1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương bài giảng đại cương về ngoại giao và nghiệp vụ ngoại giao

113 55 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 15,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 3 Công ước Viên 1961 quy định rõ nhiệm vụ, chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao, có thé tom tắt thành 6 vấn đề sau: - Đại diện cho › hước cử đi tại nước tiếp nhận; - Bảo vệ quy

Trang 1

gone Bo gos { ‘eo

STIPE A 00 RAD SIERO TENT TR IRATE

HQC VIEN BAO CHI VA TUYEN TRUYEN

KHOA QUAN HE QUOC TE

|

E CUONG BAI GIANG DAI CUONG VE NGOAI GIAO VA NGHIỆP VỤ NGOẠI GIAO

- Chủ nhiệm đề tài: Võ Thị Huệ, Giảng viên Khoa Quan hé qudc té,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Với sự tham gia cộng tác của tập thể tác giả Bộ môn Nghiệp vụ Ngoại

giao, Học viện Quan hệ quốc tế: Nguyễn Đình Sơn, Mai Thị Phòng,

Trang 2

CHUONG I: KHAI QUAT VE NGOAI GIAO

L Giới thiệu môn học

Trong bối cảnh quan hệ quốc tế hết sức rộng mở và phức tạp, ngoại giao càng thể hiện vai trò hết sức quan trọng trong việc gìn giữ, bảo vệ và xây dựng đất nước Ngoại giao không chỉ là lĩnh vực thuộc vê quan hệ chính trị quôc tế

mà đã vươn tầm với của mình tác động đến hầu hết các lĩnh vực khác trong mỗi

quan hệ giữa các quốc gia, khu vực, tổ chức trên thế giới Mỗi quốc gia không

thé tôn tại tách ra khỏi đời sống cộng đồng quốc tế

Đất nước ta đang tiếp tục đây mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

hoá, chủ động hội nhập với khu vực và thế giới, tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá, hoạt động ngoại giao hết sức phong phú và sôi động Với tư cách đại diện cho quốc gia, dân tộc người làm _ công tác đối ngoại ngày càng cần được trang bị và nâng cao kiến thức tông hợp mọi mặt đặc biệt là kiện thức về nghiệp vụ ngoại giao do tầm quan trọng và sức ảnh hưởng hết sức to lớn của các nghiệp vụ này Nhưng trên thực tế, ngoại giao vẫn như một ngành độc tôn có tầm phổ quát tương đối hẹp Vì thế việc nhận thức đúng về bản chất ngoại giao và vận dụng thành công nghiệp vụ ngoại giao

là yêu câu không thê thiểu đối với cán bộ làm công tác đối ngoại nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó

Môn học Đại cương về Ngoại giao và Nghiệp vụ Ngoại giao nhằm cung

cấp một cái nhìn bao quát xuyên suốt về các vấn đề cơ bản của hoạt động ngoại giao và công tác nghiệp vụ ngoại giao giúp cho học viên hình dung được quá trình phát triển và bản; chất của ngoại g1ao, cơ cấu tổ chức ngành ngoại giao, chế

độ ưu đãi miễn trừ ngoại giao, nghiệp vụ tiếp xúc, đàm phán, công tác soạn thảo văn bản ngoại giao, nghiệp vụ lễ tân Tất cả những nội dung này được trình bày theo sáu chương, với nội dung là các quy định chung của quốc tế với trọng tâm

là ngoại giao Việt Nam:

Chương I: Khái quát về ngoại giao

Chương II: Cơ dấu tổ chức ngành ngoại giao

Chương III: Chế độ ưu đãi, miễn trừ ngoại giao

Chương IV: Công tác tiếp xúc và đàm phán ngoại giao

Chương V: Công văn và văn kiện ngoại giao

Chương VI: Lễ tân ngoại giao

Phương pháp tiệp cận môn học này là phương pháp phân tích - tổng hợp, kết hợp những vẫn đề lý thuyết và kỹ năng thực hành Cơ sở lý luận là các văn bản có tính pháp lý về ngoại giao va quan hệ đối ngoại của quốc tế và Việt Nam

Cơ sở thực tiễn là hoạt động ngoại giao hiện đại của ngoại giao Việt Nam hơn

50 năm qua và theo những quy định, thông lệ quốc tế được đại đa số các nước tuân thủ

Môn học có dung lượng 45 tiết, dành cho sinh viên năm thứ hai, chuyên ngành Thông tin đối ngoại, sau khi đã được trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu biết những kiến thức nền

Trang 3

tảng về văn hoá, lịch sử, kinh tế, xã hội và nhiệm vụ của đất nước trong từng

giai đoạn phát triển

II Khái niệm chung về ngoại øiao

1 Quá trình hình thành và phát triển của ngoại ølao

1.1 Thời kỳ trước thế kỷ XV

Từ buổi bình minh của loài người, đã xuất hiện những hình thức phôi thai của quan hệ ngoại giao, đó là những hình thức giao tiếp đơn giản, thô sơ giữa các cộng đồng, bộ lạc, thị tộc Theo các nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao như: Nicolson, Marterns ( nh), Jean-Baptiste Durosell, Jean Serres (Phap), Dérin (Liên Xô cũ) thì những hình thức giao tiếp này chỉ có thể được coi là tiền thân của ngoại giao chứ chưa phải là chính thức ngoại giao Việc xuất hiện của ngoại giao gắn liên với việc xuất hiện Nhà nước Ngoại giao, cũng như Nhà nước, đều

là con đẻ của xã hội có giai cấp

Khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã, Nhà nước ra đời, ngoại giao tuy

đã chiếm vị trí quan trọng trong các môi quan hệ giữa các nước và các quôc gia,

nhưng không phải là biện pháp hàng đầu trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước Thời kỳ này, bạo lực và chiến tranh là chính sách hàng đầu Tuy nhiên ngoại giao van hinh thanh va phat trién va la phương pháp không thé thiéu duoc dé phat triển mối quan hệ bang giao giữa các nước Thời cô đại, trong bộ máy Nhà nước chưa có cơ quan chuyên trách làm công tác ngoại giao, chưa có viên chức ngoại giao, và các quy định về đặc quyên ưu đãi ngoại giao Công tác ngoại giao thời kỳ này chủ yêu tập trung vào một số van dé: phục vụ các nhiệm vu tác chiến; cầu phong, công sinh, hiéu hi; đi sứ, tiếp sứ;

trao đối điệp văn, v.v

Nhìn chung, quan hệ ngoại giao thời kỳ này thường thể hiện chủ yếu về mặt chính trị: đó là việc thể hiện sự “thuần phục” của nước nhỏ đối với nước lớn, của nước yếu đối với nước mạnh, và quan hệ của bá chủ đối với chư hau

Bước sang thời kỷ Trung cổ, với chế độ phong kiến phân quyên, ngoại giao thời kỳ này mang, nặng, dấu ấn của chế độ phong kiến - nông nô Châu Âu

bị chia thành vô số mảnh đất nhỏ xíu độc lập, giới lãnh chúa được đồng nhất với quốc gia Những qhúa đất lớn là những dé vuong, con quốc gia là tải sản thừa kế của họ Ranh giới giữa quốc gia và với quyền chiếm hữu tư nhân bị xoá nhoà; sự khác biệt giữa công pháp với tư pháp, quan hệ riêng tư với quan hệ quốc tế biến mắt Mỗi nếu lãnh chúa vẫn thực hiện một chính sách đối ngoại Ít nhiều có tính độc lập Một nhân tố nữa ảnh hưởng mạnh đến ngoại giao thời kỳ này là Nhà thờ mà đại diện là Giáo hội với toàn bộ mối quan hệ quốc tế phức tạp của nó Giáo hội không chỉ là lực lượng tôn giáo, mà còn là lực lượng nhà nước Giáo hội đã chiếm hữu những cơ sở vật chất đồ sộ, rộng khắp Sự thống nhất và

uy tín quốc tế của Giáo hội độc lập với tình trạng chia rẽ và tranh giành giữa các quốc gia phong kiến Giáo hội đã triển khai hoạt động ngoại giao rất tích cực, vận dụng mọi phương tiện từ những phương pháp chính trị cho đến việc rút phép thông công, cấm hành lễ, mua chuộc, do thám và ám sát Giáo hoàng La

Mã đã phái các đại diện của mình sang nước khác đảm trách công tác ngoại giao

Trang 4

với tư cách là người đứng đầu đoàn ngoại giao Tuy nhiên thời đó các “Thánh sứ” của Giáo hoảng chỉ là những đại diện lâm thời Nền ngoại giao cua Gido hoàng đã thành công trong việc tham gia tổ chức thực hiện một số trào lưu lớn của thời đại như những cuộc Thập tự ch¡nh Tuy nhiên, xu thế ly tâm đã xói mòn gốc rễ của cả nhà nước Giáo hội lẫn quyền lực của các hoàng đề

1.2 Từ thế kỷ XV trở đi

Với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, cùng những phát kiến địa lý, sự

ra đời của động cơ hơi nước, sự phát hiện ra châu Mỹ và đường biển sang Ấn Độ,v.v đường hàng hải quốc tế được lưu thông, quan hệ thương mại ngày càng mở ÿ rộng, giao lưu giữa các quốc gia trở nên nhộn nhịp, các nước đề quốc

đây mạnh công cuộc xâm chiếm thuộc địa Cùng với sự củng cố của Nhà nước,

tổ chức nghiệp vụ ngoại giao cũng ngày càng mang tính ôn định hơn, xuất hiện

cơ quan ngoại giao đại diện thường trực Vào cuỗi thế kỷ XVI, quy chế cơ quan đại diện ngoai giao tường trực hình thành một cách ôn định, và có quy định

thêm ngôi thứ ngoại giao hoàn chỉnh, những hình thức thư tín ngoại giao ra đời

và được mọi người chấp nhận Nghi thức lễ tân ngoại ø1ao với nước ngoài cũng được điều chỉnh chính xác hơn Các nước đã dân dần bổ nhiệm các đại diện thường trực tại nước khác Theo V.A Dôrin, mặc dù các đại diện ngoại giao thường trú nước ngoài|bắt đầu có từ thế kỷ XVI, nhưng đó thường mới chỉ là các

“quốc vụ khanh”, “ngoại vụ” bên cạnh các nguyên thủ quốc gia để phụ trách các công việc đối ngoại, cÏ uu chưa có cơ quan đại diện ngoại giao thường trực

Chỉ tới thế kỷ XVII, thì cơ quan đại diện thường trực mới bắt đầu hình thành Thế ky XIX, những, cơ quan thường trực như vậy đã được thành lập ở nhiều quốc gia có quan hệ với nhau và tới thế kỷ XX thì các cơ quan này đã trở nên khá mạnh, mang tính chuyên nghiệp và là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống lãnh đạo của Nhà nước Hoạt động ngoại giao trong thế kỷ XX

đã phát triển nhanh mạnh VỚI nhiều hình thức rất đa dạng và phong phú

1.3 Sự ra đời của Điều u ước quốc tế về quan hệ ngoại giao

Do quan hệ bang giao ngay càng mở rộng, các môi quan hệ giữa các quốc g1a ngày càng đa dạng) phức tạp và xuất hiện nhiều vấn để mới Do đó, các nước phải cùng nhau giải quyết các vân đề chung trong quan hệ quốc tế, bởi vì các tập quán quốc tế và các tậ quán quốc gia không còn đủ “sức” để điều hành các môi quan hệ này Yêu cà đc dẫn đến việc các hiệp định, hiệp ước quốc tế về ngoại giao lần lượt ra đời, lúc đầu còn sơ sài, càng về sau, các hiệp ước, hiệp định này càng được chi tiết hoá và hệ thống hoá

* Hiệp ước 1520 giữa Anh và Đề quốc La Mã thần thánh đã có ý nghĩa nhất định: đây là lần đầu tiên các quốc gia cam kết lập các đại sứ quán thường trú

* Hiệp ước Westphalie (1648) đã xác định hình thức các đại sứ quan va quy định những nguyên tắc về mối quan hệ thường xuyên giữa các quốc gia

* Hiệp ước Tilrft (1807) giữa Pháp và Nga hoàng vệ vân đề đại sứ, công sứ

và các phái viên của chính phủ được xây dựng trên nguyên tắc hỗ tương, bình đẳng

* Hiệp ước Viên (1815) quy định nhiệm vụ và quyên hạn của các đại diện ngoại giao Đây là quy tắc công pháp quốc tế và thực tiễn ngoại giao được các

Trang 5

nước chấp nhận, là quy tắc đầu tiên quy định rỡ ràng vị trí đứng đầu đoàn ngoại giao và chế độ công tác của các đại diện ngoại giao Hiệp ước quy định ngôi thứ ngoại giao gồm 3 câp: đại sứ, đại sứ toả thánh được bổ nhiệm bên cạnh nguyên thủ quôc gia; phải viên đặc biệt, công sứ toàn quyền được bỗổ nhiệm bên cạnh nguyên thủ quốc gia; đại biện được bổ nhiệm bên cạnh DỘ trưởng ngoại giao

* Nghị định thư: Aix - La Chapelle (1818) chỉ tiết hoá quyền hạn và chức năng của các đại diện ngoai giao

* Công ước Viên (1961) về quan hệ ngoại giao là công ước tương đối đầy

đủ và hoàn chỉnh nhất: Đến năm 1988, đã có trên 150 nước công nhận tham gia Công ước Năm 1980, Việt Nam tuyên bố tham gia Công ước với hai điều bảo

2 Khai niém ve ngoại giao

Bỏ qua các định nghĩa cổ xưa, chúng ta thử tìm hiểu một số khái niệm, định nghĩa vê ngoại ng được nhiều người biết đến của các học giả, các nhà khoa học công pháp quốc tế, các nhà nghiên cứu, hoạt động ngoại giao để có thê đưa đến một định nghĩ i chung

2.1 Định nghĩa của một số học giả, nhà ngoại giao Ảnh

- Nhà ngoại giao noi tiéng Harold Nicolson, dua vao Tu dién tiéng Anh

Oxford, da dua ra dinh nghĩa: “Ngoại giao, đó là việc tiến hành những quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán; đó là một phương pháp mà các đại sứ, công sứ dùng để điều chỉnh và tiến hành quan hệ này; đó là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao” ( H Nicolson: Diplomacy, Oxford University Press, London,

- E Stow, nhà hoạt động ngoại giao, tác giả cuốn “Ngoại giao thực hành” lại viết: Ngoại giao là sự áp dụng trí tuệ và lịch thiệp vào việc tiến hành những quan hệ chính thức giữa các chính phủ các nước độc lập, và đôi khi cả giữa những nước ấy với những nước chu hau của họ” (E Stow: Stow Guide to Diplomacy Practice, Londes, Longman, Green, 1917)

