1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” phiên bản tiếng việt có phù hợp để sử dụng trên đối tượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao hay không

94 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân
Trường học Trường Đại học Thể Dục Thể Thao TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Thể dục thể thao
Thể loại Luận văn/thư luận
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chuyển ngữ, thích ứng văn hoá và đảm bảo giá trị nội dung cho thangđo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt trên đốitượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Khách thể nghiên cứu 4

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu 4

6.1 Nội dung 4

6.2 Phạm vi 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Phương pháp luận 4

7.2 Phương pháp nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân 6

1.1.2 Những nghiên cứu về thang đo TAIS 8

1.2 Một số vấn đề lý luận 13

1.2.1 Lý luận về chú ý 13

1.2.2 Lý luận về mô hình phong cách chú ý 18

1.3 Thích nghi thang đo 18

1.3.1 Quy trình thích nghi thang đo 18

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26

Trang 2

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Vài nét về khách thể, phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu 27

2.1.1 Khách thể nghiên cứu 27

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2 Tổ chức thực hiện nghiên cứu 28

2.2.1 Nghiên cứu lý luận 28

2.2.2 Thu thập thông tin 28

2.2.3 Viết đề tài 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 28

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng thang đo 29

2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Chuyển ngữ và thích ứng hoá thang đo 31

3.2 Thông tin về mẫu nghiên cứu 32

3.3 Độ tin cậy thang đo 35

3.3 Tính giá trị thang đo 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 49

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Tiếng Việt 52

Tiếng Anh 52

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

ST

T

thang đo TAIS2

40 - 43

đo phong cách tập trung

44 - 45

tập trung

45 - 47

đo phong cách tương tác liên cá nhân

47 - 48

tương tác liên cá nhân

48 - 50

Trang 5

MỞ ĐẦU

Chú ý là đã từ lâu là một khái niệm được quan tâm trong tâm lý học,những ý tưởng sơ khai về nó gắn liền với Triết học xuất phát từ đầu thế kỷ 15

có vai trò ở việc hình thành trí nhớ (Phùng Phương Thảo, 2013) Đầu thế kỷ 18

và 19 chú ý bắt đầu được quan tâm đến như một quá trình trong tâm lý, chú ýđóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của tri giác, nhận thức, hành động

và ảnh hưởng đến quyết định của chúng ta (Andrade, 2004) Trong đó nhữngnghiên cứu về phân chia các chiều kích của chú ý được nhen nhóm từ nhữngnăm đầu thế kỷ 19 và kéo dài đến đầu thế kỷ 21 với mong muốn xác định cácloại chú ý khác nhau và ảnh hưởng của từng loại Năm 1976, mô hình phongcách chú ý lần đầu được giới thiệu để đáp ứng nhu cầu trên Kể từ khi ra đời môhình phong cách chú ý chứng minh hiệu quả của bản thân thông qua các nghiêncứu về ảnh hưởng của nó đến các vấn đề như: trầm cảm(Nederhof et al., 2014),khả năng chịu áp lực(Sattizahn et al., 2016), hiệu suất chơi thể thao (Di Corrado

et al., 2014; Hijazi, 2013; Vallerand, 1983), kết quả học tập (Jones et al.,2017), hiệu quả điều trị bệnh (Lindberg et al., 2010)

Theo từ điển tâm lý APA, liên cá nhân (interpersonal) nghĩa là liên quanđến các hành động, sự kiện và cảm xúc giữa hai hoặc nhiều cá nhân Theo đó,

kỹ năng tương tác liên cá nhân là một năng lực cho phép một người thực hiệncác tương tác và mối quan hệ hiệu quả với những người khác, chẳng hạn nhưkhả năng truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc hoặc đảm nhận các trách nhiệm xã hộithích hợp Tập hợp của nhiều kĩ năng tương tác liên cá nhân tạo thành phongcách tương tác liên cá nhân của mỗi người

Trong lĩnh vực tâm lý học thể thao, chú ý được xem như là một nhân tốquan trọng ảnh hưởng đến kết quả trình diễn của cầu thủ (Abou Elmagd, 2016;Vallerand, 1983) bởi vì các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, nhận thức,trí nhớ ngắn hạn đều có liên quan đến nó Các cầu thủ phải nâng cao khả năng

Trang 6

đối đầu với các vật sao nhãng và tập trung lại chú ý của mình và nâng cao nănglực phân chia chú ý(Abou Elmagd, 2016) Mô hình phong cách chú ý sẽ giúpcác huấn luyện viên thể thao và các nhà giáo dục thể chất nhận thức được từng

sự khác biệt của cá nhân trong sự phát triển của các cơ chế chọn lọc chú ý cóvai trò trong việc lưu trữ và truy xuất thông tin liên quan đến các nhiệm vụ khácnhau(Nideffer, 1990) Theo nhu cầu trên, một công cụ cần đo phong cách chú ýcủa mỗi cá nhân là rất cần thiết (Abou Elmagd, 2016) Cùng với phong cách chú

ý, trong thể thao, phong cách tương tác liên cá nhân của một cầu thủ cũng sẽảnh hưởng đến việc tạo trạng thái đỉnh cao của bản thân họ (Nideffer, 1990)

Với các ngành khoa học xã hội nói chung và ngành tâm lý học nói riêng,việc phát triển các công cụ đo lường đã từ lâu là một vấn đề được quan tâm.Theo hiệp hội Tâm Lý học Hoa Kì (APA), công cụ đo lường tâm lý là công cụtiêu chuẩn, bao gồm thang đo và kiểm kê tự báo cáo, được sử dụng để đo lườnghành vi hoặc các thuộc tính tinh thần, chẳng hạn như thái độ, hoạt động cảmxúc, trí thông minh và khả năng nhận thức (lý luận, hiểu, trừu tượng, v.v.), năngkhiếu, giá trị, sở thích và tính cách nét đặc trưng Mục đích cuối cùng là có thểphân loại và nhận biết rõ hơn về đặc điểm tâm lý của cá nhân để từ đó đưa ramột số dự đoán

Hiện nay tại Việt Nam, lĩnh vực thể thao đang ngày một phát triển toàndiện ở nhiều môn Trong đó sức khoẻ.đặc biệt là sức khoẻ tâm lý của tuyển thủ

là một vấn đề được quan tâm nhằm đảm bảo cầu thủ luôn trong trạng thái tốtnhất Tuy nhiên các nghiên cứu hiện nay chỉ mới ở mức bắt đầu tiếp cận một sốvấn đề tâm lý trong thể thao như: bầu không khí tâm lý (Vũ Ngọc Ái Vy,2013) , trạng thái tâm lý xấu (Nguyễn Mạnh Hùng, 2020) Đáng lưu ý đó lànhững bộ công cụ được sử dụng trong các nghiên cứu hoặc chưa được thíchnghi trên đối tượng vận động viên (Vũ Ngọc Ái Vy, 2013) hoặc được mượn từcác phạm trù khác trong tâm lý học (Nguyễn Mạnh Hùng, 2020)

Trang 7

Như vậy thực tế đã chứng minh, việc có một bộ công cụ đo lường vềphong cách chú ý và tương tác liên cá nhân là cần thiết và có nhiều ý nghĩatrong cả lâm sàng lẫn nghiên cứu Hơn nữa, việc có bộ công cụ đo lường haikhái niệm trên đặc hiệu trên đối tượng cầu thù là đặc biệt cần thiết Năm 1976,Robert M.Nideffer giới thiệu Thang Đo Phong Cách Chú Ý và Tương Tác Liên

Cá Nhân (Test of Attentional and Interpersonal Style) là công cụ đầu tiên trongviệc đo lường hai khái niệm trên, thang đo sau đó được đánh giá về đặc tính tâmtrắc (psychometric properties) cho thấy có độ tin cậy cao (Cronbach Alpha ởmức 0.62 – 0.84) và thoả mãn giá trị cấu trúc (Nideffer, 1976), thông qua liênlạc với tác giả thang đo sau đó được phát triển phiên bản thứ 2 (TAIS2) với sốcâu ngắn hơn thông qua liên(Vassos, 2009) Các nghiên cứu sau đó chỉ ra rằngthang có hiệu quả cao với đối tượng vận động viên (Nideffer, 2001; Nideffer,1990; Vallerand, 1983) Hiện nay tại Việt Nam, sinh viên chuyên ngành thể dụcthể thao chính là nguồn để đào tạo thành vận động viên chuyên nghiệp sau nàynên sẽ có những đặc điểm giống với khách thể vận động viên Từ những lí dotrên, đề tài “Thích nghi thang đo phong cách chú ý và tương tác liên cá nhântrên sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao ” được tổ chức thực hiện nhằmthích nghi thang đo Phong cách chú ý trên đối tượng phù hợp

Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là thang đo “Phong cách chú ý và tương

tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt có phù hợp để sử dụng trên đối tượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao hay không ?

