Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được .... Kết quả phân lập, xác định một số đặc tính gây bệnh của vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VĂN HƯNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ ĐẶC
TÍNH CỦA VI KHUẨN ACTINOBACILUS
PLEUROPNEUMONIAE VÀ STREPTOCOCCUS SUIS Ở LỢN
VIÊM PHỔI TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Ngành: Thú y
Mã số: 8 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Tính
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 11 năm 2021
Tác giả luận văn
Lê Văn Hưng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng đào tạo, khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Tân Yên, Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp tôi hoàn thành đề tài luận
văn này
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được
sự hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm và hết lòng vì khoa học của thầy: PGS TS Nguyễn Quang Tính
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Lê Văn Dương - Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang
và tập thể cán bộ Phòng thí nghiệm vi sinh - Viện Khoa học sự sống – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn Ông Dương Văn Long giám đốc trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Tân Yên; cảm ơn các đồng chí Thú y viên cơ sở, các hộ chăn nuôi thuộc 3 xã Liên Chung, Ngọc Châu, Ngọc Vân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt biết ơn gia
đình đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 202 1
Tác giả luận văn
Lê Văn Hưng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số hiểu biết cơ bản về Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis gây bệnh viêm phổi ở lợn 3
1.1.1 Vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi màng phổi do vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae gây ra ở lợn 3
1.1.2 Vi khuẩn Streptococcus suis và bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcus suis gây ra ở lợn 9
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis về bệnh viêm phổi ở lợn 14
1.2.1 Vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae 14
1.2.2 Vi khuẩn Streptococcus suis 17
1.3 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 20
1.3.1 Một số đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh viêm phổi ở lợn 20
1.3.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
Trang 52.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Vật liệu dùng nghiên cứu 23
2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 23
2.3.2 Các loại môi trường, hoá chất 23
2.3.3 Động vật thí nghiệm 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Chọn mẫu điều tra 25
2.4.2 Phương pháp 25
2.4.3 Nội dung điều tra, theo dõi 25
2.4.4 Các phương pháp đo lường trong dịch tễ 25
2.4.5 Phương pháp phân tích dịch tễ 25
2.5 Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 27
2.5.1 Thu thập mẫu 27
2.5.2 Phân lập và giám định vi khuẩn 27
2.6 Phương pháp kiểm tra các đặc tính sinh hoá và khả năng lên men đường của các chủng vi khuẩn phân lập được 28
2.7 Phương pháp xác định serotype của các chủng vi khuẩn phân lập được 31
2.7.1 Phương pháp xác định serotype của vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae bằng phương pháp ngưng kết với kháng huyết thanh chuẩn 31
2.8 Phương pháp xác định độc lực của các chủng vi khuẩn phân lập được 32
2.9 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 33
2.10 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh viêm viêm phổi ở lợn tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 34
2.11 Phương pháp xử lý số liệu 35
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh viêm phổi ở lợn tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 36
3.1.1 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi tại một số xã của huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang 36
3.1.2 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi theo mùa tại một số xã của huyện Tân Yên 38
3.1.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi theo lứa tuổi tại một số xã của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 40
3.2 Kết quả phân lập, xác định một số đặc tính gây bệnh của vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis gây viêm phổi ở lợn 42
3.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại huyện Tân Yên, Bắc Giang 42
3.2.2 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis phân lập được 44
3.2.3 Xác định serotype của các Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis phân lập được 50
3.2.4 Xác định độc lực của Actinobacilus pleuropneumoniae, Streptococcus suis phân lập được 53
3.3 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis phân lập được 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Đề nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3 A pleuropneumoniae Actinobacillus pleuropneumoniae
4 B bronchiseptica Bordetella bronchiseptica
10 M hyopneumoniae Mycoplasma hyopneumoniae
11 MP- PCR Multiplex - Polymerase Chain Reaction
16 P multocida Pasteurella multocida
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh yếu tố nguy cơ 26
Bảng 2.2 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định các serotype 1, 2, 7 và 9 của vi khuẩn Streptococcus suis 32
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh theo NCCLS (1999) 33
Bảng 3.1 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi tại một số xã 36
Bảng 3.2 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi theo mùa 38
Bảng 3.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi theo lứa tuổi 40
Bảng 3.4 So sánh nguy cơ mắc viêm phổi giữa các lứa tuổi lợn 41
Bảng 3.5 Kết quả phân lập vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi các lứa tuổi khác nhau 42
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của A pleuropneumoniae phân lập được 44
Bảng 3.7 Phản ứng lên men đường của A pleuropneumoniae phân lập được 45
Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của S suis phân lập được 46
Bảng 3.9 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật hóa học của S suis phân lập được bằng hệ thống API 20 Strep 48
Bảng 3.10 Kỹ thuật PCR giám định gen glutamate dehydrogenase (gdh) 49
Bảng 3.11 Kết quả xác định serotype của A pleuropneumoniae phân lập được bằng phản ứng AGID 50
Bảng 3.12 Kết quả xác định serotype của một số chủng S suis phân lập được 52
Trang 9Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra độc lực của Actinobacilus pleuropneumoniae
phân lập được 54
Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra độc lực của một số vi khuẩn S suis phân
lập được trên chuột nhắt trắng 56 Bảng 3.15 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm kháng sinh các chủng
A pleuropneumoniae, S suis 58
Bảng 3.16 Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc viêm phổi 60
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh và chết do viêm phổi tại một số xã của huyện
Tân Yên 37 Hình 3.2 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi theo mùa 39 Hình 3.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi theo lứa tuổi 41
Hình 3.4 Kết quả phân lập vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae
và Streptococcus suis từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm
phổi các lứa tuổi khác nhau 43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là huyện có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình và góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, chăn nuôi lợn tập trung theo quy
mô vừa và nhỏ ở huyện đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là dịch bệnh, đã ảnh hưởng lớn tới năng suất chăn nuôi Trong vài năm gần đây, hội chứng viêm phổi
đã xuất hiện rất phổ biến trên đàn lợn của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang gây thiệt hại lớn về kinh tế do sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp, bệnh thường kéo dài, chi phí thuốc thú y cao, đặc biệt nghiêm trọng khi bệnh xẩy ra đồng thời với hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp làm tổn thất nặng nề về kinh tế, gây hoang mang cho người chăn nuôi
