1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA

158 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia
Trường học Trường Phổ Thông Năng Khiếu, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Hội thảo khoa học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu như sách chuyên khảo đã xuất bản, luận án, luận văn đã bảo vệ đều tập trung vào nghiên cứu các kĩ năng như phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn,

Trang 1

1

HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN

KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

2.1 Mục đích nghiên cứu 6

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

4.1 Phương pháp phân tích 6

4.2 Phương pháp so sánh 6

4.3 Phương pháp liên ngành 7

4.4 Phương pháp mô hình hóa 7

4.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 7

5 Cấu trúc chuyên đề 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VÀ ĐƯA VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI 8

1.1 Giới thuyết về kĩ năng chứng minh trong kiểu bài văn nghị luận 8

1.1.1 Khái niệm văn nghị luận 8

1.1.2 Phân loại văn nghị luận 9

1.1.3 Đặc trưng của văn nghị luận 10

1.1.4 Kĩ năng chứng minh 10

1.1.4.1 Luận chứng ví dụ chứng minh 11

Trang 3

2

1.1.4.2 Luận chứng dẫn chứng 11

1.1.4.3 Luận chứng nhân quả 11

1.1.4.4 Luận chứng ví dụ so sánh 11

1.2.1.1 Đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ 12

2.3 Chức năng của văn học 17

2.2.1 Nhận thức và dự báo 17

1.2.3.2 Thẩm mĩ và giải trí 20

1.2.3.3 Giáo dục và giao tiếp 22

1.3 Nhận diện một số vấn đề lí luận văn học về tác phẩm, loại thể được đưa vào đề thi học sinh giỏi 25

Tiểu kết 30

CHƯƠNG 2 NHẬN DIỆN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC VỀ TÁC PHẨM VÀ LOẠI THỂ CÓ TRONG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI 32

2.1 Nhà văn và quá trình sáng tác 32

2.1.1 Nhà văn 32

2.1.2 Tiền đề hình thành tài năng nhà văn 34

2.1.3 Nhà văn do khổ luyện mà thành tài 38

2.1.4 Mô hình 5 thời kỳ phát triển tài năng của nhà văn 40

2.1.4.1 Thời kì thứ nhất: chuẩn bị 40

2.1.4.2 Thời kì thứ hai: hình thành văn tài 40

2.1.4.3 Thời kì thứ ba: Thời kỳ buồn lo để tự vượt lên trong sáng tạo, 41

2.1.4.4 Thời kì thứ ba: Thời kỳ hoàng kim trong sáng tác, 41

2.1.4.5 Thời kì thứ năm: thời kì hoàng kim thứ hai trong đời văn: 42

2.1.5 Quá trình sáng tác của nhà văn 42

2.1.5.1 Giai đoạn một: Hình thành ý đồ sáng tác 43

Trang 4

2.1.5.2 Giai đoạn hai: Giai đoạn chuẩn bị 44

2.1.5.3 Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn viết 45

2.1.5.4 Giai đoạn thứ tư: Giai doạn sửa chữa 46

2.2 Người đọc và quá trình tiếp nhận 47

2.2.1 Bạn đọc là chủ thể tiếp nhận 47

2.2.2 Quan điểm Đông Tây về sự tiếp nhận văn học 48

2.2.3 Phê bình văn học là một loại tiếp nhận đặc biệt 50

2.3 Tác phẩm văn học 53

2.3.1 Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mĩ 53

2.3.3 Vấn đề đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm 55

2.3.4 Vấn đề nhân vật và tính cách 61

2.3.5 Vấn đề Cốt truyện và Kết cấu 67

2.3.6 Vấn đề ngôn ngữ 74

2.4 Vấn đề loại thể văn học 80

2.4.1 Thơ 80

2.4.2 Truyện ngắn 94

2.4.2.1 Vấn đề thể loại truyện ngắn 94

2.4.2.2 Dung lượng của truyện ngắn 104

2.4.2.3 Kinh nghiệm viết truyện ngắn của các nhà văn 105

2.3.4 Kịch 106

2.3.4.1 Xung đột kịch 107

2.3.4.2 Hành động kịch 110

2.3.4.3 Ngôn ngữ kịch 112

Tiểu kết 113

Trang 5

4

CHƯƠNG 3 THỰC HÀNH KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC 115

3.1 Chứng minh theo bề rộng và chứng minh theo bề sâu trong bài văn lí luận văn học 115

3.1.1.Khai thác dẫn chứng theo bề sâu 116

2.1.2 Khai thác dẫn chứng theo bề rộng 124

3.1.3 Kết hợp hài hòa chứng minh theo bề rộng và chứng minh theo bề sâu 128

3.2 Các thao tác triển khai kĩ năng chứng minh 131

3.1.1.Đọc đề và xác định phạm vi dẫn chứng 131

3.1.2 Tiêu chí chọn dẫn chứng 132

2.1.3 Xác định “điểm nhìn” để triển khai dẫn chứng 135

3.2.4 Tư duy về dẫn chứng như những sơ đồ 137

3.3 Thực hành kĩ năng chứng minh trong bài văn lí luận văn học 140

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

PHỤ LỤC 147

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn nghị luận là một loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một quan điểm nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống và trong văn học Văn nghị luận có những đặc trưng cơ bản là lập luận chặt chẽ; lí lẽ sắc bén; dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục Văn nghị luận đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng tổng hợp các tri thức trong sách vở, trong đời sống xã hội để tạo lập văn bản Văn nghị luận giúp học sinh rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và rèn luyện khả năng tư duy khoa học, tư duy phản biện

1.2 Đối với bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, văn nghị luận chiếm một vị trí rất quan trọng Văn nghị luận là kiểu bài xuất hiện trong hầu hết các kỳ thi kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh Đặc biệt kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên Ngữ văn của các trường THPT Chuyên và trong kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia, đề thi môn Ngữ văn thường bao gồm hai phần: Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học Vì vậy, việc dạy Ngữ văn trong nhà trường trung học phổ thông hiện nay, việc chú trọng rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh là vô cùng quan trọng

1.3 Những vấn đề cơ bản của Lí luận văn học đều có trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn Nâng cao và được biên soạn thành những chuyên đề chuyên sâu giảng dạy cho đội tuyển học sinh giỏi của các trường THPT Chuyên Trong đề thi tuyển chọn học sinh giỏi Quốc gia những năm gần đây, phần nghị luận văn học đều yêu cầu học sinh viết một bài văn nghị luận nhằm giải quyết một vấn đề liên quan đến Lí luận văn học

1.4 Thao tác chứng minh là thao tác lập luận được vận dụng thường xuyên trong quá trình viết bài văn nghị luận của học sinh Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận đối với học sinh giỏi, không thể không chú trọng rèn kĩ năng vận dụng thao tác lập luận chứng minh trong giải đề thi học sinh giỏi Quốc gia Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu như sách chuyên khảo đã xuất bản, luận án, luận văn đã bảo vệ đều tập trung vào nghiên cứu các kĩ năng như phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn, chọn và phân tích dẫn chứng trong văn nghị luận… Trong quá trình dạy học sinh khối 10 tham gia đội tuyển học sinh giỏi tại Trường chúng tôi giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, học sinh ngoài việc tổng hợp tri thức văn học, khái quát thành thành những vấn đề mang mang tính lí luận, học sinh chưa thành thạo trong việc vận dụng thao tác chứng minh, một thao tác lập luận quan trọng giúp thí sinh chọn dẫn chứng, phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ một vấn đề lý luận, làm tăng sức thuyết phục cho bài văn nghị luận Đối với đề nghị luận về một vấn đề lí luận văn học, điều đó lại càng trở nên cần thiết

