1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng mô hình của david kolb trong tổ chức học tập trải nghiệm môn toán lớp 2 để phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh 1

22 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng Mô hình của David Kolb trong Tổ chức Học tập Trải nghiệm Môn Toán Lớp 2 Để Phát Triển Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Toán Học Cho Học Sinh 1
Tác giả Lê Thị Cẩm Lệ
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thanh Hưng
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 292,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ CẨM LỆ VẬN DỤNG MÔ HÌNH CỦA DAVID KOLB TRONG TỔ CHỨC HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 2 ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC C

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ CẨM LỆ

VẬN DỤNG MÔ HÌNH CỦA DAVID KOLB TRONG TỔ CHỨC HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 2 ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học sư phạm - ĐHĐN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Thanh Hưng

Phản biện 1:

TS Hoàng Nam Hải Phản biện 2:

TS Nguyễn Văn Thà

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ Giáo dục học họp tại Trường Đại học Sư phạm –

ĐHĐN vào ngày 28 tháng 8 năm 2022

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Dạy học phát triển năng lực là một yêu cầu tất yếu trong thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay

Tại Đại hội lần XIII, Đảng ta xác định kế hoạch định hướng phát triển

đất nước giai đoạn 2020 - 2030: “Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và

đào tạo (GDĐT) đáp ứng yêu cầu về nhân lực có chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế” [9] Nguồn nhân

lực có chất lượng cao được đề cập đến năng lực (NL) đáp ứng yêu cầu của công việc ở xã hội công nghiệp 4.0 Đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã có quan điểm chỉ đạo cho ngành giáo dục

(GD): “Phát triển GDĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài Chuyển mạnh quá trình GD từ hình thức chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học…” [8] Trước

những thách thức về công nghệ và hội nhập, đào tạo nguồn nhân lực phải

có NL đáp ứng tốt đó chính là mục tiêu mà ngành GD cần phải thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Chính vì vậy, dạy học (DH) theo các tiếp cận nội dung đã không còn đáp ứng nhu cầu phát triển NL người học Việc thay đổi cách tiếp cận sang DH theo phát triển NL là một tất yếu của quá trình phát triển

Trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện về GDĐT, việc thay đổi cách tiếp cận sẽ quyết định nội dung GD DH tiếp cận NL là dạy học hướng tới việc học sinh (HS) có thể làm được gì sau khi lĩnh hội kiến thức Chính vì thế, DH theo phát triển NL hướng tới những mục tiêu cụ thể là phát triển từng NL thành phần của người học như: NL tìm kiếm, phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn đề (GQVĐ),… thông qua các môn học trong chương trình phổ thông Như vậy, phát triển NL, phẩm chất của người học

Trang 4

được coi như là kim chỉ nam cho quá trình đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT ở nước ta hiện nay

1.2 Mô hình học tập qua trải nghiệm của David Kolb phù hợp với xu hướng đổi mới của giáo dục nước ta

David Kolb là một nhà giáo dục người Mỹ, ông là người đầu tiên đặt

nền móng cho “Mô hình học tập trải nghiệm” Khi nghiên cứu về lí thuyết

học tập trải nghiệm (HTTN), David Kolb cho rằng, học tập là quá trình tri thức được kiến tạo thông qua sự chuyển hóa của kinh nghiệm Đây chính là nền tảng và tư tưởng để ông phát triển mô hình HTTN và mối quan hệ của

nó với phong cách học tập của cá nhân Mô hình học tập qua trải nghiệm (TN) của David Kolb có bản chất là một hình xoắn ốc mô tả quá trình học tập gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn trải nghiệm cụ thể, quan sát phản ánh, hình thành khái niệm, thử nghiệm tích cực

Bản chất của mô hình học tập dựa trên kinh nghiệm của David Kolb chính là việc ông xem NL của người học là nền tảng của việc GD Muốn

