1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chương 5 kinh tế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại quốc tế.pdf

21 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 5 Kinh tế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại quốc tế
Tác giả Nhóm 7
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Thùy Dương
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế
Thể loại Giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 273,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ KINH TẾ QUỐC TẾ 1 CHƯƠNG 5 Kinh tế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo và thương mại quốc tế Nhóm thực hiện Nhóm 7 Mã lớp học phần 2240F[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

KINH TẾ QUỐC TẾ 1

CHƯƠNG 5 Kinh tế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo và

thương mại quốc tế

Nhóm thực hiện: Nhóm 7

Mã lớp học phần: 2240FECO1711 Giảng viên: Nguyễn Thuỳ Dương

Trang 2

Mục lục

I MÔ HÌNH HECKSCHER-OHLIN VÀ CÁC HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI

2 Nới lỏng giả thiết 2: Cả 2 quốc gia sử dụng công nghệ như nhau 1

3 Nới lỏng giả thiết 3: Không có sự đảo ngược độ hàm chứa nhân tố 2

4 Nới lỏng giả thiết 4: Doanh thu cố định theo quy mô 2

5 Nới lỏng giả thiết 5: Chuyên môn hóa không hoàn toàn trong sản xuất 2

6 Nới lỏng giả thiết 6: Sở thích thị hiếu ngang nhau 2

8 Nới lỏng giả thiết 8: Không có sự chuyển dịch nguồn lực quốc tế 3

9 Nới lỏng giả thiết 9: Không có chi phí vận tải và các trở ngại thương mại 3

10 Nới lỏng giả thiết 10: Các nguồn lực không được sử dụng đầy đủ 3

11 Nới lỏng giả thiết 11: Thương mại quốc tế giữa các quốc gia cân bằng 3

IV THƯƠNG MẠI TRÊN CƠ SỞ KHÁC NHAU VỀ KỸ THUẬT GIỮA CÁC

Trang 3

1 Mô hình chu kỳ sống của sản phẩm và khe hở công nghệ 11

a Thuyết khoảng cách công nghệ (mô hình khe hở công nghệ): 11

Trang 4

CHƯƠNG 5: KINH TẾ THEO QUY MÔ, CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO

VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

I MÔ HÌNH HECKSCHER-OHLIN VÀ CÁC HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI

MỚI

Trong chương IV, chúng ta đã thảo luận về các học thuyết Heckscher-Ohlin Sang chương

V, ta nới lỏng các giả thiết của học thuyết H-O và kiểm định việc tạo các giả thiết thực

tiễn hơn cho học thuyết Học thuyết H-O không thể giải thích được phần quan trọng về

thương mại quốc tế nhưng việc nới lỏng một số giả thiết khác có các học thuyết thương

mại thì có thể Vì vậy, mục đích của chương này là trình bày cách tiếp cận tiến bộ hơn

bằng các học thuyết thương mại quốc tế mới và kiểm định quan hệ của chúng với mô hình

H-O cơ sở

1 Nới lỏng giả thiết 1: Phức tạp hóa mô hình

Giả thiết đầu tiên của mô hình H-O với hai quốc gia, hai hàng hóa và hai nhân tố sản xuất

được nới lỏng thành nhiều quốc gia, nhiều hàng hóa và nhiều nhân tố sản xuất Sự phức

tạp hóa mô hình xảy ra sẽ tạo ra càng nhiều hàng hóa tương đương, khi đó càng cần nhiều

nhân tố sản xuất Khi phải xử lý với nhiều nhân tố, việc phân loại hàng hóa không còn

đơn giản như với hàng hóa chứa nhiều lao động và hàng hóa chứa nhiều vốn, ngoài ra còn

đòi hỏi thiết lập tương quan dư thừa nhân tố để dự đoán mô hình thương mại Mặc dù

phức tạp nhưng điều này vẫn có thể làm được

2 Nới lỏng giả thiết 2: Cả 2 quốc gia sử dụng công nghệ như nhau

Cả 2 quốc gia sử dụng công nghệ như nhau trong sản xuất, nhìn chung không phải là có

căn cứ Trong thực tế, các quốc gia sử dụng công nghệ khác nhau để sản xuất Tuy nhiên,

có thể xem xét công nghệ như một nhân tố của sản xuất và vì thế, thương mại dựa trên sự

khác nhau về công nghệ giữa các quốc gia có thể được xem xét như tái hồi học thuyết

