TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG BỘ MÔN DU LỊCH TIỂU LUẬN Học phần Các tôn giáo trên thế giới Tên bài tiểu luận Giá trị của Phật giáo trong phát triển du lịch Giảng viên Nguyễn Đức Khoa Sinh viên Trương Than.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Giảng viên: Nguyễn Đức Khoa
Sinh viên: Trương Thanh Hạnh
Mã: A28369
Lớp: Các tôn giáo trên thế giới 1
Nhóm: 2
HÀ NÔI, tháng 06 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
N i dung ộ
PHẦN 1 CÁC GIÁ TRỊ CỦA PHẬT GIÁO 1
1.1 Tổng quan về Phật giáo 1
1.1.1 Lịch sử hình thành 1
1.1.2 Nội dung cơ bản 3
1.2 Các giá trị của Phật giáo 9
1.2.1 Triết lý 9
1.2.2 Kiến trúc nghệ thuật 10
1.2.3 Nghệ thuật điêu khắc 15
1.2.4 Âm nhạc và nghệ thuật trình diễn 17
1.2.3 Tâm linh 20
PHẦN 2: PHẬT GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 21
2.1 Thị trường khách 21
2.2 Sản phẩm du lịch 21
2.3 Dịch vụ du lịch 22
PHẦN 3: KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4PHẦN 1 CÁC GIÁ TRỊ CỦA PHẬT GIÁO
1.1 Tổng quan về Phật giáo
1.1.1 Lịch sử hình thành
- Thời kỳ đạo Phật ra đời cũng chính là thời kỳ phát triển cực thịnh của đạo
Bà La Môn cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị xã hội Dân cư trong xã hội
Ấn Độ cổ đại lúc này chia thành 4 đẳng cấp là: Bà La Môn, Sát Đế Lị, Vệ
Xá và Thủ Đà La
+ Bà La Môn là đẳng cấp có địa vị cao nhất, bao gồm những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp
+ Sát Đế Lị là đẳng cấp của vua quan và tầng lớp võ sĩ
+ Vệ Xá là đẳng cấp của những người bình dân làm các nghề như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, thợ thủ công, …
+ Thủ Đà La là đẳng cấp thấp nhất, chiếm đa số, đây là con cháu của những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu sản xuất
- Sự phân biệt đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, từ địa vị xã hội, quyền lợi kinh
tế đến quan hệ giao tiếp, ăn mặc, đi lại, sinh hoạt tôn giáo, … Đẳng cấp Thủ
Đà La ở vị trí dưới đáy của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên
- Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra vô cùng khắc nghiệt khiến cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người Thủ Đà La căm ghét chế độ đẳng cấp Nhiều trào lưu tư tưởng chống lại đạo Bà La Môn và chế độ đẳng cấp của nó đã ra đời, trong đó có đạo Phật
- Sự ra đời đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là thái tử Cổ Đàm Tắt Đạt Đa sinh năm 563 TCN, con vua Tĩnh Phạm nước Ca tỳ la vệ ở
Trang 5chân núi Hymalaya – miền đất bao gồm một phần miền Nam của Nepal và một phần của Ấn Độ ngày nay.
- Ngay từ nhỏ, Thái tử Tất Đạt Đa đã được sống trong nhung lụa, không tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề biết rằng trong cuộc đời lại có những đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc
- Năm 17 tuổi, Thái Tử cưới vợ là công chúa Da Giu Đà La, sinh ra một con trai là La Ầu La Từ đó thái tử mới được tiếp xúc với hiện thực cuộc sống ngoài chốn cung đình Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những cảnh già yếu,bệnh tật, chết chóc,… đã tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm của Ngài
- Năm 29 tuổi, Ngài quyết định rời bỏ ngôi vị cao quyền lực rời bỏ cuộc sống nhung lụa xa hoa để dấn thân vào con đường tu hành khổ hạnh, mong tìm được sự giải thoát cho chúng sinh
Hình 1.1.1 Thích ca Mẫu ni thiền định dưới gốc bồ đề
- Sau 6 năm tu hạnh ở núi Tuyết Sơn mà không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và cũng không nhận thức được chân lý, Ngài nghiệm ra là cả cuộc
Trang 6sống tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đều không giúp tìm con đường giải thoát, chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất Do đó, Ngài tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý và bỏtối tu khổ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ.
