ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ LUẬT BÁO CÁO THẢO LUẬN HỌC PHẦN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Đề tài TIÊU DÙNG XANH VÀ QUẢN LÝ TIÊU DÙNG XANH Giảng viên hướng dẫn Th s Thái Thu Hương Lớ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT
BÁO CÁO THẢO LUẬN HỌC PHẦN: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG
Đề tài:
TIÊU DÙNG XANH VÀ QUẢN LÝ TIÊU DÙNG XANH
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Thái Thu Hương
Lớp học phần: 2234TECO2041 Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm
2022
Trang 2Mục lục
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3
1.1 Tiêu dùng xanh 3
1.1.1 Khái niệm tiêu dùng xanh 3
1.1.2 Đặc trưng của tiêu dùng xanh 4
1.1.3 Vai trò của tiêu dùng xanh 4
1.2 Quản lí tiêu dùng xanh 4
1.2.1 Khái niệm quản lí tiêu dùng xanh 4
1.2.2 Mục tiệu quản lí tiêu dùng xanh 4
1.2.3 Công cụ quản lí tiêu dùng xanh 4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIÊU DÙNG XANH VÀ QUẢN LÝ TIÊU DÙNG XANH Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM 5
2.1 Thực trạng của tiêu dùng xanh ở một vài nước trên thế giới và ở Việt Nam 5
2.2 Thực trạng của quản lý tiêu dùng xanh ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 7
3.1 Đánh giá tiêu dùng xanh 9
3.1.1 Ưu điểm 9
3.1.2 Hạn chế thực trạng tiêu dùng xanh 10
3.2 Đánh giá quản lý tiêu dùng xanh ở Việt Nam 10
3.2.1 Thành công 10
3.2.2 Hạn chế 10
3.2.3 Nguyên nhân hạn chế 11
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tiêu dùng xanh
1.1.1 Khái niệm tiêu dùng xanh
Tiêu dùng xanh là việc mua và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây hại cho sức khỏe con người và không đe dọa đến
hệ sinh thái tự nhiên Nó xuất phát từ mong muốn bảo vệ các nguồn tài nguyên cho thế hệ tương lai và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người
1.1.2 Đặc trưng của tiêu dùng xanh
Mua và sử dụng các sản phẩm có tác động đến môi trường thấp hơn như các sản phẩm phân hủy sinh học, bao bì tái chế, giảm thiểu và sử dụng năng lượng thấp hơn,…
Sử dụng sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, được thực hiện bằng các quy trình tiết kiệm năng lượng, sau đó có thể được tái chế lại, trên thực tế, người tiêu dùng xanh là “ người mua các sản phẩm và dịch vụ được coi là
có ảnh hưởng tích cực (hoặc ít tiêu cực) đến môi trường”
1.1.3 Vai trò của tiêu dùng xanh
Tiêu dùng xanh góp phần làm giảm các hiệu ứng tiêu cực của tiêu dùng đối với môi trường và hệ sinh thái Ngoài ra tiêu dùng xanh còn khuyến khích sự phát triển của thị trường sản phẩm xanh Về mặt phát triền bền vững, tiêu thụ xanh có thể giúp duy trì sự cân bắng giữa đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường bằng cách ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tiêu thụ, bao gồm cả việc lựa chọn, sử dụng và xử lý sản phẩm Nói cách khác về lâu dài , tiêu dùng xanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội
1.2 Quản lí tiêu dùng xanh
1.2.1 Khái niệm quản lí tiêu dùng xanh
Là sử dụng những biện pháp, luật pháp, chính sách về kinh tế - xã hội – kỹ thuật phù nhằm tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào tiêu dùng xanh thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà tiêu dùng xanh một cách hợp quy luật Nhằm để hướng người tiêu dùng đến việc tiêu thụ những sản phẩm tiêu dùng xanh, thân thiện với môi trường, không đe dọa đến hệ sinh thái tự nhiên và đạt đến mục tiêu bảo vệ các nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai, nâng cao chất lượng sống của con người và phát triển kinh tế
-xã hội”
Trang 41.2.2 Mục tiệu quản lí tiêu dùng xanh
- Thúc đẩy và điều chỉnh hành vi tiêu dùng xanh của con người, giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận với những sản phẩm tiêu dùng xanh, thân thiện với môi trường