DH thành công, người giáo viên (GV) phải dựa trên NL của HS để xây dựng phương pháp dạy học (PPDH) cho phù hợp Việc đặc biệt nhấn mạnh

về kinh nghiệm cụ thể của người học, được xem như là điểm xuất phát của quá trình học tập Trải qua mỗi chu trình học tập, kinh nghiệm về tri thức hoặc kĩ năng sẽ được huy động trước làm chất liệu nền tảng nhằm thực hiện thành công các nhiệm vụ học tập Thông qua đó, tri thức mới, NL mới được hình thành và củng cố kinh nghiệm cũ Như vậy, học tập dựa trên kinh nghiệm chính là con đường hữu hiệu trong việc hình thành và phát triển NL cho HS [15]

Mô hình HTTN hướng tới những NL cần đạt được của người học thông qua quá trình TN Mô hình HTTN đòi hỏi người học phải sáng tạo,

tự chủ, tự ra quyết định để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động học tập

Trang 5

Thông qua TN, người dạy tạo cơ hội cho người học được tham gia vào quá trình học tập thông qua việc đặt câu hỏi, tìm tòi, GQVĐ và tự tìm kiếm mở rộng GQVĐ Từ đó, những NL mới được hình hành một cách có chủ đích

ở phía người học Mục đích hướng đến của mô hình HTTN rất phù hợp với quan điểm của Bộ GDĐT đề ra trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT ở nước ta hiện nay

1.3 Năng lực giải quyết vấn đề toán học là một trong những năng lực cần được hình thành và phát triển trong dạy học môn Toán ở tiểu học

Toán học là một môn học rất quan trọng trong chương trình phổ thông Toán học góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu,

NL chung, NL toán học cho HS Nội dung toán được xác định: “Nội dung

môn Toán thường mang tính logic, trừu tượng, khái quát Do đó, để hiểu

và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và “vận dụng” kiến thức vào GQVĐ cụ thể”

[5] Như vậy, điều kiện cần của chương trình toán phổ thông chính là sự đảm bảo tính cân đối giữa lí thuyết và sự vận dụng kiến thức của HS vào cuộc sống Nói cách khác, kĩ năng vận dụng GQVĐ toán học cần trở thành

kĩ năng nền tảng để từ đó, HS có thể vận dụng kĩ năng vào để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống

Đối với cấp bậc Tiểu học, mục tiêu môn Toán được xác định “Góp

phần hình thành và phát triển NL toán học với yêu cầu cần đạt: Thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; Nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản; Lựa chọn được các phép toán và công thức số học để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung,

ý tưởng, cách thức GQVĐ; Sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản; Sử dụng được các công cụ, phương tiện

Trang 6

học toán đơn giản để thực hiện các nhiệm vụ học tập toán đơn giản” [4]

Như vậy, mục tiêu chính của toán tiểu học là góp phần hình thành và phát triển 05 NL đặc thù cho HS: (1) NL tư duy và lập luận toán học; (2) NL

mô hình hoá toán học; (3) NL giải quyết vấn đề toán học; (4) NL giao tiếp toán học; (5) NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán Trong các năng lực đặc thù của môn Toán, năng lực giải quyết vấn đề toán học (NLGQVĐTH) có vai trò trọng tâm trong việc đánh giá khả năng vận dụng toán học vào thực tế

1.4 Chưa có nhiều nghiên cứu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh lớp 2

NLGQVĐTH được hình thành và phát triển thông qua sự kết hợp các PPDH: Phương pháp phát hiện và GQVĐ, phương pháp dạy học theo dự

án, phương pháp học qua tổ chức trò chơi,…, với các kĩ thuật dạy học: Động não, khăn trải bàn, mảnh ghép, tổ chức cho HS học tập qua trải nghiệm, Trong các cách thức trên, tổ chức cho HS được HTTN để phát triển NL GQVĐ cho HS là biện pháp học tập phù hợp và khả thi dựa trên kinh nghiệm của HS

Mặc dù mô hình học tập qua TN đã xuất hiện và được đề cập từ lâu ở Việt Nam nhưng ít được GV chú ý đến vì ít phù hợp với mục tiêu GD tổng thể trước 2018 Mô hình HTTN hầu như ít được nghiên cứu sâu trong những năm trước năm 2018 Sau khi Bộ GDĐT ban hành Chương trình phổ thông mới theo định hướng tiếp cận NL, mô hình HTTN hiển nhiên trở thành xu hướng nghiên cứu vì nó đáp ứng được mục tiêu mà chương trình

