tôi, các em đã viết được những phần MB và KB khá

ấn tượng Chẳng hạn với đề bài: “Tả cảnh một buổi sáng mùa đông” em Lê Minh Châu lớp 6A đã viết phần MB như sau: “Khi trời dần bớt nắng vàng, gió thu không còn mơn man nhẹ thổi và mặt trời thường ngủ sau những đám mây sẫm màu, đó là lúc mùa đông vừa gõ cửa Đông đang về trên quê hương em!”

Theo tôi đó là một cách MB khá ấn tượng, vừa đảm bảo những yêu cầu cầnphải có của phần MB, vừa giới thiệu được khoảnh khắc giao mùa với cách dẫndắt khéo léo đồng thời nêu bật được cảm xúc của người viết

Hay với đề bài “Tả cảnh dòng sông quê hương” em Vũ Huy Hùng lớp 6C

đã viết một KB ngắn gọn nhưng sáng tạo và cảm xúc “Ôi! Dòng sông quê hương! Dòng sông luôn luôn chảy, luôn luôn đầy ắp kỷ niệm và mênh mang trong sâu thẳm nỗi nhớ, trong tâm hồn non trẻ của tôi”.

Sau khi hướng dẫn HS: Cách tìm ý cho bài văn tả cảnh; rèn kỹ năng diễnđạt; rèn kỹ năng dựng đoạn; luyện lời văn chuyển cảnh, liên kết đoạn; luyện viết

MB và KB cho bài văn tả cảnh Tôi yêu cầu HS lập dàn ý, viết bài làm văn tảcảnh hoàn chỉnh

2.2.4 Bước 4: Đọc và kiểm tra lại bài viết

Bước này, tôi chú ý rèn luyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nóicho HS; đồng thời rèn thói quen, tính cẩn thận, không được chủ quan, sau khiviết bài cần đọc lại bài viết, kiểm tra lỗi chính tả, diễn đạt để sửa lại hoặc chú ý

nếu bài làm lạc đề, lạc nội dung Tôi thường tổ chức cho HS hoạt động nhóm:

đọc bài và tự đánh giá nhận xét, bổ sung, nhận ra các lỗi sai trong bài làm củabạn trước khi GV đánh giá nhận xét

Tôi yêu cầu các em đọc bài thật kỹ, cẩn thận nhằm phát hiện những ưu điểmcủa bài làm: bài hay, câu hay, ý hay, dùng từ sáng tạo, hình ảnh độc đáo, bố cụcchặt chẽ,… và chỉ ra những lỗi phổ biến các bạn thường mắc phải: Dùng từ chưachính xác, câu văn chưa hoàn chỉnh, thiếu hoặc thừa thành phần chủ - vị, chưa rõnghĩa, lặp từ, lặp ý hoặc thừa thành phần không cần thiết Tất cả những ưu -khuyết điểm đó cần ghi chép cụ thể để làm cơ sở cho việc chữa bài

Trên cơ sở đó tôi chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp HS chữa bài

* Chữa lỗi sai:

Đây là khâu quan trọng hàng đầu, HS có thể nhận được cái sai, cái chưađược, có tìm được cách sửa chữa lỗi hợp lý không chính là ở khâu này

+ Chữa lỗi về dùng từ: tôi chọn những câu văn HS dùng từ thiếu chính xác.

Yêu cầu HS biết phát hiện lỗi, biết nhận xét và sửa lỗi

VD: Miêu tả cảnh làng quê em vào một buổi sáng đẹp trời.