- Bảo vệ các nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai, nâng cao chất lượng sống của con người và phát triển kinh tế - xã hội Hướng đến một hệ sinh thái với việc tiêu thụ hoàn toàn sản phẩm xanh, dần dần thay thế những sản phẩm không thể tái chế, gây hại với môi trường
1.2.3 Công cụ quản lí tiêu dùng xanh
+ Công cụ pháp luật chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch: gồm các văn bản về luật, các kế hoạch chính sách…
+ Công cụ kinh tế: bao gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khó tái chế…
+ Công cụ kĩ thuật quản lý: các công cụ kĩ thuật quản lí thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về việc tiêu dùng các sản phẩm xanh…
+ Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIÊU DÙNG XANH VÀ QUẢN LÝ TIÊU
DÙNG XANH Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng của tiêu dùng xanh ở một vài nước trên thế giới và
ở Việt Nam
* Nhật Bản
- Theo báo cáo của GWI, chỉ 44% người Nhật sẽ chi tiêu nhiều hơn cho các sản phẩm thân thiện với môi trường so với mức trung bình toàn cầu là 56% Người tiêu dùng Nhật Bản nổi tiếng là những người mua có tính chọn lọc cao, họ xem xét các mặt hàng dựa trên một số tiêu chí trước khi mua Điều này có nghĩa là các sản phẩm phải đạt điểm tổng thể cao, chỉ dựa trên các tiêu chí về tính bền vững là không đủ Giá cả, độ tin cậy,
sự tiện lợi, thiết kế và hơn thế nữa cũng phải đáp ứng được mong đợi
Từ năm 1995, người dân Nhật Bản đã thực hiện tái chế các loại thùng chứa và bao bì đóng gói sản phẩm, bao gồm khoảng 60% khối lượng chất thải trong các hộ gia đình ở Nhật Bản Theo đó, người tiêu dùng
đã phân loại các vật liệu, sau đó cơ quan chức năng thành phố sẽ thu thập
và giao lại cho các công ty được chỉ định để thực hiện tái chế
Trang 5*Hàn Quốc
Sự quan tâm và nhạy cảm mạnh mẽ của người tiêu dùng Hàn Quốc đối với các sản phẩm thực phẩm an toàn và lành mạnh là một xu hướng
đã được hình thành rõ ràng Được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày của
họ, thuật ngữ “thực phẩm tốt cho sức khỏe” đề cập đến các sản phẩm hoặc thành phần thực phẩm được quảng cáo là có lợi cho sức khỏe chức năng Hơn nữa, do người tiêu dùng Hàn Quốc có ý thức về việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm khi ăn uống tại nhà hàng hoặc mua sắm tạp hóa, các nhà bán lẻ và nhà cung cấp dịch vụ thực phẩm đã hướng sự chú ý của
họ vào việc quảng cáo các sản phẩm thực phẩm an toàn và lành mạnh từ các nguồn đáng tin cậy ở nước ngoài
Ngoài ra, người dân Hàn Quốc dùng nhãn sinh thái là một cách hiệu quả giúp người tiêu dùng nhận biết sản phẩm xanh, vì vậy các chính sách ghi nhãn sinh thái được ban hành khá sớm (1990), mục đích nhằm cung cấp thông tin đáng tin cậy cho người tiêu dùng Hiện nay, nhằm tăng cường thông tin về độ thân thiện với môi trường của sản phẩm cho khách hàng, người dân Hàn Quốc đã áp dụng nhiều hình thức như: Dán nhãn sinh thái, Gắn nhãn “dấu chân Carbon” (Carbon Footprint), Chứng nhận công trình xanh, Chứng nhận cửa hàng xanh…
Tổng khối lượng mua sắm xanh của tất cả các tổ chức công cộng ở Hàn Quốc đạt khoảng 2 tỷ đô la Mỹ vào năm 2013, tăng 2,6 lần so với năm 2005
* Hoa Kỳ
- Hoa Kỳ xếp hạng cao nhất trong hầu hết các danh mục tiêu dùng với một biên độ đáng kể, ngay cả trong số các quốc gia công nghiệp Mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch của người Mỹ cao gấp đôi so với cư dân trung bình của Vương quốc Anh và gấp hai lần rưỡi so với mức tiêu thụ trung bình của người Nhật Trong khi đó, người Mỹ chỉ chiếm năm phần trăm dân
số thế giới nhưng lại tạo ra một nửa lượng chất thải rắn trên toàn cầu
Thói quen tiêu dùng của người Mỹ ít sử dụng phương tiện giao thông công cộng nhất, chỉ 7% sử dụng các phương án chuyển tuyến để đi lại hàng ngày, chỉ 1/3 người Mỹ đi bộ hoặc đi xe đạp đến điểm đến của họ
Mỹ vẫn là nước dẫn đầu về mức tiêu thụ bình quân đầu người đối với hầu hết các loại tài nguyên