- Sau 49 ngày thiền định dưới gốc bồ đề tại làng Uruvela, chìm đắm trong tư duy sâu thẳm, Ngài tuyên bố đã đến được với chân lý, hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường cứu vớt Ngài tự xưng là Phật – có nghĩa là giác ngộ Người đời gọi Ngài là Thích ca Mâu ni – bậc thánh của dòng họ Thích ca
1.1.2 Nội dung cơ bản
Tứ diệt đế là sự nhận thức đúng đắn các loại khổ đau, nguyên nhân dẫn đến khổ đau, trạng thái không có khổ đau và con đường để thoát đau khổ Con người chỉ thoát khỏi khổ đau nhờ nhận thức đúng về đau khổ Thoát khỏi vô minh thì hết đau khổ Đây là quan điểm triết học mang tính duy lý
Trang 7+ Khổ đế, chân lý về sự Khổ: đau trên thân gồm sinh, già, bệnh, chết; khổ tâmgồm sống chung với người mình không ưa, xa lìa người thân yêu, mong muốn
mà không được, chấp vào thân ngũ uẩn Khổ đau là một hiện thực, không nên trốn chạy, không nên phớt lờ, cũng không nên cường điệu hóa Muons giải quyết khổ đau trước tiên phải thừa nhận nó, cố gắng phân tích nó để nhận thức nó một cách sâu sắc
+ Tập đế, chân lý về sự phát sinh của khổ: khổ đau đều có nguyên nhân
thường thấy do tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ Cần truy tìm đúng nguyên nhân sinh ra khổ, nguồn gốc sâu xa sinh ra khổ trong sinh tử luân hồi là do vô mình và ái dục, những mắt xích liên quan nằm trong 12 nhân duyên
+ Diệt đế, chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: là trạng thái không có đau khổ, là một sự an vui giải thoát chân thật, là một hạnh phúc tuyệt vời khi chấm dứt dục vọng, và chấm dứt vô minh
+ Đạo đế, chân lý về con đường dẫn dến diệt khổ: phương pháp để đi đến sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, bát chính đạo Phương tiện hay pháp môn để thành tựu con đường bát chi thánh đạo là 37 phẩm trợ đạo
- Bát chính đạo
+ Nhóm trí tuệ:
- Chính kiến: hiểu biết chân chính: hiểu biết về nhân quả, duyên khởi, hiểubiết về sự vật hiện tượng chân thực, như chúng đang là, không kèm theo cảm xúc, cảm tính, hiểu biết 4 chân lý về khổ và cách thoát khổ, từ đó biểu hiện thái độ sống không làm khổ mình, khổ người
- Chính tư duy: suy nghĩ hướng đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí và giác ngộ
+ Nhóm đạo đức:
Trang 8- Chính ngữ: lời nói chân chính: lời nói sự thật, lời nói hòa hợp, đoàn kết, mang tính xây dựng, mang lại an vui hạnh phúc cho người khác.
- Chính nghiệp: hành vi chân chính: không sát sanh, không trộm cắp, không ngoại tình Các hành vi được khuyến khích: chia sẻ sỡ hửu hợp pháp với những người kém may mắn hơn, sống chung thủy một vợ một chồng, giữ sức khỏe để chăm sóc, bảo vệ người thân
- Chính mạng: nghề nghiệp chân chính để nuôi sống thân mạng: không làmnghề đồ tể vì giết động vật hàng loạt
- Chính tinh tấn: nỗ lực kiên trì chân chính: tiếp tục làm những việc thiện đang làm, hiện thực hóa những việc thiện có ý định làm, từ bỏ những việc bất thiện đang làm, loại bỏ ý định về những việc bất thiện sẽ làm.+ Nhóm thiền định:
- Chính niệm: sự làm chủ các giác quan trong các tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh, thức và ngủ, làm chủ cảm xúc và thái độ sống
- Chính định: 4 tầng thiền: sơ thiền (ly dục ly ác pháp sinh hỷ lạc, có tầm,
có tứ), nhị thiền (diệt tầm, diệt tứ, định sinh hỷ lạc, nội tĩnh, nhất tâm), tam thiền (ly hỷ, trú xả), tứ thiền (xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh) cùng với những phương pháp hỗ trợ như tứ niệm xứ, quán niệm hơi thở, định sáng suốt … được đề cập trong kinh tạng Pali Sau khi đã đạt tứ thiền, hành giả dẫn tâm về Tam minh gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh Chứng tam minh xong, hành giả giải thoát hoàn toàn, thành tự thành quả A – la – hán, các vị a – la – hán tuyên bố “Tái sinh đã tận, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại sinh
tử này nữa”
Trang 9Những tư tưởng cơ bản của Phật đà đều được nhắc lại trong cá kinh sách, nhưng cókhi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trườngphái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lý hết sức phức tạp.
Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong tam tạng, bao gồm:
- Kinh tạng, bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử Kinh tạng tiêu biểu văn hệ Pali được chia làm năm bộ: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng bộ kinh, Tăng chi bộ kinh và Tiểu bộ kinh
- Luật tạng, chứa đựng lịch sử phát triển của tăng – già cũng như cá giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhật Niết – bàn
- Luận tạng, cũng được gọi là A – tì – đạt – ma , chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lý học Luận tạng được hình thành tương đối trễ,
có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất Tăng – già của đạo Phật gồm có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni và giới Cư sĩ
Nhân quả và luân hồi
Trong đạo Phật có hai khái niệm quan trọng là nhân quả và luân hồi
- Nhân quả:
+ Đạo Phật giải thích mọi sự việc đều là sự biểu hiện của luật nhân quả Nghĩa là mọi sự việc đều là kết quả từ nguyên nhân trước đó Sự việc đó chính nó lại là một nguyên nhân của kết quả sau này Nhân có khi còn gọi là nghiệp, và một khi đã gieo nghiệp thì ắt sẽ gặt quả (để phân biệt tích cực với tiêu cực một cách tương đối thì có khái niệm "thuận duyên",
"nghịch duyên" hoặc "Thiện nghiệp", "Ác nghiệp") Từ nhân đến quả có yếu tố duyên Duyên là điều kiện thuận lợi, là cơ hội cho phép quả xảy ra(thuận duyên) hoặc điều kiện cản trở, trì hoãn quả tới chậm hơn, đôi khi
Trang 10triệt tiêu quả (nghịch duyên) Các tương tác nhân quả phức tạp diễn ra song song hoặc nối tiếp nhau gọi là trùng trùng duyên khởi.
+ Nhân quả tương tác theo luật tương ứng: nhân nào thì quả nấy; hạt táo không thể sinh ra quả bưởi, hạt xoài không thể sinh ra quả đào Kinh Phậtghi rằng "Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành Cái này diệt thì cái kia diệt" Các nguyên nhân cùng loại nhưng trái chiều sẽ tương tác, bù trừ nhau, cái nào mạnh hơn sẽ tạo ra kết quả sau khi bù trừ xong Học thuyết nhân quả dựa trên kinh tạng nguyên thủy lý giải rằng nghiệp đã gieo có thể chuyển được do gieo nhân mới đối lập với nhân cũ.+ Con người dù không thể thấy được toàn bộ, không thể lý giải được hoàn toàn nhân quả này thì mối quan hệ nhân quả vẫn là một quy luật tự nhiên khách quan Có những người dù không nhận thức được, thậm chí
có thể họ không tin vào nhân quả, nhưng quy luật này vẫn vận hành và chi phối vạn vật, bao gồm chính bản thân họ Tuy nhiên khác với khoa học hiện đại, khi lý giải về cuộc sống của con người, Phật giáo cho rằng quan hệ nhân quả là xuyên suốt thời gian chứ không chỉ trong một kiếp sống Việc này dẫn đến khái niệm luân hồi
- Luân hồi:
+ Luân hồi chỉ cho việc tâm thức trải qua nhiều kiếp sống Chết là hết một kiếp, tâm thức mang theo nghiệp đi tái sinh kiếp mới Hình thức của một kiếp sống là khác nhau, có thể chuyển đổi giữa các loài, các thế giới (cõi súc sinh, cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la…) Quan hệ nhân quả quyết định cách thức luân hồi, hay nói cách khác tùy nghiệp đã tạo mà sẽ luân hồi tương ứng để nhận quả
Trang 11+ Chết là hết một kiếp, nhưng lại là khởi đầu của một kiếp khác, nối tiếp
vô cùng tận Dù có hết một kiếp sống thì vẫn sẽ tiếp tục luân hồi sang kiếp khác để nhận quả Còn luân hồi là còn khổ Đạo Phật chỉ rằng luân hồi chỉ có thể bị phá vỡ nếu giác ngộ, nghĩa là có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử nếu biết cách "đoạn diệt" các nguyên nhân dẫn dắt luân hồi, nghĩa