Trên cơ sở xây dựng cơ sở lý luận về phong cách chú ý và tương tác liên

cá nhân, thích nghi thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” đồngthời đề xuất các hướng ứng dụng bộ công cụ này

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phong cách chú ý và tương tác liên cánhân trên đối tương sinh viên thể dục thể thao

Trang 8

- Chuyển ngữ, thích ứng văn hoá và đảm bảo giá trị nội dung cho thang

đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt trên đốitượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao

- Xác định độ tin cậy và giá trị cấu trúc của thang đo “Phong cách chú ý

và tương tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt trong đo lường phong cách chú

ý và tương tác liên cá nhân ở sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao

- Đề xuất hướng ứng dụng bộ công cụ trên

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thích nghi thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân”

4.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên ngành thể dục thể thao tại khoa Giáo Dục Thể Chất – đại họcHuế, đại học Sư phạm Thể tục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh

H1: Thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” có thể sử dụngtrên đối tượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao

7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận nhưphong cách chú ý, phong cách tương tác liên cá nhân, chú ý, thích nghi thang

Trang 9

đo Nghiên cứu đề tài gồm Thích nghi thang đo, bình luận về giá trị của thang

đo được thích nghi so với thang đo gốc

7.1.2 Quan điểm thực tiễn

Thực tiễn là nguyên nhân cũng như điều kiện phong cách chú ý và tươngtác liên cá nhân hình thành và phát triển Việc nghiên cứu trong đề tài sẽ khảosát thực tiễn để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu trên khách thể nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợpcác phương pháp sau:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tính tần

số, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, phân tích độ tin cậy, phântích nhân tố khám phá làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương phápđiều tra bằng thang đo

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân.

Chú ý là trạng thái trong đó các nguồn lực nhận thức tập trung vào cáckhía cạnh nhất định của môi trường hơn là các khía cạnh khác và hệ thần kinhtrung ương ở trạng thái sẵn sàng phản ứng với các kích thích (APA) Chú ý baogồm 4 khía cạnh( phân chia, di chuyển, duy trì và chọn lọc) (Koss, 1994) Trong

đó dựa trên khía cạnh phân chia chú ý theo chiều rộng phản ánh việc tiếp nhận một lúc nhiều hay ít kích thích, và hướng phản ánh chú ý hướng vào bên trong

hay bên ngoài, Robert M.Nideffer lần đầu đề xuất mô hình phong cách chú ý.(Nideffer, 1976) Phong cách chú ý không có định nghĩa chính xác nhưng có thểhiểu là xu hướng sử dụng của chú ý của một người

Tuỳ theo khía cạnh của chú ý về các loại phong cách chú ý khác nhau.Dựa trên khía cạnh về duy trì sẽ có phong cách Duy Trì chú ý và Di Chuyển chú

ý (Nederhof et al., 2014; Sattizahn et al., 2016) Dựa trên chọn lọc chú ý sẽ cóphong cách chú ý Trọng Tâm(Di Corrado et al., 2014) Ngoài ra cùng một khíacạnh nhưng sẽ có những cách chia phong cách khác nhau Dựa trên phân chiachú ý còn sẽ có phong cách Liên Kết và Phân Li (Jones et al., 2017)

Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh được vai trò của phong cách chútrong cả lầm sàng và nghiên cứu Về mặt nghiên cứu, nghiên cứu của (Nederhof

et al., 2014) về giả thuyết rằng những người có phong cách chú ý Di Chuyển cótrải nghiệm rủi ro tiền trưởng thành hay không và liệu rằng việc này có liênquan đến trầm cảm Kết quả chỉ ra rằng, những người có phong cách Di Chuyểntrải nghiệm rủi ro tiền và hậu trưởng thành nhiều hơn người có phong cách DuyTrì và việc này có là nguyên nhân của trầm cảm Cũng về trầm cảm, có một sốgiả thuyết về phương thức điều trị trầm cảm liên quan đến thay đổi phong cáchchú ý (Sebastian, 2013) Nghiên cứu của (Jones et al., 2017) về ảnh hưởng của

Trang 11

phong cách chú ý lên kết quả nhận thức, tình cảm của học sinh ở lớp học thểdục Kết quả thu được cho thấy phong cách Liên Kết tích cực hơn phong cáchPhân Ly cả về mặt kiên định và có trải nghiệm Trong lâm sàng, phong cách chú

ý cho thấy có liên quan đến việc bệnh nhân chạy thận tuân thủ khuyến nghị điềutrị, dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả điều trị(Lindberg et al., 2010) Trong lĩnhvực thể thao, nghiên cứu của (Majzub & Muhamad, 2010) trên khách thể cầuthủ golf đã cho kết quả phong cách chú ý dự đoán được hiệu suất thi đấu củatuyển thủ Đồng quan điểm trên, nghiên cứu của (Sattizahn et al., 2016) chothấy ở những tình huống áp lực cao những người có chú ý ly tán sẽ ảnh hưởnghiệu suất trí nhớ ngắn hạn và dễ gây ra lỗi

Theo từ điển tâm lý APA, liên cá nhân (interpersonal) nghĩa là liên quanđến các hành động, sự kiện và cảm xúc giữa hai hoặc nhiều cá nhân Theo đó,

kỹ năng tương tác liên cá nhân là một năng lực cho phép một người thực hiệncác tương tác và mối quan hệ hiệu quả với những người khác, chẳng hạn nhưkhả năng truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc hoặc đảm nhận các trách nhiệm xã hộithích hợp Phong cách tương tác liên cá nhân được định nghĩa như là xu hướngcách con người tương tác với ngừoi khác, theo đó nhân cách của mỗi ngườiquyết định cách họ tương tác với người khác(Alevriadou & Pavlidou, 2016).Những nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa phong cách tương tác liên cánhân của mối người với các vấn đề như: trầm cảm (Hisli Şahin et al., 2011),bạo lực cặp đôi (Yalch & Levendosky, 2016), hiệu quả điều trị trầm cảm(Messina et al., 2018), phong cách làm cha mẹ (Meisel, 2021) Trong lĩnh vựcthể thao, nghiên cứu của (Matosic et al., 2017) cho kết quả phong cách tươngtác liên cá nhân dạng Hỗ Trợ của huấn luyện viên có tương quan dương đếnđộng lực của tuyển thủ

Tại Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu chỉ ở mức mới bắt đầu quan tâmđến chủ đề chú ý Nghiên cứu của ( Phùng Phương Thảo, 2013) về khả năngchú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chỉ cho kết quả về thực trạng vàbiểu hiện của khả năng chú ý Nghiên cứu của (Đinh Công Dũng, 2011) trên đối

Trang 12

tượng sĩ quan quân sự cũng chỉ dừng lại ở khảo sát về thực trạng nhận thức vềtầm quan trọng của chú ý đối với việc học tập Hơn nữa cả hai nghiên cứu trênđều tự xây dựng bộ công cụ dựa trên lí luận về chỉ báo và thiết kế nghiên cứu

mà chưa thật sử dụng một bộ công cụ chuẩn khi khảo sát về chú ý Như vậyhiện nay, tại Việt Nam chưa có những nghiên cứu nào về mô hình phong cáchchú ý và tương tác liên cá nhân

Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy vấn đề về phong cáchchú ý và tương tác liên cá nhân được quan tâm nghiên cứu trên toàn thế giớitrong vòng 40 năm kể từ lần đầu được giới thiệu Tuy nhiên, chưa có mộtnghiên cứu nào về vấn đề này ở Việt Nam, đặc biệt là sự thiếu công cụ đo lường

về khái niệm này

1.1.2 Những nghiên cứu về thang đo phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân

Năm 1976, Robert M.Nideffer lần đầu giới thiệu về “thang đo phong cáchchú ý và tương tác giữa các cá nhân” (TAIS) Thang đo được cho rằng thuộc vềlĩnh vực đo lường nhân cách (Nideffer, 2001; Nideffer, 1976) Dựa ý tưởng rằng

ở mỗi người quá trình phân chia chú ý và cách mọi người phản ứng lại với môitrường là khác nhau và sẽ phân biệt được những nhóm người đặc trưng cho từngphong cách