Hội chứng viêm phổi ở lợn do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do một hay nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau hoặc tạo điều kiện cho nguyên nhân thứ phát gây bệnh làm cho đặc điểm của bệnh đường hô hấp rất đa dạng Trong số đó phải kể đến bệnh
viêm phổi ở lợn thường do các loại vi khuẩn như: Actinobacillus pleuropneumoniae (A pleuropneumoniae) và Streptococcus suis (S suis) gây ra Nghiên cứu của Nguyễn Hữu
Nam và Nguyễn Thị Lan (2007), Cù Hữu Phú (2011) cho thấy, vi khuẩn A
pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, S suis serotype 2, Bordelella bronchiseptica
đã làm cho lợn bị bệnh trầm trọng và xuất hiện các bệnh lý nặng, kéo dài với tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ chết cao Nguyễn Quang Tính và cs, ( 2020) cho biết, tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi trên đàn lợn tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang chiếm 18,41 - 28,91%
và tỷ lệ chết là 18,41%, tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae cao nhất ở lợn sau cai sữa 30% và thấp nhất ở lợn sơ sinh đến 1 tháng tuổi là 8% Các chủng vi khuẩn S suis thuộc serotype 2 từ lâu đã được xác định là serotype thường gặp nhất gây bệnh cho lợn và người ở hầu hết các nước trên thế giới Ở Anh bệnh S suis do serotype 2 chủ yếu gây ra bại huyết và viêm não ở lợn đã cai sữa Ngoài serotype 2, vi khuẩn S suis thuộc
các serotype khác cũng đã được phân lập từ lợn bị viêm phổi - màng phổi Đan Mạch và
Trang 12ở Mỹ Do đó, để làm rõ thêm đặc tính của vi khuẩn A pleuropneumoniae và S suis gây
bệnh viêm phổi ở lợn tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang rất cần thiết và là một yêu cầu cấp bách, từ đó xác định được giải pháp phòng chống bệnh có hiệu quả và đem lại kinh
tế cao nhất cho người chăn nuôi
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, nhằm mục đích điều trị hiệu quả hơn về bệnh viêm phổi ở lợn, cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển ngành chăn nuôi lợn
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch
tễ và đặc tính của vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và
Streptococcus suis ở lợn viêm phổi tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng viêm phổi lợn tại một số xã thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng vi
khuẩn A pleuropneumoniae và S suis ở lợn mắc bệnh viêm phổi
- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị bệnh viêm phổi ở lợn đạt hiệu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài là một công trình nghiên cứu gắn liền với thực tiễn sản xuất, xác định
được một số đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn A pleuropneumoniae và S suis gây
viêm phổi ở lợn tại vùng nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu khoa học về bệnh viêm phổi ở lợn phục vụ cho việc phòng và điều trị bệnh có hiệu quả tốt nhất cho người chăn nuôi
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số hiểu biết cơ bản về Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus
suis gây bệnh viêm phổi ở lợn
1.1.1 Vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi màng phổi
do vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae gây ra ở lợn
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là một tác nhân gây bệnh viêm phổi - màng
phổi ở lợn Bệnh có sự phân bố rộng rãi và ngày càng trở nên quan trọng do việc chăn nuôi lợn ngày một phát triển
Vi khuẩn A pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, trước đây còn có tên là Haemophilus parahaemolyticus hay Haemophilus pleuropneumoniae đã được chứng minh là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là loại cầu trực khuẩn nhỏ, Gram (-), kích
thước 0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 µm, không di động, không sinh nha bào và có hình thành giáp mô Dưới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có lông hay còn gọi là pili có kích thước 0,5 - 2 x 60 - 450 nm
A pleuropneumoniae là một vi khuẩn khó tính, khó nuôi cấy Chủ yếu sinh
trưởng trong môi trường được bổ sung 5% huyết thanh ngựa và trong điều kiện có 5
- 10% CO2 Vi khuẩn không mọc trên môi trường thạch máu thông thường, trừ khi thạch máu được bổ sung ADN và chúng mọc xung quanh các khuẩn lạc của tụ cầu
là do Staphylococcus aureus trong quá trình phát triển trên thạch máu đã phá huỷ
hồng cầu có trong máu và sản sinh ra chất ADN
Trong môi trường nuôi cấy, vi khuẩn đòi hỏi yếu tố V để phát triển, nó phát triển tốt trên môi trường thạch Chocolate nhưng vi khuẩn không mọc trên môi
trường MacConkey Vi khuẩn A pleuropneumoniae có khả năng lên men các loại
đường: Xylose, Ribose, Glucose, Fructose, Maltose, Mannitol, và không lên men: Trehalose, Arabinose, Lactose, Raffinose,… Phản ứng sinh Indol, Catalaza, Ureaza, CAMP test dương tính
Trang 14A pleuropneumoniae có sức đề kháng kém Vi khuẩn chỉ tồn tại trong môi
trường tự nhiên trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, khi được bảo vệ bởi chất nhầy hoặc các chất hữu cơ khác vi khuẩn có thể sống sót trong vài ngày Trong nước sạch
ở nhiệt độ 4oC, vi khuẩn có thể sống được 30 ngày, nhiều giờ trong khí dung và có thể tồn tại được trong 4 ngày ở mô phổi và chất thải ở nhiệt độ phòng Nó bị diệt nhanh chóng ở nơi khô và các chất sát trùng
A pleuropneumoniae được chia thành 2 biotype dựa trên nhu cầu sử dụng
ADN của vi khuẩn (Pohl và cs., 1983), (Lukas và cs 2021) Biotype 1 của vi khuẩn khi nuôi cấy trên môi trường nhân tạo phụ thuộc vào ADN, biotype 2 không phụ thuộc vào ADN nhưng cần có các pyridine nucleotide đặc hiệu hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotide để tổng hợp ADN cần thiết cho sự phát triển của chúng Biotype 1 có độc lực cao hơn biotype 2
Trong biotype 1, có 12 serotype được tìm thấy và được phân loại theo type huyết thanh từ 1 - 12 (riêng serotype 5 được chia làm serotype 5a và serotype 5b) Trong biotype 2, serotype 2, 4, 7 và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên như biotype 1 Gần đây biotype 2 có serotype 13, 14 được mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1
* Cấu trúc kháng nguyên và yếu tố độc lực của vi khuẩn:
- Lớp vỏ vi khuẩn:
Vi khuẩn A pleuropneumoniae được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ có
bản chất là các polysaccharide Đây là thành phần quyết định độc lực của vi khuẩn
và gây hiệu ứng cho serotyp đặc hiệu Ward và Inzawa (1997)
Lớp vỏ này không chỉ có ý nghĩa trong quá trình gây bệnh mà còn có ý nghĩa chẩn đoán và dịch tễ (Inzama, 1991) Sự khác nhau về độc lực liên quan đến cấu
trúc và những sản phẩm do vỏ và nội độc tố tạo nên (Dubreuil và cs 2000) Quan
sát dưới kính hiển vi điện tử thấy những chủng có độc lực có kích thước lớn hơn và
có lớp vỏ bám dính hơn trong khi những chủng ít độc nhỏ hơn và chỉ có lớp vỏ mỏng (Inzana, 1991) Jacques và cs (1987), cũng xác định sự đa dạng trong cấu trúc
vỏ khi phân tích lớp vỏ ở các serotype 1 - 10 dưới kính hiển vi điện tử và cho thấy lớp vỏ dày khoảng 80 – 90 mm đến 210 – 230 mm tùy từng serotype Chính điều này đã giải thích cho sự khác nhau về độc lực giữa các serotype
Trang 15Lớp vỏ giúp bảo vệ vi khuẩn khỏi sự đề kháng của động vật như hoạt động thực bào và hoạt động bổ thể Những chủng có vỏ đề kháng với hoạt động tiêu diệt của bổ thể đã được chứng minh Những thể đột biến không có vỏ sẽ bị tiêu diệt ngay sau khi có mặt huyết thanh, trong khi những chủng có vỏ không bị tiêu diệt Ward và Inzana (1997)
- Độc tố của vi khuẩn:
Đa số các chủng A pleuropneumoniae đều tạo ra 1 hoặc nhiều hơn độc tố
phân hủy hồng cầu Phân tích những độc tố hồng cầu này quan sát thấy chúng là 1 protein hạt nhân của RTX (Repeat in Toxin), được tìm thấy ở hầu hết các vi khuẩn
Gram (-) như E coli, B pertussin, M haemolytica Ở A pleuropneumoniae, độc tố