là không còn quan hệ nhân quả Đạo Phật gọi đó là giải thoát và toàn bộ Phật pháp đều nhằm chỉ ra con đường giải thoát, như Phật đã nói "Như mặn là vị của nước biển, còn vị của đạo ta là giải thoát"
1.1.2.2 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một niềm tin, ngưỡng mộ, tôn trọng một điều gì đó Có thể là những hiện tượng thiên nhiên (thần gió, thần sấm, thần nước, … ), hay những
vị anh hùng dân tộc có công với đất nước
Từ trước đến nay, các Phật tử đều sùng bái Bồ Tát Quán Thế Âm Đây là một tín ngưỡng rất phổ biến trong tư tưởng của con người Việt Nam
Danh hiệu đầy đủ của Bồ Tát Quán Thế Âm là : Nam Mô Nhĩ Căn Viên Thông Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát Chúng ta thấy trước danh hiệu: Quán Thế Âm Bồ Tát làm một chuỗi từ rất dài, đó là pháp môn tu và ý nghĩa về công hạnh của Ngài Dựa vào lịch sử chúng ta biết rằng khoảng thế kỷ đầu Tây lịch, Việt Nam chúng ta bắt đầu biết đến Quan Thế Âm Bồ tát bằng sự tín ngưỡng Khi ấy, qua lời giới thiệu của những người thương buôn Ấn Độ vào Việt Nam, họ chỉ xem Bồ tát là vị thần có quyền năng cứu khổ ban vui và nhất là cứu hộ độ chúng sinh trên biển lớn để vượt qua khỏi cái tại nạn ách nàn
Trang 12Từ đó, người Việt chúng ta biết đến đạo Phật thông qua Bồ Tát Quan Thế Âmchứ không phải là Đức phật Thích Ca Mâu Ni Cho nên hình ảnh của Quan Thế Âm đã trở nên rất quen thuộc và phổ biến trong niềm tin của mọi người.Thông thường người ta biết đến Bồ tát qua hai tính đặc thù: một là cầu
nguyện để được bình an tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ Hai là cầu để có được con trai con gái
1.2 Các giá trị của Phật giáo
và phát triển kinh tế lâu dài, bền vững
- Giáo lý đạo Phật, cụ thể áp dụng lời Phật dạy trong việc chi tiêu cá nhân, xây dựng đời sống kinh tế gia đinh như: Khi có tiền thì mỗi gia đình, cá nhân phải biết cách chi tiêu đời sống hàng ngày, một phần tiết kiệm đề phòng bất trắc hoặc tình huống khẩn cấp xảy ra (tích cốc phòng cơ) và hai phần để kinh doanh và đầu tư sinh lời
Trang 13- Trong quá trình sinh hoạt tại các đạo tràng, đi lễ chùa đã sớm hình thành những nhóm, câu lạc bộ giúp nhau, tương trợ nhau trong đời sống,phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo …
- Phật giáo tuy không tác động trực tiếp vào việc hoạch định đường hướng phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương Song khi có sự tác động của Phật giáo thì vai trò của Phật giáo sẽ có những ảnh hưởng tích cực tới đời sống kinh tế xã hội tại những vùng đó: Tác động làm thay đổi nhận thức về
tư duy xây dựng kinh tế; vì mục đích của Phật giáo là xây dựng đời sống anlạc và giải thoát, nhưng muốn an lạc thì đời sống kinh tế phải vững mạnh, phát triển kinh tế bền vững và hài hòa , …
-Hình 1.2.1 Phật giáo có ảnh hưởng tốt tới đời sống xã hội.
1.2.2 Kiến trúc nghệ thuật
Trang 14- Hội họa: thông thường, các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo chủ yếu tái hiện lại nội dung của kinh điển Hội họa Phật giáo thời kỳ đầu thường mô
tả lại cuộc đời đức Phật, nội dung của các bộ kinh và các câu chuyeenju tiền thân Đức Phật Bối cảnh và nhân vật trong các tác phẩm nghệ thuật được khắc họa theo quan kiến của đạo Phật tùy thuộc vào truyền thống của từng địa phương
Hình 1.2.2 Ngũ trĩ Như Lai.