Thang đo xây dựng cấu trúc lý thuyết dựa trên cơ sở các công trình lýthuyết của Shakow (1962), Cromwell (1968), và Nideffer (1974) về phân chiachú ý, và quan sát lâm sàng của MacKinnon và Michels (1971) và Frank (1961)

về phản ứng với các kích thích bên ngoài Cuối cùng 17 nhân tố (factor) khácnhau của sự chú ý và hành vi tương tác giữa các cá nhân đã được xác định(Nideffer, 1976) Sau đó các khía cạnh này được dựa theo gợi ý của McClelland(1973), Wallace (1966), và Jackson (1971) để tìm ra cách hành vi cụ thể của cácnhân tố trên Kết quả cuối cùng là hình thành thang đo TAIS với 144 mục(item) được đo bằng thang likert 5 mức độ, chia ra thành 17 tiểu thang đo (Bảng

Trang 13

1.1) Trong nghiên cứu của (Vassos, 2009), qua việc liên hệ riêng với tác giả đãtiếp cận được thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân - phiên bản2) (TAIS2) với số câu hỏi được rút gọn so với ban đầu còn 124 mục nhưng vẫngiữ nguyên cấu trúc – đây cũng là phiên bản thang đo mà được nhóm lựa chọn

Điểm cao phản ánh khả năng làmviệc hiệu quả của một cá nhân tíchhợp nhiều kích thích bên ngoài cùngmột lúc

Quá tải bởi kíchthích bên ngoài(OET)

Điểm cao phản ánh xu hướng mắclỗi bởi vì cá nhân trở nên quá tải vàbối rối bởi các kích thích bên ngoàiQuá tải bởi các kích

thích bên trong(OIT)

Điểm cao phản ánh xu hướng mắclỗi bởi vì cá nhân tự nhầm lẫn vớisuy nghĩ về quá nhiều thứ cùng mộtlúc

Chú ý rộng bêntrong (BIT)

Điểm cao phản ánh khả năng làmviệc hiệu quả của một cá nhân tíchhợp các ý tưởng và thông tin từ cáclĩnh vực khác nhau

hẹp sự chú ý của một cá nhân khi họcần thiết

Giảm tập trung(RED)

Điểm cao phản ánh xu hướng củamột cá nhân sai lầm bởi vì họ thuhẹp sự chú ý của bản thân quá nhiều

Trang 14

(Control)

chống đối xã hộiThang đo kiểm soát

(CON)

Điểm cao phản ánh khả năng củamột cá nhân kiểm soát hầu hết cáctình huống ( hoặc giữa các tương tácliên các nhân)

Tương

tác liên

cá nhân

Lòng tự trọng (SES) Điểm số cao phản ánh một người có

đánh giá cao về bản thân

Hướng ngoại (EXT) Điểm cao phản ánh một người hướng

ngoại, ấm áp, và thích ở bên mọingười

thời gian yên tĩnh, tránh trở thànhtrung tâm của sự chú ý và thích mộtmình

Biểu hiện trí tuệ

(IEX)

Điểm cao phản ánh một cá nhânthích thể hiện ý tưởng và suy nghĩcủa họ cho người khác

Biểu hiện tình cảm

tiêu cực (NAE)

Điểm cao phản ánh một cá nhân thểhiện cảm xúc tiêu cực với ngườikhác

Biểu hiện tình cảm Điểm cao phản ánh một cá nhân thể

Trang 15

tích cực (PAE) hiện (cả bằng lời nói và thể chất)

cảm xúc tình cảm tích cực của họ đốivới người khác

Bảng 1.1 : Tiểu thang đo của TAIS và mô tả đặc điểm của tiểu thang đo

(Nideffer, 1976)

Về các đặc tính tâm trắc, sau khi được công bố, thang đo được tác giảkiểm tra độ tin cậy và giá trị của thang đo Nghiên cứu đầu tiên thực hiện 302sinh viên chưa tốt nghiệp(Nideffer, 1976) Mục tiêu để kiểm tra những đặc tínhsau của thang đo : độ tin cậy đo- đo lại ( test – retest realiability), độ tin cậy nộitại (internal consistency realbility), giá trị cấu trúc (construct validity), giá trị dựđoán (predictive validity) Kết quả thu được ở các tiểu thang như sau: độ tin cậy

đo – đo lại dao động từ 0.6 – 0.93; độ tin cậy nội tại Cronbach’s Alpha daođộng từ 0.01 – 0.8; giá trị cấu trúc được kiểm định bằng tương quan với cácthang đo cùng khái niệm như thang Minnesota Multi Personallity Inventory,thang Wescher Adult’s Intelligence Scale,… cho thấy thang có sự tương quan

đo cùng khái niệm; giá trị dự đoán được tiến hành thông qua 2 nghiên cứu quansát thực tiễn với vận động viên bơi lội cho thấy thang có hiệu lực dự báo về sựmắc lỗi (r=0.75) và ngạt thở dưới áp lực (r= 0.59) Tiếp theo sau tác giả, rấtnhiều nghiên cứu được tiến hành để xác định đặc tính tâm trắc của thang nhưnglại cho nhiều tranh cãi trái chiều Cụ thể, về độ tin cậy: bên cạch các bằngchứng cho thấy thang có độ tin cậy đảm bảo (Schoyck & Grasha, 1981; Vassos,2009) thì còn có nhiều bằng chứng cho thấy thang có sự trùng lập ở các câu hỏi(Summers & Ford, 1990) Về tính giá trị của thang: về giá trị cấu trúc, cáckiểm định cho thấy cấu trúc của thang có sự khác biệt so với tác giả đề xuất banđầu (Ford & Summers, 1992; Summers et al., 1991; Vassos, 2009) Tuy nhiênnhững nghiên cứu trên khách thể là vận động viên thể thao lại cho thấy thanggiữ nguyên cấu trúc so với đề xuất của tác giả (Vallerand, 1983)

Trang 16

Về mục đích sử dụng, ý tưởng ban đầu chính là dựa trên xu hướng phânchia chú ý của từng người (phong cách chú ý) và xu hướng phản ứng với cáckích thích bên ngoài (phong cách tương tác liên cá nhân) để chia thành cácnhóm nhân cách có thể dự đoán đặc điểm của mỗi người (Bảng 1.1) (Nideffer,1976) Theo thời gian, các nghiên cứu cho thấy mục đích trên là phù hợp vớinhóm khách thể vận động viên các môn như: tennis(Schoyck & Grasha, 1981),nhảy, bóng bầu dục (Nideffer, 1990), chơi gôn (Majzub & Muhamad, 2010) Vềcác cách ứng dụng mới, năm 1983, Robert J.Vallerand thực hiện nghiên cứunhằm mục đích là để đánh giá mối quan hệ giữa phong cách tập trung của cácvận động viên và thành phần hiệu suất, ra quyết định Nghiên cứu thiết kế chia

ra 3 nhóm gồm nhóm có quyết định tồi, nhóm có quyết định trung bình, nhómquyết định tốt trong thi đấu và thực hiện tự đánh giá trên 6 tiểu thang đo thuộcloại chú ý gồm: BET, OIT, OET, BIT, NAR, RED và xem rằng các điểm số caotrên từng loại thang đo có liên quan gì đến từng nhóm ở trên hay không Nghiên cứu thực hiện trên mẫu gồm 29 vận động viên bóng rổ Sau khi tiếnhành thí nghiệm, kết luận nói rằng việc đưa ra quyết định trong thể thao cótương quan nghịch đáng kể với điểm số cao trong tiểu thang đo OET và O/S(Vallerand, 1983) Từ sau đó, các nghiên cứu xoay quanh ứng dụng TAIS để dựđoán các hiện tượng ảnh hưởng đến kết quả thi đấu của vận động viên như: tựtin trong thi đấu bóng rổ (Summers et al., 1991), dự đoán chấn thương (Vassos,2009)

Như vậy, tổng quan các nghiên cứu cho thấy, thang đo “phong cách chú ý

và tương tác liên cá nhân” đã được ứng dụng rộng rãi kể từ khi ra đời và đặcbiệt có hiệu quả trên đối tượng tuyển thủ thể thao Hiện nay tại Việt Nam, chưa

có các nghiên cứu nào về việc thích nghi thang đo trên

Trang 17

1.2 Một số vấn đề lý luận

1.2.1 Lý luận về chú ý.

Chú ý đã từ lâu là một khái niệm được quan tâm nhiều trong lĩnh vực tâm

lý Ngay từ những năm 1850, các nhà khoa học đã có nhiều tranh cãi về việcliệu một người có thể chú ý đến nhiều việ cùng một lúc hay không (phân phốichú ý) Đến những năm 1900 phải tiến hành nhiều cuộc thực nghiệm để có thểgiải quyết mâu thuẫn này (Phùng Phương Thảo, 2013)

Năm 1890 William James cho rằng : “Chú ý là sự khu biệt, sự tập trungcủa ý thức Chú ý là trạng thái trái ngược với sự lộn xộn, hỗn độn và đãng trí