- Hoc gid Martens viét dai _ý: Ngoại giao là một khoa học về những quan

hệ đối ngoại hay các cộng việc đối ngoại của quốc gia, và theo nghĩa hẹp hơn đó

là một khoa học hay một nghệ thuật đàm phán

- Các định nghĩa trên, tuy có khác nhau ít nhiều, nhưng đều giống nhau ở một số điểm: đều nói đến các mối quan hệ đối ngoại giữa các nước; đều đề cập đàm phán và coi đàm phán là một phương pháp điều hành những quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia Riêng định nghĩa của Nicolson đề cập những người có cương vị của nhà nước, người trực tiếp phụ trách, tiến hành đàm phán Xét theo quan điểm của chúng tạ, ba định nghĩa trên đều có những thiếu sót chung: không nhắc tới tính giai câp của các mỗi quan hệ ngoại giao và của chính sách đối ngoai ma ngoai giao là cơ quan thực hiện; chưa nêu rõ mục đích của ngoại giao

là lợi ích quốc gia, lợi ích của giai cấp thống trị, chưa chỉ rõ cơ sở của ngoại giao là chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại giao là một trong những con đường chủ yếu thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước

2.2 Các định nghĩa khác

Trang 6

- Tir dién “Le Nouveau Petit Robert” an hanh thang 3-1994 dinh nghia:

“Ngoại giao là ngành chính trị liên quan đến các mối quan hệ giữa các quoc gia:

dai dién quyén lợi của một chính phủ ở nước ngoài, quản lý công việc quốc tế,

hướng dan va thuc hién dam phan gitta cac quéc gia” (Le Nouveau Petit Robert, Dictionnaires le Robert - Paris, 1994, p.649)

- “Từ điển ngoại giao” của Liên Xô (cũ) viết: Ngoại giao, theo nghĩa dau

tiên của nó là người có văn bằng (diplôme), mà như người ta đã gọi ở La Mã cỗ xưa theo danh từ Hy Lap thi “diplôme” là thư giới thiệu hoặc thư uỷ nhiệm do Thượng nghị viện (Sénat) cấp cho những nhân vật chính thức được cử đến các tỉnh hay ra nước ngoài, là một công việc có tính chất hành động, có tính chất sự nghiệp, có tính chất hoà bình khác hắn với công tác quân sự, để chuyên thực hiện những nhiệm vụ chính trị đối ngoại của quốc gia, và do các cơ quan chính phủ (như Bộ ngoại giao, các đại diện nước ngoài) chấp hành Từ điển còn giải thích thêm: “ theo nghĩa hẹp, ngoại giao là công cụ của chính sách đối ngoại”, chính sách đối ngoại đo lợi ích của các quôc gia trực tiếp quyết dinh ”, “ ngoai giao thi quyết không thể tách rời khỏi ảnh hưởng của cơ cau x4 héi song nó vân chỉ là phương tiện kỹ thuật để thực hiện chính sách đối ngoại mà thôi”

- Định nghĩa của nhà ngoại giao Liên Xô (cũ) V.A Dôrin: “Ngoại giao là hoạt động của các cơ quan quan hé déi ngoai va của các đại diện quôc gia để thực hiện các nhiệm vụ chính trị đối ngoại của quốc gia do quyên lợi của các giai cấp thống trị quyết định, và bảo vệ bằng phương pháp hoà bình những quyền hạn và lợi ích của quốc gia ở nước ngoài”

- “Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học xuất bản nam 1996, dinh nghia: Ngoai giao la su giao thiệp với nước ngoài dé bao vé quyền lợi của quốc gia mình và de góp phần giải quyết những vẫn đề quốc: tế chung”

Tất cả các định ngà nêu trên, dù dài hoặc ngắn, đều đề cập những nội dung cơ bản của ngoại, giao trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Song, ngày nay nhiều quan điểm mới xuất hiện mà các định nghĩa nêu trên chưa đáp ứng được, đó là: |

* Ngoại giao không chỉ là ngành chính trị, mà còn là: “một khoa học xã hội mang tính tông hợp”

* Ngoai giao go phan thực hiện chính sách đối nội

* Hiện nay, ngoại giao không còn là “lãnh địa” riêng của Nhà nước, không chỉ có các cơ ale của Chính phủ làm công tác đối ngoại, mà cả các tổ chức phi chính phủ, các chính khách, các học giả hay nhân vật có trách nhiệm cũng hoạt động năng nộ và có hiệu quả trong lĩnh vực này

* Quan điểm “ngoại giao là một nghệ thuật của các khả năng”, “ngoại giao là phương tiện thực hiện nhiệm vụ của chính sách đối ngoại trong khi chính sách này là sự tiếp tục của chính sách đối nội” đã được các quốc gia trên thế giới chấp nhận

2.3 Định nghĩa chung về ngoại giao

Trang 7

Từ các định nghĩa trên và qua thực tiễn hoạt động ngoai giao trong nước

và trên thé giới, theo đường lỗi, quan điểm của Đảng ta về chính sách đối ngoại, chúng ta có thể rút ra định nghĩa chung về ngoại giao như sau: Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của những khả năng, là hoạt động của các cơ quan làm công tác đổi ngoại, nhằm thực hiện chính sách đổi ngoại của Nhà nước, bảo vệ quyên lợi, lợi ích, quyền hạn của các quốc gia, dán

lộc ở trong nước và trên thể giới, gop phan giải quyết những ván dé quốc té

chung, bang con đường đàm phán và các “hình thức hoà bình khác

Để hiểu định nghĩa này, chúng ta cần chú ý một số vấn đề:

- Phải gắn trực tiếp việc xuất hiện của bản thân ngoại giao với việc xuất hiện Nhà nước, bởi lẽ, ngoại giao trước tiên là hoạt động của các cơ quan đối

ngoại, của những người CÓ cương vị nhất định của Nhà nước

- Thực chất, ngoai giao xuất phát từ bản chất xã hội của Nhà nước, là con

đẻ của xã hội có giai cấp, nhằm thực hiện chính sách đối ngoại - sự tiếp nỗi của

chính sách đối nội của một quốc gia, chính phủ

2.4 Vài nét về đàm phán

Công tác đàm phán là một khâu rất quan trọng trong hoạt động ngoại giao, nhưng hoạt động ngoại giao không chỉ có đàm phán Khái niệm ngoại giao gan lién voi nghé thuat dam phán là nhằm tìm ra cách giải quyết các xung đột bằng con đường đâu tranh, nhân nhượng theo phương pháp hoà bình để chấm dứt xung đột, củng cố, mở rộng hợp tác Thực chất trong đàm phán bao giờ cũng

có cái “được” và cái “mât” và các bên tham gia đều cố gắng giành phần “được” nhiều nhất và hạn chế phan ‘ ‘mat” 6 mirc thap nhat

HH Các hình thức ngoại giao

Trong lịch sử ngoại giao thế giới đã từng xuất hiện những thuật ngữ như:

“Ngoại giao pháo hạm”, “Ngoại giao bóng bàn”, “Ngoại giao sân gôn”, “Ngoại giao bóng đá”, “Ngoại giao nhà nghỉ”, “Ngoại giao xe buýt” Các hoạt động này thường được tổ chức như là bước khởi đầu để “làm tan băng” các mỗi quan

hệ giữa các quốc gia đang “có vấn đề với nhau”

Ngoại giao, nhất là ngoại giao hiện đại, tuỳ tình hình cụ thể, tuy mục đích, yêu cầu đặt ra, có thể sử dụng nhiều loại hình khác nhau, rất đa đạng, phong

phú, tế nhị Chúng ta đã từng biết tới những loại hình như: ngoại giao công khai, ngoại giao bí mật, ngoại giao nguyên thủ, ngoại giao con thoi, ngoại giao ngăn chặn, ngoại giao phat trién, ngoai giao phòng ngừa, ngoại giao kinh tế Các hình thức quen thuộc mà chúng ta thường đề cập, sử dụng là:

1 Ngoại giao Nhà bày

Đây là hình thức hoạt động ngoại giao do các cơ quan và các đại diện có thâm quyền của Chính phủ và Nhà nước tiễn hành Hình thức này sẽ mang lại sự

có lợi cho các bên tham gia trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khao học - kỹ

thuật, công nghệ, chính trị,

2 Ngoại giao giữa các Đảng phái chính trị

Đây là hình thức hoạt động ngoại giao do các cơ quan đại diện có thâm quyền của các đảng phái chính trị tiến hành Hình thức này góp phần xây dựng

Trang 8

phong trào, trao đổi trên cơ sở hệ tư tưởng Đối với chúng ta hình thức ngoại giao này góp phân xây dựng phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

3 Ngoại giao nhân dân

Đây là hình thức hoạt động ngoại giao do các tổ chức quân chúng nhân dân thực hiện Hình thức này mang lại sự đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa các

dân tộc trên thế giới

4 Ngoại giao đa phương

Hình thức hoạt động này đã xuất hiện từ lâu và trước đó nó chủ yếu là

mảnh đất riêng của các nước lớn Các nước nhược tiêu chỉ có thể đứng ngoài nghe ngóng, chờ đợi sự định đoạt của các nước lớn, cho dù đó là những vẫn đề

trực tiếp liên quan đến mình

Ngoại giao đa phương ra đời khi các tổ chức liên chính phủ hình thành các cơ chế tập thể với! các quy tắc chung vượt qua khỏi khuôn khổ ngoại giao song phương Ngoại giao đa phương xuất hiện vào, thế kỷ XIX với việc thành lập các liên minh quốc tế như Liên minh Điện tín quốc tế (1865), Liên mìỉnh Bưu chính toàn cầu (1878),| Liên minh đường sắt (1890) Trên thực tế, ngoại giao đa phương được chính thức hoá với Hội quốc liên (1919), ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất với mục đích thay thế ngoại giao bí mật bằng ngoại giao cởi mở mang tính đa phương và được phát triển lên với sự ra đời của Liên hợp quốc (1945)

Ngày nay, nền ngoại giao đa phương với ý thức độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia ngày càng cao, trong bối cảnh tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ,

đã trở thành một trongi những hiện tượng đặc trưng của thời đại Động lực thúc đây ngoại giao đa phương phát triển nằm ngoải xu thế phát triển của toàn cầu hoá và khu vực hoá Cụ thể, đó là sự phát triên vượt bậc của khoa học - kỹ thuật

- cộng nghệ; sự phát triển rộng khắp của hội nhập; việc mở rộng cơ chế thị trường trên thế giới dân nay ngoại giao đa phương được chia thành hai loại: ngoại giao đa phương tủa các tổ chức chính thức vả ngoại giao đa phương của của các tổ chức phi chí phủ

- Ngoại giao đa phương của các tổ chức chính thức diễn ra ở nhiều cấp, nhiều tầng, đó là:

+ Bao gồm các tô chức, diễn đàn rộng lớn, có tính chất toàn cầu như Liên hợp quốc, các tô chức chuyên môn của Liên hợp quốc như Hội đồng kinh tế và

xã hội; Quỹ tiền tệ quốc tế; Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế Tổ chức giáo dục, khoa học và ì yăn hoá của Liên hợp quốc; Tổ chức nông nghiệp, lượng thực của Liên hợp quốc; Cao uỷ Liên hợp quốc về người ty nạn

+ Ngoại giao đa phương của một hay nhiều khu vực: Liên minh châu Âu (EU); Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU); Hiệp hội các nước Đông — Nam Á (ASEAN); khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA); Diễn đàn hợp tác kinh

tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

+ Ngoại giao đa phương của một số tổ chức tập hợp các nước phương Tây

và xã hội chủ nghĩa (trước đây): Tổ chức an ninh và hợp tác ở châu Âu; Uỷ ban kinh tế của Liên hợp quốc về Châu Âu

Trang 9

+ Ngoại giao đa phương của các tổ chức dựa vào sự giúp đỡ của các Uỷ

ban hoặc nhóm chuyên môn do họ lập ra Ví dụ: tháng 12-1960, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã thay thế cho Tổ chức hợp tác kinh tế châu

Âu (OEEC) được thành lập từ năm 1947; từ năm 1969, OECD đã lập ra các uỷ ban hoặc nhóm đa phương phụ trách các van đề riêng: Uỷ ban thị trường tai chính (1969); Uý ban các vấn đề thuế (1971)

- Ngoại giao đa phương của các tổ chức phi chính phủ hoạt động theo Điều 71 Hiến chương ' liên hợp quốc - cho phép các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò cố vấn bên cạnh Hội đồng kinh tế - xã hội và ban thư ký của Liên hiệp quốc Có thể chia các tổ chức phi chính phủ thành 6 loại Nhóm những người sản xuất và những hiệp hội nghề nghiệp; nhóm giải trí; nhóm tổ chức từ thiện vả giúp đỡ phát triển; các tổ chức nhà thờ; nhóm cộng đồng; nhóm hoạt động theo thời điểm

Trong thời đại lgày nay, ngày cảng có nhiều vấn đề vượt ra ngoài ranh giới quốc gia và càng không thể giải quyết được bằng ngoại giao song phương Mặt khác, với ý thức độc lập tự chủ của từng quốc gia ngày càng tăng cao, ngoại giao không còn là là độc quyền của các nước lớn nữa Và cũng chính về lẽ đó, ngoại giao đa phương | ngay cang phat trién manh mé Vấn đề đặt ra là mỗi thành viên trong cộng đồng 'quôc tế phải biết vận dụng tốt ngoại giao đa phương, để bảo vệ lợi ích của mình và cũng để thúc đây quá trình dân chủ hoá đời sống quốc tế Đây là một “thách thức đối với từng nước, nhất là đối với những nước nghẻo, chậm phát triển, chưa đủ “sức” để triển khai các hoạt động toàn diện, đáp ứng tốt mọi yêu cầu của ngoại giao đa phương

IV Hoạt động ngoại giao và công tác nghiệp vụ ngoại giao

1 Khái niệm về hoạt động ngoại giao

Hoạt động ngoại giao chính là sự phát triển của một mạng lưới các cơ quan ngoại giao, ở trong nước và trên khắp thế giới, trên mọi lĩnh vực của đời sông xã hội, nhằm thự € hiện nhiệm vụ của ngành ngoại giao Nó mang tính lịch

sử và thé hiện hiện rõ bản s sắc, truyền thống dân tộc Đó là cuộc đầu tranh chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, lý luận thé thiện rõ bản chất giai cấp, quyền lợi dân tộc, lợi ích quôc de là cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, đối phương, đối tác bằng phương pháp riêng của ngành ngoại giao

Công tác nghiệp vụ ngoại giao là một loại công tác nhất định của Nhà nước Đó là chế độ công tác của các cán bộ ngoại giao trong các cơ quan trung ương và ở nước ngoài, | nhằm thực hiện nhiệm vụ ngoại giao của Nhà nước, hoặc nói ngắn gọn hơn, công tác nghiệp vụ ngoại giao chính là những kiến thức, kỹ năng chuyên ngành của nganh ngoai giao