Nhằm mục đích nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận bàn về vấn đề Lí luận văn học cho học

sinh giỏi, chúng tôi chọn nghiên cứu chuyên đề “Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài

Trang 7

6

nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia” Chuyên đề này sẽ tập

trung nghiên cứu việc làm thế nào rèn cho học sinh kĩ năng vận dụng thao tác chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp và đưa ra các vấn đề lí thuyết và thực hành liên quan đến việc rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia

- Mô hình hóa các bước thực hiện thao tác lập luận chứng minh trong bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

- Vận dụng kết quả nghiên cứu tạo một số đề thi và đáp án nhằm rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia

Kiểu bài nghị luận bàn về một vấn đề lí luận văn học

4.1 Phương pháp phân tích

Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong quá trình phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn, phân tích số liệu - tổng hợp kết quả, đánh giá khả năng vận dụng thao tác chứng minh bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học của học sinh tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi

Trang 8

4.3 Phương pháp liên ngành

Nghiên cứu văn học nghệ thuật, nhất là những vấn đề lí luận văn học, không thể không vận dụng những tri thức tổng hợp như văn hóa, xã hội, ngôn ngữ, điện ảnh, hội họa, âm nhạc… Đối với học sinh khi làm kiểu bài nghị luận này cũng vậy Vận dụng phương pháp liên ngành nhằm soi chiếu bài làm kĩ năng chứng minh của học sinh trong kiểu bài nghị luận này nhằm lý giải và đưa ra giải pháp cụ thể một cách hữu hiệu

4.4 Phương pháp mô hình hóa

Phương pháp này được vận dụng nhằm mô hình hóa các vấn đề lý thuyết thành một cấu trúc đơn giản dễ đưa vào thực tiễn sử dụng trong quá trình vận dụng thao tác chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

4.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này nhằm thu thập thông tin kiểm chứng trong quá trình học tập rèn kĩ năng chứng minh trong việc viết bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học của học sinh tại trường THPT Chuyên Từ đó, tổng kết chỉ ra nguyên nhân và hướng khắc phục việc học sinh chưa thuần thục kĩ năng chứng minh trong việc viết kiểu bài nghị luận trên

5 Cấu trúc chuyên đề

Chương 1: Giới thuyết về kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận văn học và đưa vấn

đề lí luận văn học vào đề thi học sinh giỏi

Chương 2: Nhận diện một số vấn đề lí luận văn học có trong đề thi tuyển chọn học sinh giỏi Chương 3: Thực hành kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

Trang 9

8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VÀ ĐƯA VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI

1.1 Giới thuyết về kĩ năng chứng minh trong kiểu bài văn nghị luận

1.1.1 Khái niệm văn nghị luận

Con người có ba phương pháp tư duy bao gồm: tư duy logic, tư duy hình tượng và

tư duy linh cảm Văn nghị luận là kết tinh của việc vận dụng hình thức tư duy logic Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn nghị luận và cách phân loại văn nghị luận

Nguyễn Đăng Mạnh trong công trình Muốn viết được bài văn hay cho rằng: “văn

nghị luận nói chung là dùng lí lẽ, lập luận, bàn bạc làm sáng tỏ một vấn đề nào đó để thuyết phục người đọc, người nghe” và Đối tượng của bài văn nghị luận văn học phải là các vấn

đề trong phạm vi tác phẩm văn học như: tác phẩm, tác giả, trào lưu, xu hướng, giai đoạn văn học, chức năng, nhiệm vụ của văn học”, “Đối tượng của nghị luận văn học là tất cả các vấn đề văn học có nghĩa là rất phong phú và đa dạng.” 1

Đỗ Ngọc Thống trong Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy Tập làm văn cấp 3 phổ thông nhấn mạnh: “Văn nghị luận là một thể loại văn học dùng lí luận (bao gồm lí lẽ

và dẫn chứng) để làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về chân lý cuộc sống nhằm làm cho người đọc, người nghe thấu hiểu và tin vấn đề đó để họ có nhận thức đúng, có thái độ đúng và có hành động đúng”2 và đưa ra định nghĩa trong sách làm văn: “Văn nghị luận là loại văn trong

đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin và tán đồng những ý kiến của mình và hành động

Nguyễn Văn Siêu, trong “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông” khẳng định: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ Nó là tên gọi chung một thể loại văn nhật dụng các hình thức tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng

1 Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (1998), Muốn viết được bài văn hay, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.7, tr.18, tr.21

2 Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Túy (1980), Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng, dạy tập làm văn cấp 3 phổ thông, tập

1), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.5

3Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) (2007), Làm văn, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.7

Trang 10

khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm của tác giả”4

Từ những cách định nghĩa trên, chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Văn Siêu và xét trong việc rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học thì nghị luận văn học là dùng lí lẽ, lập luận, bàn bạc làm sáng tỏ vấn đề để thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề lí luận văn học như vấn đề nội dung và hình của tác phẩm văn học, chức năng của văn học, phong cách nghệ thuật cá nhân của nhà văn, quá trình sáng tạo của nhà văn và quá trình tiêp nhận tác phẩm của người đọc…

Như vậy, kiểu bài văn nghị luận là kiểu bài mà người viết đưa ra được minh chứng, dùng lí lẽ để phân tích minh chứng nhằm chứng minh cho nhận định của mình Không có thao tác lập luận nào trong bài văn nghị luận mà không nhằm mục đích chứng minh cho một quan điểm, một nhận định nào đó của người viết Do đó, kĩ năng chứng minh là kĩ năng quan trọng, thường xuyên phải vận dụng trong quá trình viết văn nghị luận Trong chuyên

đề này, chúng tôi sẽ tổng hợp lại lý thuyết về văn nghị luận, về một số vấn đề cơ bản về lí luận văn học liên quan đến đề thi tuyển chọn học sinh giỏi quốc gia mười năm trở lại đây

để làm cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu, chỉ ra các bước rèn luyện kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học cho học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia

1.1.2 Phân loại văn nghị luận

Có thể phân biệt văn nghị luận từ những góc độ khác nhau:

Phân loại theo nội dung phản ánh: chính luận, tư tưởng bình luận, văn nghệ bình luận, học thuật luận văn, quân sự bình luận, kinh tế bình luận, thời sự bình luận…

Phân loại theo hình thức biểu hiện: tạp văn, tiểu luận, đoản bình, chuyên luận… Phân loại theo góc độ phát biểu như: xã luận, bài viết của bình luận viên, ban biên tập, tuyên ngôn…

Tuy nhiên trong chuyên đề này, chúng tôi chỉ quan tâm đến bài văn nghị luận văn học của học sinh THPT Bởi vậy, căn cứ để phân loại văn nghị luận có thể tham khảo ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh khi trong công trình kể trên trên, ông đã chia nghị luận văn học thành ba loại:

Loại yêu cầu hiểu và cảm thụ tác phẩm văn học

Loại yêu cầu nắm được một vấn đề văn học sử

Loại yêu cầu hiểu được một vấn đề lí luận văn học

4 Nguyễn Văn Siêu (2001), Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.7

Trang 11

10

Dựa trên thực tế ra đề thi của một số trường THTP Chuyên trong những năm gần đây có thể quy văn nghị luận về một số loại như sau:

Nghị luận về một bài thơ hoặc đoạn thơ

Nghị luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Ở loại nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, ý kiến có thể bàn về vấn đề văn học

sử, có thể bàn về một vấn đề lí luận văn học, trong chuyên đề này chúng tôi thừa nhận cách phân chia của Nguyễn Đăng Mạnh và tập trung vào loại thứ ba mà ông đã phân chia, đó là loại yêu cầu hiểu được một vấn đề lí luận văn học Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi định danh là văn nghị luận bàn về một vấn đề lí luận văn học