H-O Thương mại dựa trên các thay đổi về công nghệ theo thời gian giữa các quốc gia là một

vấn đề khác, nó được giải thích bằng mô hình khe hở công nghệ và chu kỳ sống của sản

phẩm Mô hình này có thể được xem như sự phát triển của mô hình H-O cơ sở

Trang 5

3 Nới lỏng giả thiết 3: Không có sự đảo ngược độ hàm chứa nhân tố

Trong mô hình H-O, không có sự đảo ngược độ hàm chứa nhân tố khi hàng hóa X là hàng

hóa chứa nhiều lao động và hàng hóa Y là hàng hóa chứa nhiều vốn tại các quốc gia

Ngoài ra còn một vài sự hàm chứa nhân tố khác có thể bỏ qua Mặc dù vậy, các nghiên

cứu kinh nghiệm chỉ ra rằng một vài sự hàm chứa nhân tố không phải là bình thường trên

thực tế

4 Nới lỏng giả thiết 4: Doanh thu cố định theo quy mô

Học thuyết H-O giả thiết doanh thu cố định theo quy mô trong sản xuất, thương mại quốc

tế tuy nhiên có thể dựa trên nền kinh tế có doanh thu tăng theo quy mô Doanh thu tăng

theo quy mô có thể được xem như yếu tố bổ sung của học thuyết H-O, học thuyết này thử

giải thích mô hình thương mại quốc tế không được bao hàm bởi học thuyết H-O cơ sở

5 Nới lỏng giả thiết 5: Chuyên môn hóa không hoàn toàn trong sản xuất

Giả thiết thứ năm của mô hình H-O là không quốc gia nào chuyên môn hóa hoàn toàn vào

sản xuất duy nhất một sản phẩm Nếu thương mại tạo ra sự chuyên môn hóa hoàn toàn tại

một trong hai quốc gia, giá cả hàng hóa tương quan có thể ngang nhau, nhưng giá cả nhân

tố sẽ không ngang nhau

6 Nới lỏng giả thiết 6: Sở thích thị hiếu ngang nhau

Sở thích thị hiếu ngang nhau theo mô hình H-O đã được ít nhiều thẩm tra theo kinh

nghiệm Nếu thị hiếu giống nhau giữa các nước thì đường bàng quan xã hội cũng như

nhau Thực tế, giữa các quốc gia không có sự khác biệt nhiều về thị hiếu so với sự khác

nhau tương quan vật chất các nhân tố của sản xuất giải thích giá cả hàng hóa tương quan

khác nhau và thương mại giữa các quốc gia

7 Nới lỏng giả thiết 7: Cạnh tranh hoàn hảo

Việc nới lỏng cạnh tranh hoàn hảo trong cả thị trường hàng hóa và thị trường nhân tố là

phức tạp, không dễ dàng xem xét với mô hình dư thừa nhân tố H-O Trong mô hình H-O,

cạnh tranh hoàn toàn chi phối cả thị trường sản phẩm và thị trường yếu tố sản xuất Với

Trang 6

các nước công nghiệp, một nửa kim ngạch thương mại hàng công nghiệp được dựa trên

sự khác nhau sản phẩm và kinh tế theo quy mô

8 Nới lỏng giả thiết 8: Không có sự chuyển dịch nguồn lực quốc tế

Không có sự chuyển dịch nguồn lực quốc tế chỉ giảm bớt chứ không làm mất hiệu lực của

mô hình H-O Sự chuyển dịch này khiến cho giá cả hàng hóa tương quan cân bằng và giá

cả nhân tố tương quan cân bằng giữa các quốc gia Với một số chuyển dịch nguồn lực

quốc tế, khối lượng thương mại nhất định được đòi hỏi cân bằng hóa giá cả hàng hóa và

giá cả nhân tố tương quan ít hơn, sự nới lỏng này không làm thay đổi nguyên lý mô hình