Nó chính là điều kiện để giải quyết hiệu quả các công việc” Theo định nghĩanày chú ý được xem là có liên quan tới tính chọn lựa quá trình xử lý Khi đượcnhận quá nhiều thông tin tri giác sẽ chỉ có thể đưa một số thông tin đang đượccung cấp vào để xử lý Tuy nhiên thông tin được xử lý có thể là được chủ độnglựa chọn hoặc bị động Để phân biệt, sự chú ý này là chủ động khi nó được điềukhiển bởi kích thích bên trong theo con đường “từ trên – xuống”, nghĩa là có sựtham gia của sự tích cực của cá nhân, sự chú ý sẽ được hình thành dựa trên mụctiêu của mỗi người Ngược lại, chú ý là bị động khi nó được kiểm soát bởi cáckích thích từ bên ngoài theo con đường “từ dưới – lên”(Eysenck & Keane,2015) Tác dụng tức thời của chú ý có thể giúp ta nhận thức, tưởng tượng, phânbiệt các sự vật một cách hiệu quả hơn

Đồng quan điểm với nhận định này, năm 1908 Pillsbury và Titchener chorằng : “Bản chất của sự chú ý như một quá trình có ý thức là sự gia tăng mức độ

rõ ràng của một ý tưởng hoặc một nhóm ý tưởng cùng đó là bỏ qua các suy nghĩkhác” (Andrade, 2004)

Ở giai đoạn đầu của thế kỉ 20, đã nảy ra các tranh cãi về việc làm thế nàochú ý có thể loại bỏ các yếu tố khác và tập trung Đã có nhiều cuộc thí nghiệmdiễn ra nhưng tổng kết lại, vào những năm 1860 phương pháp tiếp cận triết học

đã thống trị việc nghiên cứu tâm lý học nói chung và đặc biệt là sự chú ý.Trong giai đoạn từ 1980 đến 1909, nghiên cứu về sự chú ý, cũng như lĩnh vực

Trang 18

tâm lý học nói chung, đã được chuyển thành một trong những nghiên cứu khoahọc với trọng tâm là điều tra thực nghiệm (Andrade, 2004) Tuy nhiên, do chủnghĩa hành vi đã thống trị tâm lý học trong giai đoạn tiếp theo, việc nghiên cứucác cơ chế chú ý phần lớn đã bị trì hoãn cho đến giữa thế kỷ 20 Mặc dù vậytrong giai đoạn 1910 – 1960 vẫn ghi nhận một số nghiên cứu quan trọng về chú

ý

Năm 1927, nhà tâm lý học phát triển Jerild đã công bố nghiên cứu kinhđiển “Mental set and shift” về tính đa nhiệm và chuyển giao giữa các công việc.Bằng cách thực hiện thí nghiệm cho hai dãy số đã yêu cầu các đối tượng củamình chuyển đổi giữa các nhiệm vụ tính toán khác nhau, không phải từng khối,như thường xảy ra trong các thử nghiệm, nhưng giữa các yếu tố trong nhiệm vụ

Ví dụ, các đối tượng được cung cấp một danh sách 25 số có hai chữ số và yêucầu cộng sáu với số đầu tiên, trừ ba từ số thứ hai, thêm sáu vào số thứ ba, v.v.Điều kiện này, Jersild gọi là "nhiệm vụ thay đổi" Cuối cùng ông đi đến kết luậnrằng khi chúng ta thực hiện các công việc đan xen nhau thì sẽ mất nhiều thờigian hơn chỉ làm một công việc nào đó được lặp đi lặp lại, bởi chúng ta phảimất thời gian cho quá trình chuyển tiếp từ công việc này sang công việckhác(Eysenck & Keane, 2015) Một công trình khác cũng được quan tâm khinghiên cứu về chú ý là của C.W.Telford vào năm 1931, sau các nghiên cứu ông

đã lưu ý rằng khi kích thích một tế bào thần kinh đã được kích thích từ trước thì

tế bào đó sẽ trở nên ít nhạy cảm với kích thích hơn (Andrade, 2004) Từ đó ôngchứng minh rằng, khi thực hiện hai việc cùng lúc thì sẽ dễ dàng quan sát thấy sựtrì hoãn hoạt động trong nhiệm vụ thứ hai Nghiên cứu của J.R.Stroop (1935)cũng cho ra kết quả tương tự, theo đó những kích thích thông tin không tươngthích với nhiệm vụ có thể tạo nên những ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiệncông việc ông gọi đó là hiệu ứng Stroop Ngoài ra còn có Paschal (1941),Gibson (1940) và Mowrer, Rayman và Bliss (1940) cũng tiến hành nghiên cứu

về sự chú ý như qúa trình tinh thần

Trang 19

Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1974 nghiên cứu về sự chú ý trong thời

kỳ này được đặc trưng bởi sự tác động lẫn nhau giữa các ứng dụng kỹ thuật và

lý thuyết Chú ý trong giai đoạn này được chia thành các quá trình nhỏ hơn ởcác giác quan khác nhau, điển hình là thông qua thị giác, thính xác

Mackworth (1950) tiến hành một loạt nghiên cứu khảo sát về khả năngduy trì một công việc nhàm chán nhưng vẫn còn tỉnh táo, nhanh nhẹn qua đó đểthấy được mức độ duy trì chú ý và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sựchú ý của một người Nghiên cứu đi đến kết luận: có nhiều yếu tố ảnh hưởngđến thời gian duy trì sự cảnh giác của một người, công việc càng kéo dài thìcàng phạm sai lầm Nếu chúng ta không chú ý thì chắc chắn phạm nhiều sai lầmhơn Nghiên cứu này của Mackworth đã làm tiền đề để phát triển những nghiêncứu sau trong cùng giai đoạn

Kế tiếp sau đó là sự bùng nổ của những nghiên cứu về chú ý chọn lọc vàkết quả là sự ra đời của mô hình bộ lọc thông qua loạt nghiên cứu củaBroadBent (1952, 1958), Cherry (1953) và Treisman (1955) Những năm 1953– 1960, các nghiên cứu về chú ý hầu hết thí nghiệm vào quá trình chú ý củathính giác bởi vì không như thị giác chúng ta có thể điều khiển hướng nhìn,đóng mở mắt để nhìn thì chúng ta không thể “đóng” tai lại, vì thế nó sẽ đảm bảotính khách quan hơn Năm 1953 thông qua thí nghiệm nổi tiếng “bữa tiệccocktail”, đã mô tả về việc nghe có chọn lọc hay nghe “nghe đơn cực” Thínghiệm mô tả rằng trong một bữa tiệc cocktail ồn ào với đủ loại âm thanh thìbạn vẫn có thể chỉ tập trung nghe người nói chuyện bên cạnh mình và bỏ quahết các thông tin âm thanh khác Theo Cherry, vào một thời điểm xác định, conngười có thể lựa chọn để tập trung hoàn toàn vào một kích thích nào đó trong sốcác kích thích hỗn độn khác (như tiếng ồn, âm thanh của những cuộc nóichuyện khác nhau…), mặc dù vậy, con người vẫn chú ý đến những kích thíchkhác ở một mức độ nhất định Từ đây, năm 1958 Broadbent đã mô tả rõ rànghơn hiện tượng trên bằng các thí nghiệm thiết kế liên quan đến việc trình bàyhai kích thích đồng thời (thường, nhưng không phải lúc nào cũng khác) vào hai

Trang 20

tai qua tai nghe và yêu cầu phải thực hiện một trong nhiều nhiệm vụ khác nhau.Kết quả là người nghe thường chỉ chú ý đến một trong hai ta và bỏ qua thông tinbên tai còn lại Đây là cơ sở để Broadbent xây dựng mô hình “lý thuyết bộ lọc”.