- Năm 2013, ở Hoa Kỳ có 71% người tiêu dùng quan tâm tới môi trường khi họ mua sắm, trong đó 7% quan tâm đến môi trường trong mọi
Trang 6lần mua sắm, 20% thường xuyên quan tâm đến môi trường và 44% quan tâm đến môi trường
Nhìn chung, nhận thấy rằng người tiêu dùng Mỹ xếp hạng cuối cùng trong số 17 quốc gia được khảo sát về hành vi bền vững Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng Hoa Kỳ là một trong những người ít có khả năng cảm thấy tội lỗi nhất về tác động của họ đối với môi trường, nhưng họ lại gần đứng đầu danh sách vì tin rằng những lựa chọn cá nhân
có thể tạo ra sự khác biệt
* Việt Nam
- Tiêu dùng thực phẩm sạch, thực phẩm hữu cơ ở nước ta, trong thời gian từ 2019-2021 dịch covid-19 đang bùng phát, người dân dã dần có ý thức hơn trong việc lựa chọn thực phẩm cho gia đình, các loại thực phẩm sạch, có nguồn gốc được bán tại các cửa hàng có uy tín gia đình Báo cáo
xu hướng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ của AC Nielsen cho thấy có đến 80% người tiêu dùng Việt Nam ưu tiên mua các thực phẩm Organic, BiOrganic, thực phẩm không biến đổi gen,…vì sử dụng phương pháp trồng trọt, chăn nuôi truyền thống, không tác động tiêu cực đến môi trường Mặc
dù chi phí cho các sản phẩm này tăng cao nhưng người dùng vẫn chấp nhận vì ý thức được vấn đề liên quan đến sức khỏe và hệ sinh thái
Mặc dù vậy nhưng theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên Môi trường, lượng tiêu thụ nhựa tính trên đầu người ở Việt Nam qua mỗi năm
đã tăng mạnh, từ 3,8 kg lên mức 41,3 kg/người trong giai đoạn từ
1990-2018 Ước tính mỗi năm Việt Nam có hơn 1,8 triệu chất thải nhựa được thải ra, nhưng có tới 73% trong số đó không được tái chế, trong khi để phân huỷ hoàn toàn các chất thải từ nhựa và nilong trung bình phải mất hàng trăm năm thậm chí là hàng nghìn năm
2.2 Thực trạng của quản lý tiêu dùng xanh ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
* Nhật Bản
- Ban hành chính sách mua sắm xanh và xây dựng mạng lưới tiêu
dùng xanh: Tại châu Á, Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong
phong trào bảo vệ môi trường nói chung về tiêu dùng xanh và trở thành quốc gia đầu tiên ban hành chính sách về mua sắm xanh và luật mua sắm xanh công cộng, mục đích là để thúc đẩy việc mua các sản phẩm và dịch
vụ xanh Và mạng lưới TDX đã đưa ra rất nhiều hoạt động như: hội thảo, triển lãm xanh, giải thưởng “Mua sắm xanh”, dữ liệu thông tin sản phẩm…
Trang 7- Ban hành bộ luật tái sử dụng bao bì (1995) được thông qua nhằm
thúc đẩy tái chế các loại thùng chứa và bao bì đóng gói sản phẩm, bao gồm khoảng 60% khối lượng chất thải trong các hộ gia đình ở Nhật Bản Theo bộ luật này, người tiêu dùng cần phân loại các vật liệu, sau đó cơ quan chức năng thành phố sẽ thu thập và giao lại cho các công ty được chỉ định để thực hiện tái chế
- Việc theo dõi, kiểm tra dám sát của Nhật Bản khá tốt, đặc biệt với ý thức người tiêu dùng ở mức cao thì việc quản lý cũng dễ dàng kiểm soát
và quản lý hơn điều đó làm cho tiêu dùng xanh ở nước này cũng đạt những thành công nhất định
* Hàn Quốc
- Chính sách về sản phẩm xanh tại Hàn Quốc là chương trình dán
nhãn môi trường được triển khai từ năm 1992 Ngoài ra, Chính phủ đã có các nghiên cứu nhằm liên kết hệ thống dán nhãn môi trường với hệ thống mua sắm công cộng và đạt được những kết quả rõ rệt Không chỉ vậy, Chính phủ luôn coi các nhà sản xuất là những nhà tiêu dùng lớn vì vậy đã thông qua các hợp đồng tự nguyện về mua sắm xanh, gắn kết việc mua các nguyên liệu xanh, góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và bán ra các sản phẩm thân thiện môi trường
- Bộ luật khuyến khích mua các sản phẩm và dịch vụ xanh (2005):
nhằm nuôi dưỡng thị trường sản phẩm xanh bằng cách kích thích nhu cầu tiêu dùng đối với sản phẩm xanh cũng như tạo thuận lợi trong việc tiếp cận sản phẩm xanh của người tiêu dùng Bộ luật được xem là cơ sở để thực hiện thu mua xanh, tình nguyện trong việc thực hiện kinh doanh xanh