2 Cơ sở hoạt động ngoại giao va công tác nghiệp vụ ngoại giao

Qua thực tiễn hoạt động ngoại giao, cũng như qua sách báo, chúng ta có thể nhận thức và đúc kết những cơ sở cần thiết cho hoạt động ngoại giao và công

tác nghiệp vụ ngoại giao Việt Nam như sau:

- Nắm vững, vận dụng tốt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình hình quốc tế, về những quy luật phát triển của xã

Trang 10

hội, về so sánh lực lượng giữa các nhân tố sức mạnh trong nước và quốc tế,

Đồng thời phải chú ý những đặc điểm dân tộc và lịch sử phát triển của từng nước, từng nhóm nước, từng khu vực và trên thế giới

- Nam vững, thực hiện tốt đường lỗi, chủ trương, nhiệm vụ, chính sách

cua Dang va Nha nước

- Hiéu biét tốt về khoa học xã hội tông hợp, nhất là về quan hệ quốc tế, kinh tế quốc tế, luật pháp quốc tế Nắm vững tình hình mọi mặt của nước mình

và của thế giới, khu vực, đất nước mà mình có quan hệ

- Phải nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác nghiên cứu ngoại giao -

cơ sở, xương sống của mọi công tác nghiệp vụ khác để thực hiện được “ngoại ø1ao là nghệ thuật của những khả năng”

Trang 11

CHUONG I: CO CAU TO CHUC NGÀNH NGOẠI GIAO

chức bộ máy ngoại giao

cơ quan quan hệ đối ngoại

Ngày nay, mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, dù theo chế độ

quân chủ hay chế độ: icOng hoa .đều có một cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm về công tác đối ngoại Hệ thống tổ chức các cơ quan quan hệ đối ngoại

của các nước đều bao) gồm hai loại: Các cơ quan quan hệ đối ngoại trung ương

và các cơ quan đại diện ở nước ngoài

1.1 Các cơ quan quan hệ đối ngoại Trung ương

1.1.1 Các cơ quan chính trị do Hiễn pháp quy định

Thông thường, cơ quan nay bao gôm nguyên thu quốc gia (cá nhân hoặc tập thể), Chính phủ và Thủ tướng, Bộ Ngoại giao và Bộ trưởng Ngoai giao

Nguyên thủ quốc gia là Vua ở các nước theo chế độ quân chủ và Chủ tịch hoặc Tổng thống ở cáè nước theo chế độ cộng hoà Trách nhiệm, hoạt động của

I Tổ

1 Các

nguyên thủ quôc gia d

của nguyên thủ quốc g

o Hiến pháp quy định Tuy nhiên, cũng có khi quyên hạn

;a không được ghi trong Hiến pháp Song, trên thực tế ai

nh thủ quôc gia có thể trực tiếp quan hệ với các nước khác, các nguyên thủ quốc gia nước khác, chính thức hoá các ách đối ngoại Những điều ước, văn bản, tuyên bố quan đối ngoại thường do nguyên thủ quốc gia ký

quan chính trị do hiễn pháp quy định, có chức năng lãnh ong quan hệ đối goal, co tham quyén thiét lap va điều

chỉnh các mối quan hệ giữa các cộng đồng bên trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

và quan hệ giữa các cộng đồng ấy với các thực thể khác bên ngoài lãnh thổ Chức năng này là một b bộ phận của chức năng chung của Chính phủ: Cơ quan hành pháp có thấm qu

việc của quốc gia, cơ

phủ được gọi là Thủ tu

các quan hệ đối ngoại

định, có quyền tiến hài

có quyền đi dự các phiê

uý quyền đặc biệt nào

Bộ Ngoại giao là

Nhà nước, Chính phủ

lyên thực hiện chính sách chung va điều hành mọi công quan hành chính của nhà nước Người đứng đầu Chính rớng, có quyền đại diện cho quốc gia, và Chính phủ trong trong phạm vi quyền hạn của mình được hiến pháp quy

nh hoạt động hàng ngày trong các lĩnh vực ay Thủ tướng

ên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc không can có sự

à cơ quan thực thi đường lối, chính sách đối ngoại của

về các công việc đối ngoại Ở một.số nước, cơ quan này

ae gọi với tên khác, như Bộ Quan hệ đổi ngoại, hay Bộ Các công việc quôc Bộ trưởng Ngoại, giao là người lãnh đạo cơ quan phụ trách quan hệ đối ngoại của Chính phủ, được quyên liên hệ với các nước khác, không cân có một

sự uỷ quyên đặc biệt nào, trong phạm vi quyền hạn được hiến pháp quy định

Khi ra nước go nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao

được hưởng mọi đặc quyên ưu đãi và miễn trừ ngoại giao ở mức cao nhất: quyên bat khả xâm phạm, bất khả tài phán, liện hệ bằng mật mã, đặc quyền danh dự

10

Trang 12

Về nội dung hoạt động, các cơ quan quan hệ đối ngoại của các nước về cơ

bản thường giông nhau, nhưng về cơ câu tô chức đối khi khác nhau tuỳ theo đặc điểm chính trị, kinh tế, chiến lược của từng nước

1.1.2 Các cơ quan chuyên môn có tính chất công ước

Trong hệ thông tổ chức bộ máy đối ngoại của nhà nước có những cơ quan được tô chức và hoạt động trên cơ sở những hiệp ước, hiệp định quôc tế, hoặc trên cơ sở tập quán, truyền thống được hình thành và thừa nhận trong quan hệ quốc tế Chúng được gọi là các cơ quan chuyên môn có tính chất công ước Đây

là những cơ quan vê chuyên môn của nhà nước có quan hệ với nước khác

Những cơ quan này được tổ chức theo ngành dọc, trực thuộc các bộ, ngành

chuyên môn Các bộ, ngành này có liên quan, quan hệ với nước ngoài là do thực

chất nội dung công việc của họ Nói cách khác, nếu không quan hệ với nước

khác thì họ khó có thể hoàn thành được các công việc được giao phó, ví dụ ngành hàng không, biru điện, thông tin, ngoại thương, văn hoá Điều quan trọng cân lưu ý là: Tat cả mối quan hệ của các cơ quan này với nước ngoải không mang tính chất | quan hệ chính trị, mà chỉ mang tính chất chuyên môn, các

cơ quan này không hoạt động trên cơ sở hiễn pháp, mà trên cơ sở công ước quốc

tế

1.2 Các cơ quan đại diện của Nhà nước

1.2.1 Cơ quan đại diện thường trủ

Là các cơ tua hàn ngày làm công tác ở nước ngoài, đại điện cho quyền lợi quốc gia, quyền lợi dân tộc, quyên lợi công dân, pháp nhân nước cử đi Các

cơ quan đại diện thường trú thường bao gôm: Đại sứ quán, Công sứ quán, Cơ quan đại diện tại các tô chức quôc tế; Đại biện quán; Tổng lãnh sự quán, Lãnh

sự quán Tuy theo chức năng, tính chất hoạt động, người ta phân cơ quan đại diện thường trú thành: cơ quan đại diện thường trú ngoại giao (Đại sứ quán - Công sứ quán - Cơ quan đại diện tại Liên hợp quốc); và cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao Tổng lãnh sự quán - Lãnh sự quán - các tổ chức phục vụ triển lãm, hội nghị kỹ thuật thường xuyên, v.v )

Địa vị pháp lý của các cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao gần giống với quy chế pháp lý quốc tế của các cơ quan đại diện ngoại giao nhưng ở mức độ thấp hơn Các cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao không mang tính chất chính trị, ngoại giao, mà chỉ mang tính chất chuyên môn, kỹ thuật thuần tuý, trừ trường hợp được giao kiêm thêm nhiệm vụ về ngoại giao như cơ quan lãnh sự đ những nước không lập Đại sử quán, Công sứ quán, Đại biện quán

1.2.2 Các cơ quan đại diện lâm thời

Thường bao gôm các đoàn đại biểu, các đại diện riêng lẻ, đặc phái viên được cử ra nước ngoài hoạt động trong một thời gian nào đó; hoặc các quan sát viên ở các hội nghị quoc tế, ủy ban quốc tế; hoặc các đại diện cá biệt được cử di

dự các ngày lễ nhà nước, các ngày lễ đăng quang, quốc tang

1.2.3 Nhiệm vụ, chức! nang, quyên lợi của các cơ quan đại diện ngoại giao

Trang 13

Nhiệm vụ chung của cơ quan đại diện ngoại giao là đại diện cho quốc gia mình tại nước tiếp nhận Bất kỳ cơ quan đại diện ngoại giao nào cũng là cơ quan đại diện duy nhất của một quốc gia tại nước ngoài Bat ky van dé gi liên quan

dén quốc gia của cơ quan đại diện ngoại giao tại nước ngoài đều thuộc quyên

hạn cơ quan đại diện ngoại giao giải quyết, xử lý

Một trong những chức năng cơ bản của đại diện ngoại giao là hàng ngày

liên hệ với Chính phủ, Nghị viện, Bộ Ngoại giao, các cơ quan, giới chức xã hội

nước sở tại Mối liên hệ hàng ngày này có một phương hướng rõ rệt để nhằm nghiên cứu tỉnh hình chính trị, kinh tế, xã hội CÁC, biến cố xảy ra ở nước sở tại

để báo cáo cho Chính phủ nước mình biết; phát triển quan hệ mọi mặt giữa hai nước; bảo vệ quyên lợi của công dân, pháp nhân, quyên lợi của quốc gia mình Điều 3 Công ước Viên 1961 quy định rõ nhiệm vụ, chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao, có thé tom tắt thành 6 vấn đề sau:

- Đại diện cho › hước cử đi tại nước tiếp nhận;

- Bảo vệ quyên lợi của nước cử đi và của công dân nước cử đi tại nước tiếp nhận, trong phan vi cho phép của Luật quốc tế;

Quyển lợi của| các cơ quan đại diện ngoại giao được quy định rõ trong

Công ước Viên 1961, Có thể tóm tắt thành § vấn đề áp dụng cho mọi cơ quan

đại diện ngoại giao: _

- Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ trụ sở làm việc;

- Quyền bất khả xâm phạm chỗ làm việc và nhà riêng:

- Quyền bất khả xâm phạm thân thể đối với toàn bộ nhân viên ngoại giao;

- Quyền bất khả xâm phạm tài sản;

- Quyền không bị toà án địa phương xét xử về hình sự;

- Quyền được miễn thuế trực thu;

- Quyền được liện hệ mật mã bí mật với Chính phủ nước mình;

- Quyền được rhiễn khám xét đối với thư từ, bưu kiện ngoại giao

Để đảm bảo clo các quyền này được thực hiện tốt, các viên chức ngoại giao được cấp hộ ce ngoại giao, giấy miễn khám (ngày nay, không cần giấy miền khám, hi cán bộ ngoại giao có hộ chiếu ngoại giao)

1.2.4 Cơ cấu tỗ chức trong cơ quan đại diện ngoại giao

Như đã trình bảy ở trên, cơ quan đại diện ngoại giao bao gồm cơ quan đại diện thường trú và cơ quan đại diện lâm thời Cơ câu tổ chức cơ quan đại diện thường trú được sắp Xếp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và yêu câu quan hệ Có

cơ quan nhỏ chỉ có vai cán bộ ngoại giao và nhân viên Dù quy mô to, nhỏ khác nhau, song tất cả các cơ quan đại diện ngoại giao đều phải thức hiện đầy đủ các

_ công tác nghiên cứu, quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá, lãnh sự, làm nhiệm vụ

12

|

|

Trang 14

lé tan, thông tin, tuyên truyền, hành chính, quản trị,v.v Để thực hiện những

- Kinh tế thương mại

- Văn hoá

- Thông tin báo chí

- Lãnh sự

- Văn phòng (lễ tân, hành chính, quản trị), v.v

Đối với nước ta, ở các Đại sứ quán lớn các bộ phận trên gọi là phòng; ở các đại sứ quán nhỏ, có các bộ phận kiêm nhiệm một số công việc

2 Tổ chức bộ máy ngoại giao Việt Nam

2.1 Bộ ngoại giao Việt Nam

Lịch sử ra đời và phát triển của Bộ Ngoại giao Việt Nam gắn liền với sự

ra đời và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, này là nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngày 19-§-1985, lãnh đạo Bộ Ngoại giao

đã quyết định chọn n ray 28-8-1945 là ngày thành lập ngành Ngoại giao, vì đây

là ngày đầu tiên có ý' nghĩa trọng đại đối với ngành Ngày đó, Chính phủ lâm thời ra tuyên cáo với quốc dân đồng bảo và nhân dân thế giới về việc thành lập

Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cong hoa do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; đồng thời cũng lả ngày ra đời chính sách ngoại giao đầu tiên của Chính phủ lâm thời Sau sự kiện này, Chính phủ lâm

thời đã có những hoạt động đổi ngoại và các văn kiện ngoại giao nhà nước, đặc biệt là bản Tuyên ngôn độc lập - một văn bản có giá trị pháp lý quốc tế đầu tiên của nước ta

2.1.1 Tổ chức bộ máy

Ở nước ta tổ chức bộ máy ngoại giao ban đầu và trong suốt thời gian

chống Pháp tất gọn nhẹ, cơ động biên chế ở mức tối thiểu, cần đến đâu tổ chức

đến đó, tuỳ theo yêu cầu và sự phát triển của tình hình _

Năm 1945, bộ máy ngoại giao ban đâu hình thành với tông biên chế

khoảng 20 người và pao gồm ba bộ phận: Tổng thư ký, Ban tham nghị, Văn phòng Nhiệm Vụ Củai ngoại giao trong những năm 1945-1946 là phục vụ việc củng cô và giữ vững chính quyên cách mạng

Những năm we ne nhiệm vụ của ngoại giao là phải mở đường ra quốc tế, đây mạnh tu ‘én truyén lam cho thé giới biết về cuộc kháng chiến toàn quốc của ta chống thực dân Pháp Ở thời kỳ đó công tác ngoại giao có bước phát triên, nhưng bộ máy và đội ngũ lại gọn nhẹ đê thích nghi với hoàn cảnh kháng

chiến Cụ thể, đội ngữ thời ky đầu lên “An toàn khu” kể cả Bộ trưởng, cán bộ,

hậu cần chỉ khoảng 10-12 người với một Văn phòng bao gồm Bí thư Bộ trưởng, chuyên viên luật pháp; Phòng Hành chính - quản trị, Ban Hoa vụ