1.1.3 Đặc trưng của văn nghị luận

Như đã nói ở trên, nghị luận văn học là một nhánh của văn nghị luận, như vậy văn nghị luận ngoài việc cần đảm bảo lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng xác thực, nó bao hàm những đặc trưng chung của văn nghị luận và có những đặc trưng riêng như sau:

Siêu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng bày tỏ sự đồng tình với Nguyễn Đức Dân khi trong tác phẩm “Muôn màu lập luận”, sau khi khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành cả chương trình Nâng cao và Cơ bản ông đã đi đến kết luận việc dùng các khái niệm phương pháp lập luận ở hai bộ sách chưa có sự thống nhất Chứng minh là một kỹ năng cần thiết bao gồm các bước nhất định để học sinh giỏi có thể luyện tập để thuần thục trong việc chọn dẫn chứng, đưa ra lập luận bao gồm các lí lẽ để thuyết phục người tin vào một nhận định, một đánh giá của người viết về một vấn đề lí luận văn học Trên thực tế, một vấn đề lí luận văn học đã được các nhà khoa học chứng minh, đã được đưa vào giảng dạy trong chương

5 Nguyễn Văn Siêu (2001), Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Trang 12

trình sách giáo khoa trung học phổ thông, thường học sinh sẽ tiếp nhận như là chân lí và việc đưa ra nhận định, đánh giá, thường là đồng tình với chân lí được nêu trong sách giáo khoa Với những vấn đề lí luận nêu ra trong đề thi không có trong chương trình học, thường học sinh sẽ tiếp thu và có phản biện để đưa ra nhận định Do đó, dù gặp đề thi liên quan đến một vấn đề lí luận văn học thì thí sinh đều phải vận dụng thao tác chứng minh Chúng tôi dẫn Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Đức dân như đã nói ở trên chỉ nhằm nhấn mạnh: chứng minh là một kĩ năng quan trọng bậc nhất trong làm kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học Nó có quan hệ mật thiết với các thao tác lập luận khác Dù vận dụng thao tác lập luận nào trong bài văn nghị luận, mục đích của nó vẫn là nhằm mục đích chứng mình

để thuyết phục người đọc tin theo một luận điểm mà người viết đưa ra Chứng minh, do vậy, trở thành một thao tác xuất hiện liên tục trong quá trình tạo lập văn bản bài văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

Phương pháp chứng minh có nhiều, học sinh có thông thường vận dụng bốn loại sau:

1.1.4.3 Luận chứng nhân quả

Đây là phương pháp luận chứng dùng nguyên nhân để chứng minh cho kết quả

1.1.4.4 Luận chứng ví dụ so sánh

Bằng cách lấy ví dụ để so sánh, người viết sẽ chứng minh cho phương pháp của mình là một phương pháp đúng đắn Từ đó, khẳng định luận điểm của mình đưa ra cũng đúng đắn Việc so sánh này sẽ biến một vấn đề lí luận văn học vốn trừu tượng, phức tạp thành cụ thể,

dễ hiểu

1.1.5 Việc rèn kĩ năng chứng minh

Trang 13

12

Từ một luận đề (luận điểm) về một vấn đề lý luận văn học được nêu ra, người viết buộc phải đưa ra dẫn chứng để có thể chứng minh Bởi vậy kỹ nằng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học đòi hòi người viết phải tuân thủ những bước sau để đảm bảo việc đưa ra lập lập chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng xác thực Trong đó, việc chọn dẫn chứng có vai trò quyết định đến sự thành công của bài văn nghị luận Dẫn chứng

để chứng minh cho một vấn đề lí luận văn học thường là dẫn chứng lấy từ tác phẩm, từ ý kiến nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu lí luận, phê bình văn học Thậm chí dẫn chứng có thể lấy thêm từ hiểu biết của bản thân về lịch sử vận động và phát triển của văn học nghệ thuật trên thế giới và ở Việt Nam Dẫn chứng có thể là kiến thức văn học sử, kiến thức phê bình văn học, kiến thức lí luận văn học

1.2 Nhận diện một số vấn đề lí luận văn học chung về văn học trong đề thi chọn học sinh giỏi

1.2.1 Văn học là nghệ thuật ngôn từ

Theo giáo trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên, xuất bản năm 2002 thì

« Ngôn từ nghệ thuật, vốn là kết quả của những biện pháp tu từ cùng những quy tắc tổ chức lời văn, nhằm góp phần bộc lộ những giá trị tư tưởng - thẩm mĩ trong một tác phẩm cụ thể Nói đến nghệ thuật ngôn từ (hay nghệ thuật của ngôn từ) là bàn về đặc trưng cơ bản của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, đối sánh với các loại hình nghệ thuật có chất liệu khác »6

1.2.1.1 Đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ

Ngoài việc so sánh với các hình thức nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, kiến trúc

để tìm ra đặc trưng của văn học, nghệ thuật ngôn từ, cũng cần phải khẳng định thêm « văn học không phải chỉ là một loại hình thái ý thức xã hôi, mà còn là một loại hình nghệ thuật »

Do vậy, đặc trưng của văn học phải căn cứ vào đặc trưng chất liệu tạo nên tác phẩm văn học, nghệ thuật ngôn từ « Chất liệu của hội họa là màu sắc và đường nét, cùa âm nhạc là

âm thanh và tiết tấu, của vũ đạo là hình thể và động tác, v.v , đều là vật chất với những trạng thái của nó Trái lại, chất liệu của văn học là ngôn ngữ, hay nói sát đúng hơn là ngôn

từ, đều không phải là bản thân vật chất, mà chỉ là ký hiệu của nó mà thôi, ở đây không dùng ngôn ngữ đã chuyển nghĩa, không những bao hàm chất liệu, mà còn có cả những phương thức và quy tắc của một ngành nghệ thuật nhất định như “ngôn ngữ bale”, “ngôn ngữ điện ảnh” , mà nói ngôn ngữ (langue) theo nghĩa gốc, chỉ một hệ thống tiếng nói của một cộng đồng người nhất định, phân biệt với các cộng đồng khác, và có thể khái quát lại trong từ điển và sách ngữ pháp Ngôn từ (parole) là ngôn ngữ trong vẫn động, tức là lời nói được thể hiện qua những chủ thể phát ngôn khác nhau Trừ những chỗ không rõ phải tra cứu, nhà văn chủ yếu không bao giờ dựa vào từ điển và sách ngữ pháp, họ trực tiếp lấy lời nói mà

6 Phương Lựu (2002), Lí luận văn học, tập 1, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, tr.141

Trang 14

then chốt là những câu nói của con người làm chất liệu Nhưng nói văn học là nghệ thuật của ngôn từ, song không phải là những ngôn từ lôgíc chỉ tác động chủ yếu vào lý tính như trong chính trị, triết học , mà phải là ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác động chủ yếu vào tâm hồn con người Đặc trưng của văn học với tư cách là một hình, thái ý thức xã hội thẩm mỹ phải là cơ sở cho đặc trưng của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật là như vậy »7

Căn cứ từ chất liệu, trong sự đối sánh với tất cả các loại hình nghệ thuật khác, văn học, với tư cách là loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu sẽ mang những đặc điểm sau:

Tính hình tượng - gián tiếp

Chất liệu của tất cả các loại hình nghệ thuật cơ bản, đơn thuần, chứ chưa mạng tính tổng hợp như hội họa, âm nhạc, vũ đạo, v.v , mặc dù là màu sắc, đường nét, âm thanh tiết tấu hay hình thể, động tác, V.V , đều là vật chất, yêc cầu, với những trạng thái của nó cho nên chúng đều có tính mạnh tượng tự trực tiếp, có nghĩa là công chúng có thể trực tiếp nhận nhìn hình tượng của các loại hình nghệ thuật này Chúng ta có thể trực tiếp nghe nhìn được bức tranh Người đàn bà xa lạ, diệu nhạc Sông Danube xanh, điệu múa Champa, tháp Epphen, tượng Phật bà trăm tay nghìn mắt, v.v Tất nhiên sau khi nghe nhìn xong, công chúng vẫn tha hồ thả sức tưởng tượng thêm, nhưng vốn đã có được hình ảnh trực quan ban đầu

Trái lại, ngon ngữ hay ngôn từ không phải là vật chết hay vật thể, mà chỉ là ký hiệu của chúng mà thôi, cho nên hình tượng mà tha văn xây dựng nên không thể nghe nhìn một cách trực quan Đây là hình ảnh nàng Ngu Cơ của Phạm Huy Thông

“Cặp mắt nồng nàn mà xa xăm mà say đắm,

Như chan hòa niềm ái ân đằm thắm

Cặp mày thanh êm ái như mây cong,

Như núi xuân lưu luyến hơi xuân phong

Dưới vầng trăng bâng khuâng sẽ dịu dàng uốn nét

Tóc óng đen như ao trong dưới bóng đêm mờ mịt

Chập chờn bay theo bóng gió heo may

Và êm buông như sóng cuốn trên lưng gầy.”

(Tiếng địch sông Ô)

7 Phương Lựu (2002), Lí luận văn học, tập 1, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, tr.142

Trang 15

14

Và đây nữa, tiếng đàn của người ca nữ trên bến Tầm Dương được Bạch Cư Dị mô

tả như sau:

“Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,

Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao

Cung đàn trọn khúc thanh tao

Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây”

Tính tư duy - trực tiếp

Do ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy” (Mác), là ký hiệu của tư duy cho nên những suy nghĩ, cảm xúc hoặc bất cứ trạng thái tư tưởng tình cảm nào của con người, cho dù không nói ra cũng phải thông qua ngôn ngữ Lấy ngôn ngữ làm chất liệu, văn học do đó có thể bộc lộ trực tiếp tư tưởng tình cảm của nhà văn, hoặc của nhân vật; Một nhà thơ có thể bộc lộ thẳng tâm trạng của mình:

“Anh chờ em, ôi trăng dài viễn phố

Vạh trần gian thương sáng khôn nguôi

Anh chờ em chim bay qua núi đỏ

Non hao gầy qua hồ nước xanh xao”

Hay sau đây là lời kêu ca: phân trần của Hoạn Thư:

“Rằng tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình",

Trừ thoại kịch, và ca kịch mà thật ra cũng có yếu tố văn học là kịch bản ra các loại hình nghệ thuật khác không thể trực tiếp bộc lộ như vậy Tất nhiên những hình tượng hội họa, âm nhạc, vũ đạo , thông qua sự tưởng tượng và chiêm nghiệm thêm của công chúng vẫn có thể hiểu được những suy tư và tâm trạng của tác giả hoặc của nhân vật Họa sĩ, nhạc

sĩ cũng hoàn toàn có cảm hứng “Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi như Tố Hữu, nhưng là ẩn dấu đắng sau bức tranh hay điệu nhạc, chứ không thể bộc lộ thẳng ra Các loại hình nghệ thuật

Trang 16

khác mang tính tư duy - gián tiếp là vì vậy Các nghê thuật khác hiển nhiên là cũng tư duy

về con người, nhưng không thể tái hiện lại con người đang trực tiếp tư duy những gì Bức tượng người suy nghĩ của Rôdin, hiển nhiên là muôn khắc họa lại cái dáng vẻ tư duy, chứ không thể trần thuật lại nội dung của tư duy Trái lại, đọc văn học cổ kim đông tây, chúng

ta biết được vô vàn con người đang suy nghĩ trước cuộc đời với những quyết định lớn lao, những toan tính lầm lỡ; những suy tư dằn vặt Không tác giả thì nhân vật cũng đang suy nghĩ về số phận con người, vận mệnh của dân tộc, chân lý của thời đại Hãy nhớ lại những đối thoại hay độc thoại của Từ Hải, Thúy Kiều của Nguyễn Du, Hamlét của Sêcxpia, Chí Phèo của Nam Qua những suy tư của tác giả và nhân vật, văn học bao giờ cũng là một cuộc tranh luận, đối thoại công khai hoặc ngấm ngầm về tư tưởng Chính vì thế, trên một ý nghĩa nào đó, văn học giàu khuynh hướng tư tưởng hơn các loại hình nghệ thuật khác Và không phải ngẫu nhiên, mỗi khi có những chuyển biến lớn lao trong đòi sống và tâm lý xã hội, thì tuy không phải tất yếu nhưng thường thường vẫn học giữ vai trò tiên phong

Tính vô cực hai chiều về không thời gian

Chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác, mặc dù là vật chất vật thể nhưng hiển nhiên hoàn toàn có thể chuyển hóa thành những ký hiệu tượng trưng cho các sự vật khác Tuy nhiên, cho dù gộp tất cả những chất liệu như âm thanh tiết tấu, màu sắc, đường nét, hình thể và động tác, v.v cũng không thể nào tượng trưng cho mọi sự vật và hiện tượng trong nhân sinh và vũ trụ này Chính vì thế các loại hình nghệ thuật khác đều mang tính hữu hạn trong việc biểu hiện nhân tâm và thế sự, mặc dù ở những mức độ và hình thức khác nhau Mặt khác, với tư cách là vật thể, những chất liệu ấy cho dù có thứ nhẹ như lông hồng thì tác phẩm làm từ những chất liệu ấy cũng “cồng kênh” ở mức độ khác nhau

Trái lại, với tư cách là những ký hiệu phi vật thể, ngôn ngữ hay ngôn từ có thể cô kết lại trong văn bản cực kỳ “gọn nhẹ” Và đúng như một câu đố Nga “Không phải là mật nhưng lại dính với tất cả”, ngôn ngữ hay ngôn từ lại có thể hình dung bất kỳ sự vật nào trong thế giới vĩ mô cũng như vi mô, hữu hình cũng như vô hình từ trạng huống triền miên đến chớp nhoáng Quay ngôn từ làm chất liệu, văn học mang tính cực đại và cực tiểu về không gian, cực lâu và cực nhanh về thời gian là vì vậy

Quả vậy, trong Chiến tranh và hòa bình, L.Tôlstôi có thể tái hiện đại hoàn cảnh

chiến trường Brodino mà những bức tranh hoành tráng cũng không làm nổi Còn Tam quốc,

cò thể kể lại giấu chuyện hàng trăm năm Rồi mười lăm năm lưu lạc của nàng Kiều, thì dù

có tranh liên hoàn cũng không thể nào vẽ lại được tỷ mỷ như vậy Cũng đừng tưởng loại thể tự sự mới làm được như thế Hãy đọc những câu thơ sau đây:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa”

(Chế Lan Viên)

Trang 17

16

“Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch văn thiên tải không du du”

(Thôi Hiệu)

“ Mặt trời đỏ dậy, có vui không

Nhìn nam, bắc, tây, đông

Hỏi cả hai mươi thế kỷ”

(Tố Hữu)