này gọi là độc tố Apx được xác định là Apx I, Apx II, Apx III (Frey và cs, 1993), (Apx IV Cho và Chae, 2001) Người ta xác định chắc chắn về vai trò của Apx trong
quá trình gây bệnh của A pleuropneumoniae Mỗi độc tố này khác nhau do hoạt
động phân giải hồng cầu gây độc tế bào (Frey và cs, 1993)
- Lipopolysaccarit:
Lipopolysaccarit (LPS) là thành phần chính của lớp màng ngoài vi khuẩn và được cho là nguyên nhân gây tổn thương mô Những tổn thương do LPS tinh chế không gây xuất huyết, không gây hoại tử khác với tổn thương đặc trưng của viêm phổi - màng phổi Song LPS chắc chắn kết hợp với độc tố Apx làm tăng độc lực và làm tăng độc tính cho độc tố Apx
LPS có vai trò quan trọng trong sự bám dính của vi khuẩn lên tế bào biểu mô
và lớp màng nhầy khí quản của lợn Bám dính là hoạt động ban đầu giúp cho sự xâm nhập của vi khuẩn và có thể là đặc tính gây bệnh, là nguyên nhân gây ra bệnh
* Bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra: Bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm của lợn do A pleuropneumoniae
gây ra đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam trong những năm gần
đây, A pleuropneumoniae đã được phân lập và được đánh giá là một vi khuẩn gây
nên một bệnh hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn siêu nạc quy mô lớn
Tất cả các lứa tuổi lợn đều bị cảm nhiễm Trong trường hợp cấp tính của bệnh tỷ lệ chết thường cao Tỷ lệ chết cũng phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn và
sự lưu hành bệnh trong môi trường
Trang 16- Triệu chứng lâm sàng:
Triệu chứng lâm sàng có nhiều mức phụ thuộc vào tuổi của gia súc, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh
Biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mãn tính
+ Thể quá cấp tính: Một hoặc nhiều lợn cai sữa cùng một chuồng hoặc khác
chuồng bị ốm nặng, sốt tới 41,50C, đờ đẫn, không muốn ăn, nôn mửa và ỉa chảy, con vật bị bệnh nằm trên nền chuồng, không có dấu hiệu thở rõ ràng, mạch đập tăng lên rất sớm và trụy tim mạch Da trên mũi, tai, chân và sau cùng là toàn bộ cơ thể trở nên tím tái ở giai đoạn cuối và chết
+ Thể cấp tính: Nhiều lợn ở 1 chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau cùng
mắc bệnh Lợn sốt cao từ 40,5 - 410C, da đỏ, con vật mệt mỏi, không muốn dậy, không ăn uống Các dấu hiệu hô hấp nặng với khó thở, ho và đôi khi thở bằng mồm trở nên rõ Thường xuất hiện trụy tim mạch, với xung huyết ở các đầu tứ chi Toàn thân suy sụp trong vòng 24 giờ đầu, bệnh diễn biến khác nhau ở từng con vật, phụ thuộc mức độ tổn thương phổi và thời điểm bắt đầu điều trị
+ Thể bán cấp và mãn tính: Xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính biến đi
Không sốt hoặc sốt ít, xuất hiện ho tự phát hoặc thỉnh thoảng, với các cường độ khác nhau Có thể súc vật kém ăn, giảm tăng trọng, có thể xác định các gia súc bị
ốm bằng dấu hiệu các con vật này không gắng sức được Khi di chuyển, chúng thường đi lùi lại phía sau và khi bị chặn lại chúng thường ít chống cự Ở các đàn gia súc bị nhiễm mãn tính thường có nhiều súc vật bị nhiễm không biểu hiện rõ trên lâm sàng
Các dấu hiệu lâm sàng có thể trở lên rõ hơn bởi sự kết hợp với các yếu tố gây
nhiễm trùng đường hô hấp khác (Mycoplasma, vi khuẩn, virus) Các biến chứng như
viêm khớp, viêm nội tâm mạc và áp xe ở các vị trí khác nhau có thể xảy ra cùng với
nhiễm trùng A pleuropneumoniae
- Bệnh tích:
Tổn thương bệnh lý đại thể chủ yếu ở đường hô hấp Đa số các trường hợp bị viêm phổi hai bên, với tổn thương ở các thùy đỉnh và thùy tim, cũng như ít nhất một phần các mỏm trên của thuỳ hoành và ở đó viêm phổi thường khu trú, ranh giới rõ
Trang 17Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng, khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhầy bọt nhuốm máu Có thể thấy một số tổn thương đại thể ở các trường hợp tối cấp tính, các vùng viêm phổi trở nên sẫm màu và chắc, với viêm màng phổi có ít tơ huyết hoặc không tơ huyết và mặt cắt thường mủn Viêm màng phổi tơ huyết thường rất rõ ở các gia súc chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh ít nhất 24 giờ sau khi nhiễm trùng và khoang màng phổi chứa dịch nhuốm máu
Khi tổn thương tiến triển lớn hơn, viêm màng phổi tơ huyết trên vùng phổi tổn thương trở nên xơ và có thể dính rất chặt màng phổi vào thành ngực tới mức làm cho phổi dính vào thành ngực ngay cả khi mổ lợn chết lấy phổi ra phân tích Tổn thương sớm ở phổi là phổi trở nên đỏ tím hoặc đen đồng đều và sau đó trở nên sáng hơn và sau đó vẫn cứng ở những khu vực bị nặng nhất Các tổn thương kích cỡ
co lại khi bệnh giảm, ở trường hợp mãn tính còn tồn tại các nốt kích thước khác nhau, phần lớn ở thuỳ tim Những nốt dạng apxe được giới hạn bởi vỏ dày tổ chức liên kết và có lẽ kết hợp với khu vực viêm phổi tơ huyết Trong một số trường hợp khi tổn thương phổi được phục hồi chỉ còn lại một số ổ di chứng của viêm dính màng phổi tơ huyết Tỷ lệ lưu hành bệnh viêm màng phổi mãn tính cao ở lợn giết thịt có nghĩa là viêm phổi - màng phổi nhiều
Trong các giai đoạn đầu của bệnh, những biến đổi về tổ chức bệnh lý được đặc trưng bởi sự hoại tử, xuất huyết, thâm nhiễm các tế bào bạch cầu trung tính, sự hoạt hoá đại thực bào và tiểu cầu, nghẽn mạch máu, phù rộng và tiết dịch gỉ viêm lẫn fibrin Sau phản ứng cấp tính đặc trưng là sự thâm nhiễm đại thực bào, xơ hoá rõ quanh những vùng hoại tử và viêm màng phổi fibrin
Việc khẳng định là A pleuropneumoniae có thể có nhiều cách: Bằng kháng
thể huỳnh quang, bằng Peroxidase miễn dịch, bằng đồng ngưng kết tìm kháng
Trang 18nguyên đặc hiệu cho serotype ở chiết xuất tổ chức phổi, sử dụng ngưng kết latex hoặc ELISA Có thể dùng kỹ thuật PCR hoặc test huyết thanh với kháng thể hấp thụ
hoặc kháng thể đơn dòng để xác định vi khuẩn phân lập được có phải là A pleuropneumoniae không Có thể xác định tới các serotype bằng cách sử dụng kỹ
thuật PCR cho các gen hoạt hoá cấu trúc của độc tố hoặc có thể sử dụng kháng thể đơn dòng với từng serotype Có thể xác định serotype khi cho ngưng kết vi khuẩn nuôi cấy trên môi trường giàu dinh dưỡng với huyết thanh hoặc bằng phản ứng đồng ngưng kết Trong một số trường hợp dùng phương pháp khuếch tán trên thạch
và phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp
- Điều trị:
A pleuropneumoniae trên ống nghiệm rất nhạy cảm với penicillin, ampicilin,
cephalosporin, chloramphenicol, tetracyclin, colistin, sulfonamid, cotrimoxazol (trimethoprim + sulfamethoxazole) và gentamicin với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) thấp Vi khuẩn này có MIC cao với streptromycin, kanamycin, spectinomycin, spiramycin và lincomycin (Nicolet và Schifferli,1982), (Inoue và cs, 1984)
Prescott and Baggot (1993), đã thông báo về tính mẫn cảm của vi khuẩn này với các thuốc kháng sinh Sự xuất hiện hiện tượng kháng thuốc với ampicillin; streptromycin, sulfonamid, tetracyclin và chloramphenicol là vấn đề đáng lo ngại, thường gặp ở các serotype 1, 3, 5 và 7, nhưng hiếm gặp ở các serotype khác, nhất là serotype 2 (Nicolet và Schifferli (1982); Inoue và cs (1984)
Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae truyền theo
Plasmid Kháng sinh được chọn lựa phải là kháng sinh có sự kháng kháng sinh thấp nhất và có đặc tính diệt khuẩn được tốt nhất Do vậy, các kháng sinh nhóm betalactamin A (chủ yếu cephalosporin), chloramphenicol, cotrimoxazole và với một mức độ nhất định nào đó, tetracyclin được xem là có tác dụng nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn suất quinolon (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp ceftiofur sodium đã được chứng minh trên thực nghiệm rất có kết quả
Trang 19Người ta đã thu được những kết quả tốt trên thực nghiệm khi dùng tiamulin
và hỗn hợp lincomycin và spectinomycin Moore và cs (1996) đã dùng tilmicosin cho vào thức ăn Do đó cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị kháng sinh
Điều trị kháng sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn đầu của bệnh và phải dùng liều cao ngay từ đầu Để đảm bảo có nồng độ thuốc có hiệu quả ổn định trong máu