Những năm 1950-1954, tình hình quốc tế tuy có những mặt phức tạp, nhưng đã có thêm những yếu tế thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta Toàn Đảng, toàn dân ta đây mạnh kháng chiến đến thăng lợi, bộ ,

máy ngoại giao bat dau được tăng cường về tô chức Đầu năm 1950, Văn phòng

Trang 15

tuyén chon thém nhiéu cán bộ vào trong ngành, nâng tổng số từ 12 người lúc mới đến chiến khu lên khoảng 50 người tổ chức bộ máy từ một văn phòng hình thành một văn phòng gôm 4 phòng: Công văn, mật mã, liên lạc, tiếp tân, khánh tiết (Phòng 1); Tài chính, nhân sự (Phòng 2), Theo dõi các nước, thông tin, báo chí (Phòng 3); Theo dõi cơ quan, Việt kiều, Ngoại kiều (Phòng 4) Việc tăng cường tổ chức bộ máy nói trên là nhằm thực hiện kế hoạch đón các đại sứ đến chiến khu, như đã dự kiến sau thắng lợi ngoại giao tháng 1-1950 Cuối năm

1951, kế hoạch trên không thực hiện được, công việc không có gì nhiều, bộ máy thu hẹp dần, chỉ còn lại 2 phòng: Phòng chuyên môn và Phòng Hành chính -

quản trị, với khoảng 13-16 người (có tài liệu nói khoảng 30 người) cho đến ngày

về tiếp quản Thủ đô

Sau hoà bình lập lại, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải triển khai từng bước việc mở rộng và tăng cường lực lượng của Bộ Ngoại giao để co

đủ sức đảm đương nhiệm vụ đối ngoại trong tình hình và nhiệm vụ mới Ban tổ chức trung ương vả Bộ Ngoại giao thực hiện nhiều biện pháp tăng nhanh biên chế bằng cách tuyển cán bộ địa phương, quân đội và các ngành khác bổ sung cho đội ngũ cán bộ ngoại giao hiện có, mở trường lớp đảo tạo chính quy, bồi dưỡng, nâng số lượng từ gân 100 người cuôi năm 1954 lên 173] người vào tháng 5-1975 (trước khi hợp nhất Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lân thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vào Bộ Ngoại giao) với bộ máy tô chức ngày một hoàn chỉnh hơn, bao gồm: Các đơn vị khối tổng hợp, các vụ khu vực, các đơn vị nghiệp vụ ngoại giao, các đơn vị khối nội bộ, các đơn vị khối đào tạo

Sau khi đất nước thống nhất, chúng ta đã tiễn hành sáp nhập hai Bộ Ngoại ø1ao (6-1976): một bộ phận lớn cán bộ Bộ Ngoại giao Cộng hoả miền Nam Việt Nam (CP-72) chuyên về làm việc tại các đơn vị của Bộ Ngoại giao Việt Nam

dân chủ cộng hoà Ngành ngoại giao chuyển hướng mạnh mẽ về nhiệm vụ, nội

dung và phường hang hoạt động, nhằm tập trung phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Nhiệm vụ chính trong giai đoạn mới: tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, đồng thời góp phần vào cuộc đầu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhẫn mạnh nhiệm vụ ngoại giao làm kinh tế

Từ năm 1990 đến nay, ngành ngoại giao tiếp tục đây mạnh việc thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, tranh thủ tối

đa mặt tương đồng, hạn chế mặt bất đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc: dau tranh chung cua nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo nguyên tắc “Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước”, bình đẳng, cùng có lợi, cùng ton tai hoa binh, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, giải quyết vẫn đề tranh chấp bằng thương lượng, đảm bảo ổn định, an ninh và phát triển, mở rộng hoạt động đổi ngoại của Đảng và đối ngoại của nhân dân Đề đảm nhiệm trọng trách ngày càng cao, tổ chức bộ máy ngoại giao càng hoàn chỉnh hơn, Hiện nay, tổ

14

Trang 16

chức bộ máy ngoại giao có đầy đủ các đơn vị văn phòng, tổng hợp, khu vực, nghiệp vụ ngoại giao, kinh doanh hạch toán với đội ngũ cán bộ dày dạn kinh nghiệm, có những đóng góp hết sức to lớn vào những thành tựu của ngoại giao

trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trong việc giải quyết các vẫn đề Campuchia, và đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy, có trình độ ngoại

ngữ và kiến thức tốt, tích cực học hỏi kinh nghiệm đấu tranh và hoạt động ngoại giao của lớp trước, phát huy truyền thong, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh

Tổ chức bộ máy Bộ Ngoại giao Việt Nam theo Nghị định 21-CP ngày 10-

- Vụ Văn hoá - UNESCO;

- Vụ Thông tin hao chi;

- Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài;

- Ban Biên giới;,

- SỞ Ngoại vụ thành phó Hồ Chí Minh

Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ:

- Học viện Quan hệ quốc tế;

- Báo Quốc tế;

- Trung tâm Hướng dẫn báo chí nước ngoài;

- Trung tam Thong tin kinh tế đối ngoại và tin hoc;

Trang 17

- Cuc Phuc vu Ngoai giao doan

Những đơn vị này có thể thay đổi, sáp nhập hoặc tách riêng, tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ được giao trong từng giai đoạn lich sw

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn của Bộ ngoại giao

Trong giai đoạn: 1945-1975, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định: số 157-CP ngày 9-10-1961 quy định chức năng của Bộ Ngoại giao như sau: Bộ Ngoại giao

là cơ quan của Hội đồng Chính phủ phụ trách công tác ngoại giao và quản lý thông nhất công tác đối ngoại theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích dân tộc trên trường quốc tế, nâng cao địa vị của Việt Nam dân chủ cộng hoà, tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần giữ gìn và củng cô hoà bình ở Đông Nam Á và trên thé giới

Điều 1, Nghị định 21/CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cầu tổ

chức bộ máy của Bộ Ngoại giao, ngày 10-03-2003 xác định: Bộ Ngoại giao là

cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đối ngoại gồm: công tác ngoại giao, biên giới lãnh thổ quôc gia, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ký kết và thực hiện điều ước quôc tế, Cơ quan đại diện Việt Nam ở

nước ngoài; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu

phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Ngoại giao được xác định trong Điều 2

của Nghị định trên bao gồm 19 điểm, có thể tóm tắt thành hai vấn đề lớn: Đệ

trình Chính phủ xét duyệt, quyết định các công việc đối ngoại của Đảng và Nhà : nước, tổ chức và thực Hiện các công việc đó

Đệ trình Chính phủ xét duyệt, quyết định các van dé

1) Đường lối, chủ trương, chính sách, chương trình hoạt động đối ngoại của Đảng và:Nhà nước

2) Ban hành các

chế độ chính sách đối

tượng nước ngoài

3) Rút hoặc lập bee cơ quan đại diện; cử và triệu hồi hoặc rút khỏi các tổ chức quốc tế |

4) Việc lập bei cac co quan dai diện ngoại giao, viéc cử và triệu hồi các đại sứ đặc mệnh toản quyên

5) Về việc ký kết các điều ước quốc tế thuộc thầm quyền Bộ Ngoại giao phụ trách |

6) Các dự luật, pháp luật, văn bản liên quan đến việc điều chỉnh quan hệ pháp lý về ngoại giao, lãnh sự, điều ước quốc tế, lễ nghĩ Nhà nước với nước ngoài

chế độ chính sách về lĩnh vực công tác ngoại giao, các với các tổ chức và cá nhân trong quan hệ với các đối

Tô chức, thực hiện các nhiệm vu, quyền hạn

7) Tổ chức thực hiện các quyết định của Chính phủ về các hoạt động ngoai giao; cu thé hoa chinh sach đối ngoại của Nhà nước trong từng thời kỳ,

'

16

Trang 18

từng nước, từng khu vực, với các tổ chức quốc tế; pháp ngôn quan điểm chính thức của Việt Nam về Các vẫn đề quốc tế

8) Ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định, thông tư, chỉ thị liên

quan đến công tác đối ngoại theo quyết định của Chính phủ; báo vệ lợi ích của Nhà nước, các tổ chức, công dân ở nước ngoài theo đúng luật pháp Việt Nam và quốc tế

9) Đại diện cho Nhà nước trong quan hệ ngoại giao với các nước, các tổ

chức quốc tế

10) Chu tri, chuẩn bị cho các đoàn cấp cao của Nhà nước đi công tác ở nước ngoài; tiếp đón các đoàn cấp cao cuả các nước, các tổ chức quốc tế đến Việt Nam; quản ly đoàn vào, đoàn ra theo quy định của Chính phủ

11) Tổ chức, tham dự các Hội nghị quôc tế về lĩnh vực chính trị đối ngoại -_ 12) Nghiên cứu tình hình, cung cấp thông tin, tham mưu góp phan xây dựng, thực hiện chính gách đối ngoại; tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước

13) Tiến hành việc trao đổi đại diện ngoại giao với các nước, các Tổ chức

14) Phối nop với các cơ quan liên quan bảo vệ quyền lợi của Việt Nam ở nước ngoài; quản lý ngoại kiều tại Việt Nam

15) Tổ chức công tác nghiên cứu khoa học về quan hệ quốc tế

16) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngoại giao, cán bộ ngoại vụ địa phương;

phong hàm ngoại giao theo quy định của Chính phủ

17) Thực hiện chức năng lãnh sự `

- 18) Hướng dẫn các ngành, các địa phương thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật liện quan tới hoạt động đối ngoại của Việt Nam

19) Quản lý, tổ chức bộ máy; quản lý tài sản; cơ sở vật chất được giao

2.2 Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Theo sách “Hoàn vũ ký” của Lê Quý Đôn, từ thời Lê, thành phần của sứ đoàn ta thường có:

- 2 người gIúp việc ghi chép

Ngày nay các cơ:quan đại diện ở nước ngoài được quy định rõ về cơ cầu

tô chức, nhiệm vụ, quyện hạn Pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 2-12-1993 của Ủỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định tại Điều 6: Các cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm:

- Đại sứ quán, Công sứ quán, Đại biện quán

- Tổng lãnh sự quán và Lãnh sự quán

Trang 19

- Phai doan dai dién thường trực của Việt Nam ở nước ngoài và bên cạnh

Liên hợp quốc và các tổ chức quốc liên Chính phủ

Cơ quan đại diện cho cơ quan quyết định thành lập hoặc đình chỉ hoạt động theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Điều 2 - Pháp lệnh về cơ quan

đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài 2-12-1993);

hoạt động theo pháp luật Việt Nam, tôn trọng pháp luật, phong tục tập quán của

nước tiếp nhận, của nước mà tổ chức quôc tế đặt trụ sở, tôn trọng luật pháp,

phong tục tập quán quốc tế (Điều 3 - Pháp lệnh 2-12-1993)

2.2.1 Quá trình xây dung va phat trién

- Trong thoi ky 1945-1954: Để thực hiện nhiệm vụ mở đường ra quốc tế, làm cho thế giới biết về cuộc kháng chiến của ta, giúp đỡ ủng hộ ta, Trung ương Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo trực tiếp tìm cách đưa cán bộ ra nước ngoài Tháng 4-1947, ta lập cơ quan phái viên Chính phủ ở Băngcốc (Thái Lan); tháng 2-1948, lập cơ quan đại diện Chính phủ ở Răngun (Miến Điện); nam 1949, ta đặt cơ quan thông tin, Ban liên lạc với thanh niên, sinh viên quốc tế ở Praha (Tiệp Khác); tháng 5- 1948, cử một đoàn gồm 10 cán bộ trẻ, giỏi ngoại ngữ sang BăngCốc để khai thông công tác tuyên truyền, vận động báo chí nước ngoài, hoạt động ngoại giao nhân dân và đặt cơ sở quan hệ với các đoàn thể quốc tế; đặc biệt năm 195], mở hai Đại sứ quán đầu tiên tại Trung Quốc và Liên Xô (cũ);

từ cuối năm 1953 đến đầu năm 1954, lập ba Biện sự xứ ở Côn Minh - Vân Nam, Nam Ninh - Quảng Tây, Quảng Châu - Quảng Đông (Trung Quốc)

Nhìn chung, hoạt động ngoại giao thời kỳ này không nhiều Mọi tiếp xúc, giao dịch với bên nao đều tập trung vào Bộ trưởng; đội ngũ cán bộ còn lại làm công tác theo dõi, nghiên cứu, tong hợp những hoạt động của các cơ quan ở ngoài nước để Bộ trưởng báo cáo với Chính phủ Song, nhờ việc đặt những cơ quan đại diện ở thời kỳ: này, mà chúng ta có được mạng lưới thong tin, pha được thế bao vây của địch, giới thiệu được cuộc kháng, chiến của ta với thế giới, tranh thủ được sự đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới, làm cho nhân dân Pháp hiểu được tình hình Việt Nam, thúc đây phong trào phản chiến ở Pháp

- Thời kỳ 1954-1975: Do tình hình nhiệm vụ cách mạng yêu cầu, trong giai đoạn 1954-1964, ngoài việc thiết lập các Đại sứ quán ở Liên Xô cũ, Trung Quốc, chúng ta mở thêm Đại sứ quán ở các nước Đông Âu và một vài nước ở Châu Phi Tính đến năm 1973, chúng ta đã lập 30 cơ quan đại diện ở nước ngoài

và cũng trong giai đoạn này, Bộ Ngoại giao Cộng hoà miên Nam Việt Nam quan

ly 28 co quan dai dién ngoai giao

- Thoi ky 1975 dén nay: Song song với việc sáp nhập các cơ quan đại diện của hai miên, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng loạt nước thuộc các khu vực khád nhau trên thế giới Đến nay, chúng ta đã có gần 60 Đại

sứ quán, phái đoàn đại điện, Tổng lãnh sự, Văn phòng đại diện tại nước ngoài 2.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn

Điều 1, Pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, ngày 2-12-1993 quy định: “ Cơ quan đại diện thực hiện chức năng đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với nước, tô

18

Trang 20

chức quốc tế tiếp nhận trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định” Các cơ quan đại diện này thực hiện một phân hoặc toàn bộ nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 7 mục 1, Chương II của Pháp lệnh 2-12-1993 và

được chỉ tiết hoá trong Điều 15, Chương II, Nghị định số 183/Chính phủ của

Chính phủ ngày 18-11;1994, cụ thé:

1) Bảo vệ quyên lợi của Nhà nước, của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và

công dân Việt Nam tại nước tiếp nhận trên cơ sở pháp luật Việt Nam, pháp luật

2) Kiên nghị với các cơ quan hữu quan ở trong nước về các chính sách, biện pháp và đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế với nước tiếp nhận để bảo

vệ quyền lợi của Nhà nước, tổ chức và công dân Việt Nam ¬

3) Tiêp nhận kiên nghị và thông tin của các tổ chức kinh tê, tô chức xã hội

và công dân Việt Nam về việc yêu cầu cơ quan đại diện Việt Nam tại nước tiếp nhận bảo về quyên lợi và lợi ích chính đáng của họ khi bị vi phạm

4) Tô chức nghiên cứu tình hình mọi mặt của nước tiêp nhận, khả năng va mức độ phát triên quan hệ giữa nước ta với nước hoặc tô chức quốc tê tiêp nhận

đê báo cáo về Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu qua

5) Đê xuât với Bộ Ngoại giao và các cơ qua n hữu quan ở trong nước về n trong nước các chính sách, biện pháp nhằm phát triển quan hệ hữu nghị, thúc đây sự hợp tác

¡

kinh tế, thương mại,

vực khác phù hợp vớ

và sự giúp đỡ tôi đa c

ăn hoá, khoa học, công nghệ, đầu tư, du lịch và các lĩnh khả năng và chính sách của hai bên; tranh thủ sự ủng hộ

ủa quốc tế đôi với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đât nước

6) Tạo mọi điệu kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ quan, tô chức và

người Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ với các cơ quan, tô chức hữu quan của nước hoặc tô chức quốc tế phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật nước tiếp nhận !