Khi viết về cảnh bình minh lên với tiếng gáy báo hiệu của chú gà trống, có

HS viết câu: “Chú gà trống vỗ cánh bạch bạch, cất tiếng gáy vang đón ông mặt

trời thức dậy” Xét về góc độ ngữ nghĩa, cú pháp thì câu văn hoàn toàn đúng,

song từ “bạch bạch” là từ tượng thanh, chỉ cho ta nghe âm thanh khi chú gà

Trang 23

trống vỗ cánh, nhưng chưa toát lên được vẽ oai vệ của chú gà trống qua đôi

cánh Tôi gợi mở giúp HS tìm được từ thay thế, đó là từ “phành phạch”, không

chỉ gợi tả âm thanh mà còn gợi cho ta thấy hình ảnh đôi cánh chú gà trống vừamạnh vừa khỏe

+ Chữa lỗi về câu: Lỗi về câu có rất nhiều dạng, song khi chữa tôi không

thể chữa dàn trải vì thời gian có hạn Cần chọn lựa từng loại sai để sửa, lỗi khácdành vào tiết sau, có kế hoạch từng bước chắc chắn

sửa câu này như sau: “Mùa đông lá bàng đỏ rực cả một góc sân trường như một ngọn lửa sưởi ấm trái tim mỗi người học trò”

VD2: Tả cảnh bình minh trên quê hương em.

Có HS viết: “Ánh nắng trải dài trên những cánh đồng lúa xanh rờn Nó chiếu lên những nhành cây, nó dịu dàng tô điểm cho cảnh vật ” Tôi nêu câu

hỏi: có thể thay thế từ “nó” ở câu thứ hai bằng từ nào? Nhiều ý kiến của các emđưa ra: có thể thay thế từ “nó” bằng từ “ánh nắng”, từ “nắng”, “giọt nắng” Khi

đó các em sửa được câu đó như sau: “Ánh nắng trải dài trên những cánh đồng lúa xanh rờn Ánh nắng chiếu lên những nhành cây Những giọt nắng mai dịu dàng như tô điểm cho cảnh vật càng thêm đẹp đẽ”.

Ngoài ra khi chữa bài, tôi cũng giúp HS biết sửa lỗi liên kết câu thành đoạn,liên kết đoạn thành bài văn trôi chảy Điều này cũng hết sức quan trọng khi trìnhbày một bài văn miêu tả

Bên cạnh đó, tôi còn yêu cầu HS biết phát hiện và chữa lỗi bài làm củamình Sau đó tôi hướng dẫn các em cách khắc phục, sửa chữa, rèn kĩ năng đểlàm bài tiếp theo được tốt hơn Đồng thời tôi chú ý phân loại đối tượng HS đểrèn cho phù hợp Khen chê chính xác Động viên và khích lệ các em cố gắng làmbài sau hay hơn bài trước Và sau khi chữa xong, tôi thường chọn ra một số bàilàm hay, sáng tạo, độc đáo, tiêu biểu nhất của lớp để đọc cho các em nghe đểtham khảo, học tập

2.3 KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM BÀI VĂN TẢ CẢNH CỦA HS.

Theo tôi, sau khi tổ chức HS học và làm bài văn dù ở thể loại nào cũng phảikiểm nghiệm, đánh giá bằng nhiều hình thức như kiểm tra miệng, 15 phút, 1 tiết,

2 tiết HS làm bài ở trên lớp, làm ở nhà Còn GV qua việc kiểm tra, chấm - trảbài đánh giá kết quả đạt được của HS, nhận thấy những ưu nhược điểm trong bàilàm, từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy-học góp phần nâng cao chất lượng dạy học Chính vì vậy, ngoài việc kiểm tra

Trang 24

theo đúng phân phối chương trình, tôi tăng cường kiểm tra thêm, nhất là các đợt

ôn tập để rèn kĩ năng làm bài cho HS được tốt hơn

Tôi chú ý ra đề phù hợp với đối tượng HS, phù hợp với thời gian; khoa học,chính xác Ngoài các đề trong sách giáo khoa, để đổi mới kiểm tra theo hướngphát triển năng lực của HS tôi cũng cho học sinh làm thêm một số đề ngoàiSGK, những dạng đề theo hướng mở và tích hợp (trong môn và liên môn) để HSnắm được nhiều dạng bài, dạng đề Để khi gặp phải đề lạ, các em không lúngtúng mà tự tin vận dụng kiến thức và phương pháp làm bài VD các đề sau:

- Bình minh trên quê hương em.