có thể cần tiêm nhiều lần, tùy theo đặc tính mẫn cảm của thuốc sử dụng Sự thành công của việc điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng của bệnh và can thiệp điều trị sớm
- Phòng bệnh:
Có thể tiến hành phòng bệnh viêm phổi - màng phổi theo một số cách Các trại không bị mắc bệnh và nhiễm khuẩn phải duy trì chính sách cách ly đi đôi với việc sử dụng tinh dịch hoặc bào thai để đưa vào các gen mới Khi nhập lợn mới nào vào đàn lợn phải xuất phát từ một đàn không bị bệnh, không nhiễm vi khuẩn, nên cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho chúng vào đàn Một khi đã xuất hiện nhiễm trùng ở một trại khó có thể loại trừ tác nhân nhiễm trùng, mặc dù về lâm sàng đàn gia súc có thể bình thường Các chương trình kiểm soát phải tính đến các đặc điểm dịch tễ học của viêm màng phổi Có thể dùng thuốc liên tục hoặc ngắt quãng, nhưng không bao giờ được dùng kéo dài và cần thường xuyên theo dõi sự mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh Chỉ sử dụng kháng sinh cho lợn mới vào chuồng khi chúng được chuyển đến từ các đàn lợn không bị nhiễm khuẩn để tránh đưa vào các serotype mới hoặc kháng kháng sinh mới
Song song với đó phải tiến hành các biện pháp khử trùng Vi khuẩn nhạy
cảm với nhiều chất tiệt trùng thông thường
1.1.2 Vi khuẩn Streptococcus suis và bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcus suis gây
ra ở lợn
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ Lactobacillales, lớp Bacilli
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) cho biết, Streptococcus là vi khuẩn Gram
dương, hình cầu hoặc hình trứng đường kính nhỏ hơn 1μm, chúng thường đứng
Trang 20riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Vi khuẩn bắt màu dễ dàng với một số loại thuốc nhuộm thông thường, thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương, phát triển trong điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện và không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh
Vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu có dạng hình cầu, kích thước 0,5
- 1 μm, đứng thành dạng chuỗi 5-10 tế bào Trong canh trùng già, sau 30 giờ nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt màu, chuỗi cũng thấy dài hơn Đặc biệt, khi nuôi cấy trong môi trường dạng lỏng, hình thái các chuỗi được nhìn thấy rõ nhất Khi làm tiêu bản trực tiếp từ bệnh phẩm lấy từ động vật, có thể quan sát thấy
vi khuẩn có hình cầu, nhưng ở môi trường phân lập ban đầu, có thể nhầm với trực khuẩn ngắn
Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường: Glucose, Lactose, Saccarose,
Salicin, Innulin, Trehalose, Maltose Vi khuẩn không có khả năng lên men đường: Mannit, Sorbitol, Mannitol, Dextrose, Xylose, Glyxerol Các phản ứng sinh hóa khác: Catalase âm tính, Oxidase âm tính, Indol âm tính, Coagulase âm tính
S suis có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hoá chất Trong phân, ở 00C vi khuẩn có thể sống 104 ngày, ở 90C vi khuẩn sống được 10 ngày, ở 22-250C vi khuẩn có thể sống được 8 ngày Ở 700C vi khuẩn chết trong 35- 40 phút, ở 1000C vi khuẩn chết trong 1 phút; vi khuẩn sống trong bụi 25 ngày ở 90C nhưng không phân lập được vi khuẩn ở bụi trong nhiệt độ phòng (18- 200C)/ 24 giờ Vi khuẩn bị diệt dưới ánh sáng mặt trời sau 40 - 60 phút
Lê Văn Tạo (2005) cho biết, S suis dễ bị diệt bởi nhiều chất sát trùng như:
phenol, iod, hypochlorid, acid phenic 3 - 5% diệt vi khuẩn trong vòng 3 - 15 phút, formol 1% diệt vi khuẩn trong vòng 60 phút, cồn 700 diệt vi khuẩn trong vòng 30 phút
Vi khuẩn có thể sống trong xác lợn chết ở 400C trong 6 tuần Vi khuẩn tồn tại lâu trong đờm, chất bài xuất có protein Tuy nhiên, vi khuẩn có thể tồn tại ở trên hạch amidan lợn mang trùng hơn 1 năm, ngay khi các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù hợp trong thức ăn
Trang 21Streptococcus có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp Có rất nhiều kháng
nguyên đã được tìm thấy:
- Kháng nguyên polyozit hay kháng nguyên “C” do Lancefield phát hiện năm
1928, đây là một kháng nguyên thân Thành phần kháng nguyên thân có ý nghĩa quan
trọng, quyết định đến tính độc lực của vi khuẩn Streptococcus và nó nằm ở thành vi khuẩn (Cell wall) Thành tế bào vi khuẩn S suis gồm 3 lớp: Lớp ngoài có chứa acid
và protein gọi là kháng nguyên M, T, R, , Map (M - Assotated Protein), SOF (Serua Oparty Factor) Phía ngoài cùng của lớp này thường chứa các fimbriae; lớp giữa chứa
polysaccharide; lớp trong cùng là peptidoglycan Những Streptococcus khác nhau có cấu tạo chất “C” khác nhau, dựa vào đó người ta chia Streptococcus thành các nhóm:
A, B, C, D, , R, trong đó Streptococcus type A, B thuộc loại tan máu type β
- Kháng nguyên protein M là yếu tố độc lực chống lại quá trình thực bào và là
kháng nguyên đặc hiệu của Streptococcus type A Người ta đã xác định có khoảng 42
type trong đó có 12 type quan trọng và thường hay gây bệnh
- Các mucopeptit: làm cho vách tế bào của Streptococcus cứng rắn và còn
có khả năng gây độc
- Kháng nguyên bám dính: fimbriae có lipoteibic acid (LTA) giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu mô và ở tế bào lympho đa nhân có điểm tiếp nhận (receptor) tương ứng với LTA trong quá trình thực khuẩn Nguyễn Như Thanh và cs (1997)
Hiện nay vi khuẩn S suis có 20 nhóm huyết thanh và 25 serotype khác nhau
Phần lớn các vi khuẩn gây bệnh trên lợn đều thuộc type 1 và type 2
Vi khuẩn S suis thuộc nhóm D có 9 serotype; nhóm R và nhóm S có 2 serotype
gây ra các thể bệnh viêm họng, nhiễm trùng huyết và viêm khớp ở lợn
Vi khuẩn S suis thuộc nhóm E có 6 serotype, trong đó serotye 2, 4, 1, 6, 7
gây các thể bệnh apxe hạch và các nội quan khác
Vi khuẩn S suis thuộc nhóm L và C gồm 11 serotype gây các thể bệnh nhiễm
trùng huyết, viêm nội tâm mạc và viêm đa khớp ở lợn
Vi khuẩn có thể tồn tại trong phân, bụi bẩn, xác lợn và ở cả những con ruồi trong một thời gian dài Bệnh có thể truyền qua đường hô hấp, các chất bài tiết, máu của lợn bệnh, lây lan thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua kim tiêm
Trang 22nhiễm trùng Lợn con có thể bị lây nhiễm từ lợn mẹ qua đường hô hấp, đường tiêu hoá và đường máu
Vi khuẩn S suis lây truyền theo đường hô hấp xâm nhập vào hạch amidan,
vòm họng, từ đó di chuyển theo hệ lâm ba tới hạch dưới hàm, cư trú ở các mô; lúc này, cơ thể chưa có dấu hiệu về lâm sàng của bệnh Ở các tổ chức cư trú, chúng sống và nhân lên trong tế bào monocyt rồi chuyển vào xoang dịch não tuỷ, gây nên viêm màng não, có thể thông qua con đường nhiễm trùng huyết để xâm nhập vào màng não, khớp xương và các mô khác (Lê Văn Tạo, 2005)
Vi khuẩn S suis là một trong số các tác nhân gây bệnh quan trọng ở lợn, là
nguyên nhân gây ra bệnh ở các thể cấp tính như bại huyết, viêm não, viêm màng trong tim, viêm khớp, viêm phổi, thường dẫn đến chết ở lợn, đặc biệt ở giai đoạn lợn đã cai sữa và lợn trưởng thành Bệnh do vi khuẩn này gây ra từ lâu đã và đang được coi là một bệnh thu hút được nhiều sự chú ý trong ngành chăn nuôi lợn Bên cạnh đó, tác nhân gây bệnh cũng là nhân tố quan trọng, nguy cơ tiềm tàng gây các bệnh ở người như viêm não, viêm màng trong tim và nhiễm trùng máu Vi khuẩn này là mối nguy hiểm nghề nghiệp đặc biệt quan trọng với những người trực tiếp làm công tác chăn nuôi, thú y, những người làm nghề giết mổ và bán thịt lợn
Tháng 7 và 8/2005, một vụ dịch lớn nhất, chưa từng gặp trong lịch sử ngành chăn nuôi lợn đã xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc gây chết 644 con lợn, gây
nhiễm bệnh cho 208 người, trong đó có 39 người đã tử vong
* Bệnh liên cầu khuẩn do S suis gây ra ở lợn:
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005), bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn hay
còn gọi là bệnh liên cầu ở lợn xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến ở lợn con một vài tuần tuổi đến sau cai sữa vài tuần Đặc trưng lâm sàng của bệnh là nhiễm
trùng huyết, viêm màng não, viêm khớp và viêm phế quản phổi Đặc biệt S suis