Mô hình này cho rằng, không phải tất cả các thông tin đến từ các cơ quan cảmgiác đều được chúng ta xử lý Các thông tin sẽ được chuyển đến một “bộ lọc”của chủ thể và được lưu giữ trong trí nhớ tạm thời để được xử lý Theo quanđiểm này thì chỉ có những yếu tố cảm giác nào có những đặc tính chung (Ví dụ:đặc điểm của giọng nói) được lựa chọn để vào vùng lọc (bộ lọc) Việc hiểu ýnghĩa của thông tin chỉ được thực hiện sau khi “bộ lọc” lựa chọn thông tin tiếpnhận Vì thế, bất kỳ thông tin nào được gởi đến bên tai không được lựa chọnchú ý thì sẽ không thể được hiểu (A.Styles, 2006) Lý thuyết này sau này đượcTreisman (1955) phát triển thành mô hình “thuyết bộ nhiễu”, tranh cãi với thínghiệm Cocktail đã kể ở trên, ông cho rằng dù khi đang chú ý vào câu chuyệnvới ngừoi khác nhưng khi nhận được âm thanh có người gọi tên bạn thì bạn vẫnnhận ra và phản ứng với nó Từ đây ông đưa ra kết luận rằng không phải thôngtin bị bỏ qua mà chỉ bị làm “mờ”, nó vẫn được xử lý nhưng không đưa lên vùng

ý thức để phản ứng lại Đây là tiền đề để xây dựng quá trình chú ý bị động Lýthuyết này sau này còn được mở rộng ra không chỉ dành cho thính giác mà còncác giác quan khác

Đầu những năm 1970, nghiên cứu về chú ý chuyển từ nghiên cứu chú ý

âm thanh sang chú ý hình ảnh Quan điểm xem chú ý như là một khả năng giớihạn, với các đại biểu như Kahneman (1973), Navon và Gopher (1979) TheoKahneman, chú ý là khả năng đơn nhất có thể được phân phối cho những côngviệc khác nhau Tuy vậy, việc thực hiện công việc có thể gặp trở ngại khi chúng

ta tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng lúc vì chú ý là khả năng giới hạn Khi nhiềuyêu cầu đang được thực hiện, bộ xử lý quyết định nên dành tiềm năng nào chomột công việc cụ thể và trạng thái sinh lý của con người sẽ ảnh hưởng đến nỗlực của chúng ta

Trang 21

Cuối thập niên 1970, Navon và Gopher (1979) đã thiết kế thí nghiệmkiểm chứng xem rằng liệu cục bộ hay tổng thể của một sự vật thì sẽ được conngười chú ý đến nhanh hơn Thí nghiệm được thực hiện như sau: một hình chữcái lớn (ví dụ H) được xếp bởi những chữ cái nhỏ hơn (ví dụ chữ S) rồi thựchiện trong một thử nghiệm, những người quan sát quyết định xem chữ cái lớn là

“H” hay “S”; trong các thử nghiệm khác, họ quyết định xem các chữ cái nhỏ là

Hs hay Ss Và kết quả thu được rằng tốc độ nhận ra các chữ cái nhỏ đã bị chậmlại rất nhiều khi chữ cái lớn khác với chữ cái nhỏ Ngược lại, tốc độ nhận rachữ cái lớn không bị ảnh hưởng bởi bản chất của chữ cái nhỏ Do đó, chúng tathường thấy cấu trúc toàn bộ trước cấu trúc bộ phận hơn là ngược lại Sau nàycàng có thêm nhiều bằng chứng cho thấy hệ thống trực quan được thiết kế để xử

lý tổng thể hoặc chung thường trước xử lý cục bộ hoặc chi tiết (A.Styles, 2006).Như vậy Navon và Gopher (1979) cho rằng tốt hơn nên xem xét chú ý như làmột khả năng đa dạng, bởi theo hai nhà Tâm lý học này thì việc thực hiện hainhiệm vụ cùng một lúc sẽ dễ dàng hơn khi hai nhiệm vụ ấy sử dụng kích thích

và phương thức phản hồi khác nhau và ngược lại sẽ khó khăn hơn khi chúng sửdụng cùng một phương thức phản hồi

Năm 1980, A.M Treisman và G Gelade phát triển lý thuyết tích hợp đặctính Theo lý thuyết này, chú ý giữ vai trò kết nối các đặc tính khác nhau thànhmột thể thống nhất được trải nghiệm một cách có ý thức Lý thuyết củaTreisman đã khắc phục một số điểm hạn chế của Broadbent và có những đónggóp quan trọng vào việc nghiên cứu chú ý, dù vẫn còn những hạn chế nhất định.Các lý thuyết và quan điểm về chú ý từ những năm 1920 đến cuối thế kỷ 20được nghiên cứu nhiều bởi Tâm lý học nhận thức Gần đây, các nghiên cứu chú

ý được tập trung nghiên cứu trên bình diện Tâm lý học thần kinh, gắn liền với

cơ chế của não bộ Các dữ liệu Tâm lý học thần kinh và hành vi giúp cho sựphát triển quan trọng trong nghiên cứu về chú ý ở nửa đầu thế kỷ 21 (PhùngPhương Thảo, 2013)

Trang 22

1.2.2 Lý luận về mô hình phong cách chú ý

Theo APA, mô hình phong cách chú ý lần đầu tiên được giới thiệu vàonăm 1976 bởi R.M.Nideffer Dựa trên các nghiên cứu về phân chia và chọn lọcchú ý, ông chia ra chú ý sẽ có sẽ có hai chiều kích chính là: độ rộng (chỉ sự rộnghay hẹp của chú ý) và hướng (chỉ chú ý bên trong hay bên ngoài) Những bằngchứng về chú ý có thể thể phân chia theo hai chiều kích này đã được chứngminh ở các thí nghiệm của Kanehman (1973), Navon và Gopher (1979)

1.3 Thích nghi thang đo

1.3.1 Quy trình thích nghi thang đo

Trong trường hợp muốn lượng giá một khái niệm tâm lý nhưng chưa có

bộ công cụ đo lường thích hợp với ngôn ngữ của đất nước mình thì nhà nghiêncứu có hai lựa chọn hoặc là phát triển một bộ công cụ mới hoặc là chuẩn hoámột công cụ đã được xác định giá trị trước đó trong một ngôn ngữ khác thôngqua thích ứng văn hoá (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Theo tổ chức y tế thế giới(WHO) mục đích của quá trình chuẩn hoá một bộ công cụ là nghiên cứu là baogồm quá trình chuyễn ngữ và điều chỉnh/thích ứng (adaption) bộ công cụ, là đạtđược một phiên bản ngôn ngữ khác từ bộ công cụ bằng Tiếng Anh Theo UỷBan Kiểm Tra Quốc Tế (International Test Commission), tổng cộng có 22nguyên tắc ràng buộc khi thích nghi một bộ công cụ và được phân vào 5 mục:(1) Bối cảnh, (2) Phát triển công cụ và thích nghi, (3) Áp dụng bộ công cụ, (4)Đánh giá tài liệu/điểm số, (5) Điều kiện phổ biến và chuyên nghiệp (Akcay etal., 2018) Cụ thể:

(1)Bối cảnh: đây là giai đoạn đảm bảo bảo ảnh hưởng của sự khácbiệt văn hoá là mức thấp nhất, đối tượng thang đo gốc hướng tớinên tương đồng với đối tượng ở bản thích nghi

(2)Phát triển công cụ và thích nghi: đây là giai đoạn dịch và thíchnghi văn hoá, đảm bảo giá trị nội dung cho bộ công cụ Thangđược dịch được đánh giá thử nghiệm (pilot) để đảm bảo về giátrị và độ tin cậy và loại bỏ những biến không phù hợp

Trang 23

(3)Áp dụng bộ công cụ: bộ công cụ được đưa vào sử dụng đánh giákhung vận hành tương tự với thang đo gốc

(4)Đánh giá giá tài liệu/điểm số: đây là bước diễn giải sự khácnhau về kết quả của thang đo được thích nghi với thang đo gốc,diễn giải về sự thay đổi

(5)Điều kiện phổ biến và chuyên nghiệp: các nhà phát triển thửnghiệm nên nhận thức được thực tế rằng sự khác biệt về ngônngữ và văn hóa của nhóm mục tiêu là quan trọng trong cácnghiên cứu thích ứng thử nghiệm

Trong đó ở mục phát triển công cụ và thích nghi, thích ứng văn hoá nghĩa

là không chỉ dịch từ ngữ theo nghĩa đen mà còn điều chỉnh, biến đổi các từ, cụm

từ hay thành ngữ phù hợp với bối cảnh văn hoá và cách sử dụng ngôn ngữ củađối tượng nghiên cứu mà không làm thay đổi nội dung bản gốc (Nguyễn TrungNghĩa, 2020) Việc thích ứng văn hoá theo (WHO, 2019) gồm 4 bước:

1 Chuyển ngữ thang đo sang Tiếng Việt

2 Một ban chuyên gia xem xét bản dịch và dịch ngược lại

3 Làm khảo sát thực nghiệm và đánh giá quá trình phỏng vấn

Sự tương đương về khái niệm yêu cầu chuyển tải những khải niệm cốt

lõi trong thang đo sang ngôn ngữ và nền văn hoá mới (Nguyễn Trung Nghĩa,2020) Một số khái niệm nếu được dịch theo từng chữ sẽ rất tối nghĩa hoặc sẽkhông tồn tại khái niệm đó ở nền văn hoá mới đó có thể là thành ngữ hoặc tínhcánh Ví dụ: “Burning oil in the night” là thành ngữ tiếng Anh có nghĩa là “cố

Trang 24

gắng hết mình”, nếu dịch từng chữ sẽ rất tối nghĩa Như vậy quá trình dịch cầnphải dịch thoát nghĩa hoặc thay thế hoàn toàn khái niệm sao cho ý nghĩa của nóphải giống nhau Người dịch cần lưu ý đến yếu tố về nhân chủng, dân tộc học,bối cảnh văn hoá, kinh tế.