- Khúc giao mùa của quê hương.

- Biển đẹp.

- Xuân đã về!

Với cách kiểm tra, đánh giá trên, HS sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khácnhau trong giải quyết vấn đề; các em nêu được suy nghĩ, quan điểm riêng củamình đồng thời vận dụng được những kiến thức trong sách vở và trong cuộcsống hợp lí, tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em

2.4 Ưu điểm của giải pháp mới:

Qua những nội dung mà tôi trình bày ở trên, có thể nhận thấy giải pháp cũchỉ mới là những công thức chung, GV đã hướng dẫn HS có một số kĩ năng cơbản khi làm bài văn tả cảnh nhưng chưa phát huy được tính sáng tạo, chưa chútrọng rèn kĩ năng cho HS Chính vì thế, trên cơ sở kế thừa phương pháp cũ, tôi

đã mạnh dạn đưa ra giải pháp mới như trên Khi áp dụng các giải pháp này, tôinhận thấy có những ưu điểm như sau:

* Đối với học sinh:

- HS được “nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”

thông qua các hình thức học tập cá nhân, hợp tác thảo luận nhóm; học trong lớp,học ở ngoài lớp; chủ động tích cực trong việc xây dựng các bước làm bài

- Được cung cấp những tri thức, kĩ năng để làm kiểu bài văn miêu tả nóichung, miêu tả cảnh nói riêng một cụ thể, chi tiết, có hiệu quả cao Nâng cao kĩnăng thực hành; HS chủ động, tích cực phát huy được năng lực của mình Kết quảhọc tập được nâng lên rõ rệt qua các kì thi khảo sát do trường tổ chức khảo nghiệm

- HS có một hệ thống về phương pháp làm bài cũng như vốn hiểu biết hếtsức phong phú về ngôn từ phục vụ cho phân môn tập làm văn, đặc biệt là thể loạivăn miêu tả

- Cách hình thành phương pháp học tập cho các em không chỉ dừng lại ở thểloại văn miêu tả, mà còn được các em vận dụng vào các thể loại tập làm vănkhác, các môn học khác

- Khơi dậy được ở các em tính tò mò, thích khám phá, nhìn thế giới bênngoài phong phú và đa dạng hơn Giúp các em có được tình yêu với những cảnh

Trang 25

vật bình thường như: dòng sông, cánh đồng, mái trường… rộng hơn là tình yêuquê hương đất nước trong tâm hồn các em.

* Đối với giáo viên:

- Có một hệ thống thiết kế bài dạy hết sức cụ thể, chi tiết, có tính hiệu quảtrong dạy học Đảm bảo cân đối mối quan hệ giữa dung lượng kiến thức của bàihọc với quỹ thời gian cho phép, phương pháp truyền thụ của GV cũng trở nênlinh hoạt và có chiều sâu hơn

- Tổ chức các hoạt động dạy - học chú trọng phát triển năng lực của HS GV

có thể khơi dậy niềm say mê hứng thú, khả năng sáng tạo cho mỗi HS; địnhhướng tư tưởng tình cảm của HS, giúp các em có những ước mơ hoài bão, tìmtòi khám phá để vươn tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ

- Tạo nên không khí văn chương trong các giờ học, làm cho giờ dạy mangđậm chất văn

3.

KẾT QUẢ ÁP DỤNG.