GD phổ thông mới đặt ra

Năm học 2021 - 2022 là một năm học có sự đổi mới của chương trình sách giáo khoa lớp 1 và lớp 2 Đối với môn Toán cấp Tiểu học, mục tiêu hướng đến của NL GQVĐ gồm 4 tiêu chí: (1) Nhận biết được

Trang 7

vấn đề cần giải quyết và nêu được thành câu hỏi; (2) Nêu được cách GQVĐ; (3) Thực hiện và trình bày cách thức giải quyết ở mức độ đơn giản; (4) Kiểm tra được giải pháp đã thực hiện [5] Trong tất cả nội dung của chương trình toán phổ thông, lớp 1 được làm quen và học 5 nội dung Số nội dung lớp 2 được tiếp cận là 11 nội dung [5] Như vậy, có thể thấy rằng số lượng nội dung tiếp cận khi HS bước sang lớp

2 tăng đáng kể so với số nội dung ở lớp 1 Việc hình thành NLGQVĐTH sẽ góp phần rất quan trọng đối với HS lớp 2

Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu vận dụng mô hình TN của David Kolb trong giảng dạy ở cấp bậc đại học, trung học, được thể hiện trong phần tổng quan của luận văn nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về việc vận dụng mô hình vào dạy học môn Toán ở bậc tiểu học đặc biệt ở khối lớp 2 để hình thành và phát triển NLGQVĐTH cho HS Việc nghiên cứu về vận dụng mô hình HTTN cho HS lớp 2 là một vấn đề cấp thiết và mang ý nghĩa thực tiễn đáp ứng nhu cầu giảng dạy NLGQVĐTH cho HS nhằm hoàn thành nhiệm vụ GD toán học Tiểu học

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng mô

hình của David Kolb trong tổ chức học tập trải nghiệm môn Toán lớp 2

để phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh” để

nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng mô hình của David Kolb vào tổ chức HTTN môn Toán lớp

2 để phát triển NLGQVĐTH cho HS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ sau:

Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước;

Trang 8

Hệ thống hóa lí luận về các khái niệm cơ sở cho đề tài, xây dựng thang đo về NLGQVĐTH của HS lớp 2;

Điều tra đánh giá thực trạng hiệu quả tổ chức hoạt động DH TN cho

HS lớp 2 ở các trường tiểu học tại Thành phố Buôn Ma Thuột Quan sát đánh giá hiệu quả mô hình HTTN nhằm phát triển NLGQVĐTH của HS lớp 2;

Vận dụng mô hình của David Kolb để xây dựng quy trình tổ chức HTTN trong môn Toán lớp 2;

Tổ chức thực nghiệm sư phạm với quy trình đã xây dựng nhằm kiểm tra tính hiệu quả của mô hình

4 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng mô hình của David Kolb vào tổ chức HTTN môn Toán lớp 2 thì sẽ phát triển được NLGQVĐTH cho HS

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình vận dụng mô hình của David Kolb trong tổ chức HTTN môn Toán lớp 2

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian:

+ Phạm vi nghiên cứu thực trạng: Đề tài tập trung nghiên cứu thực

trạng trên 36 GV đang là GV chủ nhiệm HS lớp 2 thuộc 6 trường: Trường tiểu học Tô Hiệu; Trường tiểu học Võ Thị Sáu; Trường tiểu học Phan Đăng Lưu; Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn; Trường tiểu học và Trung học cơ sở Nguyễn Khuyến; Trường tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Victory tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

+ Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm: Trường Tiểu học Võ Thị Sáu

(Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk)

Trang 9

- Phạm vi thời gian: Năm học 2021 - 2022

- Phạm vi nội dung: Vận dụng mô hình của David Kolb trong tổ chức học tập trải nghiệm môn Toán lớp 2 để phát triển NLGQVĐTH cho HS