Sự tương đương từng hạng mục yêu cầu từng mục hỏi có liên quan và

chấp nhận được ở dân số đích (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Ví dụ các câu hỏi

về quan hệ tình dục sẽ không phù hợp với người bị AIDS Việc này yêu cầungười dịch cần thay thế hoàn toàn câu hỏi (hay hạng mục) hoặc diễn đạt lạibằng từ ngữ khác trong bản dịch

Sự tương đương về mặt ngữ nghĩa yêu cầu các từ, cụm từ tương đương

ở hai ngôn ngữ phải được hiểu theo cùng một cách (Nguyễn Trung Nghĩa,2020) Trong mỗi ngôn ngữ, cùng một từ ngữ có thể có nhiều ý nghĩa Ví dụ:

“blue” trong tiếng Anh có nghãi là “màu xanh dương” những cũng có nghĩa là

“buồn mang mác” Người dịch cần đảm bảo nghĩa được dịch đúng là nghĩa đượcnhắc đến trong ngôn ngữ gốc

Sự tương đương về mặt triển khai là khái niệm xoay quanh việc hai

phiên bản thang đo tương tự nhau về hình thức trình bày, hướng dẫn thực hiện

và cách thức triển khai Sự triển khai này đề cập đến việc liệu thang đo là trả

lời /miêu tả tự do không giám sát (phi cấu trúc) hay là trả lời/miêu tả theo từng

đề mục có giám sát (bán cấu trúc) hay là trả lời theo trắc nghiệm có giám sát(cấu trúc) (Streiner et al., 2015) Quá trình triển khai có thể thay đổi sao cho phùhợp với dân số đích Ví dụ: việc khảo sát trực tuyến sẽ không phù hợp với đốitượng học sinh trung học cơ sở

Sự tương đương về mặt đo lường được đánh giá thông qua sự so sánh

các đặc tính tâm trắc của thang đo gốc và bản dịch (Nguyễn Trung Nghĩa,2020) Các đặc tính tâm trắc không có sự sắp xếp thứ bậc mà là nhiều mặt củamột thang đo Theo đó việc lựa chọn các đặc tính tâm trắc để thể hiện là tuỳtheo mục đích, khả năng của người nghiên cứu Trong nghiên cứu của chúng

Trang 25

tôi, các đặc tính đo lường được đánh giá sẽ bao gồm: độ tin cậy nội tại và tínhgiá trị (bề mặt, cấu trúc).

1.3.1.1 Độ tin cậy

Khái niệm về độ tin cậy là một cách cơ bản để phản ánh số lượng lỗi, cả

về lỗi ngẫu nhiên và lỗi hệ thống, vốn có trong bất kỳ công cụ nào (Coulacoglou

& Saklofske, 2017a; Streiner et al., 2015) Lấy ví dụ về thang đo lường cáckhái niệm hữu cơ, vật lý là thang đo cân nặng: thang có độ sai số lệch sấp xỉ0.05g có nghĩa là giá trị cân nặng của vật được đo sai số xấp xỉ 0.05g so với cânnặng thật của nó, ở đây độ tin cậy của thang chính là xấp xỉ 0.05g Trong lĩnhvực đo lường sức khoẻ, độ tin cậy mô tả mức độ không phụ thuộc của điểm số

đo lường vào sai số (Nguyễn Trung Nghĩa) Nghĩa là độ tin cậy càng cao thì cácphép đo càng có ít sai số và ngược lại Có 6 nguồn ảnh hưởng đến độ tin cậycủa thang (Coulacoglou & Saklofske, 2017a) gồm:

1 Sự phù hợp hoặc mức độ liên quan của nội dung mục: chỉ việccác biến đo lường không liên quan nhau, không cùng để đo lường biến tìmẩn

2 Nội dung mục không đồng nhất: chỉ việc các mục đo lườngnhiều khía cạnh khác của một đặc điểm

3 Lỗi thoáng qua: đề cập đến sự thay đổi của bản thân khách thểđược đo ở 2 lần đo khác nhau

4 Lỗi đo lường: chỉ nguồn lổi ngẫu nhiên trong quá trình đo lường,

ví dụ phổ biến là hành vi của người phản hồi

5 Mục không rõ ràng: chỉ lỗi vì sử dụng từ ngữ phức tạp, cấu trúccâu cầu kỳ làm rối người phản hồi

6 Đặc tính của mẫu

Trong lĩnh vực đo lường nhân cách còn có các lỗi về thiên kiến xác nhậngồm: sự thu nhận (hiểu nội dung của câu hỏi theo ý của mình), cực trị (luônchọn đáp án ở cực đồng ý hoặc cực không đồng ý), mong muốn xã hội (phảnhồi đáp án được xã hội chấp nhận thay vì giá trị thật của mình), phản hồi bất cẩn

Trang 26

hoặc ngẫu nhiên, lỗi suy đoán (đoán đáp án nào là đúng/sai) (Scale

Construction and Psychometrics for Social and Personality Psychology, 2011).

Dựa theo các nguồn lỗi sẽ có các loại độ tin cậy tương ứng đề lượng hoá nó, tuynhiên không phải tất cả lỗi đều có thể lượng hoá Trong nghiên cứu của chúngtôi chỉ tập trung vào độ tin cậy nội tại (internal reliability)

Độ tin cậy nội tại cho biết mức độ tương quan giữa các câu hỏi trong

cùng một bộ câu hỏi (Nguyễn Trung Nghĩa 2020, Đinh Thị Hoa 2019) Độ tincậy nội tại thấp cho thấy các câu hỏi đo lường các khái niệm khác nhau hoặc

các câu trả lời của đối tượng không nhất quán Có nhiều thông số được chọn để

thể hiện độ tin cậy, trong đó hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng phổ biếnnhất(Streiner et al., 2015) Vì công thức tính của Cronbach’s alpha phụ thuộcvào số lượng câu hỏi và cỡ mẫu nên đã có nhiều mức giá trị alpha được đề nghị

để đánh giá thang đo “đủ tốt” Nhìn chung, mức 0,7 trở lên được cho là “chấpnhận được”, 0,8 trở lên là “tốt” và 0,9 trở lên là “xuất sắc” (Nguyễn TrungNghĩa) Tuy nhiên nếu hệ số Cronbach’s Alpha vượt quá 0.95 thì sẽ có sự trùnglặp giữa các mục.(Streiner et al., 2015)

Cronbach’s alpha đôi khi không đủ để gợi ý câu hỏi nào bị dư thừa nêncần đánh giá thêm các chỉ số khác như tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh(item-rest correlation) và trung bình tương quan giữa các câu (average inter-item correlation) Tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh là mối tương quan giữamột câu trong bảng hỏi với các thành phần còn lại của bảng hỏi (trừ câu đó ra).Trong khi đó, trung bình tương quan giữa các câu là mối tương quan giữa câu

đó và toàn bộ bảng hỏi (bao gồm cả câu đó) Nếu Cronbach’s alpha khi bỏ đicâu hỏi tăng lên so với Cronbach’s alpha chung thì gợi ý việc bỏ đi câu hỏi cóthể tăng độ tin cậy cho thang điểm Một câu hỏi nên có hệ số tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh nằm trong khoảng 0,3 đến 0,7 và trung bình tương quangiữa các câu từ 0,2 đến 0,4 Nếu thấp hơn các giới hạn dưới, nên loại câu hỏi đó

ra khỏi thang đo vì nó không đánh giá cùng một lĩnh vực thang đo đang hướngtới (Kline, 1979) Ngược lại, nếu các chỉ số cao hơn các giới hạn trên, thang đo

Trang 27

có vẻ đang quá hẹp và chuyên biệt, với các câu hỏi chỉ là cách diễn đạt khác

nhau của cùng vấn đề (Kline, 1979)