Khi áp dụng giải pháp mới, tôi đã thu được những kết quả khá phấn khởi.Tôi nhận thấy các em đã nắm vững được lí thuyết và áp dụng thực hành tạo lậpvăn bản tương đối tốt Kĩ năng viết văn miêu tả của các em có những tiến bộ rõrệt qua từng bài viết HS phát huy được tính sáng tạo, biết tìm và phát hiện ra

những “cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con người, con vật, hoa trái”,

các em đã hào hứng hơn khi viết văn

* Đối với chất lượng đại trà, tôi đã áp dụng phương pháp dạy học này từnăm 2012 đến nay đối với HS lớp 6 mà tôi trực tiếp giảng dạy Chúng tôi chọnmột lớp đối chứng và một lớp thực nghiệm đề tài Thời gian tiến hành thựcnghiệm vẫn diễn ra bình thường theo kế hoạch và thời khoá biểu của nhà trường

để đảm bảo tính khách quan Đo lường bằng kết quả các bài kiểm tra, các bài thitheo đề thi chung của Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục, chất lượng được nâng

dần Cụ thể kết quả đạt được như sau:

chứng 6E (33 HS)

Lớp thực nghiệm 6C (33 HS)

Lớp đối chứng 6B (32 HS)

Lớp thực nghiệm 6A (32 HS)

Trang 26

Độ chênh lệch

Qua bảng số liệu trên đã thấy được sự khác biệt rất rõ rệt giữa lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng Tỉ lệ điểm trung bình trở lên khá cao, trong đó điểmkhá giỏi cao hơn nhiều so với lớp đối chứng dù chỉ cùng một giáo viên dạy Kếtquả ấy cho thấy khả năng viết văn của các em ở lớp thực nghiệm được cải thiệnđáng kể Ngoài ra tôi còn khảo sát bằng bài kiểm tra trắc nghiệm về độ say mêyêu thích phân môn Tập làm văn của các em, qua khảo sát cuối năm tôi nhậnthấy 80% HS yêu thích phân môn này trong khi đó đầu năm học chỉ là 40%.Điều này chứng tỏ tính khả thi của đề tài mà tôi trình bày ở trên Đây là dấu hiệurất đáng mừng, tôi không còn lo ngại về tình trạng HS chán học văn, ngại viết

văn như trước đây nữa.

* Về công tác bồi dưỡng HS giỏi, vận dụng phương pháp rèn kĩ năng nàytrong quá trình ôn tập, tôi thấy hiệu quả rất rõ rệt Kết quả đội tuyển Văn 6 củatrường luôn xếp thứ nhất toàn Thị xã qua các lần khảo sát, nhiều em trong độituyển có điểm thi đứng đầu toàn Thị Điều phấn khởi hơn là số lượng HS yêuthích môn học ngày càng nhiều

4 BÀI HỌC KINH NGHIỆMƠ

Qua quá trình thực hiện đề tài tôi rút ra một số kinh nghiệm khi dạy phânmôn Tập làm văn nói chung, văn miêu tả nói riêng như sau:

* Về phía Giáo viên:

- Phải nắm vững nội dung phương pháp dạy từng thể loại, dạng bài Nghiêncứu soạn bài cụ thể, chi tiết; không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ; nhiệt tình trong giảng dạy, quan tâm đến chất lượng của từng HS

- Hướng dẫn HS phương pháp học tập bộ môn, kết hợp nhuần nhuyễn giữa líthuyết với thực hành, tăng cường thực hành (phải luyện nói nhiều, luyện viết nhiều)

- Nắm vững đối tượng HS, phải hiểu được khả năng tiếp thu của mỗi em

Tổ chức các hình thức dạy - học phong phú theo sát từng đối tượng HS Tăngcường hình thức thảo luận theo nhóm nhưng phải phù hợp với bài và đạt hiệuquả cao, tránh hoạt động hình thức mới phát huy tính tích cực chủ động, tư duysáng tạo của các em

- Chú trọng đổi mới kiểm tra đánh giá, nhất là việc ra đề văn theo hướng mở.Khích lệ động viên các em sáng tạo Khen thưởng kịp thời những bài làm hay, cho

cả lớp học tập Chữa những bài làm yếu, đưa ra hướng khắc phục để các em làmbài tiếp theo được tốt hơn Mặt khác GV cũng phải kiên trì sưu tầm, chọn lọc tưliệu giá trị để cung cấp cho HS đồng thời hướng dẫn các em cách vận dụng sángtạo những tư liệu để biến thành cách diễn đạt riêng của bản thân mình