Tất nhiên là ở đấy không có những câu chuyện tường tận như trong thể loại tự sự Nhưng cũng khó lòng có bức tranh hay nhạc điệu nào vẽ ra cảnh tượng hay tấu lên được tâm trạng này Nhưng đó chỉ là những thế giới vi mô Văn học còn có thể đi sâu vào thế giới vi mô, có thể biểu hiện những suy tư phức tạp, những rung động tế vi cụ thể của lòng người “Không gian như có giăng tơ Bước đi sẽ dứt, động hờ sẽ tiêu Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Xuân Diệu) Trong Những người khốn khổ của Victo Huygô, khi được tin tòa án bắt một người nào đó, tưởng nhầm là Giăng Vangiăng thì thị trưởng Mađơlên luôn luôn dày vò tự vấn rằng cứ yên lặng hay tự thú để cứu lấy một người vô tội, vì mình mà lâm nạn: “Những lý lẽ thoáng qua trong đầu óc từ nãy đến giờ đều trở thành mờ ảo, lung linh và lần lượt tan dần như mây khói Song ông cảm thấy dù mình có quyết định thế nào đi nữa thì trong mình cũng có cái gì sẽ chết đi đấy Mình đang đi vào chỗ huyệt chôn mình, dù sang trái hay sang phải thì cũng thế Mình đang hấp hối đây, nhưng không biết là hạnh phúc hay đạo đức của mình đang hấp hối” Và cũng không cần nhắc lại tâm trạng hết sức tinh tế của ông già này trong quan hệ với nàng Codet Không có loại hình nghệ thuật nào biểu hiện được như vậy Âm nhạc trữ tình cố nhiên cũng

đi sâu vào lòng người, nhưng là trên những cảm xúc và rung động ít nhiều trừu tượng

Tính phổ biến trong sáng tác, truyền bá và tiếp nhận

Ngôn ngữ còn một đặc điểm tuyệt diệu nữa là vốn sở hữu chung của mọi người, nhưng đồng thời cũng là sở hữu riêng trọn vẹn không cần phải chia cho từng ngươi, do đó

là một phương tiện vừa để tự biểu hiện lại vừa dễ giao tiếp với người khác Từ đó, về mặt sáng tác, nếu quả mỗi người đều có mầm mống nghệ sĩ, thì nghệ sĩ ngôn từ dễ nảy mầm nhất Và dễ dàng nhặn thấy việc sáng tác, xuất bản, lưu trữ, phát hành, tiếp nhận của văn học ít phải đầu tư về phương diện vật chất hơn nhiều so với loại hình nghệ thuật khác Chỉ cần nhắc tới việc xuất bản một số lượng lớn những tác phẩm văn học mà vẫn đưa được bản chính đến tận tay từng người đọc, chứ chưa cần đề cập đến với đầu tư cho một cuốn phim

là đủ rõ mọi chuvện bất tất phải dài lời Đó là chưa kể tùy theo sở thích và hoàn cảnh của mình, người đọc được tự do tuyệt đối trong việc thưởng thức đọc nhanh hay chậm, liền mạch hay nhảy cóc, đọc dở dang hay đọc đi đọc lại

Trang 18

Tất nhiên, dễ dàng thuận tiện hơn từ sáng tác đến truyền bá và tiếp nhận là một việc, còn có phải công chúng ưa thích văn học nhất không là một việc khác Ở đây, còn phụ thuộc vào chất lượng tác phẩm cụ thể đã đành mà còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác Ngày nay, trong xã hội công nghiệp, nhịp độ sống rất gấp gáp, lại có những kĩ thuật nghe nhìn tối tân, tính chất phi trực quan (phi vật thể, hình tượng — gián tiếp) của văn học càng tỏ ra ít thuận tiện Tuy nhiên, do là nghệ thuật của ngôn từ, văn học bao giờ cũng bộc lộ khuynh hướng tư tưởng sâu sắc hơn và phản ánh hiện thực toàn diện hơn Không phải ngẫu nhiên

mà dân ca Nga được Gôgôn cho là lịch sử tâm hồn Nga, và Epnêghi Onêghin được Bêhnki nhận xét là bộ bách khoa toàn thư của Nga 8

2.3 Chức năng của văn học

Nói chức năng văn học là nói đến mục đích của sáng tác văn chương, đến vấn đề viết để làm gì, đến ý nghĩa xã hội của nó Văn học là một hoạt động tinh thần không chỉ của người sáng tạo mà cả của người tiếp nhận, thưởng thức Chính vì thế, văn học có một

số chức năng cơ bản sau:

2.2.1 Nhận thức và dự báo

Mặc dù có những đặc trưng khu biệt, văn học nghệ thuật vẫn tồn tại trước hết với tư cách là một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người Mỗi tác phẩm văn học lớn từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại Văn học đưa ta tới những chân trời hiểu biết mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi

Sự tồn tại của mỗi cá nhân về không gian và thời gian là hữu hạn Văn học có khả năng phá vỡ cái giới hạn tồn tại ấy, giúp mỗi cá nhân độc giả được sống dài hơn, nhiều hơn bằng những số phận, những cuộc đời khác nhau trong tác phẩm Nếu coi tri thức con người

là kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn thì vốn kinh nghiệm của mỗi cá nhân phần lớn là kinh nghiệm gián tiếp, hình thành qua sự tiếp thu kinh nghiệm của người khác Phần kinh nghiệm trực tiếp, kinh nghiệm nếm trải là khá giới hạn Chính trong cảm thụ tác phẩm văn học, sự

“nếm trải” cuộc sống được miêu tả trong các hình tượng sinh động có khả năng phá bỏ sự ngăn cách giữa hai khu vực kinh nghiệm đó, tạo ra sự chuyển hóa tích cực từ những kinh nghiệm gián tiếp, trừu tượng thành kinh nghiệm cá nhân, trực tiếp Văn học giữ vai trò như một phương tiện tăng cường vốn kinh nghiệm của chúng ta và nhờ vậy, nâng cao năng lực của chúng ta trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, văn học thực sự trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống” Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định giá trị nhận

8 Dẫn theo Phương Lựu (2002), Lí luận văn học, tập 1, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội

Trang 19

18

thức của văn học, đặc biệt là các sáng tác hiện thực chủ nghĩa Ăngghen cho rằng, qua sáng tác của Bandắc, ông hiểu được xã hội Pháp nhiều hơn là qua các tác phẩm của các sử gia, các nhà kinh tế cùng các nhà thống kê thời bấy giờ gộp lại Lênin cũng đánh giá rất cao ý nghĩa khám phá thực tế trong các tác phẩm của Tuốcghênhép, Sêđrin, Nhêkraxôp, xem sự nghiệp văn học của Tônxtôi như là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga

Đưa ra so sánh với khoa học, không ít người hoài nghi, thậm chí phủ nhận ý nghĩa nhận thức của văn học Rõ ràng là văn nọc và nghệ thuật nói chung không thể đảm nhiệm chức năng của khoa học Những tri thức có tính chất khoa học mà tác phẩm văn học đem lại cho người đọc dù sao cũng chỉ dừng lại ở mức độ phổ thông Nhưng trong khi nắm bắt đời sống trong tính toàn vẹn thẩm mĩ của nó, nhà văn thường đem vào trong tác phẩm của mình một lượng thông tin phong phú và sinh động về đối tượng mà mình miêu tả Đó là lượng thông tin thẩm mĩ, giàu tính hình tượng, dễ tiếp nhận đối với mọi người Đúng như lời nhận xét,của Secnưsépxki: “những kết luận khoa học như những thỏi vàng, chỉ lưu hành trong phạm vi nhỏ hẹp, còn tri thức từ các tác phẩm văn học như những đồng tiền nhỏ”, dễ dàng lưu thông, len lỏi tới với tất cả mọi người Đây chính là một trong những ưu thế đặc thù trong chức năng nhận thức của văn học