1.3.1.2 Tính giá trị

Giá trị (validity) là mức độ mà một công cụ đo lường được những gì mà

nó muốn đo (Taherdoost, 2016) Việc đánh giá tính giá trị là “một quy trình

trong đó người ta cung cấp bằng chứng để hỗ trợ tính thích hợp và ý nghĩa và

tính hữu ích của các suy luận cụ thể được thực hiện từ điểm số về các cá nhân từ

một mẫu nhất định và trong một ngữ cảnh nhất định” (Coulacoglou &

Saklofske, 2017b) Hay nói cách khác đây là một quá trình đánh giá dựa trên

những bằng chứng suy luận rút ra từ điểm số để chứng minh công cụ đo lường

được những gì nó muốn đo Có nhiều thông số và khái niệm đã được đề xuất để

biểu hiện giá trị thang đo và không có kỹ thuật nào là “hợp lệ rộng rãi” cho mọi

lúc, mọi cách sử dụng, mọi dân số đích (Cohen, 2009) Hình 1.3 cho thấy các

dạng con của các dạng kiểm tra tính giá trị khác nhau được khám phá

Giá trị dự đoán Giá trị đồng thời

Giá trị hậu

dự đoán

Giá trị bề mặt Giá trị nội dung Giá trị cấu trúc

Giá trị phân

li Giá trị hội tụ

Trang 28

Với giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ phân tích sâu vào giá trị bề mặt vàgiá trị cấu trúc

Giá trị bề mặt (face validity) là mức độ mà một phép đo dường như có

liên quan đến một cấu trúc cụ thể (Jones et al., 2017; Taherdoost, 2016) Giá trị

bề mặt liên quan nhiều hơn đến những gì một bài kiểm tra xuất hiện để đo lườngđối với người được kiểm tra so với những gì bài kiểm tra thực sự đo lường Nóicách khác, tính giá trị bề mặt đề cập đến những đánh giá chủ quan của nhànghiên cứu về cách trình bày và mức độ phù hợp của công cụ đo lường xem cácmục trong công cụ đó có liên quan, hợp lý, rõ ràng và rõ ràng hay không.(Taherdoost, 2016) Nếu một thang đo hoàn toàn thể hiện được cho người phảnhồi hiểu được rằng mục đích đo lường của nó là gì “trên nghĩa bề mặt của nó”thì nó có thể được cho rằng là có giá trị bề mặt cao (Cohen, 2009) Giá trị bềmặt không có chỉ số hữu ích nhưng rất hữu ích trong thích nghi thang đo (ĐinhThị Hoa, 2019) Trong quá trình thích nghi thang đo, việc dịch và hỏi ý kiến củachuyên gia về bản dịch chính là đang đảm bảo tính giá trị bề mặt của thang đobản thích nghi

Giá trị cấu trúc (construct validity) mô tả các kết quả có được khi sử

dụng công cụ phù hợp như thế nào với khái niệm lý thuyết mà công cụ đó muốn

đo lường (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Khái niệm lý thuyết hay còn gọi là lýthuyết cấu trúc có thể được xem là một “tiểu lý thuyết” để mô tả mối quan hệgiữa nhiều giá trị hành vi hoặc thái độ Hệ thống lại, một thang đo sẽ bao gồmnhiều đề mục, các đề mục này nhằm mục đích mô tả các nhóm nhân tố (factor),các nhóm nhân tố đưọc xây dựng dựa trên lý thuyết cấu trúc ban đầu Như vậytiến trình xác định giá cấu trúc là một tiến trình kiểm tra giả thiết của thang đo(Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Giá trị cấu trúc bao gồm giá trị phân li(discriminant validity) và giá trị hội tụ (Convergent validity)( (Taherdoost,2016) Giá trị phân li là mức độ mà các biến quan sát của các cấu trúc khác nhauphân kỳ hoặc tương quan tối thiểu với nhau, giá trị hội tụ là mức độ mà các cácbiến quan sát của cùng cấu trúc hội tụ hoặc tương quan chặt chẽ với nhau

Trang 29

(Taherdoost, 2016) Thang đo có các biến trong một nhóm nhân tố có mức độtải nhân tố cao thì xem là có giá trị hội tụ, thang đo có các biến trong các nhómnhân tố khác nhau tương quan thấp với nhau thì được xem là có giá trị phân kỳ.

Có nhiều cách tiến hành kiểm định tính giá trị nhưng phổ biến đó là tiến trình

phân tích nhân tố khám phá (exploratory factor analysis) Trong đó phân tích

nhân tố khám phá được tiến hành lần đầu khi thang đo (1) mới được tạo ra hoặc(2) mới được chuyển ngữ hoặc (3) mới được áp dụng trên một dân số nhiềukhác biệt so với dân số gốc (Đinh Thị Hoa, 2019) Vì nghiên cứu của chúng tôithuộc trường hợp số (2) nên chúng tôi sẽ tiến hành tiến trình phân tích nhân tốkhám phá

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy mô hình phong cách chú ý vàtương tác liên cá nhân được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi và có nhiều ứngdụng Trong đó thang đo “phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” là bộcông cụ đầu tiên về hai khái niệm trên đã chứng mình hiệu quả của mình trênđối tượng tuyển thủ thể thao Tuy nhiên, tại Việt Nam nghiên cứu về khái niệm

và bộ công cụ sử dụng để đo lường còn hạn chế

Phong cách chú ý còn được hiểu là xu hướng cá nhân phân chia chú ý củamình Phong cách tương tác liên cá nhân được định nghĩa như là xu hướng cáchcon người tương tác với người khác, theo đó nhân cách của mỗi người quyếtđịnh cách họ tương tác với người khác

Thang đo “phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” là thang đo thuộclĩnh vực về nhân cách và sử dụng xu hướng phân chia chú ý và tương tác vớicác kích thích bên ngoài của mọi người để chia thành 17 tiểu thang tương ứngvới 17 tập hành vi ở từng người

Quy trình thích nghi thang đo chính là quy trình chuyển một bộ công cụđược sử dụng từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ khác sao cho vẫn đảm bảo về độ

Trang 30

tương đương Tuỳ theo thiết kế từng nghiên cứu sẽ chú trọng vào từng loại giátrị tâm trắc riêng của thang đo Đề tài chúng tôi sử dụng quy trình thích nghiđược đề nghị bởi WHO gồm các bước: chuyển ngữ và thích ứng văn hoá, đánhgiá độ tin cậy nội tại, đánh giá giá trị cấu trúc thang đo

Trang 31

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vài nét về khách thể, phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu 2.1.1 Khách thể nghiên cứu

Đề tại được tiến hành trên khách thể là sinh viên chuyên ngành thể dụcthể thao

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Tại Việt Nam hiện nay, có tất cả 17 trường đại học, cao đẳng đào tạo vềkhối ngành thể dục thể thao bao gồm 4 ngành nhỏ hơn, riêng tại thành phố HồChí Minh có 4 trường Tổng số lượng sinh viên chưa có số liệu cụ thể nhưngnhững năm gần đây số lượng tuyền sinh đang giảm sút

Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 4 năm 2021,nhóm nghiên cứu đã tiếp cận và được sự đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiêncứu của 153 sinh viên chuyên ngành Thể dục thể thao chủ yếu ở 2 khu vựcthành phố Hồ Chí Minh và Huế

Đề tài giới hạn nghiên cứu thực tiễn ở các nội dung sau:

Khảo sát về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân dựa trên thang đo

“Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân – phiên bản 2” (Test of attentionaland interpersonal style - 2, TAIS2) được trích từ nghiên cứu của (Vassos, 2009)

do Giáo sư Tâm lý học Robert M.Nideffer phát triển được trích từ nghiên cứucủa Đại học Rochester, Hoa Kỳ phát triển vào thực tiễn

Các biến được đo lường trên bình diện nhận thức, và hành vi bởi đặc thùcủa phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân Các kết quả phân tích đều dựatrên nghiên cứu cắt ngang

Trang 32

2.1.2.3 Về địa bàn

Đề tài được tiến hành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Huế

2.2 Tổ chức thực hiện nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu gồm 4 giai đoạn: nghiên cứu lý luận, dịch và đảmbảo giá trị bề mặt cho thang đo, thu thập thông tin, và viết đề tài

2.2.1 Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu tổng quan về các tiếp cận, xu hướng nghiên cứu, chỉ ra gợi ýcho các nghiên cứu tiếp theo

Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài như chú ý và các nghiên cứu

2.2.2 Thu thập thông tin

Phiếu khảo sát được phát là 153 phiếu dành cho sinh viên chuyên ngànhThể dục thể thao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Huế, thu về 153 phiếutrong đó có 140 phiếu đủ điều kiện xử lý dữ liệu

2.2.3 Viết đề tài

Đề tài được cấu trúc thành 3 chương: cơ sở lý luận, tổ chức và phươngpháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phươngpháp điều tra bằng thang đo (bảng hỏi, phiếu thăm dò ý kiến) là phương phápchính, các phương pháp nghiên cứu còn lại là các phương pháp bổ trợ

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát hoá những tài liệu, nhữngcông trình nghiên cứu liên quan, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của

Trang 33

đề tài, cụ thể là tìm hiểu các lý thuyết về mô hình phong cách chú ý và tương tácliên cá nhân, quy trình thích nghi thang đo.