H-O

9 Nới lỏng giả thiết 9: Không có chi phí vận tải và các trở ngại thương mại

Chi phí vận tải và các cản trở thương mại gây cản trở giao lưu thương mại quốc tế, làm

giảm lượng và lợi ích của thương mại quốc tế Tuy nhiên chúng chỉ làm giảm nhẹ chứ

không làm mất định lý H-O và định lý cân bằng hóa giá cả nhân tố Trên thực tế, trong

quá trình giao lưu thương mại giữa các quốc gia vẫn còn một số rào cản như chi phí vận

chuyển tăng cao do khoảng cách địa lý và các tác nhân khác, hay các hiệp định thương

mại giữa các quốc gia và khu vực

Ví dụ: Trong giai đoạn Covid-19 vừa rồi, giá cước vận tải biển tăng tới 5-7 lần, lợi nhuận

“rơi vào túi” các hãng vận tải lớn của nước ngoài Trước khi đại dịch xảy ra, giá cước một

container lạnh 40 feet đi châu Âu khoảng 1.600-1.800 USD và đi Mỹ khoảng 2.000-2.200

USD Khi tình hình dịch bệnh trên thế giới đã dần được kiểm soát ổn định, hàng hóa lưu

chuyển nhiều hơn nhưng tới tháng 3/2022, cước container loại nêu trên đi châu Âu lên tới

16.000-18.000 USD, đi Mỹ là 22.000 USD

10 Nới lỏng giả thiết 10: Các nguồn lực không được sử dụng đầy đủ

Các nguồn lực không được sử dụng đầy đủ, khi đó lợi thế so so sánh tiềm năng không

được sử dụng hữu hiệu Học thuyết H-O có thể sẽ dự báo không đúng mô hình thương

mại

Trang 7

11 Nới lỏng giả thiết 11: Thương mại quốc tế giữa các quốc gia cân bằng

Trong trường hợp thâm hụt cán cân thương mại của một quốc gia, nhập khẩu một số hàng

hóa họ có thể có lợi thế so sánh và xuất khẩu khi thương mại cân bằng Khi hầu hết

thương mại mất cân bằng không lớn so với GNP, mô hình H-O có thể không dự đoán

đúng mô hình thương mại trong trường hợp các hàng hóa có lợi thế so sánh quá thấp

II KINH TẾ THEO QUY MÔ VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1 Doanh thu tăng theo quy mô

Nền kinh tế theo quy mô là nền kinh tế mà trong đó nếu sản xuất với quy mô càng lớn thì

chi phí và giá thành trên một đơn vị sản phẩm sẽ càng giảm, làm gia tăng lợi nhuận và

khả năng cạnh tranh của quốc gia đó

Khi có doanh thu tăng theo quy mô, thương mại tạo ra thặng dư thậm chí trong trường

hợp cả hai quốc gia đều đồng nhất trên tất cả các phương diện Đây là một mô hình mà

mô hình H-O chưa giải thích

Doanh thu tăng theo quy mô là tình huống sản xuất khi tốc độ tăng trưởng sản lượng

nhanh hơn tốc độ tăng trưởng các nhân tố đầu vào của sản xuất

Có nghĩa là các nhân tố đầu vào của sản xuất tăng gấp đôi, sản lượng tăng hơn gấp đôi

Doanh thu tăng theo quy mô có thể xảy ra với quy mô lớn hớn của sản xuất, sự phân chia

lớn hơn với lượng lao động khiến chuyên môn hóa sâu hơn, thực hiện công việc đơn giản

làm cho năng suất lao động tăng lên

Phân công hay chuyên môn hóa sản xuất ở mức cao: tạo cho người lao động những kỹ

năng chuyên sâu khi thực hiện một nhiệm vụ, nhờ đó đạt được năng suất cao và giảm chi

phí bình quân

Hơn nữa, quy mô lớn hơn sẽ giúp cho doanh nghiệp sử dụng máy móc hiện đại hơn

Trang 8

Ví dụ: MC Donald đạt được lợi thế trong sản xuất quy mô nhờ vào việc sản xuất

hàng loạt các thực đơn với sản phẩm giống nhau

Nhờ sản xuất hàng loạt, việc nhập hàng hóa tương đồng với số lượng lớn giúp MC

Donald tăng khả năng thương lượng về việc cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào

MC Donald đã nhập được nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ

=> Gia tăng lợi nhuận biên

Nhờ tiết kiệm chi phí trong khâu nhập hàng, ngân sách của MC Donald tăng, MC Donald