- GV cần thường xuyên trao đổi, dự giờ thăm lớp, học hỏi đồng nghiệp đểrút kinh nghiệm cho bản thân nhằm nâng cao tay nghề

- Phải thực sự tâm huyết với môn mình dạy, với công việc mình làm Phải

Trang 27

có đức tính kiên trì, nhẫn nại, cần cù, chịu khó rèn HS lớp 6 một cách tỉ mỉ,chăm chút Không quản khó khăn, vất vả dành nhiều thời gian, động viên khích

lệ HS thì sẽ đạt được thành công trong quá trình giảng dạy

* Về phía HS:

- Nắm vững kiến thức bài học từ đó cần tìm tòi, khám phá, suy ngẫm, vậndụng được các kiến thức, kĩ năng đã học trong các phân môn của tiếng Việt, củacác môn học khác, của các lớp dưới vào học tập phân môn tập làm văn

- Tích cực rèn luyện các kĩ năng như quan sát, liên tưởng, so sánh, nhận xét;thực hiện làm một bài văn miêu tả đúng quy trình, biết cách chọn lọc các chi tiếtmiêu tả đặc sắc

- Tích cực tham gia các hoạt động nhóm, tương tác trao đổi tích cực, tiếpcận tri thức; gắn lí thuyết với thực tiễn

5 HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI:

Áp dụng sáng tạo phương pháp mới đem lại những hiệu quả nhất định cụthể như sau:

5.1 Hiệu quả kinh tế:

Sau khi áp dụng sáng kiến, tôi nhận thấy đây là một giải pháp có khả năngtiết kiệm cao về kinh tế, thời gian và công sức trong việc tìm kiếm thông tin chongười dạy và người học Không đòi hỏi nhiều về phương tiện thiết bị dạy họchiện đại đắt tiền

5.2 Hiệu quả xã hội:

- Với phương pháp này, chúng ta sẽ bồi đắp thêm tình yêu văn chương, giáodục tình cảm cao đẹp, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ của HS, giúp các em vươn tớinhững giá trị đích thực của cuộc sống

- HS có hứng thú học tập hơn: tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo để mởrộng vốn hiểu biết

- HS vận dụng tốt các kiến thức liên môn, có những hiểu biết về ngôn ngữ,văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí, phong tục,

- GV chia sẻ, giúp đỡ nhau trong chuyên môn Tạo môi trường giáo dụcthân thiện, gắn bó, gần gũi giữa thầy và trò

- Bên cạnh đó, chất lượng môn Ngữ văn được nâng lên rõ rệt, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục của toàn ngành

6 ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:

6.1 Điều kiện cơ sở vật chất:

Với điều kiện cơ sở vật chất của các trường như hiện nay đều áp dụng được

đề tài này bởi nó không đòi hỏi về phương tiện kĩ thuật hiện đại, không yêu cầuquá cao về trang thiết bị máy móc mà chủ yếu phụ thuộc khả năng sư phạm củangười thầy

6.2 Về trình độ giáo viên:

Trang 28

Hiện nay hầu hết các trường đều có đội ngũ GV đạt trình độ chuẩn và trênchuẩn, nhiều GV có kinh nghiệm, năng động nhiệt tình, yêu nghề nên đây cũng

là điều kiện lí tưởng để chúng ta áp dụng đề tài này

Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi nhận thấy vận dụng các phươngpháp rèn kĩ năng làm bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 6 là rất cần thiết và quantrọng giúp các em có kĩ năng viết tốt một bài văn miêu tả nói chung và bài văn tảcảnh nói riêng Phương pháp dạy học này đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới đemlại hiệu quả rất khả quan, có thể áp dụng để giảng dạy cho nhiều đối tượng HS,nhiều trường học khác nhau Với phương pháp rèn kĩ năng này, còn đánh thứcniềm đam mê văn chương, sự sáng tạo trong mỗi HS, bước đầu tạo cho các em

sự yêu thích môn học này, đó là cơ sở giúp các em học tốt hơn ở các lớp trên

II ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

1 Đối với nhà trường

- Cần nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, đi sâu vào cáchội thảo chuyên đề, dạy thể nghiệm, rút kinh nghiệm cho GV về phương phápdạy bộ môn Có nhận xét đánh giá nhân rộng điển hình