8) Cơ quan đại ‹

quyển lợi va loi ich ck

nước tiếp nhận trên cơ

ĩnh vực để cơ quan đại diện có điều kiện thực hiện tốt

\ hoá tại nước tiếp nhận nhằm tăng cường sự hiểu biết và

thị với Việt Nam

liện ngoại giao và cơ quan lãnh sự có trách nhiệm bảo hộ

tính đáng của công dân Việt Nam và người Việt Nam ở

sở pháp luật nước tiếp nhận, pháp luật và tập quán quốc

hật Việt Nam; báo cáo với các cơ quan hữu quan ở trong ông tác vân động cộng đồng người Việt Nam ở nước tiếp

ính sách thích hợp nhằm tạo điều kiện để họ giữ gìn tình

6 với quê hương, có những đóng góp cho sự nghiệp xây triển quan hệ hữu nghị với nhân dân và Chính phủ nước

2.4.3 Cac loai co quan đại điện của Việt Nam

* Cơ quan đại diện ngoại giao

Trang 21

- Điều 6.1, Pháp lệnh 1993 định nghĩa: “Cơ quan dai dién ngoai giao cua nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đại diện của nước Cộng hoa xa hội chủ nghĩa Việt Nam về mọi lĩnh vực quan hệ với nước tiếp nhận

Cơ quan đại diện ngoại giao gồm Đại sứ quán, Công sứ quán và Đại biện quán Trong trường hợp đặc biệt, cơ quan đại diện ngoại giao có tên gọi khác theo sự thoả thuận giữa Việt Nam và nước tiếp nhận”

+ Đại sứ quán:,là hình thức cao nhất, phố biến nhất; người đứng đầu là

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền do Nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm, triệu hồi theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ

+ Công sứ quán: hình thức sau Đại sứ quán; người đứng đầu là Công sứ đặc mệnh toàn quyền do Nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm, triệu hồi theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ

+ Đại biện quán: là hình thức thấp nhất; người đứng đầu là Đại biện do

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cử và triệu hồi

- Theo Điều Bi Pháp lệnh 1993 thì: Thành viên của cơ quan đại diện

ngoai giao bao gồm: Vién chức ngoại giao, nhân viên hành chính, kỹ thuật và

“Cơ quan đại diện ngdại giao có những nhiệm vụ và quyên hạn sau đây:

1 Đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về mọi lĩnh vực quan hệ với nước tiếp nhận;

2 Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích chính đáng của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và của công dân Việt Nam tại nước tiếp nhận;

3 Đàm phán vài ký kết điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật;

4 Tìm hiểu tình hình của nước tiếp nhận, kiến nghị với Chính phủ, Bộ ngoại giao, các cơ quản và tô chức hữu quan ở trong nước về những chính sách

và biện pháp cần thiết nhằm phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác về mọi lĩnh vực với nước tiếp nhận, chú trọng sự hợp tác về kinh tế, thương mại, khao học,

5 Tién hanh công tác thông tin, giới thiệu về Việt Nam đề chính quyền và nhân dân nước tiếp nhận hiểu về Việt Nam;

6 Thực hiện các công tác lãnh sự;

Trang 22

7 Bao vé quyén loi chinh đáng của người Việt Nam ở nước tiếp nhận; giúp

đỡ tạo điều kiện thuận lợi để họ thường xuyên giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, đóng gop thiét thực cho sự nghiệp xây dựng đất nước;

8 Thong nhat quan ly Nha nước vả tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tô chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân

Việt Nam tại nước tiếp nhận”

Việc thành lập hoặc đình chỉ hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao

do Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng bộ ngoại giao (Điều 2, Pháp lệnh 1993) 2

Nhin chung, co quan đại diện ngoại giao phải thực hiện đầy đủ các lĩnh vực công tác sau: |

+ Quan hệ chính trị, thông tin báo chí;

+ Quan hệ kinh tế, thương mại;

+ Quan hệ văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ;

+ Công tác lãnh su;

+ Quan hệ quân sự;

+ Công tác hành chính, kỹ thuật, quản trị, lễ tân

* Phái đoàn đại diện thường trực

Theo Điều 6.4, Pháp lệnh 1993, Phái đoàn đại diện thường trực của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên Chính phủ (gọi tắt

là phái đoàn đại diện thường trực) là cơ quan đại diện của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chức năng ngoại giao tại tổ chức quôc tế thuộc hệ thông liên hợp quốc và tô chức quốc tế liên Chính phủ ngoài hệ thống Liên hợp quôc (gọi tắt la tổ chức quốc tế)

Về cơ cấu tổ chức, thành viên của phái đoàn đại diện thường trực gồm viên chức ngoại giao, nhân viên hành chính kỹ thuật, nhân viên phục vụ (Điều 6.6 Pháp lệnh 1993); Trưởng phái đoàn đại diện thường trực là người đứng đầu phái đoàn đại diện trường trực (Điều 6.5, Pháp lệnh 1993) Thành viên của phái đoàn đại diện thường trực bao gồm các biên chế: Trưởng phái đoàn (hàm Đại

eo dé nghị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Điều 2, Pháp

Bộ Ngoại giao quyết định tổ chức bộ máy và biên chế của Phái đoàn đại diện thường trực, sau khi thống nhất giữa Bộ trưởng, Trưởng ban

Tổ chức - cán bộ Chính phủ và tham khảo ý kiến Thủ trưởng cơ quan hữu quan (Điều 17, Pháp lệnh 1993 và Điều 3 NĐCP 1994) Điều 18, Pháp lệnh 1993 quy định: Chủ tịch nước cử và triệu hồi Trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại Liên hợp quốc; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cử và triệu hồi Trưởng phái đoàn đại điện thường trực tại các tô chức quôc tế khác; Trưởng phải đoàn đại diện thường trực tại một tổ chức quốc tế có thể đồng thời được cử làm trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại một tổ chức quốc tế khác; trong trường hợp trưởng phái

Trang 23

đoàn thường trực vắng, phó trưởng phái đoàn được thay thế làm quyên trưởng phái đoàn

Nhiệm vụ, quyền hạn của phái đoàn đại diện thường trực được quy định trong Điều 14.1, Pháp lệnh 1993, cụ thể:

- Đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại tổ chức quốc tế;

- Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam tại tô chức quôc tế;

- Duy trì quan hệ thường xuyên giữa 'Việt Nam với tổ chức quốc tế, tham

gia các hoạt động của tổ chức quốc tẾ;

- Đàm phán và ký điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật;

- Tiến hành các hoại động nhằm thúc đây quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với tố chức quốc tế và VỚI Các nước thành viên của tổ chức quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ và hợp tác của tổ chức quốc tế đối với sự nghiệp phát triển đất nước;

- Tìm hiểu tình hình hoạt động của tổ chức quốc tế; kiến nghị với Chính phủ, Bộ Ngoại giao, các cơ quan và tổ chức hữu quan ở trong nước về những vấn đề cần thiết;

- Thực hiện mến lý Nhà nước đối với các hoạt động của Việt Nam tại tổ

chức quốc tế

Điều 14.2, Pháp lệnh 1993 quy định rõ: “Phái đoàn đại diện thường trực

không thực hiện chức năng đại diện cho nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam trong quan hệ với nude ma tổ chức quốc tế đặt trụ sở, trừ trường hợp giữa Việt Nam và nước đó có thoả thuận riêng”

sự gồm những người tực hiện công việc hành chính, kỹ thuật, phục vụ trong cơ quan lãnh sự (Điều 9 háp lệnh lãnh sự 1920) Thành viên cơ quan lãnh sự do

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao bô nhiệm, triệu hồi; khi bỗổ nhiệm Lãnh sự, Bộ trưởng Ngoại giao cấp cho người đó “Giấy uỷ nhiệm lãnh sự” (Điều 10, Pháp lệnh lãnh

sự 1990)

Việc thành lập cơ quan lãnh sự do cơ quan Hội đồng Chính phủ quyết định; việc xếp hạng cơ quan lãnh sự, khu vực lãnh sự và nơi đặt trụ sở cơ quan lãnh sự được quy định : trên cơ sở thoả thuận với nước tiếp nhận; khu vực lãnh sự

là khu vực được nước tiếp nhận thoả thuận dành cho cơ quan lãnh sự để thực hiện chức năng lãnh sự (Điều 8, Pháp lệnh lãnh sự 1990)

Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan lãnh sự được quy định trong Điều 2, Pháp lệnh lãnh sự 1990 cụ thể:

22

Trang 24

- Bao vé quyén va loi ích của Nhà nước, pháp nhân, công dân Việt Nam ở

- Nghiên cứu khả năng phát triển quan hệ lãnh sự giữa Việt Nam VỚI nước tiếp nhận, tìm hiểu quan hệ lãnh sự giữa nước tiếp nhận với các nước khác, đề xuất kiến nghị về việc ký kết điều ước quốc tế liên quan đến quan hệ lãnh sự

Cơ quan lãnh sự có thể được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam uỷ

nhiệm thực hiện một số chức năng ngoại giao, nêu ở nước tiếp nhận không có cơ

quan đại diện ngoại giao Việt Nam và được nước này chấp nhận (Điều 5, Pháp

lệnh lãnh sự 1990) Cớ quan lãnh sự có những nhiệm vụ hạn chế hơn so với CƠ quan đại diện ngoại giao, không thể đại diện quốc gia về lĩnh vực chính trị và về các phương diện ngoại giao nói chung Theo thông lệ thi trong điều kiện quan hệ bình thường cơ quan lãnh sự chỉ đại diện quốc gia về phương diện quan hệ tải sản pháp ly, bảo vệ q ryén loi công dân, pháp nhân và quốc gia về mặt này Các lãnh sự quán thường được lập ở nơi có nhiều công dân nước đó, hoặc ở những nơi có liên hệ thường xuyên với nước sở tại, ở hải cảng, ở những nơi có quan hệ buôn bán, những nơi cần phải làm thủ tục về nhiều vân đề tài sản pháp lý Ở nước SỞ tal, co quan lãnh sự được hưởng những quyền hạn hẹp hơn so với cơ quan đại diện ngoại giáo; toàn bộ những quyên hạn ây được gọi là quyền bất khả xâm phạm lãnh sự -

2.3 Quản lý Nhà nước đối với cơ quan đại điện

2.3.1 Mỗi quan hệ trực tiếp

Quan hệ giữa cở quan đại diện ngoại giao với Bộ Ngoại giao, Chính phủ

và Nhà nước là mối quan hệ trực tiếp

Vẻ nội dung quản lý Nhà nước đối với Các cơ quan đại diện, Điều 19 Pháp lệnh 1993 quy định cụ thể những công VIỆC cần phải thực hiện:

1) Ban hành các văn bản pháp luật về cơ quan đại diện

2) Quyết định tHành lập, đình chỉ hoạt động, tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan đại diện

3) Quy định tiêu chuẩn viên chức, nhân viên cơ quan đại diện

4) Chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động của cơ quan đại diện

5) Giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động của cơ quan đại diện, khen thưởng và xử lý vi phạh

Điều 20, Pháp lệ ảnh 1993 xác định:

1) Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước đối với cơ quan đại diện

2) Bộ Ngoại giao thực hiện quản ly Nhà nước đối với cơ quan đại diện

Về mối quan hệ trực tiếp, Điều 21 Pháp lệnh 1993 quy định cụ thể:

1) Chủ tịch nước chỉ thị trực tiếp cho cơ quan đại diện khi cần thiết

t

Trang 25

2) Thủ tướng Chính phủ có thâm quyền chỉ thị trực tiếp cho cơ quan đại diện

3) Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp cho cơ quan đại diện 4) Người đứng đầu cơ quan đại điện có trách nhiệm báo cáo lên Chủ tịch

nước, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng bộ Ngoại giao về công tác cơ quan đại

diện

2.3.2 Mỗi quan hệ gián tiếp

Ngoài sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà nước, Chính phủ và Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện còn có r ối quan hệ gián tiếp với các cơ quan, tổ chức, các ngành

khác ở trong nước Vệ môi quan hệ này, Pháp lệnh 1993 đã quy định rõ trong

các Điều 23 đến 27 và Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994 chỉ tiết hoá trong các Điều 19 đến Điều 23, nội dung chính của các quy định này là:

1) Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội ở Trung ương

và Chủ tỉnh uỷ ban nhận dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thông qua Độ Ngoại giao để thông báo cho các cơ quan đại diện ở nước ngoài về những vấn đ thuộc phạm vi quan hệ hợp tác giữa cơ quan mình với các cơ quan, tổ chức oe tiếp nhận, hoặc các tổ chức quốc tế; đồng thời phối hợp với các cơ quan đại diện chỉ đạo thực hiện các hoạt động đối ngoại của cơ quan, tổ chức và địa phương tại nước ngoài

2) Thủ trưởng các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có công chức làm việc trộng các cơ quan đại diện có trách nhiệm cung cấp thông tin và phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao để chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn thuộc lĩnh vực công tag ¢ do co quan minh quan ly

3) Nguoi dung dau cơ quan đại diện có quyền quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình, nếu có ý kiến khác với ý kiến của thủ trưởng cơ quan ở trong nước, trong trường hợp chưa kịp trao đôi

2.3.3 Trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của Bộ Hgoại giao đối với cơ quan đại diện

1) Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với cơ quan đại diện

2) Chuẩn bị các dự luật, Pháp lệnh, văn bản pháp quy về cơ quan đại diện 3) Trình Chính r

chế của cơ quan đại diệ

văn bản hướng dân, kiểm tra việc thi hành các văn bản

pháp quy của Nhà nước về cơ quan đại diện

6) Chỉ đạo, kiếnh tra, hướng dẫn hoạt động của cơ quan đại diện nhằm đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, viên chức, nhân viên cơ quan đại diện