type 2 có thể gây bệnh cho người
Thể nhiễm trùng huyết và viêm não có dịch (thường thấy ở lợn từ 2 - 3 tháng tuổi); thể viêm đường hô hấp (ở lợn từ 2 tuần tuổi đến 2 tháng tuổi); thể viêm âm đạo, tử cung (ở lợn cái hậu bị và lợn mang thai); thể viêm vú (ở lợn đang nuôi con); thể viêm hạch (ở lợn sau cai sữa và vỗ béo)
Trang 23- Triệu chứng và bệnh tích: Thời gian nung bệnh từ 6 giờ đến 3 ngày, tuỳ thuộc
số lượng vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, lứa tuổi và sức đề kháng của cơ thể Các thể bệnh thường thấy:
+ Thể nhiễm trùng huyết: Lợn bệnh sốt rất cao 410 - 420C, chảy nước mắt, ly
bì, nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng, lợn bệnh chết trong khoảng 1 -
3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100 % Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ tạng (lách, thận, hạch lâm ba)
+ Thể viêm não tuỷ: Sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn
mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa, lợn từ 2
- 3 tháng tuổi Tỷ lệ chết 100 % Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục
+ Thể viêm họng, viêm phế quản phổi: Sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng
sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thường thấy ở lợn con đang theo mẹ và sau cai sữa Tỷ lệ chết 60 - 70 % Bệnh tích: họng và amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng thũng, tụ huyết
+ Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thũng, sau thành
apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệ chết
20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
- Chẩn đoán: Chủ yếu chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng, bệnh tích,
đặc điểm dịch tễ học của bệnh, phân lập và xác định vi khuẩn S suis trong phòng
thí nghiệm Cần lưu ý khi chẩn đoán, phải tiến hành phân lập vi khuẩn từ một vài cơ quan phủ tạng khác nhau của cùng một lợn mắc bệnh và từ vài lợn trong cùng một đàn để tìm ra serotype gây bệnh chính
Các kỹ thuật sinh học phân tử là công cụ hữu ích giúp phân biệt các chủng S suis phân lập được, xác định nguồn gốc lây nhiễm trong đàn, giúp khống chế ổ dịch
hoặc tìm ra đúng chủng để bổ sung vào vắc xin Gần đây nhiều phòng thí nghiệm đã
phát triển kỹ thuật PCR để giám định vi khuẩn S suis, xác định các yếu tố độc lực
và serotype của chủng vi khuẩn gây bệnh đã được ứng dụng rộng rãi
Trang 24- Phòng bệnh:
+ Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý:
Thường xuyên quét dọn vệ sinh, phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng
Chú trọng công tác chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn Xác định và loại thải những lợn mang mầm bệnh, tách riêng điều trị, hoặc loại thải Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng
Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách ly để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không
có khả năng chữa khỏi phải được loại thải nhằm mục đích thu hẹp và thanh toán được đàn lợn bị bệnh Trong quá trình theo dõi, phải cách ly tuyệt đối không được nhập đàn mới vào, phải tiến hành thường xuyên phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các thuốc sát trùng
- Điều trị: Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị
bằng kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn Với lợn con trước cai sữa và ở giai đoạn đầu của bệnh, nếu sử dụng penicillin và dexametasone sẽ mang lại hiệu quả rất cao Trong thực tế, khi sử dụng penicillin điều
trị bệnh do S suis gây ra, điều trị từng cá thể kết hợp với chăm sóc và nuôi dưỡng tốt
có thể khỏi bệnh hoàn toàn, tránh được tử vong
Ngoài việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh do S suis gây ra, nhiều nước
trên thế giới đã sử dụng huyết thanh đặc hiệu để điều trị bệnh và mang lại kết quả tốt
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về vi khuẩn Actinobacilus
pleuropneumoniae và Streptococcus suis về bệnh viêm phổi ở lợn
1.2.1 Vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vào năm 1957, Pattison và cs là những người đầu tiên phát hiện bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn, tiếp đến Matthews và cs (1961) cũng đã công bố về bệnh Shope và cs (1964), White và cs (1964), đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh và đặt
tên là Haemophilus pleuropneumoniae (H pleuropneumoniae) Năm 1978, Kilian và
cs khẳng định vi khuẩn H pleuropneumoniae là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi
màng phổi ở lợn
Trang 25Năm 1983, Pohl và cs đã phân loại vi khuẩn H pleuropneumoniae vào giống Actinobacillus (A), đặt tên là A pleuropneumoniae do có sự tương đồng về ADN giữa
H pleuropneumoniae và A lignieressi Chủng vi khuẩn gần giống với Pasteurella heamolytica được mô tả là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi - màng phổi hoại tử được coi là một biến thể của A pleuropneumoniae không phụ thuộc vào ADN Pohl
và cs (1983), hiện nay được gọi là A pleuropneumoniae thuộc biotype 2
Từ năm 1995 đến năm 1998, tại Hàn Quốc các nhà khoa học đã phân lập
được 76 chủng A pleuropneumoniae từ lợn mắc bệnh viêm phổi - màng phổi
Trong số đó, tỷ lệ các chủng thuộc serotype 2 chiếm 60,53%; serotype 5 chiếm 26,32%; serotype 6 chiếm 13,16% Bongtae và cs (2001)
Sự phân bố các serotype của A pleuropneumoniae có tính chất địa lý nhất
định, ví dụ serotype 2 chủ yếu có mặt ở châu Âu như ở Thụy Điển, Đức và Thụy Sĩ, còn serotype 1 và 5 ở Mỹ và Canada Taylor DJ (1999); tại Hàn Quốc, các serotype thường gặp là 2, 5, 6, 7 Min và cs (1999); ở Đài Loan thường xuất hiện các serotype
1, 2, 5 Chang và cs (2002)
Việc chẩn đoán bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu Năm 1995, Frey và cs phát triển phương pháp PCR có hiệu quả
trong việc định loại độc tố của các chủng A pleuropneumoniae còn Lairini và cs (1995)
đã dùng kháng thể đơn dòng để xác định độc tố của từng serotype Gram và cs (1998)
đã áp dụng kỹ thuật PCR để chẩn đoán A pleuropneumoniae dựa trên việc xác định
trình tự nucleotide của lipoprotein màng ngoài hoặc dùng huyết thanh với kháng thể
hấp phụ hoặc kháng thể đơn dòng để xác định A pleuropneumoniae Đến năm 2000 các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp PCR để xác định serotype của A pleuropneumoniae dựa trên các gen apx và omlA (Gram và cs, 2000)
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam bệnh VPMP có đặc tính lây lan mạnh, ảnh hưởng tới tăng trọng, tỷ lệ loại thải và chất lượng con giống Ngoài ra chi phí điều trị cũng rất cao, gây nhiều tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi Đặc biệt trong những năm
gần đây, vi khuẩn A pleuropneumoniae đã được phân lập và xác định là một tác
nhân gây bệnh nhiễm trùng hô hấp khá quan trọng cho lợn nuôi ở tất cả các trại lợn quy mô lớn
Trang 26Trịnh Quang Hiệp và cs (2004), đã phân lập được A pleuropneumoniae
ở 17 mẫu trong tổng số 250 mẫu là dịch ngoáy mũi lợn nuôi tại 3 trại lợn của Thái Bình và Hải Phòng Trong 30 mẫu là tổ chức phổi và hạch lympho thu thập từ lợn có triệu chứng viêm phổi đã phát hiện thấy có 1 mẫu dương tính
với A pleuropneumoniae
Cù Hữu Phú và cs (2004), đã xác định tỷ lệ nhiễm, các đặc tính sinh vật hóa học, độc lực trên chuột, mức độ mẫn cảm với kháng sinh của 5 loại vi khuẩn được xem là nguyên nhân chính gây bệnh hô hấp ở lợn Kết quả cho thấy có nhiều vi
khuẩn gây bệnh cư trú tại đường hô hấp của lợn, trong đó A pleuropneumoniae cư trú chủ yếu ở niêm mạc đường hô hấp trên A pleuropneumoniae tồn tại thường
xuyên ở niêm dịch và chỉ gây bệnh khi có đủ các điều kiện cần thiết như: Độc lực của vi khuẩn cao, sức đề kháng của con vật giảm sút hay yếu tố môi trường khắc nghiệt Kiểm tra các mẫu bệnh phẩm của lợn khỏe và lợn bệnh cho thấy trong số
542 mẫu dịch ngoáy mũi của lợn dưới 3 tháng tuổi, số mẫu phân lập được A pleuropneumoniae là 43 mẫu (7,93%) và chỉ có 1/53 (0,19%) mẫu phổi, hạch phổi của lợn dương tính với A pleuropneumoniae Kết quả xác định serotype của 44