Mặt khác, chức năng nhận thức của văn học không chỉ bộc lộ ở bề rộng của những kiến thức về đời sống mà chủ yếu và quan trọng hơn là ở chiều sâu của những khám phá thẩm mĩ về con người Thiên nhiên trong văn học dù được đề cập tới ở mức độ nào cũng vẫn là cái thiên nhiên trong mối liên hệ với sự sống con người Đọc tiểu thuyết Ông già và biển cả của Hêminguây, chúng ta có thể biết thêm về biển Nhưng sự hiểu biết mà tác phẩm này mang lại cho ta chủ yếu không phải ở sự phát hiện những quá trình vật lí, sinh học diễn

ra trong lòng đại dương mà ở sự khám phá về mối tương quan giữa con người với biển, về bản lĩnh và khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh xác lập ý nghĩa tồn tại của mình trước thế giới tự nhiên và thế giới con người Thiên về khái quát hóa, trừu tượng hóa để nắm lấy cái bản chất, khoa học như là vô tình bỏ quên cái cá biệt cũng như sự phong phú,

đa dạng của hiện thực con người Với toán học, mọi con số một trăm đều là như nhau Nhưng con số ấy trong văn học thì mỗi nơi mỗi khác Trăm năm trong văn chương có thể

là khoảng thời gian tâm lí, thời gian của sự cảm nhận tâm hồn Trăm năm trong Truyện Kiều (Trăm năm trong cõi người ta) hay trong Trăm năm cô đơn của G Mackét như đã hút vào con số ấy suy tư, trăn trở của cả một thời đại về số phận con người

Khám phá và thể hiện đời sống tâm lí của con người cùng những mối quan hệ xã hội

đa dạng của nó, văn học giúp người đọc liên tưởng tới cuộc sống của chính bản thân mình Nhiều tác phẩm đi vào đời sống tinh thần người đọc như những tấm gương soi, giúp người đọc phát hiện ra chính bản thân mình Sự nhận thức thế giới biến thành quá trình tự ý thức của người đọc

Trang 20

Ý nghĩa nhận thức của văn học còn thể hiện trong chính hoạt động sáng tác của nhà văn Sáng tác tự nó đã là một hoạt động nhận thức đầy năng động và sáng tạo, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của cá nhân nhà văn Hơn nữa chính hình thức nhận thức - sáng tạo này cũng có khả năng giúp chủ thể của nó hiểu đúng hơn hiện thực Điều này bộc lộ khá rõ ở các nhà văn hiện thực Sáng tác của họ chính là một quá trình tự thử thách và kiểm nghiệm những tư tưởng chủ quan của mình Khi viết tiểu thuyết Sống lại, Tônxtôi đã phải thay đổi kết cấu tác phẩm của mình nhiều lần và nhận ra rằng sự thật đời sống với cái lôgíc khách quan của nó không dung nạp được những ảo tưởng chính trị, tôn giáo của mình Nhà văn Gôgôn đã phải đốt bản thảo tập hai Những linh hồn chết nhiều lần khi nhận ra những định kiến chính trị sai lầm của mình bộc lộ trong tác phẩm Sáng tác văn học đã trở thành nơi nhà văn tự phát hiện lại mình

Chức năng nhận thức tạo tiền đề cơ sở cho chức năng dự báo

Phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, văn học vẫn có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực Chính

từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy, văn học có khả năng dự báo tương lai Nhờ năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi hiện tượng của đời sống, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, những quá trình xã hội mới ngay khi thực

tế đời sống quanh mình vẫn còn trong trạng thái “bốn phương phẳng lặng” Những nhà văn

ưu tú thời đại Phục hưng trong khi công kích chế độ phong kiến lại đã sớm báo động cho loài người thấy bàn chân đầy bùn máu của giai cấp tư sản đang lên Chức năng dự báo của văn học bộc lộ đặc biệt rõ rệt trong văn học viễn tưởng Từ lâu, trước khi chế được chiếc tầu ngầm đầu tiên, người ta đã đọc Hai vạn dặm dưới đáy biển của J.Vécnơ Ngay từ những năm ba mươi, K.Sapếch đã viết về người máy - rôbôt cùng những hậu quả nặng nề của nền văn minh nông nghiệp Nếu như các nhà khoa học, các nhà tư tưởng phán đoán và kết luận

về tương lai thì nghệ sĩ có thể hình dung tương lai Sự hình dung này không phải là trò chơi tùy tiện của trí tưởng tượng mà là sự ước đoán theo lôgíc phát triển khách quan của thực tại Từ thời đại Phục hưng các tác phẩm Thành phố mặt trời (T.Campanela), Utopia (T.Morơ) đã xuất hiện như những thông điệp đầu tiên về sự ra đời của kiểu quốc gia xã hội chủ nghĩa Qua sáng tác của Secnưsépxki (Làm gì), Gorki (Bài ca chim báo bão, Người mẹ), Nguyễn Ái Quốc (Con người biết mùi hun khói) những dự báo về cách mạng xã hội chủ nghĩa càng trở thành chính xác

Trong sáng tác, những nhà văn thực sự có tài năng không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận đánh giá trong sự vận động, phát triển Yếu tố tiên tri như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn Tất nhiên mức độ dự báo, tính chất và nội dung dự báo không phải như nhau trong mỗi trào lưu văn học Bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan và niềm tin mạnh mẽ vào con người cũng

có không ít những tác phẩm, những xu hướng văn học bộc lộ thái độ bi quan, tuyệt vọng trước tương lai loài người Văn học hiện sinh chủ nghĩa cũng tràn đầy nhiệt tình khám phá

Trang 21

20

tương lai Nhưng trong phần lớn những tác phẩm hiện sinh chủ nghĩa, yếu tố dự báo đã mất

cơ sở hiện thực Những hoài nghi, kết luận của các tác giả về sự suy sụp của con người và thế giới không xuất phát từ sự khám phá bản thân thực tại đời sống mà từ những triết lí duy tâm Sáng tác của họ rơi vào chủ nghĩa tiên nghiệm, vì vậy, các nhà hiện sinh chủ nghĩa càng phán đoán, dự báo thì càng xa rời sự thật đời sống Đối mặt với hiện tại, thâm nhập sâu rộng vào những quá trinh thực tiễn, văn học hiện thực chủ nghĩa dễ nắm bắt được những tín hiệu của tương lai Với khả năng này, văn học hiện thực chủ nghĩa tiếp cận gần hơn với khoa học

1.2.3.2 Thẩm mĩ và giải trí

Nếu xem chức năng của một sự vật nào đó như là xem xét lí do tồn tại của nó thì việc thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ cho con người là lí do trực tiếp nhất của sự tồn tại văn học Với tư cách là một hoạt động sáng tạo, hoạt động đồng hóa thẩm mĩ thế giới khách quan, văn học nghệ thuật đảm nhiệm một chức năng thẩm mĩ tích cực mà không một lĩnh vực hoạt động nào khác thay thế nổi Văn học đem lại cho con người niềm vui trong sáng trước cái đẹp của sự sống Lẽ dĩ nhiên văn học không chỉ hướng tới cái đẹp Phạm vi quan tâm của văn học là toàn bộ những khía cạnh thẩm mĩ khác nhau của đời sống con người Đó là những hiện tượng, những khía cạnh bi thảm, cao cả, hài hước v v…của đời sống Nắm bắt

và thể hiện những khía cạnh đó một cách cụ thể, sinh động, văn học khơi dậy ở người đọc những cảm xúc xã hội tích cực, thỏa mãn người đọc cái nhu cầu nếm trải sự sống Đây là một khả năng đặc thù mà khoa học ngay cả trong sự liên kết nhiều ngành cũng không thể tạo ra được Khả năng này tất nhiên xuất phát từ đặc trưng phản ánh của văn học Bởi vì cảm xúc thẩm mĩ chỉ được khơi gợi, hình thành từ sự lĩnh hội đối tượng trong dạng tồn tại trực tiếp của nó