7) Điều hoà, phối hợp hoạt động của các cơ quan ở trong nước trong quan

hệ công tác với cơ quan đại diện nhằm đảm bảo sự quản lý thống nhất của Chính

phủ trong các hoạt độn; 5 đối ngoại ở nước ngoài

8) Chỉ đạo quan ly tài sản, thu chỉ tài chính của cơ quan đại diện theo

Pháp lệnh, Nghị định C hính phủ và các quy chế hiện hành của Nhà nước

24

Trang 26

9) Khen thưởng và xử lý vi phạm theo thâm quyển đối với thành viên cơ quan đại diện

II Thanh viên co’ quan đại diện ngoại giao

1 Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao

1.1 Quy định chung của quốc tế

Thứ tự trình thư uỷ nhiệm hoặc trao bản sao y thư này được xác định căn

cứ vào ngày và giờ đến |của người đứng đầu cơ quan đại diện”

Việc kết thúc nhiệm kỳ của người đứng đầu cơ quan đại diện theo thư triệu hồi của nguyên thủ quốc gla

1.1.3 Chấp nhận, từ chỗi

Điều 4, Công ước Viên 1961 viết: “Nước cử đi phải nắm chắc rằng người

mình định bỗ nhiệm hận người đứng đầu cơ quan đại diện tại nước tiếp nhận đã

được nước đó chấp nhậ

Nước tiếp nhận không bắt buộc phải cho nước cử đi biết lý do về việc từ chối chấp thuận” Điều 9 quy định “Nước tiếp nhận có thể, vào bất cứ lúc nào và không phải nêu lý do Về quyết định của mình, báo cho nước cử đi rằng người đứng đầu cơ quan đại điện là người không được hoan nghênh” Nếu sự VIỆC

đó diễn ra, tuỳ theo từng trường hợp, nước cử đi sẽ hoặc gọi người đó về nước, hoặc chấm dứt chức vụ người đứng đầu trong cơ quan đại diện Một người có ihe tuyên bố, hoặc không được chấp thuận trước hoặc sau khi đến lãnh thổ nước iếp nhận Hơn nữa, nếu người được cử đi từ chối thi hành, hoặc không thi hành, trong một thời gian hợp lý, những nghĩa vụ của mình nêu ở Đoạn 1 Điều 4, Công ước Viên 1961, thì nước tiếp nhận có thể từ chối thừa nhận người đó là thành viên của cơ quan : đại diện

1.1.4 Ngôi thứ, nghĩ lễ

- Điều 14.2, Công ước Viên 1961 quy định: “trừ những việc liên quan đến ngôi thứ và nghi thức, không được có sự phân biệt nào giữa những người đứng đầu cơ quan đại diện vì cap bac cua ho”

Trang 27

- Diéu 15: “Cac nước thoả thuận với nhau về việc người đứng đầu cơ quan đại diện thuộc cấp nào”

- Diéu 16.1: “Người đứng đầu cơ quan đại diện giữ trình tự ngôi thứ ở từng cấp căn cứ vào ngày giờ nhậm chức, theo Điều 13”

- Điều 18: “Ở mỗi nước, thủ tục áp dụng cho việc tiếp đón những người đứng đầu cơ quan đại diện phải nhất quán ở từng cấp bậc”

1.1.5 Quyên han, nhiém vu

- Điều l.a, Công ước Viên 1961 quy định: “Người đứng đầu cơ quan đại diện là người được nước cử đi giao cho nhiệm vụ hoạt động với tư cách đó”

- Điều 5.3: “Ngưt ờI đứng đầu co quan đại diện có thể đại diện cho nước

cử đi bên cạnh bắt cứ tổ chức quốc tế nào”

- Điều 6: “Hai hay nhiều nước có thể cùng bổ nhiệm một người làm người đứng đầu cơ quan đại diện tại một nước khác, nếu nước tiếp nhận không phản đối việc đó” |

- Điều 17 quy định: người đứng đầu cơ quan đại diện có trách nhiệm thông báo cho Bộ ngoại giao hoặc một Bộ nào khác đã thoả thuận của nước tiếp nhận về trình tự ngôi thứ giữa các cán bộ ngoại giao trong cơ quan đại diện

1.1.6 Quyền lợi

(Sẽ trình bày trong phần ưu đãi, miễn trừ ngoại g1ao)

1.2 Quy định của Việt Nam

Người đứng đầu cơ quan đại điện ngoại giao là đại diện nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước tiếp nhận, có những nhiệm vụ và quyên hạn được Điều 8, Pháp lệnh 1993 xác định:

1) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện toàn bộ hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam tại nước tiếp nhận; chịu trách nhiệm về việc đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước trong quan hệ với nước tiếp

2) Chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện toàn bộ công tác của cơ quan đại

3) Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan hữu quan ở trong nước về việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, chế độ chính sách đối với viên chức, nhân viên cơ quan đại diện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan đại diện

Điều 16, Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994 đã giải thích cụ thé thêm:

- Tổ chức thực hiện các quyết định, chỉ thị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao về hoạt động đối ngoại;

Trang 28

Phuc vu cac doan dai biéu cấp cao Việt Nam sang thăm hữu nghị chính thức, hoặc sang làm việc, dự hội nghị, hội thảo tại nước hoặc tổ chức quốc tế tiếp nhận;

Quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoặc đồng quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các hoạt động đối ngoại khác mang danh nghĩa Nhà nước Việt Nam tại nước hoặc tô chức quốc tế tiếp nhận

- Quản lý, chỉ đạo viên chức, nhân viên cơ quan đại diện, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ hoàn thành nhiệm vụ; thực hiện đầy đủ chính sách của Nhà

nước đối với viên chức, nhân viên

- Hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan, tổ chức Việt Nam không thuộc cơ cau

tổ chức cơ quan đại điện và công dân Việt Nam ở nước tiếp nhận dé họ thực

hiện đúng đường lối đối ngoại của Nhà nước ta với nước tiếp nhận

Điều 22, Nghị :định 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định người

đứng đầu cơ quan đại diện có quyền quyết định tạm thời đình chỉ hoạt động của

văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của các tổ chức kinh tế xã hội của Việt Nam

được thành lập ở nước ngoài không thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan đại diện; đồng thời báo cáo ngày về nước để Bộ trưởng Ngoại giao cùng thủ trưởng cơ - quan hữu quan xem xét và có quyết định chính thức

Điều 29.3, Pháp lệnh 1993 dành cho người đứng đầu cơ quan đại diện quyền quyết định đưa về nước những người vi phạm là viên chức, nhân viên của

cơ quan đại diện, viên chức, nhân viên khác và công dân Việt Nam Quyết định

của người đứng đâu cơ quan đại diện phải được báo cáo ngay cho Bộ trưởng Ngoại giao, đồng thời thông báo cho cơ quan Nhà nước có thâm quyền ở trong nước xem xét giải quyết Điều 26, Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm

1994 chỉ tiết hoá quyên này: “Người đứng đầu cơ quan đại diện được quyền quyết định kịp thời đưa về nước những viên chức, nhân viên công dân Việt Nam

ở nước ngoải trong cád trường hợp dưới đây:

1) Có hành vi làm tốn hại an ninh hoặc bí mật quốc gia Việt Nam;

2) Có chứng cớ rð ràng về sự đào ngũ hoặc phản bội Tổ quốc;

3) Sự tiếp tục có mặt của đương sự sẽ gây nguy hại cho cơ quan đại diện

hoặc cộng đồng người |Việt Nam;

4) Bị nước tiếp nhận hoặc nước chủ nhà tuyên bố là nhân vật không được

hoan nghênh hoặc không được chấp nhận do vi phạm pháp luật nước đó

- Tích cực góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam

với nước tiệp nhận; tuân thủ pháp luật của Việt Nam; tôn trọng pháp luật, phong tục, tập quán của nước tiếp nhận, tôn trọng pháp luật, tập quán quốc tế

Điều 17, Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định thêm về

nghĩa vụ đối với người đứng đầu cơ quan đại diện:

|

Trang 29

- Nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về bảo vệ bí mật quốc gia

- Giữ gìn và tăng cường đoàn kết nội bộ

- Giữ gìn tư cách đại diện của Nhà nước và dân tộc Việt Nam

Theo Điều 21, Pháp lệnh 1993: “ Người đứng đầu cơ quan đại diện có

trách nhiệm báo cáo lên Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Ngoại giao về công tác của cơ quan đại diện” Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994, trong Điều 21, chỉ tiết hoá trách nhiệm này:

- Tiếp nhận và chấp hành mọi mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao

- Kip thoi bao cáo Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao khi xuất hiện những vấn đề liên quan đến an ninh, quốc phòng và những chủ trương, quyết sách có ý nghĩa chiến lược của nước tiếp nhận hoặc tổ chức quốc tế có liên quan, ảnh hưởng tới Việt Nam

- Thường xuyên báo cáo Bộ trưởng Ngoại giao về hoạt động của cơ quan đại diện, về tình hình mọi mặt của nước hoặc tổ chức quốc tế và quan hệ của họ đối với Việt Nam

- Thông qua Bộ Ngoại giao, tiếp nhận và chỉ đạo thực hiện các yêu cầu công tác của Thủ trưởng cơ quan câp Trung ương, tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cấp Trung ương; báo cáo thủ trưởng cơ quan, tô chức đó về những vấn đề liên quan

- Người đứng đậu cơ quan đại diện căn cứ vào hoạt động của các bộ phận công tác trong cơ quan đại diện chịu trách nhiệm lập kế hoạch thu, chỉ ngân sách hàng năm gửi Bộ trưởng Ngoại giao; quản lý sử dụng kinh phi, tai san co quan đại diện theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, hàng tháng lập báo cáo quyết toán gửi Bộ trưởng Ngoại giao (Điều 14, Nghị định sô 183/CP của Chính phủ năm 1994)

1.2.4 Tiêu chuẩn

- Tiêu chuẩn chung đối với viên chức ngoại giao được quy định trong

Diéu 5.1, Nghị định số 183/ CP của Chính phủ năm 1994

_ - Tiêu chuan của người đứng đầu cơ quan đại diện với hàm Đại sứ được quy định cụ thể trong Điều 13.1, Pháp lệnh vê hàm cấp ngoại giao ngay 31-1-

+ Có trình độ đại học, trình độ chính trị cao câp;

+ Được đào tạo chính quy về nghiệp vụ ngoại giao, biết sử dụng thông _ thạo ít nhất một ngoại ngữ;

+ Có thời gian công tác trong ngành ngoại giao từ 10 năm trở ở lên, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong công tác đối ngoại;

+ Là Bộ trưởng, Thứ trưởng hoặc tương đương; Vụ tr ưởng, Phó vụ trưởng hoặc tương đương; chuyên viên cao cấp hoặc đã là người đứng đầu cơ quan đại

|

Trang 30

diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, có những đóng góp xứng đáng vào các hoạt động ngoại giao của Việt Nam

1.2.5 Bồ nhiệm, triệu hôi

- Việc cử và triệu hỗồi người đứng đầu cơ quan đại diện được quy định trong Điều 8 và 9 Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994:

+ Chủ tịch nước cử và triệu hồi Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Công sứ đặc mệnh toàn quyền và Trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại Liên hợp quốc, theo đề nghị của Chính phủ, sau khi có kiến nghị của Bộ Ngoại giao

+ Bộ trưởng Ngoại giao cử và triệu hồi Đại biện và người đứng đầu cơ

quan đại diện có tên gọi khác

+ Người đứng đâu cơ quan đại diện ngoại giao ở một nước có thể đồng thời được cử làm người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao tại nước khác, hoặc làm Trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại tổ chức quốc tế

+ Trong trường hợp người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao bị khuyết, tạm thời văng mặt vì một lý do nào đó, thì viên chức ngoại giao thuộc

Bộ Ngoại giao có chức vụ kế tiếp được cử tạm thời thay thế người đứng đầu làm Đại biện lâm thời

- Việc tiến hành bổ nhiệm hoặc triệu hồi người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao được thực hiện theo các trình tự sau:

+ Bộ trưởng Ngoại giao kiến nghị với Thủ tướng trên cơ sở tiêu chuẩn quy định ở Điều 5.1, Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994 sau khi đã tham khảo ý kiến của các cơ quan hữu quan

+ Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước quyết định

+ Bộ trưởng Ngoại giao giao thực hiện các thủ tục ngoại giao cần thiết với nước tiếp nhận, hoặc Tông hư ký Liên hợp quốc, sau khi có quyết định cử của Chủ tịch nước !