chủng vi khuẩn phân lập được cho thấy chúng thuộc serotype 1, 2, 5 (có 19 chủng thuộc serotype 2 chiếm 43,18%, 22 chủng thuộc serotype 5 chiếm 50%)
Đặng Xuân Bình và cs (2007), đã phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae từ 37
mẫu bệnh phẩm phổi lợn chết hoặc sắp chết có triệu chứng viêm phổi, tại các trại chăn nuôi lợn của Hà Tây và Thái Nguyên Kết quả phân lập cho thấy tỷ lệ dương
tính với A pleuropneumoniae là 37,83%
Nguyễn Thị Thu Hằng (2010), tỷ lệ phân lập A pleuropneumoniae từ 79
mẫu bệnh phẩm lấy ở lợn bị viêm phổi - màng phổi tại các địa phương rất khác
nhau Bệnh phẩm lấy tại Hải Phòng có tỷ lệ phân lập được A pleuropneumoniae
cao nhất (61,43%), tiếp đến Thái Nguyên (54,17%), Hà Nội và Bắc Giang (50%), Thái Bình (46,67%), thấp nhất là Hà Tây (33,33%)
Từ những nghiên cứu trên có thể thấy A pleropneumoniae là vi khuẩn mới
được quan tâm tại Việt Nam trong thời gian gần đây, tuy tỷ lệ phát hiện được chưa cao, song sự có mặt của chúng đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong bệnh viêm phổi
- màng phổi ở lợn tại Việt Nam
Trang 271.2.2 Vi khuẩn Streptococcus suis
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vi khuẩn S suis là một trong số các tác nhân gây bệnh quan trọng và gây ra
những thiệt hại đáng kể trong chăn nuôi lợn công nghiệp Các thông báo đầu tiên về
bệnh do S suis gây ra ở lợn đã được chính thức xác nhận lần đầu tiên ở Hà Lan vào
năm 1951 (Jansen và Van Dorssen, 1951) và ở Anh vào năm 1954 (Field và cs, 1954) Kể từ đó, bệnh đã được thông báo là xảy ở hầu khắp các nước trên thế giới - nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển (Higgins và Gottschalk, 2002)
Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất ở
giai đoạn 3 - 16 tuần tuổi do lợn thời kỳ sau cai sữa trở nên đặc biệt mẫn cảm với vi
khuẩn này Lamont và cs (1980) Vi khuẩn S suis là nguyên nhân gây ra các thể
bệnh như viêm phế quản - phổi, viêm màng phổi và viêm phổi ở các lứa tuổi của lợn Erickson và cs (1984) Các triệu chứng của bệnh do vi khuẩn này gây ra ở lợn
có sự sai khác nhau giữa các quốc gia Higgins and Gottschalk (2002) và rất đa dạng, bao gồm như viêm não, nhiễm trùng máu, viêm khớp, viêm nội tâm mạc, viêm đa thanh mạc, viêm màng bụng, viêm phổi, và thường dẫn đến chết đột ngột Higgins and Gottschalk (2002); Lun và cs (2007) Ngoài ra, vi khuẩn còn có thể phân lập được trong các trường hợp lợn bị viêm teo mũi và sảy thai
Ở Anh, bệnh do S suis type 2 chủ yếu là gây ra các triệu chứng như bại
huyết và viêm não ở lợn cai sữa (Windsor và Elliott, 1975) Trong khi đó, ở các
nước Bắc Mỹ, các báo cáo đều cho thấy S suis là vi khuẩn chủ yếu phân lập được
từ những lợn bị viêm phổi (Koehne và cs, 1979; Erickson và cs, 1984)
Các chủng S suis thuộc các serotype khác (không phải type 2) cũng đã phân
lập được từ lợn bị viêm phổi - màng phổi tại Đan Mạch Perch và cs (1983), Hà Lan Vecht và cs (1985), Bỉ Hommez và cs (1986), Phần Lan Sihvonen và cs (1988), Australia Gogolewski và cs (1990), Canada Higgins và cs (1990), (Gottschalk và cs, 1991a, 1991b) và Mỹ Reams và cs (1994)
Các chủng thuộc S suis type 2 thường gây ra bệnh cho lợn giai đoạn sau
cai sữa và vỗ béo (4 - 16 tuần tuổi) với rất nhiều thể bệnh như viêm não, viêm nội tâm mạc, ngoại tâm mạc, cơ tim hoại tử, viêm phổi, viêm khớp và bại huyết (Vetcht và cs, 1985), (Sanford 1987a, 1987b); (Gogolewski và cs, 1990) Bệnh
Trang 28thường xảy ra sau khi lợn khoẻ được nuôi hoặc nhốt chung với lợn bệnh và thường gây chết đột ngột với các triệu chứng như sốt, thần kinh và viêm khớp
Tại Hà Lan, tỷ lệ S suis type 2 có liên quan đến viêm phổi chiếm 42% các trường
hợp mắc bệnh, tiếp đến là viêm não (18%), viêm nội tâm mạc (18%), và viêm đa thanh mạc (10%) (Vecht và cs, 1985) Kataoka và cs, 1993, nghiên cứu ở Nhật Bản
đã cho biết kết quả là 38% số chủng S suis phân lập được từ lợn bị viêm não và
33% từ lợn bị viêm phổi
Những nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy S suis type 2 có thể lây từ đàn
này sang đàn khác do sự di chuyển của một số cá thể nào đó trong đàn Ngay trong cùng một đàn, sự lây lan chủ yếu là do tiếp xúc giữa các cá thể với nhau hoặc với chất thải nhiễm vi khuẩn Ngoài ra, các vật chủ trung gian cũng đóng vai trò quan
trọng trong quá trình truyền lây S suis Enright và cs (1987),Sarkozi và cs (2018)
đã chứng minh ruồi có thể mang S suis type 2 trong vòng ít nhất là 5 ngày và có thể
gây nhiễm thức ăn và nguyên liệu mà chúng đậu vào trong vòng ít nhất là 4 ngày Bởi vậy, chính ruồi đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan dịch bệnh giữa các cá thể trong cùng một đàn và giữa các đàn Vai trò của các loài động vật khác,
kể cả chim như là nguồn lây nhiễm vẫn còn đang được tiến hành nghiên cứu Chính con người cũng có thể là nguồn mang trùng Sala và cs (1989), Prufer và cs (2019)
Trong khi đó, vi khuẩn S suis type 1 thường gây bệnh cho lợn con đang
theo mẹ (1 - 3 tuần tuổi), có khi tới 6 tuần tuổi và thường ở thể bại huyết hoặc các nhiễm trùng tại chỗ như viêm màng não, viêm não, viêm khớp, viêm nội tâm mạc,
đặc biệt là lợn con từ 1 - 7 ngày tuổi (Cook và cs, 1988) Đôi khi, nhóm vi khuẩn
thuộc type 2 cũng gây bệnh cho lứa tuổi này, nhưng thường ít gặp hơn Lợn con bị nhiễm bệnh là do lợn mẹ truyền qua đường hô hấp, đường tiêu hoá (do tiếp xúc với phân, các chất thải hoặc các chất tiết khác), đường máu (do tiếp xúc trực tiếp hoặc qua kim tiêm nhiễm trùng) Với một số cá thể, hiện tượng nhiễm khuẩn chỉ biểu hiện ở dạng nhiễm khuẩn qua máu và không bao giờ phát bệnh Tuy nhiên, với một
số cá thể khác, vi khuẩn sẽ gây bệnh và biểu hiện bằng hiện tượng nhiễm trùng máu hoặc vi khuẩn di chuyển đến hệ thần kinh trung ương, gây viêm màng não và đây chính là biểu hiện bệnh lý quan trọng nhất
Trang 29Những năm sau đó, các nghiên cứu từ Anh lại kết luận vi khuẩn này là nguyên nhân chính gây bại huyết, viêm não và viêm đa khớp, ít khi gây viêm phổi MacLennan và cs (1996), Heath và cs (1996); trong khi đó, các bệnh tích ở phổi vẫn
là chủ yếu trong các trường hợp lợn bị bệnh tại Bắc Mỹ (Reams và cs,1994, Hogg
và cs, 1996,Kim và cs, 2016)
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nội và Nguyễn Ngọc Nhiên (1993), về vi khuẩn đường hô hấp của 162 lợn bị bệnh ho thở truyền nhiễm
cho thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn S suis là 74%
Từ các kết quả nghiên cứu về bệnh cầu khuẩn ở lợn, Khương Thị Bích Ngọc (1996), đã chế tạo vắc xin cầu khuẩn chết có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt hiệu quả bảo hộ cao
Cù Hữu Phú (1998), đã phân lập được vi khuẩn S suis từ bệnh phẩm của lợn
ốm chết nghi do vi khuẩn S suis gây ra ở cả 2 phương thức chăn nuôi là rất cao,
trong đó chăn nuôi tập trung chiếm 93,9%, chăn nuôi hộ gia đình chiếm 95,3%
Năm 2005, chính Trung Quốc cũng đã kiểm soát dịch bệnh do S suis gây ra ở lợn bằng vắc xin vô hoạt chế từ các chủng S suis serotype 2 (Lê Văn Tạo và Đỗ Ngọc
Liên cầu lợn ở người là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do vi khuẩn liên cầu lợn lây truyền từ động vật sang người, chủ yếu là từ lợn mắc bệnh Theo số liệu thống
kê của Cục Y tế Dự phòng, năm 2005, dịch Liên cầu lợn ở người đã xảy ra tại Trung Quốc đã làm 215 người mắc, trong đó có 39 ca tử vong (chiếm tỷ lệ 18,1%)
Trong những năm gần đây bệnh Liên cầu lợn đã xuất hiện tại nhiều địa phương trên toàn quốc, năm 2017, cả nước ghi nhận 169 trường hợp mắc bệnh
Trang 30Nguyên nhân gây bệnh Liên cầu lợn là liên cầu khuẩn S.suis Ở động vật, vi
khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp trên đặc biệt là xoang mũi và hạch hạnh nhân Tuy nhiên, vi khuẩn cũng có thể có trong đường tiêu hóa và đường sinh dục của lợn Dựa vào đặc điểm ở lớp vỏ bọc vi khuẩn, người ta đã xác định vi khuẩn có 35
týp huyết thanh, trong đó, S.suis týp II thường gây bệnh ở người S suis chủ yếu