Để có được khả năng thẩm mĩ nói trên, văn học không thể khước từ việc phản ánh chân thực đời sống Những yếu tố thẩm mĩ của hiện thực khách quan không phải là những yếu tố hình thức bên ngoài mà luôn gắn chặt với bản chất bên trong của sự vật Cảm xúc xót thương, trân trọng, lòng phẫn nộ mà Truyện Kiều gợi dậy trong lòng người đọc là bắt nguồn từ sự tái hiện chân thực những quan hệ xã hội cụ thể của thời đại Nguyễn Du Thơ

ca chống Mĩ tạo ra được cảm xúc tự hào, lạc quan, làm mê say lớp lớp độc giả trẻ tuổi chính

vì nó đã thể hiện đúng bản chất đẹp đẽ và cao cả của hiện thực cách mạng thời kì đó Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật

Là sản phẩm của một hình thức sáng tạo tuân theo quy luật của cái đẹp, văn học không những thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của con người mà còn phát triển ở họ khả năng hành động, sáng tạo theo quy luật ấy Khi nói rằng nghệ thuật làm phong phú đời sống con người, cũng có nghĩa là nó giúp con người nhạy cảm hơn, tinh tế hơn trong hành động và cảm thụ thế giới Secnưsépxki rất đúng khi cho rằng mục đích và ý nghĩa của nghệ

Trang 22

thuật là “giúp cho những ai không có khả năng cảm thụ được cái đẹp có thể tìm hiểu và làm quen với cái đẹp”

Quan hệ của con người với thế giới hiện thực không phải là một thứ quan hệ thụ động, mà mang tính tích cực, sáng tạo Văn học và nghệ thuật nói chung không chỉ tăng cường quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực, phát triển khả năng của con người trong sự lĩnh hội cái đẹp mà còn kích thích tiềm năng sáng tạo của nó trong nhiều phạm vi hoạt động thực tiễn nói chung Không phải ngẫu nhiên mà Anhxtanh đặc biệt đề cao sáng tác của Đôxtôiépxki, coi nhà văn Nga vĩ đại này như một ngưòi giúp ích cho mình hơn bất

kì một nhà tư tưởng khoa học nào Rất nhiều nhà khoa học cũng khẳng định ảnh hưởng lớn lao của nghệ thuật tới sự nghiệp khoa học của mình Nghệ thuật giúp họ tìm thấy cái đẹp ngay trong những phát minh lí thuyết, những công thức toán học Có nhà khoa học thừa nhận rằng sự nhạy cảm trước tính hài hòa, cân đối - một thuộc tính quan trọng của cái đẹp

mà nghệ thuật phát triển đã giúp ông phát hiện nhanh chóng, một cách trực giác những chỗ

“trục trặc”, sai sót của mình trong các quy trình thí nghiệm

Nổi lên như một chức năng đặc thù, chức năng thẩm mĩ thường được các nhà mĩ học duy tâm tuyệt đối hóa Từ những quan điểm triết học “bất khả tri” của mình, I.Căng đã tách rời ý nghĩa thẩm mĩ của nghệ thuật khỏi phạm vi nhận thức và đạo đức Cái đẹp, theo ông, không gợi nên một nội dung thực tế nào, vì vậy mà không liên quan gì tới đạo đức Quan điểm này của Căng đã trở thành linh hồn của nhiều xu hướng nghệ thuật duy mĩ suốt hai thế kỉ sau Thực tế nghệ thuật đã chứng minh rằng những giá trị chân, thiện, mĩ không tồn tại cô lập mà xuyên thấm vào nhau trong chỉnh thể hình tượng nghệ thuật Không thể có cái đẹp trừu tượng, xa lạ với lí trí và tình cảm đạo đức của con người Tác phẩm văn học chỉ

có ý nghĩa thẩm mĩ, chỉ chinh phục trái tim con người khi nó đụng chạm tới những vấn đề

mà con người hằng quan tâm, trăn trở Không thể nào hình dung nổi những niềm vui và nỗi buồn, những yêu thương, hận thù, chán chường và hi vọng - toàn bộ những cảm xúc mà văn học khơi dậy mà lại không có cội rễ sâu xa trong thế giới tình cảm đạo đức của con người Đành rằng khoái cảm thẩm mĩ mà tác phẩm đem lại xuất phát trực tiếp từ vẻ đẹp của hình thức, từ sự làm chủ khéo léo và sáng tạo của nghệ sĩ trước chất liệu và những phương tiện biểu hiện Nhưng một khi tác phẩm bị rút bỏ nội dung xã hội, theo đuổi cái đẹp của ngôn từ thì tự nó đã hủy diệt ý nghĩa thẩm mĩ chân chính của nó Quan niệm mơ hồ về một loại nghệ thuật “vị nghệ thuật” đã đưa không ít những tài năng sa vào vũng lầy của một thứ văn chương cầu kì bí hiểm, xa lạ với nhu cầu, thị hiếu thẩm mĩ của nhân dân

Trong những khoái cảm mà nghệ thuật đem lại còn có loại khoái cảm thưởng thức, tiếp nhận một cách vô tư Vì vậy có thể khẳng định tác dụng giải trí như một chức năng độc lập của văn học và nghệ thuật nói chung Sự e ngại lâu nay về chức năng này có nguyên nhân thực tế của nó Trong những thời điểm cao trào của đấu tranh giai cấp, dân tộc, khi đời sống còn đang nổi lên những vấn đề chính trị cấp bách, yếu tố giải trí trong nghệ thuật thời kì ấy thường lùi lại ở bình diện thứ yếu, hoặc giữ vai trò như một phương tiện hỗ trợ

Trang 23

22

cho những yếu tố chức năng khác Thật ra, giải trí là nhu cầu tự nhiên của con người trước nghệ thuật Trong sự cảm thụ tác phẩm, cùng với sự tiếp nhận nội dung tư tưởng tác phẩm, người đọc còn tìm được khoái cảm trong nếm trải những tình huống tâm lí, những trạng thái cảm xúc vốn có trong cuộc sống con người

Sự tác động của tác phẩm rất khác nhau ở mỗi tầng lớp độc giả Nhưng nhìn chung, động cơ thúc đẩy trực tiếp phần lớn công chúng nghệ thuật là động cơ được nghỉ ngơi một cách lí thú hoặc thay đổi trạng thái tâm lí Đây chính là lí do phát triển của mảng văn học, điện ảnh về đề tài trinh thám, tài tử v.v…

Tuy vậy giải trí không phải là chức năng độc quyền của riêng một thể loại văn học nào Tác dụng giải trí nảy sinh từ tính ước lệ - sáng tạo nói chung của nghệ thuật Tất cả những gì trong hiện thực đi vào nghệ thuật đều được mô hình hóa, được tái tạo theo nguyên tắc ước lệ Nhờ vậy, con người tìm thấy trong nghệ thuật sức mạnh và tự do của mình trong

sự đồng hóa và cải biến thực tại

Mặc dù có tính độc lập tương đối của nó, chức năng giải trí không bộc lộ như nhau

ở mỗi tác phẩm Nó phụ thuộc vào động cơ sáng tác của tác giả và thị hiếu, nhu cầu của từng cá nhân người tiếp nhận tác phẩm Tuyệt đối hóa chức năng giải trí thường dẫn tới sự tước bỏ ý nghĩa xã hội tích cực của văn học, giải trí trong ý nghĩa lành mạnh nhất, có tác dụng phát triển trình độ và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng bao giờ cũng gắn liền với chức năng thẩm mĩ Tách biệt chức năng giải trí, đẩy nó lên như một chức năng cơ bản là hạ thấp vai trò tích cực của văn học trong đời sống Ngược lại, không quan tâm tới khía cạnh giải trí là bỏ sót một khả năng tác động và tự giới hạn tầm ảnh hưởng của văn học trong đời sống thực tiễn