đã đầu tư vào quảng cáo thương hiệu, giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể với các đối

thủ cạnh tranh

Hiện nay, 60% doanh số bán hàng của McDonald được thực hiện ngoài nước Mĩ

Những nền kinh tế theo quy mô không chỉ mở rộng sang lao động; bất kỳ nguồn đầu vào

nào thu được với chi phí thấp hơn có thể giúp giảm chi phí biên, giả định chi phí tìm

kiếm, vận chuyển hoặc kết hợp không làm giảm bất kỳ lợi ích nào.Về mặt lý thuyết, toàn

cầu hóa cho phép tối đa hóa năng suất của thế giới bằng cách cho phép tăng cường

chuyên môn hóa, phân công lao động và hiệu quả kinh tế của quy mô tương xứng với các

nguồn lực kết hợp của toàn cầu

Ví dụ: Coca-cola cũng đã thực hiện thành công nền kinh tế quy mô bằng cách hợp

tác với các công ty sản xuất chai gần nhà máy Việc nhập chai từ công ty sản xuất gần nhà

máy đã giảm bớt chi phí vận chuyển hàng hóa trong quá trình sản xuất Điều này không

chỉ giúp cho Coca-cola mà còn giúp cho công ty và nhà sản xuất được hưởng lợi từ chi

phí nguyên liệu thô rẻ hơn

Khi Coca- cola đã nhập được nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ

=> Gia tăng lợi nhuận biên

( Vì mức chi phí bỏ ra để sảng xuất 1 sảng phẩm của Coca-cola đã được giảm thiểu

khi nhập đc nguồn nguyên liệu giá rẻ, điều này đồng nghĩa với việc khi bán 1 chai

Trang 9

Coca-cola giá vẫn như vậy nhưng chi phí để sản xuất ra lại rẻ hơn => điều này giúp cho lợi

nhuận biên mà Coca thu đc cũng sẽ tăng )

2 Thương mại trên cơ sở kinh tế theo quy mô

Đồ thị 5.1 mô tả sự phát sinh thặng dư từ thương mại trên cơ sở kinh tế theo quy mô Với

mô hình H-O, hàng hóa được sản xuất từ hai quốc gia không đồng nhất trên các phương

diện về các nhân tố đầu vào sản xuất: lao động và vốn Nếu hai quốc gia được giả thiết

tương đồng trong tất cả các khía cạnh, chúng ta có thể sử dụng một đường giới hạn sản

xuất và một hệ thống đường bàng quan chung cho hai quốc gia Tăng doanh thu theo quy

mô khiến đường giới hạn sản xuất vòng vào phía trong

Khi không có thương mại, giá cả hàng hóa tương quan cân bằng tại hai quốc gia giống

nhau vì có chung đường giới hạn sản xuất và hệ thống đường bàng quan Lúc này, mức

giá hàng hóa tương quan cân bằng tại cả hai quốc gia là PA Trên đồ thị, mức giá tương

quan này là PX/PY = 1 tại cả hai quốc gia, được biểu thị bằng độ dốc của đường tiếp

tuyến chung với hai đường giới hạn sản xuất và đường bàng quan I tại điểm A Nếu không

Trang 10

có thương mại, hai quốc gia sẽ không chuyên môn hóa sản xuất 1 hàng hóa vì quốc gia

nào cũng muốn tiêu dùng cả hai hàng hóa

Khi có thương mại, tại điểm B, quốc gia 1 có thể tập trung chuyên môn hóa sản xuất hàng

hóa X và quốc gia 2 chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa Y tại điểm B’ Khi đó, quốc gia 1

sẽ sản xuất được 120X và quốc gia 2 sản xuất được 120Y Vì vậy khi xảy ra thương mại,

hai quốc gia sẽ trao đổi 60X và 60Y, tức là điểm tiêu dùng của mỗi quốc gia lúc này nằm

tại điểm E trên đường bàng quan II So với điểm tiêu dùng A (mỗi quốc gia sản xuất 40X

và 40Y) trên đường bàng quan I khi không có thương mại, thì việc trao đổi khi mỗi quốc

gia chuyên môn hóa sản xuất 1 hàng hóa sẽ thu được thặng dư là 20X và 20Y Thặng dư