sống ở lợn nhà nhưng đôi khi cũng tìm thấy ở các loài lợn rừng, ngựa, chó, mèo và chim nhưng những loài động vật này chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi chúng mới gây nguy hiểm Bên cạnh đó, phân, chất độn chuồng, các loại thức ăn và nước uống trong chuồng nuôi có thể trở thành nguồn bệnh thứ cấp do đó bệnh cũng có thể lây truyền qua các động vật khác như ruồi, gián, chuột
Bệnh Liên cầu lợn được lây truyền sang người khi người tiếp xúc với lợn bệnh hay lợn mang vi khuẩn qua các tổn thương nhỏ, trầy xước trên da của những người giết mổ, chế biến và ăn thịt lợn bệnh hay lợn mang vi khuẩn nấu không chín Tuy nhiên, vi khuẩn này có sức đề kháng kém, dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn
1.3 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
1.3.1 Một số đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh viêm phổi ở lợn
Tân Yên là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có phạm vi ranh giới như sau:
+ Phía Đông giáp huyện Lạng Giang
+ Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Hiệp Hòa
Trang 31+ Phía Nam giáp thành phố Bắc Giang và huyện Việt Yên
+ Phía Bắc giáp huyện Yên Thế và huyện Phú Bình (Thái Nguyên)
Huyện có toạ độ địa lý:
Huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang có có 20 xã và 2 thị trấn địa hình có thể chia thành
3 dạng chính:
- Địa hình đồi núi thấp nằm ở phía đông và phía Bắc; Vùng trung du nằm ở phía Tây; vùng thấp nằm ở phía Nam Độ cao trung bình của huyện 10 - 15m so với mực nước biển, điểm cao nhất là núi Đót 121,8m (thuộc xã Phúc Sơn), điểm thấp nhất 1,0m (thuộc cánh đồng Chủ xã Quế Nham) Đất độ dốc 8 độ có 12.563 ha chiếm 61,5%; từ 8 - 15 độ có 1563 ha; từ 15 - 25 độ có 2960 ha; trên 25 độ có 3.346
ha chiếm 16,4% so với tổng diện tích đất tự nhiên
- Tổng diện tích đất tự nhiên: 20.441,85 ha trong đó: Đất nông nghiệp 12.825,62 ha, chiếm 62,74% trong đó đất sản xuất nông nghiệp 11.343,94 ha, đất lâm nghiệp 665,14 ha, đất nuôi trồng thủy sản 776,24 ha, đất nông nghiệp khác 40,3 ha
- Huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm, 2 mùa rõ rệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, nóng và mưa nhiều, lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa trong năm, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô, hanh, mưa ít chỉ khoảng 10% tổng lượng mưa trong năm
Trang 32Tính 5 năm 2000 - 2004 có tổng giờ nắng trung bình 1475,5 giờ/ năm, lượng mưa trung bình 1407,3mm/ năm, độ ẩm tb 82,1% và nhiệt độ tb 23,9 độ c
- Huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang có Sông Thương dài 178 km, bắt đầu từ bản thí tỉnh Lạng Sơn chảy về Phả Lại Đoạn sông chảy qua Tân Yên dài 16 km hình thành biên giới của huyện (tại xã Phúc Hòa, Hợp Đức, Liên Chung, Việt Lập
và Quế Nham) với huyện Lạng Giang Sông có độ dốc lớn, về mùa lũ có độ cao chênh lệch từ 3 - 5 cm/ km Lòng sông hẹp bình quân 80 -100m, lưu lượng 52,0 m3/s, thường có lũ sớm nhất là tháng 5 và muộn nhất là tháng 10
Đặc điểm địa hình và khí hậu ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật, trong đó có tác động đáng kể đến tình hình dịch bệnh trên đàn lợn và đặc biệt là bệnh viêm phổi
1.3.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn
Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang những năm vừa qua diễn biến hết sức phức tạp đã gây tổn thất khá lớn cho phát triển của ngành chăn nuôi
Tổng hợp các báo cáo dịch tễ của Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang trong 2 năm (từ 2011-2012) cho thấy, dịch bệnh trên đàn lợn có trên 8 loại bệnh thường xuyên xảy ra với số lượng: Năm 2011 toàn huyện có 7.217 con lợn bị ốm, 895 con chết; năm 2012 toàn huyện có 8.427 con lợn bị ốm, 901 con chết
Tỷ lệ bệnh viêm phổi ở lợn hai năm 2011, 2012 xảy ra phổ biến chiếm tỷ lệ 40% so với tổng số các ca bệnh thường gặp ở lợn, riêng từ tháng 1 đến tháng 5 năm
2013 số lợn mắc bệnh viêm phổi là 1.565 con / 3.025 con mắc các ca bệnh thông thường (chiếm tỷ lệ 51,73%)
Qua số liệu thống kê hàng tháng chúng tôi thấy: bệnh viêm phổi ở lợn xảy ra quanh năm và xảy ra nhiều vào từ tháng 6 đến tháng 11
Nhìn chung, tình hình dịch bệnh viêm phổi tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang có diễn biến khá phức tạp và gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi Do đó, việc nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh để đề ra các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương là hết sức cấp bách và cần thiết
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn ở các lứa tuổi mắc bệnh viêm phổi tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Vi khuẩn A pleuropneumoniae và S suis gây bệnh viêm phổi ở lợn
- Thời gian: Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 7 năm 2021
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh viêm phổi lợn tại một số xã của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis
- Xác định độc lực của Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis
- Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae và Streptococcus suis phân lập được
- Xác định Serotype của các chủng vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae
và Streptococcus suis
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi ở lợn
2.3 Vật liệu dùng nghiên cứu
2.3.1 Mẫu bệnh phẩm
Mẫu bệnh phẩm được lấy bao gồm máu tim và các cơ quan phủ tạng (gan, lách, phổi) của các con lợn ốm hoặc chết có triệu chứng, bệnh tích nghi mắc bệnh viêm phổi
2.3.2 Các loại môi trường, hoá chất
- Các loại môi trường dùng để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn do hãng Oxoid
(Anh) và Merck (Pháp) sản xuất:
Trang 34- Môi trường thông thường: Nước thịt, thạch thường, nước thịt gan yếm khí,
thạch Sabauraud, SCD (Soybean Casein Digest)
- Môi trường phân lập vi khuẩn và tăng sinh: thạch BHI có bổ sung 5% máu
cừu hoặc máu bò; thạch chocolate; thạch TSA (Tryptone soya agar) có bổ xung 1-3% fresh Yeast Extract; TSB (Tryptone soya broth) có bổ xung 1-3% fresh Yeast Extract và 5% huyết thanh ngựa; nước thịt TYE (Tryptone Yeast Extract Broth); thạch dinh dưỡng PPLO có bổ xung 0,1% glucose; 8-10% YE tươi và 5% huyết thanh ngựa
- Môi trường xác định các đặc tính sinh hóa: Oxidase, Catalase, Indol,
Urerase, O.N.P.G (Ortho-nitrophenyl B-D galactophyranosid để phát hiện galactosidase) Các loại đường: Glucose, Mannitol, Trehalose, Arabinose, Lactose, Raffinose, Maltose, môi trường TMB dạng dung dịch và dạng thạch
- Các vật liệu hóa chất khác: Giấy thử phản ứng Oxidase, dung dịch H2O2 3%, thuốc thử Kovac’s, giấy tẩm kháng sinh, huyết thanh ngựa, ADN, thiamine
2.3.3 Động vật thí nghiệm
Chuột nhắt trắng khoẻ mạnh đủ điều kiện thí nghiệm, có khối lượng trung bình từ 18 - 20g/con
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (Descriptive study) dịch tễ học phân tích (Analysic study) và dịch tễ học thực nghiệm của Nguyễn Như Thanh (2001), Nguyễn Văn Thiện (1997)
- Dùng phương pháp nghiên cứu cắt ngang tìm căn nguyên của bệnh So sánh tần suất của bệnh viêm phổi giữa các nhóm khác nhau, các cá thể trong cùng nhóm, cũng như các yếu tố nguy cơ, các thông tin khác đều được tiến hành trong cùng thời điểm nghiên cứu
- Mỗi chuột được tiêm 0,5ml canh trùng nuôi cấy ở 37°C/24 giờ (~2 x 106 vi khuẩn/chuột) vào phúc xoang Số chuột được theo dõi thời gian chết trong vòng 7 ngày Chuột chết được tiến hành mổ khám, kiểm tra bệnh tích và phân lập lại vi khuẩn từ máu tim
Trang 352.4.1 Chọn mẫu điều tra
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, mẫu chùm nhiều bậc Chọn ngẫu nhiên 3 xã, mỗi xã ngẫu nhiên chọn 3 thôn; trong thôn điều tra các hộ chăn nuôi lợn
- Số xã được điều tra: 3; số thôn, xóm là: 9
- Số lần điều tra: 4 lần theo các mùa (mùa Thu, mùa Đông trong năm 2020; mùa Xuân, mùa Hè trong năm 2021)
2.4.2 Phương pháp
- Trực tiếp quan sát để phát hiện lợn mắc bệnh viêm phổi ở mọi lứa tuổi Những lợn có triệu chứng ho, khó thở, sốt, kém ăn… được coi là bị mắc bệnh viêm phổi
- Phỏng vấn chủ hộ chăn nuôi về những thông tin cần thiết
- Thông tin điều tra được ghi vào các phiếu điều tra