- Tổ chức các buổi ngoại khoá để nâng cao năng lực cảm thụ thơ văn cho

HS, đồng thời giúp các em mở rộng vốn kiến thức, vốn sống

2 Đối với cấp trên

- Cần tăng cường hội thảo, dạy chuyên đề, dạy thể nghiệm để thống nhấtphương pháp dạy cho từng kiểu bài

- Những sáng kiến kinh nghiệm có chất lượng cao nên phổ biến rộng rãi cho

GV học tập

Trang 29

Trên đây chỉ là một kinh nghiệm nhỏ, tôi đưa ra để bạn bè đồng nghiệp cùngtham khảo Rất mong nhận được sự đóng góp bổ sung của lãnh đạo chuyên môn,các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp, để đề tài sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tam Điệp, ngày 10 tháng 04 năm 2015

NGƯỜI VIẾT

Tống Thị Lan Anh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn lớp 6 (NXB Giáo dục).

2 Thiết kế bài giảng Ngữ văn lớp 6 (NXB Hà Nội).

3 Hướng dẫn Tập làm văn 6

Tác giả : Vũ Nho chủ biên (NXB Giáo dục).

4 Những bài làm văn tự sự và miêu tả

Tác giả: Nguyễn Quang Minh (NXB Giáo dục)

5 Ngữ văn 6 nâng cao (NXB Giáo dục).

6 Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 6

Tác giả: Cao Bích Xuân (NXB Giáo dục)

7 Giúp em viết tốt các dạng bài Tập làm văn lớp 6

Tác giả: Huỳnh Thị Thu Ba (NXB Giáo dục)

Trang 30

*XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT SKKN

TRƯỜNG THCS ĐỒNG GIAO.

Nhất trí xếp loại:

Đồng Giao , ngày tháng năm 20

Hiệu trưởng - Chủ tịch hội đồng

*THẨM ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT SKKN

PHÒNG GIÁO DỤC TAM ĐIỆP.

Nhất trí xếp loại

Tam Điệp, ngày tháng năm 20

Trưởng phòng - Chủ tịch hội đồng

Ngày đăng: 08/11/2022, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Những bài làm văn tự sự và miêu tảTác giả: Nguyễn Quang Minh (NXB Giáo dục) 5. Ngữ văn 6 nâng cao (NXB Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (NXB Giáo dục)"5. Ngữ văn 6 nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo dục)"5. Ngữ văn 6 nâng cao "(NXB Giáo dục)
6. Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 6 Tác giả: Cao Bích Xuân (NXB Giáo dục) 7. Giúp em viết tốt các dạng bài Tập làm văn lớp 6 Tác giả: Huỳnh Thị Thu Ba (NXB Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (NXB Giáo dục) "7. Giúp em viết tốt các dạng bài Tập làm văn lớp 6 Tác giả: Huỳnh Thị Thu Ba
Nhà XB: NXB Giáo dục) "7. Giúp em viết tốt các dạng bài Tập làm văn lớp 6 Tác giả: Huỳnh Thị Thu Ba "(NXB Giáo dục)
1. Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn lớp 6 (NXB Giáo dục) Khác
2. Thiết kế bài giảng Ngữ văn lớp 6 (NXB Hà Nội) Khác
3. Hướng dẫn Tập làm văn 6 Tác giả : Vũ Nho chủ biên (NXB Giáo dục) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w