1 BÀI THẢO LUẬN CHÍNH SÁCH KINH TẾ XÃ HỘI Đề tài Phân tích và đánh giá chính sách y tế về bảo hiểm y tế cho học sinh sinh viên ở Việt Nam giai đoạn 2019 2022 1 lOMoARcPSD|15978022 https //www studocu[.]
Trang 1BÀI THẢO LUẬN CHÍNH SÁCH KINH TẾ- XÃ HỘI
Đề tàiPhân tích và đánh giá chính sách y tế về bảo hiểm y tế cho học sinh sinh viên ở
Việt Nam giai đoạn 2019-2022
1
Trang 2CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH Y TẾ, CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ
1.1 Khái niệm
Khái niệm Chính sách y tế: Chính sách y tế là các định hướng mang tính
chiến lược trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân từ Trung ương đếnđịa phương với mục tiêu đáp ứng nhu cầu về y tế một cách công bằng, cóhiệu quả và đảm bảo phát triển xã hội bền vững
Khái niệm Bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế hay bảo hiểm sức khỏe là một hình
thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trảthay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí muathuốc men khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộcđược áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế đểchăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thựchiện
1.2 Nội dung
Nội dung của chính sách y tế:
+ Chính sách y tế xã hội: là một trong những giải pháp nhằm hỗ trợ các
nhóm dân cư nghèo nhất trong xã hội thông qua hỗ trợ việc làm, hỗ trợ pháttriển kinh tế, hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình, cung cấp nước sạch và đảm bảo vệsinh môi trường, hỗ trợ giáo dục đào tạo,bảo tồn văn hóa và hỗ trợ trong y tế
+ Chính sách tài chính y tế: Chính sách thu một phần viện phí được Chính
phủ ban hành từ năm 1989 trong bối cảnh hệ thống bệnh viện công không cònnhận toàn bộ kinh phí hoạt động như thời kỳ bao cấp trước đó Do phải trảviện phí cũng như các chi phí khác khi có người nằm viện nhóm nghèo nhấtrất khó đến được các cơ sở khám chữa bệnh có kỹ thuật cao Chính vì vậy,chính sách bảo hiểm y tế toàn dân được khởi xướng nhằm khai thác thế mạnhcủa bảo hiểm y tế – cơ chế trả trước và bao cấp chéo, chia sẻ rủi ro của nhóm
có thu nhập cao cho nhóm có thu nhập thấp Bảo hiểm y tế (BHYT) được coi
là một giải pháp quan trọng giảm bớt sự mất công bằng trong tiếp cận và sửdụng dịch vụ y tế
+ Chính sách liên quan đến khám chữa bệnh: Năm 2002, Chính phủ ra
Quyết định 139/2002/QĐ-TTg (QĐ-139) cho phép lấy ngân sách Nhà nước(từ Trung ương) để xây dựng Quỹ Khám chữa bệnh cho người nghèo Trong
Trang 3đó các tỉnh tự quản lý quỹ này và sử dụng để mua thẻ BHYT hoặc thực hiệnthực thanh
Trang 4thực chi cho người ốm khi phải đến bệnh viện Quỹ này tăng hàng năm,không cho phép kết dư trong quỹ BHYT đối với các thẻ BHYT cấp chongười nghèo QĐ-139 đã làm tăng đáng kể chi phí cho người nghèo từ ngânsách Nhà nước Đây là một quyết định hết sức đúng đắn nhằm giảm bớt sựmất công bằng trong tiếp cận với bệnh viện của người nghèo Hiện nay cảnước có khoảng 8,5 triệu trẻ em dưới 6 tuổi, nhóm tuổi này có tỷ lệ ốm đaucao nhất nên Quốc hội đã thông qua chính sách khám chữa bệnh miễn phí chotrẻ em dưới 6 tuổi từ 1/1/2005.
+ Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội: bệnh
dịch nguy hiểm và HIV/AIDS
Nội dung của chính sách bảo hiểm y tế:
+ Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế: Hiện bảo hiểm y tế có 2 hình thức tham
gia là bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện Đối với bảo hiểm y
tế bắt buộc có 6 nhóm đối tượng tham gia BHYT được quy định tại Nghị định146/2018/NĐ-CP, đó là:
Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động
Nhóm do cơ quan BHXH đóng
Nhóm so ngân sách Nhà nước đóng
Nhóm được ngân sách Nhà nước hỗ trợ mức đóng
+ Mức đóng bảo hiểm y tế: Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định
146/2018/NĐ-CP, người lao động phải đóng 4,5% mức lương cơ sở, tiềnlương hàng tháng hoặc tiền trợ cấp tháng Đối với đối tượng tham gia BHYTtheo hình thức hộ gia đình, mức đóng bảo hiểm được tính như sau:
Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở
Người thứ hai đóng bằng 70% mức đóng của người thứ nhất
Người thứ ba đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất
+ Mua bảo hiểm y tế:
Với học sinh, sinh viên: Học sinh, sinh viên có thể tham gia BHYT ngay tạitrường mà mình đang theo học
Trang 5 Với hộ gia đình: Hộ gia đình có thể đăng ký tham gia BHYT tại Ủy ban nhândân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc Đại lý thu trên địa bàn.
Với các cá nhân khác: Những đối tượng việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổchức và người được Nhà nước hỗ trợ sẽ đóng BHYT tại chính đơn vị nơi đanglàm việc hoặc tại cơ quan BHXH trên địa bàn
+ Quyền lợi bảo hiểm y tế:
Được tùy chọn một cơ sở y tế khám chữa bệnh: Người tham gia bảo hiểm y tếđược lựa chọn một cơ sở y tế thuận lợi gần nơi công tác hoặc nơi cư trú theohướng dẫn của Cơ quan bảo hiểm xã hội để đăng ký khám bệnh, chữa bệnhban đầu, được đổi nơi đăng ký ban đầu vào đầu mỗi quý Được giảm chi phíkhám chữa bệnh: Tùy vào từng đối tượng và tình hình bệnh tật, tai nạn…màngười tham gia bảo hiểm y tế sẽ được miễn phí hoàn toàn hoặc một phần chiphí điều trị, chi phí khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công cộng
1.3 Vai trò
Vai trò của chính sách y tế: Chính sách y tế không chỉ là của riêng ngành y
tế mà của toàn xã hội, trong đó các cơ sở y tế đóng vai trò chủ đạo và thựchiện cung cấp các dịch vụ y tế Chính sách y tế là một bộ phận không táchrời của các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước
Vai trò của chính sách BHYT: là thiết chế tài chính bảo vệ người tham gia
tránh những nguy cơ phải chi trả chi phí y tế quá cao nếu chẳng may mắcbệnh
1.4 Những yếu tố cơ bản quyết định tới chính sách y tế
Mục tiêu của một bản chính sách y tế không thể chỉ coi trọng việc giải quyếtcác vấn đề sức khỏe một cách công bằng và có hiệu quả mà bỏ qua hoặc coi nhẹcác yếu tố khác nhằm làm cho bản chính sách hòa hợp với chiến lược phát triểnKT-VH-XH, với nền tảng chính trị, triết học qua các quan điểm của Đảng, luậtpháp của Nhà nước và nhất là khả năng đảm bảo, duy trì các nguồn lực và khảnăng của mạng lưới y tế
Trang 6Để nhận biết vấn đề sức khỏe cần dựa vào gánh nặng bệnh tật trong đó có các
số liệu từ thống kê y tế, trong đó chú ý tới 10 bệnh mắc với tỷ lệ cao nhất, 10nguyên nhân gây chết cao nhất, tới các bệnh dịch địa phương Các vấn đề sứckhỏe cũng còn dựa trên những dự báo về tình hình sức khỏe- bệnh tật trong cộngđồng (vì chính sách y tế nhằm giải quyết những vấn đề sức khỏe trong tương laigần) và phân tích vấn đề sức khỏe theo 3 nhóm bệnh:
Các bệnh truyền nhiễm, tai biến sản khoa, chết chu sinh và suy dinh dưỡng
Các bệnh không truyền nhiễm
Các loại chấn thương, tai nạn
Các vấn đề cung cấp dịch vụ y tế
Thực chất đây là khả năng hiện tại và trong tương lai của mạng lưới y tế đểgiải quyết các vấn đề sức khỏe Bản chính sách cũng đề cập đến các mục tiêukhắc phục những vấn đề trong hệ thống cung ứng các dịch vụ y tế, kể cả tư nhân
Nguồn lực y tế
Nguồn lực ở đây bao gồm nhân lực, kinh phí (đầu tư y tế quốc gia và địaphương), cơ sở vật chất (bao gồm cả thuốc) trong thời gian hiện tại và trongtương lai
Nguồn nhân lực y tế không chỉ ở số lượng mà ở cả trình độ, khả năng điềuđộng nhân lực ở nước ta số lượng cán Bộ Y tế trên dân số khá cao so với nhữngnước có thu nhập hơn ta vài lần Tuy nhiên, trình độ còn hạn chế, ít được đào tạoliên tục và điều kiện làm việc còn thiếu thốn Mặt khác lại phân bố không hợp lý
do chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng và mức sống chênh lệch giữa các vùng Nói đếnnguồn nhân lực cần phải coi hệ thống y dược tư nhân cũng là một thành tố quantrọng Hiện nay, bắt đầu xuất hiện tình trạng "chảy máu chất xám", trong đó thểhiện rất rõ trong ngành dược, các dược sĩ đại học sau khi ra trường có xu hướngmuốn làm việc cho các cơ sở tư nhân nhiều hơn, dẫn tới tình trạng thiếu dược sĩ
Trang 7trầm trọng ở một số tỉnh, đặc biệt là tỉnh có nền kinh tế khó khăn Sự cân đối giữacác loại hình
Trang 8cán Bộ Y tế cũng đang gia tăng trong khu vực y tế công, trong đó tỷ số điềudưỡng trên bác sĩ chỉ mới bằng 1,7 và dược sĩ trên bác sĩ dưới 1/5 nghĩa là đangmất cân đối rất rõ điều này cũng gặp ở nhiều nước có nền kinh tế chậm pháttriển Dưới góc độ công bằng, phân bố nhân lực y tế (cả về số lượng và chấtlượng) phải giảm thiểu tối đa sự chênh lệch giữa các khu vực có sự chênh lệch vềthu nhập cũng như giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng núi và miền xuôi.
Tính công bằng thể hiện trong một bản chính sách: Bao gồm công bằng trongcung cấp các dịch vụ y tế (cung cấp dịch vụ mà người dân cần) và công bằngtrong phân bổ các nguồn lực y tế
Tính hiệu quả thể hiện trong một bản chính sách: Hiệu quả về kỹ thuật, hiệuquả về đầu tư và hiệu quả về chi phí
Hiện trạng kinh tế-văn hóa-xã hội
Đây là yếu tố rất quan trọng tác động tới quá trình phát triển ngành y tế vàquá trình sử dụng các cơ sở y tế của Nhà nước
Đặc điểm địa lý, dân cư
Đặc điểm địa lý khí hậu quyết định tới việc bố trí mạng lưới y tế sao cho dễtiếp cận với người dân Đồng thời liên quan tới tình hình sức khỏe, bệnh tật củamột địa phương
Chính sách và các chương trình phát triển tổng thể KT-VH-XH
Các chính sách kinh tế, xã hội của một đất nước tác động mạnh mẽ tới chínhsách y tế Không dựa trên chính sách này, chính sách y tế sẽ không thể khả thi,cũng như không thể đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội (đầu tư cho y tế là đầu tưcho phát triển)
Luật pháp và các quy chế hành chính hiện hành
Luật pháp và các quy định hành chính là những cơ sở pháp lý cho việc đề rachính sách y tế Càng dựa vào luật pháp bao nhiêu, khả năng thực thi chính sáchcàng nhiều bấy nhiêu Nhà nước ta đã ra các luật bảo vệ và CSSK, luật môi trường,
Trang 9luật lao động, luật bảo vệ phụ nữ, trẻ em Cần nghiên cứu kỹ các bộ luật này trướckhi quyết định một bản chính sách.