- Cứ 5 năm thiết lập các kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy mua
sắm xanh Kế hoạch hành động được xây dựng với sự tham vấn của các tổ chức công cộng có liên quan để đưa ra mục tiêu và chiến lược trung hạn cho việc quảng bá các sản phẩm xanh
- Đưa ra hệ thống thẻ tín dụng xanh: để đưa ra một hệ thống khuyến
khích những người có ý thức tiêu dùng xanh Thẻ tín dụng xanh là một phương tiện để tích lũy và sử dụng điểm sinh thái khi khách hàng chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày, hiện đã thu hút hơn 9 triệu người sử dụng
- Các chính sách ghi nhãn sinh thái được ban hành khá sớm (1990),
mục đích nhằm cung cấp thông tin đáng tin cậy cho người tiêu dùng Hiện nay, nhằm tăng cường thông tin về độ thân thiện với môi trường của sản
Trang 8phẩm cho khách hàng, nhiều chính sách khác đã được thi hành như: Dán nhãn sinh thái, Gắn nhãn “dấu chân Carbon” (Carbon Footprint), Chứng nhận công trình xanh, Chứng nhận cửa hàng xanh…
Cùng với các chính sách trên, Chính phủ đang nỗ lực giúp người tiêu dùng nói chung hiểu rõ hơn các khái niệm về cuộc sống xanh và quảng bá sản phẩm xanh bằng cách nâng cao nhận thức cộng đồng Hiện nay, 4
“Trung tâm cộng tác tiêu dùng xanh” đã được thiết lập, cung cấp các dịch
vụ giáo dục về tiêu dùng xanh cho người tiêu dùng
* Hoa Kỳ
- Theo quy định mua sắm Liên bang và Sắc lệnh 13101 về xanh hóa chính phủ, tất cả các cơ quan chính phủ phải thực hiện mua sắm các sản phẩm có thành phần tái chế nhằm khuyến khích việc sử dụng các vật liệu tái sinh
- Năm 2005 đưa ra luật chính sách năng lượng tạo ra các ưu đãi để
khuyến khích việc mua xe phát thải thấp Theo đó, các ưu đãi về thuế đã thu hút khách hàng quan tâm tới các loại phương tiện có giá cao hơn nhưng thân thiện hơn với môi trường
- Ưu đãi thuế: Các khoản thuế tín dụng đã được đưa ra để giảm giá lên
đến 3.400 đô la Mỹ cho xe hybrid (xe lai) và 4.000 đô la Mỹ cho xe ô tô năng lượng thay thế Ưu đãi về thuế có thể thay đổi dựa vào mức độ vận hành “xanh” của các loại xe Ngoài ra, Chính phủ cũng đưa ra các chính sách khuyến khích người tiêu dùng sử dụng những loại xe tiết kiệm năng lượng
- Rainforest Alliance - một tổ chức phi lợi nhuận tại Hoa Kỳ đang gây ảnh hưởng tới sự lựa chọn của người tiêu dùng bằng cách ghi nhãn sản phẩm về hoạt động lâm nghiệp và khai thác gỗ, bảo tồn đa dạng sinh học
và đảm bảo sinh kế bền vững Tổ chức này cũng làm việc với các doanh nghiệp du lịch để giảm thiểu những tác động bất lợi của họ đến sinh thái
và xã hội Rainforest Alliance chứng nhận sản phẩm nông nghiệp bao gồm
cà phê, sô cô la, chuối, nước cam, các loại hạt và hàng trăm mặt hàng khác đến từ các trang trại thuộc các rừng nhiệt đới được bảo tồn
* Việt Nam
Tiêu dùng xanh được Chính phủ đề cập lần đầu tiên trong Chiến lược
về tăng trưởng xanh vào tháng 9/2012 Chiến lược này xác định ba mục tiêu cụ thể, trong đó mục tiêu thứ ba là nâng cao đời sống của nhân dân,
Trang 9xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm
từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn
tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh Để đạt được các mục tiêu của chiến lược, một trong ba nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện gồm có xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững Ngoài ra, Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình phát triển sản phẩm xanh tầm nhìn đến năm 2020