Trong thời kỳ đầu, các thủ ấn, thiên y của chư Phật cùng các chi tiết khác trong cácbức họa và tượng không tuân thủ quá chặt chẽ những nguyên tắc về tính biểu tượng Sau này, với sự phát triển của Phật giáo Đại thừa và tầm quan trọng của tínhbiểu tượng trong Đại thừa, 5 thủ ấn của Đức Phật được biết đến là những thủ ấn nguyên thủy gắn liền với những thời khắc lịch sử khác nhau trong cuộc đời của Ngài, hay còn nêu biểu cho Ngũ trí Phật: Đức Phật Đại Nhật Như Lai, Đức Phật Bất Không Thành Tựu, Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Bảo Sinh và Đức Phật Bất Động
Trang 15Ngũ tri Như Lai nêu biểu cho 5 phương hướng của pháp giới (phương Đông, Bắc, Tây, Nam và Trung tâm), 5 màu sắc, ngũ độc, ngũ uẩn, ngũ trí, … theo quan kiến Phật giáo, những si mê, phiền não thông thường của con người được chia thành năm loại hay còn gọi là Ngũ độc, bao gồm vô minh, sân giận, kiêu ngạo, tham ái
và đố kỵ Đạo Phật cho rằng chúng là toàn bộ những yếu tố khiến chúng ta mê đắmtrong khổ đau luân hồi và chưa thể đạt thành giác ngộ
Hình 1.2.3 Thangka Đức Bất Động Phật (cuối thể kỷ 13) tại Bảo tang Mỹ thuật
Honolulu (Hoa Kỳ).
Trang 16Ngũ trí Phật lần lượt tương ứng với năm loại trí tuệ: Đức Phật Bất Động tương ứng với trí tuệ Đại viên cảnh trí, Đức Phật Bảo Sinh tương ứng với trí tuệ Bình đẳng tính trí, Đức Phật A Di Đà với trí tuệ Diệu quan sát trí, Đức Phật Bất
Không Thành Tựu Phật với trí tuệ Thành sở tác trí và Đức Phật Đại Nhật Như Lai với Trí tuệ toàn hảo hay Pháp giới thể tính trí
Hầu hết chư Phật, Bồ Tát và các Bản tôn trong kinh điển đều thuộc năm bộ Phật này (nhiều bài nghiên cứu của phương Tây gọi là các Thiền Na Phật – Dhyani Buddhas) Tên các bộ Phật được lấy theo đặc tính của Ngũ trí Như Lai, bao gồmPhật bộ, Liên hoa Bộ, Kim Cương bộ, Bảo Sinh bộ và Nghiệp bộ Ví dụ, đối tượng trung tâm cần được tịnh hóa thông qua thiền định của bộ Nghiệp chính là độc tố phiền não “ghen tỵ”
Cùng với sự phổ biến của các hình tượng phức tạp hơn trong Phật giáo Đại thừa
và Kim Cương thừa, hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật tạo hình phong phú mới ra đời Tính biểu trưng của các tác phẩm này thể hiện nhiều ý nghĩa sâu sắc của giáo pháp Ví dụ, một vị Phật Bản tôn với hai tay nêu biểu cho chân lý tương đối
và chân lý tuyệt đối; hay một Bản tôn với ba mắt, một mặt nêu biểu cho sự hợp nhất của ba thời – quá khứ, hiện tại và tương lai; sự hợp nhất của Bản tôn mẫu tính và phụ tính nêu biểu cho tính bất khả ly của Trí tuệ và Từ bi hay sự chuyển hóa năng lượng của sự đam mê thành trí tuệ tỉnh thức trên con đường thực hành tâm linh
Tương tự như vậy, một vị Phật Bản tôn với 6 sức trang hoàng nêu biểu cho 6 Ba
la mật, Bản tôn Thắng Lạc Kim Cương với 12 tay nêu biểu cho 12 nhân duyên, Đức Kim Cương hàng phục Dạ ma với 18 chân nêu biểu cho 18 khía cạnh của tính Không, v.v…