+ Theo đề nghị của Bộ trưởng Ngoại giao, Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước quyết định triệu hồi Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Công sứ đặc mệnh toàn quyền và Trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại Liên hợp quốc

+ Ngoài ba cấp trên (Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Công sứ đặc mệnh toàn quyền, Trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại Liên hợp quốc), Bộ trưởng Ngoại giao căn cứ vào tiêu châun quy định tại Điều 5 của Nghị định này, để xem xét quyết định đối vo} tung truong hop cu thể và Bộ Ngoại giao thực hiện các thủ tục ngoại giao cân, thiết với nước tiếp nhận hoặc với người đứng đầu tổ chức

quốc tế,

1.3 Một số nhận xét !

- Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao là người có chức vụ cao nhất ở nước ngoài, đại diện cho Nhà nước, cho toàn thể dân tộc nude cu di Moi VIỆC xảy ra đối với công dân nước mình trên đất sở tại, đối với các tổ chức kinh

tế, xã hội đặt tại nước Sở tại, đối với cơ quan dai diện ngoại giao và các cơ quan không ngoại giao đều| thuộc thâm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao (Đại sứ đặc mệnh toàn quyền)

Trang 31

- Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao có quyền hành rất rộng rãi, nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề: phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Chủ

tịch nước, trước Chính phủ về mọi hoạt động trên lãnh thổ nước tiếp nhận; phải chịu trách nhiệm về mọi việc xảy ra đối với bất cứ một cán bộ nào trong Đại su quán, đối với bất ky người nào trong các cơ quan đại diện, các tổ chức kinh tế,

xã hội, đối với bất cứ Imột ai được cử đến công tác tại nước sở tại; phải có trách nhiệm hướng dẫn cho người được cử sang công tác tại nước sở tại; giám sát được hành động của mọi người tại nước đó để tránh mọi khả năng gây thiệt hại

cho Nhà nước, cho lợi í

ngoài là: mọi công dân, pháp nhân, ích dân tộc Điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở nước

tổ chức của nước cử đi tại nước tiếp nhận phải nhất thiết theo đúng chỉ thị của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại

J

giao

- Do có trách nhiệ iệm nặng nề, quyền hành rộng rãi, cho nên người đứng

đầu cơ quan đại diện phải biết hành động như thế nào cho đúng dé đạt hiệu qua cao trong công tác Điều

phụ thuộc vào phẩm chá

ích của đất nước, của

nghiệm qua các quá tr

tránh sai lầm, đại suc

tiếng nói của họ, bồ trị

thị của Nhà nước, Chỉ

ình hoạt động của người đó

an dua vao tap thể cán bộ của mình, lắng nghe ý kiến và

này phụ thuộc vảo trình độ học vấn, khả năng xét đoán,

ât đạo đức, lập trường chính trị, tỉnh thần làm việc vì lợi dân tộc, phụ thuộc vào việc biết đúc kết những kinh

- Kinh nghiệm cho thay dé , SẾp Xếp công tác dựa trên ý kiến | tap thé phù hợp với chỉ

nh phủ đồng thời còn phải biết sắp xếp công tác tổ chức

bộ máy trong Đại sứ quán một cách thích hợp nhất Việc lắng nghe ý kiến tập thê phải được thực hiện trên tính quyết đoán sáng suốt, tạo cho hoạt động của Đại sứ quán di dung hu

2.1 Những quy định (

Theo Điều l.d, C

của cơ quan đại diện ‹q

H

rớng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao

2 Viên chức ngoại giao

uốc tế

_ông ước Viên 1961, cán bộ ngoại giao là các thành viên

ó hàm ngoại giao Những cán bộ ngoại giao này là viên chức ngoại giao trong cơ quan đại diện ngoại giao

2.1.1 Nguyên tắc chui

- Phải là cong dé

ngoại gIao của cơ quan

sự đồng ý của nước tiết

2.1.2 Nghĩa vụ của cá h bộ ngoại giao

- Cán bộ ngoại giao phải tôn trọng luật lệ của nước tiếp nhận, không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước tiếp nhận (Điều 41.1, Công ước Viên

Trang 32

2.1.3 Viéc ctt,, chap nhận, chấm dút chức năng củn bộ ngoại giao

Việc cử, chấp nhận cán bộ ngoại giao

- Điều 5.1, Công ước Viên quy định: “ Nước cử đi, sau khi thông báo hợp

lệ cho các nước tiếp nhận hữu quan, có thê bố nhiệm một người đứng đầu cơ

quan đại diện hoặc cử bất cứ một can bộ ngoại giao nào, tuỳ từng trường hợp tại

một hoặc nhiều nước, trừ phi trong số các nước tiếp nhận có nước phản đối một

cách rõ ràng”

- Khi đã có thoả thuận trước, thì “việc cử các thành viên của cơ quan đại diện, việc họ đến và đi hắn, hoặc việc họ thôi giữ chức vụ trong cơ quan đại diện” phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao hoặc một Bộ nào khác đã được

thoả thuận của nước tiếp nhận (Điều 10.1a, Công ước Viên 1961)

- “Khi không có sự thoả thuận cụ thể giữa hai nước vệ sô lượng cán bộ, nhân viên của cơ quan đại diện, nước tiếp nhận có thể yêu cầu giữ con số trong

giới hạn mà nước đó cho là hợp lý và bình thường căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện của nước tiếp nhận và nhu cầu của cơ quan đại diện” nước cử, mặt khác, nước tiếp nhận cũng c6 thể từ chối chấp nhận viên chức thuộc một loại nào đó (Điều 11, Công ước Viên 1961)

¬ Nước cử đi được tự do cử các thành viên của cơ quan đại diện, “ngoài các trường hợp đã có ( uy định ở điều 5,8,9, 11 Đối với các tuỳ viên quân sự, hải quân hoặc không quân, nước tiếp nhận có thể yêu cầu được thông báo trước

họ tên những người này để được châp nhận” (Điều 7, Công ước Viên 1961)

Việc chấm dứt chức năng cán bộ ngoại giao

- Điều 9, Công ước Viên 1961 quy định: “Nước tiếp nhận có thể, vào bất

cứ lúc nào và không phải nêu lý do về quyết định của mình, báo cho nước cử đi rằng người đứng đầu cơ quan đại diện hay bất cứ một cán bộ ngoại giao nào của

cơ quan đại diện là “persona non grata” (người không được hoan nghênh) hoặc bất cứ một thành viên nào khác của cơ quan đại diện là người không được chấp nhận Khi đó, nước cử đi sẽ tuỳ theo trường hợp, hoặc gọi người đó về, hoặc chấm dứt chức vụ củ: người đó trong cơ quan đại diện Một người có thể bị tuyên bố là “persona non grata”, hoặc không được chấp nhận trước khi đến lãnh thô nước tiếp nhận |

Nếu nước cử đi từ chối thi hành hoặc không thị hành trong một thời hạn hợp lý những nghĩa vụ của mình nêu ở đoạn 1 của Điều này, nước tiếp nhận có thê từ chối thừa nhận |gười đó là thành viên của cơ quan đại diện

- Điều 43, Công ước Viên 1961 quy định: các chức nang của viên chức ngoại giao chấm dứt trong các trường hợp Sau:

+ Nước cử ổi thông báo cho nước tiếp nhận rằng những chức năng của viên chức ngoại giao đó đã chấm dứt

+ Nước tiếp nhận thông báo cho nước cử đi, theo đoạn 2 của Điều 9, rằng nước này từ chối tiếp nhận viên chức ngoại giao đó là thành viên của cơ quan

đại diện

2.1.4 Quyên lợi

Trang 33

L

Ở đây chỉ nói

Điêu 19.1, Công ước vi n vai trò Đại biện lâm thời của cán ĐỘ ngoại giao theo

ên 1961: Khi người đứng đầu khuyết vắng, một Đại biện

lâm thời (la một cán bộ ngoại giao) sẽ tạm thời là người đứng đầu cơ quan đại

đầu cơ quan đại diện hoặc Bộ Ngoại giao nước cử đi thông báo cho Bộ Ngoại giao nước tiếp nhận (hoặc một Bộ nào khác đã được thoả thuận)

Điều 6.3 Pháp lệnh về cơ quan đại diện của Việt Nam năm 1993 quy định

như sau: “Viên chức qgoại giao là thành viên có cương vị ngoại giao của cơ quan đại diện ngoại gia o, kế cả người đứng đầu cơ quan ngoại giao” (trong Pháp lệnh của Việt Nam không có danh từ cán bộ ngoại giao)

2.2.1 Chức vụ, hàm, cấp ngoại giao

Chức vụ

Chức vụ ngoại giao là chức vụ bô nhiệm cho thành viên có cương vị

ngoại giao công tác tị

hoặc phái đoàn đại diệt

al co quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài

ạ ngoại giao Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên chính phủ hàm, câp ngoại giao năm 1995)

háp lệnh 1993 và Điều 9.2, Pháp lệnh về hàm, cấp ngoại

ai giao Viét Nam gom có:

nh toàn quyền, Công sứ đặc mệnh toàn quyền, Đại biện nường trực tại tổ chức quốc tế liên chính phủ;

SỨ;

giao lao là chức danh Nhà nước phong cho công chức ngành

ng tác đối ngoại ở trong nước và ở nước ngoài

h về hàm, cấp ngoại giao 1995 đã phân hàm cấp ngoại cao cap:

Trang 34

2.2.2 Tié eu chuẩn đối với viên chức ngoại giao

Điều 4, Pháp lệnh 1993 xác định: “Thành viên của cơ quan đại diện phải là nguoi cd phẩm chất năng lực hoạt động quốc tế và phục vụ hoạt động quốc tế” Và trong Điều 13.1 của Pháp lệnh 1993: “Viên chức ngoại giao của cơ quan đại diện ngoại giao phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam”

- Tiêu chuẩn của viên chức ngoại giao được quy định cụ thể trong Điều 5,1, Nghị định 183/CP của Chính phủ năm 1994:

+ Phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam và không có vợ

chồng, bố, mẹ là người nước ngoài

+ Phải là công chức Nhà nước Việt Nam;

+ Trung thành với Tổ quốc và lợi ích dân tộc;

+ Có trình độ lý luật từ sơ cấp trở lên có lập trường chính trị vững vàng và

phâm chất đạo đức tot:

+ Nắm vững và có khả năng vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách đối ngoại cũng như chủ trương công tác thuộc lĩnh vực mình phụ trách;

+ Có trình độ đại học, có kiến thức chuyên môn và trình độ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao;

- Tiéu chuan từng câp của viên chức ngoại giao:

Tiêu chuẩn tùng cấp ngoai giao (cao cap, trung cap, SƠ cấp) được quy định rõ trong chương HH Điều 13, 14, 15 Pháp lệnh về hàm cấp ngoại giao năm

Cấp ngoại giao cao cấp

Viên chức mang hàm Công sứ, tham tán phải có đầy đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 14, Pháp lệnh hàm cấp ngoại giao 1995

+ Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

+ Có phẩm chất đạo đức chính trị tốt

+ Nắm vững và: có khả năng thực hiện đúng đắn về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về đối nội, đối ngoại

+ Có trình độ đại học, trình độ chính trị từ trung cấp trở lên

+ Được đào tạo về nghiệp vụ ngoại giao biết sử dụng ít nhất 1 ngoại ngữ + Có thời gian công tác trong nghành ngoại giao từ 8 năm trở lên, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác đối ngoại

+ Là Vụ trưởng hoặc vụ phó hoặc tương đương, là chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính hoặc chuyên viên

Cấp ngoại giao trung câp

Viên chức mang hàm bí thứ thứ nhất, bí thứ thứ hai phải có đủ tiêu chuẩn thêo Điều 15.1 Pháp lệnh hàm cấp ngoại giao 1995:

+ Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa -

Trang 35

+ Co thoi gian céng tac trong nghanh ngoai giao tir 5 nam tré lén, cé hiéu

biét vé nghiép vu chuyén nganh

+ La chuyén vién chính hoặc chuyên viên

Cấp ngoại giao sơ cấp

Viên chức mang hàm Bí thư thứ ba tuỳ viên phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định Điều 15.2, Pháp lệnh về hàm cấp ngoại giao 1995: nghĩa là có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 15.1 cho bí thư thứ hai với sự khác biệt nhỏ:

+ Thời gian công tác trong ngành ngoại giao từ 3 năm trở lên

+ Là chuyên viên-

2.2.3 Nghia vụ của viên Chức Hgoqi giao

Theo quy định tại Điều 9, ló, Pháp lệnh về cơ quan đại diện ngoai giao nam 1993, Diéu 17, Nghi din sé 183/CP cia Chinh phu nam 1994 quy dinh chi tiết thi hành Pháp lệnh'về cơ quan đại diện của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 1994 và Điều 3.21, Pháp lệnh về hàm, cấp ngoại

giao 1995,

Viên chức ngoại|giao có các nghĩa vụ:

- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Nhà nước xã hội chủ

nghĩa Việt Nam;

- GIữ gìn và bao vé loi ich quéc gia, bi mat Nha nuéc, uy tín v và danh dự của dân tộc;

- Nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy chế và các quy định của ngành ngoại giao;

- Tích cực góp phan tang cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế, tuân thủ pháp luật của cn, tôn trọng luật pháp và tập quán quốc tế, tôn trọng luật pháp và tập quán quốc tế, tôn trọng pháp luật và tập quán của nước mà Việt Nam đặt trụ sở;

- Thường xuyên|rèn luyện, học tập nâng cao trình độ và năng lực chính trị, nghiệp vụ chuyên niên, ngoại ngữ, giữ gìn tư cách công chức ngoại giao Việt

Nam;

- Hoan thanh tét nhiệm vụ được g1ao

Ngoài các nghĩa vụ nảy, thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao không thuộc Bộ Ngoại|giao còn có nghĩa vụ chịu sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan chủ quản ở trong| nước về nghiệp vụ chuyên môn thông qua người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao và chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan chủ quản về nghiệp vụ chuyên môn đó

2.2.4 Một sô quy định khác

Ngôi thứ: |

Ngôi thứ viên chức ngoại giao trong cơ quan đại diện được sắp xếp theo quy định tại Điều 1] , Pháp lệnh 1993 (đại sứ -> tuỳ viên) và Điều 13, Nghị định

sô 183/CP cua Chinh phủ năm 1994:

- Người thứ hai trong cơ quan đại diện phải là viên chức ngoại giao thuộc

biên chế của Bộ Ngoại giao

34

Trang 36

- Tham tan chuyén nganh va Tuy vién quan su trong co quan dai dién được xếp sau người thứ hai và Tham tán chính trị

- Viên chức ngoại giao phụ trách chính trị đối ngoại xếp trên các viên chức cùng chức vụ ngoại giao Ngôi thứ các viên chức cùng chức vụ ngoại giao còn lại được xếp theo thứ tự thời gian nhận nhiệm vụ tại cơ quan đại diện

Nhiệm kỳ công tác:

Theo Điều 7 Nghị định 1§3/CP của Chính phủ năm 1994, nhiềm kỳ công

tác của viên chức ngoại giao:

- Là 3 năm ':

- Trong trường hợp đặc biệt, theo đề nghị của người đứng đầu cơ quan đại

diện và thủ trưởng cơ quan quản lý nhân sự (đối với viên chức không thuộc biên

chế của Bộ Ngoại giao), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao xem xét quyết định kéo dài nhiệm kỳ công tác ond viên chức, nhân viên cơ quan đại diện Thời gian kéo dai không quá I8 tháng |

Bồ nhiệm, triệu hồi:

Điều 22.5, “Pha lệnh 1993 viết: “Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: [ ]5 Cử và triệu hồi viên chức của cơ quan

đại diện không phải là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Công sứ đặc mệnh toàn

quyền và Trưởng phái đoàn đại điện thường trực tại Liên hợp quốc; [ ] Trong trường hợp viên chức, [ ] không thuộc Bộ Ngoại giao thì Bộ Ngoại giao cử, điều động trên cơ sở để nghị của thủ trưởng cơ quan hữu quan”

Điều 11, Nghị định 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định cụ thé: + Bộ trưởng Bộ Ngoại giao giao quy định cử, triệu hồi, điều động viên chức ngoại giao trừ chức vụ Đại sứ đặc mệnh toàn quyén, Công sứ đặc mệnh toàn quyền và Trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại Liên hợp quốc

+ Các trường hợp triệu hồi:

* Kết thúc nhiệm kỳ công tác;

* Không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ;

* Không bảo đảm tiêu chuẩn sức khoẻ hoặc có lý do đặc biệt khác;

* Nước tiếp nhận tuyên bó không hoan nghênh hoặc không chấp nhận; Đưa về nước:

Trong trường hợp vi phạm ký luật, viên chức ngoại giao có thé bị đưa về nước

trước thời hạn, hạ hàm/ tước hàm, cách chức vụ ngoại giao và không được tiếp tục

làm công tác đối ngoại (Điều 24, Nghị định 183/CP của Chính phủ)

Mức độ vi phạm ký luật sẽ bị xử lý theo quy định ở Điều 29 Pháp lệnh 1995:

+ Người nào vi phạm các quy định của Pháp lệnh này thì tuỳ mức độ vi phạm

mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

+ Cơ quan viên|chức, [ ] ra công tác ở nước ngoài quyết định hình thức

kỷ luật đối với viên chức, nhân viên vi phạm theo kiến nghị của người đứng đầu

cơ quan đại diện !