Nền tảng chính trị, triết học và các chủ trương Nghị quyết của Đảng, cácThông tư, Chỉ thị của Chính phủ về công tác y tế
Chính sách y tế có tính kế thừa những ưu điểm của chính sách trước đó.Chính sách với nội dung chủ yếu là những cam kết của Nhà nước đảm bảo cungcấp các nguồn lực một cách công bằng, hiệu quả, có chất lượng và huy động toànthể xã hội, các ngành khác có liên quan tham gia CSSK, chính sách cũng đề cập tớinhững giải pháp ở tầm vĩ mô đối với ngành y tế để sử dụng tối ưu các nguồn lực
mà Nhà nước cung cấp nhằm đạt tới mục tiêu Tuy nhiên chính sách không bấtbiến mà luôn được điều chỉnh ngay từ trong quá trình thực thi, luôn cần nhận đượccác thông tin phản hồi từ cộng đồng và kết quả đánh giá các thành quả mang lại
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ CHO HỌC SINH SINH VIÊN Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về chính sách y tế cho học sinh sinh viên trong giai đoạn 2019 2022
-Năm học 2019-2020
Việc thực hiện hiệu quả chính sách BHYT HSSV không chỉ đem lại lợi íchcho cá nhân HSSV, mà còn thể hiện trách nhiệm của HSSV đối với cộng đồng vàđối với xã hội
Tỷ lệ học sinh, sinh viên tham gia BHYT tăng dần qua các năm
- Nhờ sự chủ động, tích cực vào cuộc của các cấp, các ngành và chính quyền địaphương, công tác tổ chức, thực hiện chính sách BHYT HSSV đã đạt đượcnhững kết quả nhất định, tỷ lệ HSSV tham gia BHYT ở nước ta tăng dần quacác năm
- Năm học 2018-2019, cả nước có khoảng hơn 17,4 triệu HSSV tham gia BHYT(đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 94,2%) thì đến năm học 2019-2020, cả nước có hơn
Trang 1017,7 triệu HSSV tham gia BHYT (đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 95,2%), tăng 1% sovới năm học 2018-2019.
- Các cấp trên đã chỉ đạo, phương thức thu phí BHYT phải linh hoạt (3 tháng, 6tháng hoặc 12 tháng) để giảm nhẹ tiền đóng góp của phụ huynh học sinh vàođầu năm Chỉ thực hiện thu phí BHYT một lần nếu HSSV có nguyện vọng và tựnguyện đóng Đối với sinh viên mới nhập học, học sinh chuyển cấp, mới vàolớp 1 thực hiện thu phí BHYT HSSV những tháng còn lại của năm 2019, thờihạn sử dụng thẻ BHYT tương ứng với số tiền nộp vào quỹ BHYT Đối vớiHSSV đã thực hiện thu theo năm tài chính thì tiếp tục thực hiện thu vào cuốinăm 2019 để gia hạn thẻ năm sau Thời hạn ghi trên thẻ BHYT tương ứng với
số tiền nộp vào quỹ BHYT
- Ngoài ra, các cấp trên đã yêu cầu các cơ sở giáo dục cần đẩy mạnh tuyên truyềnsâu rộng tính nhân văn, tính cộng đồng của chính sách BHYT, trách nhiệm,nghĩa vụ, quyền lợi khi tham gia BHYT của HSSV theo quy định của Luật.Đồng thời, BHXH các quận, huyện, thị xã tiếp tục tham mưu cho Quận, huyện
ủy, UBND quận, huyện, thị xã ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện công tácBHYT HSSV phấn đấu 100% HSSV tham gia BHYT và coi đây là một trongnhững nhiệm vụ của nhà trường và việc chấp hành pháp luật của HSSV
Để hoàn thành mục tiêu 100% HSSV tham gia BHYT vào cuối năm học
2019-2020, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh, Trung tâm Truyền thông, BáoBHXH, Tạp chí BHXH tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ Cụ thể như:
- BHXH các tỉnh, thành phố: Tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địaphương chỉ đạo Sở GD-ĐT, Sở LĐ-TB&XH phối hợp chặt chẽ với ngànhBHXH tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT trong các trườnghọc; giao chỉ tiêu tỉ lệ tham gia BHYT của HSSV đối với từng cơ sở giáo dục;đưa tiêu chí về tỉ lệ tham gia BHYT HSSV là một trong các tiêu chí đánh giá,phân loại tổ chức cơ sở Đảng, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và việcchấp hành pháp luật của HSSV, đảm bảo đến hết năm học 2019-2020 đạt 100%HSSV tham gia BHYT
Trang 11- Phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn thể như: Đoàn Thanh niên, Hội Sinhviên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trênđịa bàn phối hợp tổ chức các hoạt động tư vấn, đối thoại trực tiếp, tuyên truyềntrực quan, phát hành ấn phẩm tại các buổi sinh hoạt thường kỳ của tổ chứcĐoàn, Hội, góp phần làm chuyển biến và nâng cao hiểu biết của sinh viên vềtính ưu việt của chính sách BHYT Phối hợp với các cơ quan truyền thông tạiđịa phương thực hiện các tin, bài, phóng sự, mở chuyên trang, chuyên mụctuyên truyền về BHYT HSSV Tăng số lượng tin, bài tuyên truyền về BHYTHSSV trên trang tin điện tử của BHXH các tỉnh, thành phố.
- Nội dung tuyên truyền cần chú trọng vào tính nhân văn, nhân đạo, tính chia sẻcộng đồng của chính sách BHYT nói chung và BHYT HSSV nói riêng; việcthực hiện BHYT là quyền lợi và trách nhiệm công dân của mỗi HSSV, thể hiện
ý thức chấp hành pháp luật của những chủ nhân tương lai của đất nước; kịp thờibiểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong việctuyên truyền và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT HSSV
Năm học 2020-2021
- Những năm gần đây, tỷ lệ HSSV tham gia BHYT tăng dần qua các năm Nămhọc 2020-2021, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 nhưng việc triển khaichính sách BHYT HSSV vẫn tiếp tục đạt những kết quả tích cực Số HSSVtham gia BHYT là hơn 18 triệu, tăng 1,6% so với năm học 2019-2020 Trong
đó, có hơn 14,5 triệu em tham gia theo nhóm HSSV và 3,5 triệu HSSV tham giatheo nhóm khác (hộ nghèo, hộ cận nghèo, thân nhân lực lượng vũ trang )
- Điều này khiến các em bị thiệt thòi khi không được hưởng quyền lợi chăm sócsức khỏe từ chính sách BHYT Mặt khác, nếu không may mắc phải những cănbệnh hiểm nghèo cần chi phí điều trị cao, không có thẻ BHYT, gia đình của các
em sẽ đối mặt với những khoản chi phí KCB lớn, ảnh hưởng tới kinh tế của giađình cũng như quá trình KCB
Trang 12- Thời gian qua, với trách nhiệm tổ chức, thực hiện chính sách BHYT, ngànhBHXH Việt Nam đã và đang nỗ lực thực hiện tốt việc bảo đảm quyền lợi BHYTcho HSSV; tăng cường cải cách thủ tục tham gia BHYT, sử dụng thẻ BHYT khi
đi KCB theo hướng đơn giản, thuận tiện cho HSSV
- Số HSSV tham gia BHYT không ngừng tăng qua các năm cho thấy nhận thứccủa các phụ huynh và HSSV về quyền lợi, ý nghĩa, tầm quan trọng của việctham gia BHYT… đã được nâng cao Phụ huynh đã có ý thức chủ động thamgia BHYT cho con em mình ngay từ khi các con đang khỏe mạnh