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp tổng hợp tài liệu: Bằng việc tổng hợp, phân tích những

tài liệu cơ sở, chúng tôi tổng quan các vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài (lí luận về HTTN, mô hình TN của David Kolb, NL GQVĐ toán học,…) Từ đó, chúng tôi phác hoạ bức tranh tổng thể và tìm ra chỗ trống về vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phân tích hệ thống: NLGQVĐTH là một trong những

năng lực thành phần của bộ môn toán Việc phát triển NLGQVĐTH đòi hỏi người nghiên cứu phải xem xét nghiên cứu trong một hệ thống NL của

HS đáp ứng yêu cầu: Mục tiêu, nội dung giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Việc sử dụng phương pháp quan sát sư phạm

nhằm hướng tới hai mục đích Thứ nhất, quan sát dự giờ 10 tiết học toán của HS khối 2 nhằm thu thập thông tin ban đầu của quá trình dạy toán cho

HS lớp 2 theo hướng DH TN Từ những kết quả quan sát được, chúng tôi

sử dụng bộ tiêu chí (mục 2.4.5) để đánh giá hiệu quả, những ưu nhược

điểm của quá trình DH toán để điều chỉnh cho phù hợp Thứ hai, dựa trên

các tiêu chí đánh giá NL GQVĐ đã được xây dựng (mục 2.4.4), chúng tôi

thực hiện quan sát trên hai nhiệm vụ chính: Quan sát thực trạng và quan sát thực nghiệm Việc quan sát trực tiếp trên lớp có sự hỗ trợ của GV chủ nhiệm và GV dự giờ khối 2 Các tiêu chí và nhiệm vụ quan sát đều được

Trang 10

trao đổi và tập duyệt trước khi thực nghiệm chính thức trên lớp thực nghiệm

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra khảo sát việc tổ chức

DH toán hướng đến NL GQVĐTH của GV cho HS lớp 2 về: Quan điểm

về việc DH bằng mô hình HTTN;Ý kiến đánh giá của GV về khả năng thực hiện hoạt động của HS lớp 2 theo quy trình HTTN của David Kolb; Phương pháp tổ chức; Kết quả của quá trình DH phát triển NL GQVĐ; Các yếu tố cản trở GV trong quá trình thực hiện

Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Việc sử dụng phương pháp

nghiên cứu trường hợp nhằm làm sáng tỏ vấn đề tính hiệu quả của quá trình thực nghiệm Chúng tôi đã lựa chọn 02 HS có sự thay đổi rõ nét trong lớp thực nghiệm để mô tả trường hợp

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhằm bước đầu đánh giá tính khả thi và hiệu quả của quy trình HTTN trong môn Toán lớp 2 từ mô hình của David Kolb

6.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí định tính kết hợp định lượng các số liệu đã thu thập được từ kết quả học tập của HS và xử lí phiếu điều tra của GV và HS Các phần mềm được sử dụng gồm: SPSS (13.5 free version) và Microsoft Excel 2010

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được bố cục thành năm chương:

Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu;

Chương 2 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu;

Trang 11

Chương 3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu;

Chương 4 Vận dụng mô hình của David Kolb trong tổ chức học tập trải

nghiệm môn Toán để phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh lớp 2;

Chương 5 Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể về vận dụng mô hình TN của David Kolb trong tổ chức HTTN trong môn Toán để phát triển NLGQVĐTH cho

HS lớp 2 theo Chương trình GD phổ thông 2018 thì chưa được đề cập đến Hầu hết các nghiên cứu chỉ dừng lại ở nhiệm vụ hệ thống hóa phân tích mô hình của David Kolb vào môn Toán ở bậc Phổ thông hoặc bậc Mầm non Chưa có nghiên cứu sử dụng mô hình HTTN để phát triển năng lực GQVĐ cho HS tiểu học, đặc biệt là HS lớp 2 Thông qua phần tổng quan cho thấy, việc nghiên cứu vận dụng mô hình HTTN của David Kolb vào môn toán nhằm phát triển NLGQVĐTH cho HS lớp 2 rất cấp thiết, đáp ứng nhu cầu

về mặt lí luận lẫn thực tiễn

Ngày đăng: 08/11/2022, 00:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w