+ Viên chức [- ] ra nước ngoài có hành vi vi phạm có thể dẫn đến hậu

quả nghiêm trọng thì phải được kịp thời đưa về nước

Trang 37

Điều 26, Nghị định 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định chỉ tiết: Người đứng đầu cơ quan đại diện được quyền quyết định kịp thời đưa về nước

những viên chức ở nước ngoài trong các trường hợp sau:

* Có hành vi làm tổn hại an ninh hoặc bí mật quốc gia của Việt Nam

* Có chứng cớ rõ ràng về sự đào ngũ hoặc phản bộ Tổ quốc

* Sự tiếp tục có mặt của đương sự sẽ gây nguy hại cho cơ quan đại diện

hoặc cộng đồng người Việt Nam

* Bị nước tiếp nhận hoặc nước chủ nhà tuyên bố là nhân vật không được hoan nghênh hoặc không được chấp nhận do vi phạm luật pháp nước đó

Quyền lợi:

(Sẽ trình bày trong phần quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại g1ao)

* Quyền khiếu nại khi bị kỷ luật được quyết định theo pháp luật (Điều 28, Nghị định sô 183/CP nắm 1994)

* Được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định tại Điều 29, Nghị định số

3 Nhân viên cơ quan đại diện ngoại giao

3.1 Những quy định của quốc tế

Công ước Viên i quan hệ ngoại giao 1961 phan nhan vién cơ quan dai dién thanh hai loai:

- Các nhân viên hành chính và kỹ thuật là các thành viên của cơ quan đại diện

thực hiện các công việc Hành chính và kỹ thuật của cơ quan đại diện (Điều 1.f)

- Các nhân viên phục vụ là các thành viên cơ quan đại diện thực hiện các

công việc phục vụ nội bộ của cơ quan đại diện (Điều I1.g)

Cử và chấp nhận nhân viên cơ quan đại diện

Việc cử và chấp nhận nhân viên cơ quan đại diện được quy định tại Điều

7,9, 10, 11 Công ước Viên 1961:

* Diễu 7: “ Nước cử đi được tự do cử các thành viên của cơ quan đại diện, ngoài các quy y định tại điều 5, 8, 9,10, 11

* Điều 9: “ Nước tiếp nhận, vào bat cứ lúc nào và không phải nêu lý do về quyết định của mình, báo cho nước cử đi răng [ ] bất cứ một thành viên nào của cơ quan đại diện là người không được chấp nhận Khi đó, nước cử ổi sẽ, tuỳ

theo từng trường hợp, hoặc gọi người đó về, hoặc chấm dút chức vụ của người

đó trong cơ quan đại diện Một người có thể [ ] không được chấp nhận trước khi đến lãnh thổ nước tiếp nhận”

* Điều 10: “Bộ Ngoại giao hoặc một Bộ nào khác đã được thoả thuận của nước tiếp nhận được thông báo về việc cử các thành viên của cơ quan đại diện, việc

họ đến và đi hắn, hoặc việc họ g1ữ chức vụ trong cơ quan đại diện”

* Điều 11: “Khi không, có thoả thuận cụ thé về số lượng cán bộ nhân viên của cơ quan đại diện, nước tiếp nhận có thẻ yêu cầu giữ con số đó trong giới hạn

mà nước đó cho là hợp lý, và bình thường, căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện của nước tiếp nhận và các nhu cầu của cơ quan đại diện”

Quyền lợi của nhân viên cơ quan đại điện

Trang 38

Ngoài những quyền lợi sẽ được trình bày trong phần sau, nhân viên cơ

quan đại diện có quyển hạn theo Điều 19.2, Công ước Viên 1961:

“Trong trường hợp không một cán bộ TigOạI glao nảo của cơ quan đại diện

có mặt tại nước tiếp nhận, nước cử đi có thể, với sự đồng ý của nước tiếp nhận, chỉ định một nhân viên hành chính và kỹ thuật điều hành công việc hành chính hàng ngày của cơ quan đại diện”

3.2 Những qui định của Việt Nam

3.2.1, Vẻ nguyên tắc chung

Nhân viên cơ quan đại diện ngoại giao có thê là người nước ngoài Việc tuyển dụng do người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao quyết định

Điều 13, Pháp lệnh 1993 quy định: “Nhân viên hành chính, kỹ thuật và

nhân viền phục vụ của cơ quan đại diện ngoại giao có thể là người nước ngoài

Việc tuyển dụng người nước ngoải làm nhân viên của cơ quan đại diện ngoại giao do người đứng đầu cơ quan quyết định”

Điều 6 Nghị định so 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định cụ thể thêm: “Trong trường hợp cần thiết, người đứng đầu cơ quan đại diện được quyên tuyên dụng người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm nhân viên đại diện trong phạm vi chỉ tiêu biên chế đã được duyệt”

3.2.2 Tiêu chuẩn của nhân viên

Cũng giống như các thành viên khác của cơ quan đại diện ngoại giao, nhân viên cơ quan đại diện hgoại giao, theo Điều 4, Pháp lệnh 1993, phải là người có phẩm chất, năng lực hoạt động quốc tế và phục vụ hoạt động quốc tế,

Điều 5.2 Nghị định sô 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định tiêu chuẩn của nhân viên cơ quan đại diện

+ Phải trung thành với Tổ quốc

+ Có lập trường chính trị vững vàng và phâm chất đạo đức tốt

+ Có trình độ cn môn, nghiệp vụ phù hợp với lĩnh vực công tác ngoai giao

3.2.7 Nghĩa vụ của nhân viên

Cũng giống các! ¡thành viên khác của cơ quan đại diện ngoại giao, nhân viên cơ quan đại điện ngoại giao phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ được quy định trong Điều 9 Pháp lệnh 1993 và Điều 17 Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994, cụ thể:

+ Trung thành đa Tổ quốc, giữ gìn và bảo vệ danh dự, uy tín và lợi ích của Nhà nước cũng nhử của cơ quan

+ Tích cực góp phan tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với nước tiếp nhận, tuân thủ pháp luật của Việt Nam, tôn trọng pháp luật, phong tục, tập quán của nước tiếp nhận và pháp luật, tập quán quôc tế,

+ Thực hiện nhiệm vụ do người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao giao cho !

+ Nghiém chinh chap hanh cac quy dinh vé bao vé bi mat quéc gia

+ Giữ gìn và tăng cường đoàn kết nội bộ

+ Giữ gìn tư cách đại diện của Nhà nước và dân tộc Việt Nam

Trang 39

+ Chiu su chi dao cua thi trưởng cơ quan chủ quản ở trong nước về chuyên môn thông qua người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao (Nếu nhân viền nảy không thuộc biên chế của Bộ Ngoại giao)

3.2.4 Nhiệm kỳ công tác

Theo Điều 7 Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994, nhiệm kỳ công tác của nhân viên cơ quan đại diện ngoại giao là 3 năm Trong trường hợp đặc biệt, theo đề nghị của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao và thủ trưởng cơ quan quản lý nhân sự (đối với nhân viên không thuộc biên chế Bộ Ngoại giao), Bộ trưởng Ngoại giao xem xét quyết định kéo dài nhiệm kỳ công tác của nhân viên đó Thời gian kéo dài khong qua 18 thang

3.2.5 Viée cir, triéu héi

Điều I1, Nghị đỉnh số 183/CP của Chính phủ năm 1994 quy định Bộ

trưởng Ngoại giao quyết định cử, triệu hỏi, điều động nhân viên cơ quan đại diện ngoại giao được tiễn hành trong các trường hợp:

+ Kết thúc nhiệm kỳ công tác

+ Không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ

+ Không đảm bảo tiêu chuẩn sức khoẻ hoặc có những lý do đặc biệt khác

+ Nước tiếp nhận tuyên bố không chấp nhận hoặc không hoan nghênh

Việc củ, điều động, triệu hồi nhân viên không thuộc biên chế Bộ Ngoại giao

được quy định trong Điều 12, Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994

Bộ trưởng Ngoại giao căn cứ vào yêu câu công tác và để nghị của thủ trưởng cơ quan chủ quản, quyết định điều động nhân viên công tác tại cơ quan đại diện ¡

Việc quyết định triệu hồi, điều động nhân viên không thuộc biên chế Bộ

Ngoại giao được tham khảo ý kiến của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhân sự đó 3.2.6 Đưa về nước ị

Pháp lệnh 1993/ trong Điều 29.3, quy định: Nhân viên có hành vi vi phạm

có thê dẫn đến hậu quả nghiêm trọng thì phải kịp thời đưa về nước Người đứng

đâu cơ quan đại diện có quyền quyết định Quyết định này được báo cáo ngày cho Bộ trưởng Ngoại giao, đồng thời thông báo cho cơ quan Nhà nước có thâm quyền ở trong nước để xem xét giải quyết

Điều 24,25,26, Nghị định số 183/CP của Chính phủ năm 1994 đã giải

thích rõ quy định trên Và quy định các trường hợp phải kịp thời đưa về nước:

+ Có hành vi làm tổn hại an ninh, bí mật quốc gia của Việt Nam

+ Có chứng cớ rộ ràng vê đào ngũ, phản bộ Tổ quôc

+ Việc có mặt của đương sự sẽ gây nguy hại cho cở quan đại diện, cho cộng đồng người Việt Nam

+ BỊ nước tiếp nhận tuyên bố không chấp nhận hoặc không được hoan nghênh

Trang 40

CHUONG IL: BAC QUYEN UU DAI, MIEN TRU NGOẠI GIAO

I Sự hình thành, phát trién các đặc quyền về ưu đãi, miễn trừ ngoai giao

1 Thời kỳ trước thé kỷ XV

Mặc dù không có những quy định bắt buộc nào, tuy nhiên, những phong tục, tập quán thời đó đã dành một sô miễn trừ nhằm:

- Đảm bảo sự độc lập nào đó đối VỚI con người và tài sản của sứ thân

- Tránh xâm phạm tới danh dự quốc gia mà sứ thần đó đại diện

Các đặc quyên này mang nặng tính “ban ơn” của vua chúa, và hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ tôt hoặc xâu, thân thiết hoặc thù địch giữa các vua chúa với nhau Khi hai quốc gia có quan hệ bình thường, thì sứ thần được coi là quốc khách, khi hai nước bất hoà, thì sứ thần bị ngược đãi

2 Từ thế ky XV trở di

Các phái đoàn đại diện từ chỗ là công cụ riêng của vua chúa đã trở thành

cơ quan của nhà nước, đại diện cho nhà nước trong quan hệ ngoại giao Cùng với sự phát triển ngày một rộng lớn của quan hệ bang giao, các đặc quyên về ngoại giao cũng phát triển mạnh,

Việc phát triển các đặc quyền này không có mục đích nào khác là nhằm tạo điều kiện đảm bảo cho các đại diện ngoại giao có thể hoàn thành được chức nang ma quốc gia giao pho

3 Một số học thuyết về ưu đãi, miễn trừ ngoại giao

- Thuyết “tính cách đại diện” (Théorie du caractére représentatif) Thuyết này coi sứ thần là dai diện riêng của nhà vua, do Vua lựa chọn và

cử đi Những thành viện khác trong sứ đoàn là công cụ riêng của sứ thần, do sứ thần lựa chọn |

Dưới thời Su còn tồn tại tập quán được phép bổ nhiệm người có

- Thuyét “tri ngoại pháp quyền” (Théorie de Pexterriorialité)

Thuyét nay cho rang các nhà ngoại giao tuy sông ở nước sở tại, nhưng phải được coi như đang sông ở nước mình, coi trụ sở của cơ quan đại diện là lãnh thổ của nước mình Và vì vậy, họ không thực sự bị rang buộc bởi pháp luật của nước sở tại

Trong thực tiễn, thuyết này đã dẫn đến vấn đề về quyền cư trú chính trị (droit d’asile politque) lđã gây nên tranh cãi và cách thức thực hiện khác nhau: nhiều nước, nhất là cád nước Mỹ Latinh cho phép tị nạn chính trị trong các cơ quan đại diện ngoại giao; nhiều nước khác lại phản đối và cho rằng việc làm này

là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của nước sở tại `

Về sau này, nhiều quan điểm cho rằng quyền bất khả xâm phạm trụ sở của các cơ quan đại diện ngoại giao có mục đích cụ thể là nhằm đảm bảo cho các cơ

Ngày đăng: 08/11/2022, 00:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Louis Dusault (1999), Lé tan - Công cụ giao tiến, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lé tan - Công cụ giao tiến
Tác giả: Louis Dusault
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Bộ Ngoại giao (1995), Mội số văn bản về chức năng nhiệm vụ và tổ chúc bộ máy của Bộ Ngoại giao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mội số văn bản về chức năng nhiệm vụ và tổ chúc bộ máy của Bộ Ngoại giao
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 1995
6. Văn phòng Chính phủ (1995), Ä⁄/ số quy định về lễ tâu ngoại giao nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số quy định về lễ tâu ngoại giao nhà nước
Tác giả: Văn phòng Chính phủ
Nhà XB: Văn phòng Chính phủ
Năm: 1995
7. Jean Serres (1994), Sổ tay thực tiên lễ tân, Vụ Lễ tân - Bộ Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thực tiên lễ tân
Tác giả: Jean Serres
Nhà XB: Vụ Lễ tân - Bộ Ngoại giao
Năm: 1994
8. Sheila Ostrader (1989), Nghé thudt giao tiếp, NXB Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghé thudt giao tiếp
Tác giả: Sheila Ostrader
Nhà XB: NXB Long An
Năm: 1989
9. Mai Thi Phong - Nguyén Dinh Son (2005), Giáo trình Nghiệp vụ Thư ký văn phòng đối ngoại, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ Thư ký văn phòng đối ngoại
Tác giả: Mai Thi Phong, Nguyén Dinh Son
Nhà XB: Học viện Quan hệ quốc tế
Năm: 2005
10. Bộ Ngoại giao - Vụ Lễ tân (2005), Số tay Công tác Lễ tân tại Cơ quan đại điện Việt Nam ở nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số tay Công tác Lễ tân tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Tác giả: Bộ Ngoại giao - Vụ Lễ tân
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w