- Nhìn vào kết quả thực hiện công tác KCB BHYT cho HSSV thời gian qua chothấy, quỹ BHYT đã chi trả cho rất nhiều bệnh nhân là HSSV mắc các bệnh nan
y, mãn tính (suy thận, ung thư, tim mạch…) với chi phí điều trị từ vài chục triệuđến hàng trăm triệu đồng
Chi trả kịp thời chi phí KCB BHYT cho nhóm HSSV:
- Trong năm 2020 quỹ BHYT đã thực hiện chi trả kịp thời chi phí KCB BHYTcho nhóm HSSV Cụ thể: Năm 2020, số lượng HSSV đi KCB BHYT là hơn 3,3triệu bệnh nhân với hơn 6,8 triệu lượt KCB, chi phí KCB được quỹ BHYT chitrả là 2.296,11 tỷ đồng
- Đáng chú ý, một số trường hợp HSSV có chi phí KCB được quỹ BHYT chi trảcao như: Bệnh nhân có mã thẻ HS4747423096XXX, điều trị nội trú tại Bệnhviện Nhi đồng II, TPHCM với chẩn đoán “Viêm cơ, không phân loại nơi khác”,chi phí KCB BHYT là 742,34 triệu đồng
- Hay bệnh nhân có mã thẻ HS4494920193XXX, điều trị nội trú tại Bệnh viện ĐàNẵng với chẩn đoán “Bệnh phổi tác nhân không đặc hiệu; suy hô hấp khôngphân loại”, chi phí KCB BHYT là 728,36 triệu đồng
Trang 13Năm học 2021-2022
Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, nhằm triểnkhai công tác BHYT HSSV năm học 2021-2022 đạt hiệu quả, phấn đấu đạt 100%HSSV tham gia BHYT, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa ban hành cácCông văn số 2396/BHXH-TST và 2392/BHXH-TT gửi BHXH các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương (BHXH các tỉnh) chỉ đạo tập trung triển khai công tácBHYT HSSV năm học 2021-2022
Nâng cao trách nhiệm trong phát triển BHYT HSSV
Theo đó, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh chủ động triển khai một sốnội dung sau:
- Thứ nhất, tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố và cấp huyện banhành các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện công tác BHYT HSSV năm học2021-2022 trên địa bàn Quan tâm huy động các nguồn lực hợp pháp để hỗ trợthêm mức đóng BHYT cho HSSV, nhất là những HSSV có hoàn cảnh khó khăn,dân tộc ít người
- Thứ hai, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo hằng quý sơ kết, đánh giá vàhướng dẫn triển khai công tác BHYT HSSV năm học 2021-2022 Trong đó:Giao chỉ tiêu cho từng cơ sở giáo dục, gắn kết quả việc hoàn thành chỉ tiêuHSSV tham gia BHYT của các nhà trường vào tiêu chí thi đua, khen thưởnghằng năm Tăng cường tuyên truyền, vận động HSSV tham gia BHYT theođúng quy định của Luật BHYT, tiếp tục hướng dẫn HSSV thực hiện cài đặt và
sử dụng ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số
- Ngoài ra, BHXH các tỉnh cần chủ động phối hợp với các nhà trường hướng dẫnlập và gửi danh sách cấp thẻ BHYT HSSV theo hình thức giao dịch điện tử;phân công cán bộ kịp thời xét duyệt hồ sơ để cấp thẻ BHYT đối với HSSV đầucấp và gia hạn giá trị sử dụng thẻ BHYT đối với các nhóm tham gia còn lại
- Thứ ba, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh, thành phố kịp thời xétduyệt và trích, chuyển kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các cơ sở giáodục, trung tâm giáo dục nghề nghiệp theo quy định
- Thứ tư, tổ chức đánh giá khen thưởng các cơ sở giáo dục và HSSV có thànhtích xuất sắc trong công tác BHYT HSSV năm học 2021-2022