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng thang đo

Đánh giá phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân sử dụng thang đoPhong cách chú ý và tương tác liên cá nhân – phiên bản 2 (Test of Attentionaland Interpersonal Style – 2 , TAIS2)

2.3.3 Phương pháp thống kê toán học

2.3.3.1 Mục đích

Xử lý các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ sở

để biện luận kết quả nghiên cứu

Trang 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Đề tài đã trình bày về khách thể nghiên cứu là sinh viên chuyên ngành thểdục thể thao, nội dung nghiên cứu là phong cách chú ý và tương tác liên cá nhâncủa sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao, địa bàn nghiên cứu là thành phố

Hồ Chí Minh và thành phố Huế

Đề tài cũng đã trình bày tổ chức thực hiện nghiên cứu là quá trình gồm 4giai đoạn: nghiên cứu lý luận, dịch và đảm bảo giá trị bề mặt cho thang đo, thuthập thông tin, và viết đề tài Trong đó, công cụ được chọn chính là “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân – phiên bản 2” được trích từ nghiên cứu của (Vassos, 2009) do Giáo sư Tâm lý học Robert M.Nideffer phát triển được trích từ nghiên cứu của Đại học Rochester, Hoa Kỳ phát triển vào thực tiễn Bên cạnh đó, đề tài cũngtrình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài gồm phươngpháp nghiên cứu lý luận, phương pháp điều tra bằng thang đo và phương phápthống kê toán học

Trang 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Chuyển ngữ và thích ứng hoá thang đo

Thang đo gốc gồm 17 tiểu thang được chúng tôi nhóm lại thành 2 nhóm

chính là phong cách tập trung và phong cách tương tác liên cá nhân và tiến

“I feel guilty”

Với bước hỏi ý kiến chuyên gia, nhóm nghiên cứu tiếp cận được haichuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và dạy học trong lĩnh vựcTâm lý đều có thể nói song ngữ Anh – Việt, và trong đó một chuyên gia có vốnhiểu biết sâu về xã hội, văn hoá tại nơi khảo sát (thành phố Huế) Kết quả ýkiến từ hai chuyên gia cho rằng bản dịch khá dài không phù hợp với đối tượng

Trang 36

khảo sát là sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao – thường được nhận xét là

có ưu thế về hình thể, vận động hơn là ngôn ngữ, tư duy trừu tượng Bảng hỏidài còn dễ gây mất kiên trì - khiến khách thể phản hồi sai nên cần diễn đạt gọnhơn

Mẫu hỏi sau đó được được điều chỉnh lại cho phù hợp với nhận xét Cáccâu hỏi nêu ngữ cảnh trước hầu hết đều chuyển thành đưa mệnh đề lên đầu.Ngôn ngữ dịch đều sử dụng từ đại chúng Kết quả thu được bảng dịch cuối cùng

đạt giá trị bề mặt (phụ lục )

3.2 Thông tin về mẫu nghiên cứu

Từ 153 phiếu khảo sát được phát ra, chúng tôi thu về 153 phiếu khảo sát(đạt tỉ lệ 100%) Sau khi loại bỏ các phiếu khảo sát không đạt yêu cầu (có nhiều

ô thiếu thông tin hay nhiều hơn một ô trả lời), hoặc có cơ sở xác định thông tintrả lời không đáng tin cậy (chọn cùng một mức độ, hoặc hai mức độ trả lời chotất cả các câu hỏi), số phiếu khảo sát đáp ứng được yêu cầu còn lại là 140 đạt tỉ

lệ 91.5% số phiếu khảo sát phát ra vượt quá tỷ lệ phản hồi đủ điều kiện là 30%

mà hầu hết các nhà nghiên cứu yêu cầu để dữ liệu được xử lý (Dillman, 2011),được phân bổ theo các đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên chuyên ngành thểdục thể thao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Huế được khảo sát như sau(Bảng 3.1)

Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học

(Bảng 3.1) cho thấy có sự chênh lệch khá lớn kích thước các nhóm mẫutheo đặc điểm về giới tính, năm học và chuyên ngành Cụ thể:

- Sinh viên nữ chiếm đa số trong khách thể nghiên cứu (81.4%)

- Khách thể là sinh viên năm 2 chiếm phần nhiều (52.9%), sinh viênnăm 4 chiếm tỉ lệ ít nhất (2.1%)

- Sinh viên chuyên ngành giáo dục (cụ thể là giáo dục thể chất) chiếmphần nhiều (46.4%)

Trang 37

- Các sinh viên phần nhiều tới từ trường Đại học Huế và trường Đại học

Sư phạm Thể dục thể thao thành phố Hồ Chí Minh (tổng 89.3%)

Các đặc điểm nhân khẩu học

Tầ

n số (SL)

Tần suất (%)

Trường

Đại học SưPhạm thành Phố HồChí Minh

Đại học Sư phạm Thểdục thể thao thànhphố Hồ Chí Minh

Trang 38

thuậtKhối ngành

Bảng 3.1: Thông tin mẫu nghiên cứu theo đặc điểm nhân khẩu học

Biến đại diện

Trang 39

IS6 140 -0.022 0.205 -0.059 0.407

Bảng 3.2: Kiểm tra tính phân phối chuẩn của mẫu

Kết quả kiểm tra tính phân phối chuẩn của mẫu thông qua các chỉ sốSkewness và Kurtosis (Bảng 3.2) cho thấy, hầu hết các chỉ số này của tập dữliệu các biến quan sát đều được phân bố trong khoảng [-1;+1], chứng tỏ tập dữliệu có phân phối xấp xỉ phân phối chuẩn Vì vậy, cho phép chúng tôi áp dụngcác kỹ thuật định lượng sử dụng tham số mẫu để suy luận cho tổng thể ở cácbước tiếp theo

3.3 Độ tin cậy thang đo

Xem xét hệ số Cronbach’s alpha Với thang đo phong cách chú ý, hệ sốCronbach’s alpha của 10 tiểu thang đo dao động từ 0.6 – 0.938 Đều nằm trongđoạn [0.6; 0.95] nên được xem xét là có độ tin cậy nội tại cao Với thang đophong cách tương tác liên cá nhân, hệ số Cronbach’s alpha của 6 tiểu thang đodao động từ 0.872 – 0.95 Đều nằm trong khoảng [0.6;0.95] nên được xem xét

là có độ tin cậy nội tại cao (Bảng 3.3)

Trang 40

Phong cách tương tác liên cá nhân

Bảng 3.3 Độ tin cậy nội tại của thang đo TAIS2 phiên bản tiếng Việt

Xét tương quan câu - tổng câu hiệu chỉnh ở các thang đo Với thang đophong cách tập trung, tương quan tổng câu hiệu chỉnh của các câu ở các tiểuthang đo Chú ý 3, Chú ý 4, Chú ý 5, Chú ý 6, Chú ý 7, Chú ý 8, Chú ý 9, Chú ý

10 đều nằm trong khoảng [0.3;0.7] với thấp nhất là tiểu thang Chú ý 10 (tươngquan tổng câu hiệu chỉnh là 0.429) và cao nhất là tiểu thang 4 (tương quan daođộng từ 0.615 – 0.666), chứng tỏ các biến ở từng tiểu thang thể hiện mức độtương quan cao phù hợp, cùng thể hiện một khái niệm nhưng không có sự trùng

lập Ở tiểu thang đo Chú ý 1 có các câu 1.25, 1.31, 1.33, 1.34, 1.42, 1.43, 1.46,

1.48 và ở tiểu thang Chú ý 2 có các câu 1.44, 1.45, 1.47 tương quan tổng câu

hiệu chỉnh vượt mức 0.7 thể hiện có sự trùng lập khái niệm ở các câu trong từngtiểu thang với nhau, các câu là cách diễn giải khác của cùng một đặc điểm Vớithang đo phong cách tương tác liên cá nhân, tương quan tổng câu hiệu chỉnh ởtất cả các tiểu thang đều có mức tối thiểu nằm trên mức 0.4 (thấp nhất là 0.445),tuy nhiên đều có sự xuất hiện các câu có tương quan vượt mức 0.7 (cao nhất là0.805)

Câu Tương quan câu - tổng câu hiệu chỉnh Cronbach's Alpha khi bỏ đi câu hỏi

Tiểu thang chú ý 1

Ngày đăng: 08/11/2022, 13:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w