này được sinh ra là do kinh tế theo quy mô mà mỗi quốc gia chỉ chuyên môn hóa trong

sản xuất 1 hàng hóa Chi phí để một quốc gia bỏ ra để mua hàng hóa đó thông qua thương

mại sẽ nhỏ hơn chi phí cơ hội để sản xuất trong nước

Xét điểm A (điểm cân bằng khi không có thương mại) là một điểm không cố định Khi

quốc gia 1 chuyển dịch về bên phải điểm A theo đường giới hạn khả năng sản xuất của nó,

giá hàng hóa X tương quan sẽ giảm dần theo độ dốc của đường giới hạn sản xuất, và tiếp

tục giảm cho tới điểm B’, tức là quốc gia 1 sẽ trở thành chuyên môn hóa hoàn toàn trong

sản xuất hàng hóa X Tương tự như vậy, nếu quốc gia 2 chuyển dịch về bên trái điểm A

theo đường giới hạn sản xuất của nó, quốc gia 2 cũng sẽ chuyên môn hóa hoàn toàn trong

sản xuất hàng hóa Y

Như vậy, qua đồ thị 5.1 ta thấy, thương mại trên cơ sở kinh tế theo quy mô sẽ mang lại

thặng dư do mỗi quốc gia chỉ chuyên môn hóa sản xuất một hàng hóa thích hợp với điều

kiện sản xuất của quốc gia đó

Tuy nhiên, có một số vấn đề cần được cân nhắc từ mô hình trên:

Thứ nhất, đây là một vấn đề giống nhau hoàn toàn của hai quốc gia chuyên môn hóa

sản xuất trong hàng hóa X hoặc hàng hóa Y

Thứ hai, hai quốc gia không cần giống nhau trên tất cả các phương diện để có thặng

dư từ thương mại với kinh tế theo quy mô

Trang 11

Thứ ba, nếu kinh tế theo quy mô kéo dài và theo chuỗi sản lượng, một số hãng trong

quốc gia có thể sẽ thoát khỏi thị trường về một hàng hóa để trở thành độc quyền hoặc

nhóm độc quyền

3 Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra khi hiệu suất tăng dần theo quy mô, nếu quốc gia

này chuyên môn hóa một sản phẩm được lựa chọn và đổi lấy sản phẩm còn lại mà mình

không chuyên môn hóa sản xuất của quốc gia kia

Bên cạnh sản xuất sản phẩm chuyên môn hóa, các doanh nghiệp trong quốc gia đó còn có

thể phát triển một số sản phẩm khác để tận dụng những yếu tố nguồn lực mà việc sản xuất

sản phẩm chuyên môn hóa chưa sử dụng hết Ví dụ như một quốc gia chuyên môn hóa

nông nghiệp, ngoài các sản phẩm nông nghiệp chính được xuất khẩu thì có thể tận dụng

lao động nhàn rỗi ngoài thời vụ của sản phẩm chính để sản xuất thêm các sản phẩm khác

hoặc áp dụng hình thức trồng gối vụ

Khi thương mại quốc tế diễn ra giúp mở rộng thị trường, từ đó giúp các công ty cũng như

người tiêu dùng trở thành một phần của thị trường rộng lớn hơn Mỗi nước có thể tập

trung vào sản xuất nhiều hơn một số sản phẩm khác biệt, rồi đem trao đổi lấy những sản

phẩm khác biệt khác từ các nước bạn hàng Kết quả là các nước tham gia thương mại đều

có lợi

Thặng dư này từ thương mại do kinh tế theo quy mô trong sản xuất chỉ một hàng hoá

trong mỗi quốc gia mang lại Nếu không có thương mại, 2 quốc gia sẽ không chuyên môn

hoá chỉ sản xuất một hàng hoá vì mỗi quốc gia muốn tiêu dùng cả 2 hàng hoá

Phân biệt kinh tế theo quy mô hoặc doanh thu theo quy mô với kinh tế ngoại vi:

Vấn đề: sự giảm chi phí sản xuất trung bình khi mở rộng sản lượng của hãng

Kinh tế theo quy mô hay doanh thu tăng theo quy mô: là ảnh hưởng bên trong của

hãng

Ngày đăng: 07/11/2022, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w