Việt Nam cũng đang triển khai một số hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu dùng bền vững, trong đó tiêu dùng xanh đã bắt đầu được nhắc đến nhiều hơn Nhiều văn bản liên quan đã được ký kết như: Tuyên ngôn quốc tế và Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững (1999), các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả Các hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững cũng được triển khai tại Việt Nam trong hơn l0 năm qua Các chương trình liên quan đến sản phẩm xanh như chương trình cấp Nhãn sinh thái (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Nhãn tiết kiệm năng lượng (Bộ Công Thương), Nhãn sinh thái cho ngành du lịch cũng được triển khai
- Saigon Co.op (Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh) trở thành đơn vị bán lẻ tiên phong tham gia thực hiện chiến dịch
“Tiêu dùng xanh”, với mong muốn đóng góp nhiều hơn cho lợi ích cộng đồng thông qua vai trò là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối Nhìn chung, dù bắt nhịp khá chậm nhưng cho đến nay, xu hướng tiêu dùng xanh đang lan tỏa và nhận được sự hưởng ứng khá tích cực từ phía người dân và các nhà sản xuất với dự án “Tôi yêu sản phẩm xanh và khu phố xanh”
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TIÊU DÙNG XANH VÀ QUẢN LÝ TIÊU DÙNG XANH CỦA CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM
3.1 Đánh giá tiêu dùng xanh
3.1.1 Ưu điểm
Tiêu dùng xanh đã khá phổ biến ở các nước phát triển và có những bước tiến ban đầu ở các nước đang phát triển khi thu nhập cá nhân và ý thức tiêu dùng ngày càng tăng lên Hiện nay, người tiêu dùng trên thế giới đang dần dần hướng tới các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường và coi đó như một tiêu chuẩn cho các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao Người tiêu dùng sẵn lòng trả giá cao hơn cho những hàng hóa được gắn nhãn mác đạt tiêu chuẩn sản xuất bền vững Các chuyên gia môi trường
Trang 10xem tiêu dùng xanh như một biện pháp “giải cứu trái đất” trước những biến đổi xấu của môi trường sống trên toàn cầu Do đó, xu hướng sản xuất
và sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới
3.1.2 Hạn chế thực trạng tiêu dùng xanh
Dù đã có những tín hiệu tích cực, thế nhưng một thói quen tiêu dùng lâu nay với túi nilon thì không dễ để thay đổi, rẻ dễ mua, dễ sử dụng, thậm chí được phát miễn phí khiến túi nilon vẫn đang tràn ngập mọi nơi Chỉ khi người bán, người mua cùng thay đổi hành vi bán hàng, hành vi mua sắm tiêu dùng thì việc mua sắm túi nilon một lần mới được giảm thiểu một cách tối đa
Mặc dù tiêu dùng xanh mang lại nhiều lợi ích cho NTD và môi trường sống, thế nhưng, để các sản phẩm xanh có thể thay thế hoàn toàn các sản phẩm tiêu dùng thông thường gây ô nhiễm thì còn rất nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là với một nước đang phát triển như Việt Nam Do thu nhập của người dân chưa cao nên việc tiếp cận các sản phẩm xanh còn hạn hẹp, tiếp theo đó là thói quen sử dụng các sản phẩm khó phâm hủy như túi nilong vẫn rất phổ biến và cuối cùng nhận thức về bảo vệ môi trường còn rất yếu kém
3.2 Đánh giá quản lý tiêu dùng xanh ở Việt Nam
3.2.1 Thành công
* Việt nam
Các chủ trương, chính sách, chương trình hành động về tiêu dùng xanh được phát triển ở nhiều địa phương trên cả nước, bước đầu đã đạt những kết quả tốt, thu hút đông đảo người dân tham gia
Nhiều chuyên gia cho rằng, sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng trong bối cảnh dịch Covid-19 sẽ vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các đơn vị, cửa hàng, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong việc sản xuất, cung ứng hàng hóa theo các tiêu chí xanh, sạch, minh bạch thông tin sản phẩm để thu hút người tiêu dùng
Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư bài bản công nghệ, trang thiết bị dây chuyền sản xuất để cải tiến quy trình, hướng tới sản xuất xanh, phát triển bền vững Nhiều nhà máy đã lựa chọn đầu tư lắp đặt các hệ thống năng lượng tái tạo để chủ động sử dụng năng lượng sạch, bên cạnh các giải pháp tiết kiệm năng lượng điện, nước trong quá trình sản xuất… Không ít siêu thị, doanh nghiệp ngành F&B đã ưu tiên sản xuất, phân phối các sản