2.4.3 Nội dung điều tra, theo dõi
- Số lợn mắc bệnh viêm phổi và chết do bệnh viêm phổi tại các hộ, các trang trại chăn nuôi
- Các triệu chứng thường gặp ở lợn mắc bệnh viêm phổi
- Phương thức chăn nuôi và việc thực hiện vệ sinh chuồng trại
2.4.4 Các phương pháp đo lường trong dịch tễ
Số lợn viêm phổi
Tỷ lệ lợn mắc viêm phổi (%) = x 100
Tổng số lợn điều tra
Số lợn mắc viêm phổi theo độ tuổi
Tỷ lệ mắc viêm phổi theo độ tuổi (%) = x 100
Tổng số lợn theo độ tuổi được điều tra
Trang 36Theo Nguyễn Như Thanh (2001), nguy cơ tương đối biểu thị bằng các nguy cơ so sánh và được định nghĩa là nguy cơ phát triển một bệnh trong số các
cá thể có cảm nhiễm (có tiếp xúc) với yếu tố nguy cơ nghi ngờ, được so sánh với nguy cơ phát triển bệnh đó, trong số các cá thể không cảm nhiễm (không tiếp xúc) với yếu tố nguy cơ đó
Để so sánh một yếu tố nguy cơ với các nhóm bệnh và nhóm đối chứng liệu dịch tễ học được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.1 So sánh yếu tố nguy cơ Khai thác sau
khi chọn
Chủ động chọn vào nghiên cứu
Bệnh trạng
Cộng
Cảm nhiễm khi tiếp
xúc với nguy cơ
Trong đó:
a: Số gia súc được chọn là có bệnh, có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
b: Số gia súc không có bệnh, nhưng tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
c: Số gia súc có bệnh nhưng không có tiếp xúc
d: Số gia súc không có bệnh và cũng không có tiếp xúc
Nguy cơ tương đối được tính theo công thức sau:
Io c c d Trong đó:
Ielà tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm có cảm nhiễm với yếu tố nguy cơ
Io là tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm không cảm nhiễm với yếu tố nguy cơ
Trang 37* Dùng khi bình phương (χ 2 )so sánh tần suất bệnh:
Bằng công thức của Nguyễn Văn Thiện và cs (2002):
2.5.2 Phân lập và giám định vi khuẩn
Các phương pháp nuôi cấy và giám định vi khuẩn được thực hiện theo quy trình thường quy của Phòng Thí nghiệm vi sinh - Viện khoa học sự sống - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Các mẫu bệnh phẩm được ria cấy trên các loại môi trường như nước thịt thường, thạch máu, thạch Mac Conkey, thạch chocolate Bệnh phẩm trước khi ria cấy vào các môi trường phải dùng bông tẩm cồn đốt mặt ngoài để diệt tạp khuẩn Sau đó dùng kéo đã được sát trùng cẩn thận cắt sâu vào bên trong phần đã đốt, lấy
Trang 38một mẩu nhỏ các mô, rồi phết lên mặt các loại môi trường thạch, đồng thời cho vào môi trường nước thịt, bồi dưỡng ở tủ ấm 37oC trong 24 giờ Căn cứ vào tính chất mọc và hình thái của khuẩn lạc trên các môi trường sẽ tiến hành chọn khuẩn lạc
nghi của A pleuropneumoniae và S suis, phết kính nhuộm Gram kiểm tra hình thái
vi khuẩn dưới kính hiển vi, đồng thời tiến hành giám định vi khuẩn qua các phản ứng sinh hóa và cấy giữ giống để dùng cho các nghiên cứu tiếp theo Có thể tóm tắt
phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn từ bệnh phẩm theo sơ đồ sau:
Sơ đồ phân lập vi khuẩn Phòng thí nghiệm vi sinh Viện khoa học sự sống
Mẫu bệnh phẩm
Nuôi cấy trên các môi trường:
Nước thịt, thạch máu, thạch Mac Conkey, thạch Chocolate
Chọn, thuần khiết từng loại khuẩn lạc Nhuộm Gram kiểm tra hình thái vi khuẩn Giám định vi khuẩn qua các đặc tính sinh hoá và lên men đường
2.6 Phương pháp kiểm tra các đặc tính sinh hoá và khả năng lên men đường của các chủng vi khuẩn phân lập được
- Thử phản ứng Oxydase: Tiến hành trên giấy được thấm 1% dung dịch
Tetrametyl-p-Phenylenediamine hydrochloride Dùng que cấy bạch kim lấy khuẩn lạc từ môi trường thạch bôi lên trên mặt giấy đã thấm thuốc thử Nếu thấy xuất hiện màu tím đen sau 30 giây là phản ứng dương tính Nếu không thấy xuất hiện màu tím
Kiểm tra độc lực Xác định serotype
Kiểm tra khả năng mẫn cảm với kháng sinh
Trang 39đen hoặc không đổi màu là phản ứng âm tính
- Thử phản ứng Catalase: Dùng phiến kính sạch, nhỏ một giọt dung dịch oxy
già (H2O2 3%) lên trên, que cấy bạch kim lấy khuẩn lạc từ môi trường thạch trộn đều với giọt H2O2 3%, nếu có hiện tượng sủi bọt là phản ứng dương tính
- Thử phản ứng sinh Indol: Cấy chủng vi khuẩn cần kiểm tra vào môi trường
nước thịt Để tủ ấm ở 370C trong 24 giờ Nhỏ 0,5 ml dung dịch Kovac’s vào, phản
ứng dương tính khi quan sát thấy một vòng màu đỏ trên mặt môi trường
- Thử phản ứng lên men đường: Cấy chủng vi khuẩn cần kiểm tra vào môi
trường nước thịt, nuôi ở tủ ấm 370C trong 24 giờ, sau đó nhỏ 0,2 ml canh khuẩn vào dung dịch đường đã chuẩn bị trước Sau 24 giờ giữ ở tủ ấm 370C, nếu quan sát thấy màu của môi trường thay đổi thành mầu đỏ là dương tính, nếu vi khuẩn có sinh hơi
sẽ thấy hơi trong ống Durham và đẩy mực nước trong ống Durham xuống
* Phương pháp thực hiện các phản ứng nhận biết cấp I đối với S suis
- Kiểm tra khả năng dung huyết: Quan sát khả năng làm tan huyết xung quanh khuẩn lạc của chủng vi khuẩn cần kiểm tra sau khi đã nuôi cấy trên đĩa thạch máu cừu, ủ ở tủ ấm 37oC (5% CO2) qua 24 giờ
+ Dung huyết kiểu α: Vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc thường có màu xanh (dung huyết từng phần hay dung huyết không hoàn toàn)
+ Dung huyết kiểu β: Bao quanh khuẩn lạc là một vùng tan máu hoàn toàn trong suốt, có bờ rõ ràng do Hemoglobin bị phân huỷ hoàn toàn
+ Dung huyết kiểu γ (hay còn gọi là không dung huyết): Không làm biến đổi thạch máu
- Phản ứng với KOH: Dùng que cấy nhựa, phết khuẩn lạc của vi khuẩn S suis mọc trên môi trường thạch máu lên một phiến kính sạch Sau khi nhỏ 1 giọt
dung dịch KOH 3% không thấy có hiện tượng tạo thành lớp keo dính giữa khuẩn lạc và thuốc thử trong vòng 60 giây có nghĩa là chủng vi khuẩn kiểm tra được đánh
giá là phản ứng âm tính Vi khuẩn S suis cho phản ứng với KOH 3% âm tính
- Phản ứng Catalase: Thực hiện tương tự như trong phản ứng với KOH, chỉ khác là thay thuốc thử KOH 3% bằng dung dịch H2O2 3% Nếu không quan sát thấy hiện tượng sủi bong bóng trong vòng vài giây có nghĩa là chủng vi
Trang 40khuẩn kiểm tra sẽ được đánh giá là có phản ứng Catalase âm tính Vi khuẩn S suis cho phản ứng Catalase âm tính
- Kiểm tra khả năng phát triển trong môi trường NaCl 6.5%: Chủng vi khuẩn cần kiểm tra được cấy vào môi trường NaCl 6.5% Sau khi ủ ở tủ ấm 37oC trong 24 giờ, nếu quan sát không thấy môi trường có hiện tượng đục là phản ứng âm tính Vi
khuẩn S suis không phát triển trong môi trường NaCl 6.5% (phản ứng âm tính)
* Phương pháp thực hiện hệ thống API 20 Strep đối với S suis
Sau khi thực hiện phản ứng nhận biết cấp I, chỉ các chủng vi khuẩn được kết
luận là S suis mới được tiến hành các phản ứng với hệ thống định danh API 20 Strep
Việc thực hiện hệ thống API20 Strep với các chủng vi khuẩn đã được xác
định là S suis nhằm các mục đích: Định danh và giám định vi khuẩn S suis; nghiên
cứu một số đặc tính sinh vật, hoá học của chúng
Cách tiến hành như sau: Mỗi chủng vi khuẩn cần kiểm tra được cấy thành một lớp dày đặc trên mặt đĩa thạch máu Columbia, nuôi cấy ở 370C/24 giờ (5%
CO2) Dùng tăm bông vô trùng thu hoạch vi khuẩn từ đĩa thạch, rồi hòa tan vào 2 ml nước cất vô trùng để đạt được độ đục tương đương với ống số 4 của dãy so độ đục chuẩn McFarland Trong khay nhựa đã có chứa các loại thuốc thử, tiến hành nhỏ khoảng 100µl huyễn dịch này vào mỗi lỗ đối với các phản ứng từ VP đến ADH Phần huyễn dịch còn lại được trộn đều với 1 ampule môi trường API GP có sẵn trong bộ kit thử và nhỏ vào các lỗ còn lại, từ ADH đến GLYG Toàn bộ khay nhựa
có chứa các phản ứng được đặt vào một giá nhựa có chứa khoảng 5 ml nước cất bên dưới để làm ẩm Ủ ở tủ ấm 370C Sau 4 giờ, tiến hành nhỏ các thuốc thử thích hợp:
VP 1 và VP 2 đối với phản ứng VP, NIN đối với phản ứng HIP, ZYM A và ZYM B đối với các phản ứng PYRA, αGAL, βGUR, βGAL, PAL và LAP, rồi tiến hành đọc kết quả sau 10 phút Đối với một số phản ứng, nếu kết quả chưa rõ ràng có thể đọc lại sau 24 giờ
Cách đọc kết quả: Các phản ứng được đánh giá là dương tính hay âm tính dựa vào một bảng so màu sẵn được cung cấp bởi nhà sản xuất, được tính điểm và
mã hóa bằng các chữ số Kết quả của mỗi chủng vi khuẩn, cuối cùng sẽ được hiển