1.2.3.3 Giáo dục và giao tiếp

Không tự đặt cho mình nhiệm vụ xây dựng hoặc phổ biến trực tiếp những nguyên tắc đạo đức, những quan điểm chính trị, nhưng xét tới hiệu quả cuối cùng cua nó, văn học lại có tác dụng rất lớn trong việc xây dựng nhân cách, giáo dục và bồi bổ tư tưởng, tình cảm con người Nhiều nhà lí luận tư sản hiện đại lâu nay thường phủ nhận ý nghĩa tư tưởng và vai trò giáo dục của nghệ thuật, ở một số lí luận gia tư sản, trong thực chất, những quan điểm cực đoan của họ xuất phát từ mưu toan thủ tiêu ảnh hưởng lớn lao của văn nghệ cách mạng Nếu loại bỏ những quan điểm che đậy động cơ chính trị đó ra, những ý kiến nghi ngại hoặc hạ thấp chức năng giáo dục của văn học lâu nay thường xuất phát từ cách hiểu nông cạn về chức năng giáo dục, đồng nhất chức năng đó với sự tuyên truyền áp đặt, một

sự giáo huấn phi thẩm mĩ

Thật ra, những vấn đề mà văn học quan tâm đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền với những vấn đề của đạo đức, chính trị Những tác phẩm lớn từ xưa tới nay đều thấm nhuần nhiệt tình khẳng định những giá trị đạo đức con người Nhà văn trong khi tái hiện thực tại

Trang 24

đời sống không thể không xuất phát từ những quan niệm, lí tưởng của mình về đạo đức nhân sinh, không thể không nhìn nhận đời sống con người từ một góc độ đạo đức, chính trị nhất định Do vậy, tác phẩm văn học nào cũng tác động tới người đọc theo một xu hướng đạo đức, chính trị nào đó

Có nhiều hình thái ý thức có chức năng giáo dục Luân lí học xây dựng trực tiếp những tiêu chuẩn đạo đức Chính trị xác lập những quan điểm xã hội Nhưng dù đảm nhiệm chức năng chính trị, đạo đức trực tiếp, tác dụng giáo dục của những hình thái ý thức này vẫn mang tính bộ phận và thường diễn ra bằng con đường tiếp thu lí trí Với những đặc trưng thẩm mĩ độc đáo, văn học tác động sâu sắc và toàn diện tới tư tưởng, tình cảm con người, vì vậy, trong việc xây dựng nhân cách, phẩm chất đạo đức, văn học trở thành một hình thức giáo dục tự nhiên hơn cả Đó cũng là lí do vì sao nghệ thuật ở hầu hết các loại hình, từ điêu khắc, hội họa, âm nhạc tới văn học, từ xưa đã trở thành phương tiện truyền bá của tôn giáo hoặc công cụ tuyên truyền của các giai cấp thống trị

Ý nghĩa giáo dục của văn học là đặc tính tất yếu, khách quan, độc lập với ý muốn của nhà văn cũng như người đọc Sự tác động có ý nghĩa giáo dục này cũng theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Điều tra xã hội học ở nhiều nước phương Tây lâu nay đã cho những số liệu xác định rằng nghệ thuật có thể dễ dàng tha hóa con người, có thể dẫn con người tới cả những hành vi dã thú Tất nhiên chức năng giáo dục mà chúng ta khẳng định

là chức năng của văn học chân chính, văn học hướng tới sự hoàn thiện con người

Chức năng nhận thức cũng như chức năng thẩm mĩ, tự nó đã bao hàm ý nghĩa giáo dục Văn học mở rộng sự hiểu biết rằng chính là văn học cải biến thế giới bên trong, thế giới tinh thần của con người, tạo điều kiện cho nó ý thức được chính bản thân mình, tự lựa chọn cho mình một thái độ sống đúng đắn Văn học đóng vai trò như một phương tiện xã hội hóa cá nhân, phát triển trong mỗi cá nhân đầy đủ những đặc tính xã hội cũng như những biểu hiện phong phú của bản chất người Với ý nghĩa ấy, những nhà văn lớn rất xứng đáng với danh hiệu của nhà giáo dục trong ý nghĩa sâu sắc nhất của từ này Di sản văn học mà

họ nối tiếp nhau để lại hàng ngàn năm qua đã âm thầm nuôi dưỡng và phát triển đời sống tâm hồn con người, góp phần xây dựng và củng cố nền tảng đạo đức, tinh thần cho sự tồn tại của xã hội loài người

Lẽ tất nhiên, động cơ sáng tác của nhà văn cách rất xa cái ý định của người minh họa đạo đức Văn học giáo dục cũng không phải chỉ thông qua việc xây dựng những nhân vật tích cực, chính diện Những giá trị văn học chân chính trong bất kì thể loại, đề tài nào cũng đều có khả năng cảm hóa con người Văn học và nghệ thuật nói chung, đúng như nhiều nhà triết học Hi Lạp cổ đại đã khẳng định, thường giải phóng con người thoát khỏi những dục vọng tầm thường, xấu xa, làm cho tâm hồn con người trở nên thanh khiết Nghệ thuật khơi dậy những nguồn cảm xúc đạo đức tích cực, làm phong phú hơn đời sống tình cảm của con người Từ tiếng cười hề chèo tới nỗi buồn trong câu thơ cổ, từ lời hịch đánh

Trang 25

24

giặc vang vọng hào khí Đông Á tới niềm vui xốn xang trong tình yêu Kim - Kiều, tất cả đều có thể làm tâm hồn người ta trong sáng hơn, đều như nhắc người ta yêu thương hơn sự sống, trân trọng hơn cái đẹp của cuộc đời Những nguyên tắc đạo đức khó có thể tồn tại lâu bền và được thực hiện tự giác ở mỗi cá nhân một khi chúng chỉ được cá nhân thừa nhận bằng lí trí đơn thuần hoặc bởi sức ép của dư luận, pháp luật Những nguyên tắc đạo đức ấy chỉ trở thành cách sống, thành nguyên tắc của lương tâm khi chúng gắn liền với một đời sống nội tâm phong phú, với một khả năng biết cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống Văn học không thuyết minh cho những nguyên tắc đạo đức, cũng không trực tiếp “trưng bày” những tấm gương đạo đức, nhưng lại góp phần sáng tạo tâm hồn - cái nguồn mạch sâu xa và sinh động của đạo đức

Khẳng định chức năng giáo dục, ý nghĩa cảm hóa con người, cải tạo xã hội cũng có nghĩa là gián tiếp đã khẳng định chức năng giao tiếp của văn học và nghệ thuật nói chung

Chức năng giao tiếp nảy sinh trên cơ sở một đặc tính phổ biến của nghệ thuật là đặc tính thông báo, thông tin Nghệ thuật là một hình thức thông tin có tính xã hội và thẩm mĩ

Vì vậy chức năng này thường được nêu ra qua tổ hợp từ: thông tin - giao tiếp hay thông báo

- giao tiếp

Thật ra, nghệ thuật ngay từ những hình thức xa xưa nhất của nó đã có tác dụng môi giới xã hội Thời cổ đại, khi hai bộ lạc bất đồng ngôn ngữ gặp nhau thì họ giao hảo với nhau bằng các vũ khúc Vẻ đẹp của tiết tấu, đạo cụ đã kích thích những con người xa lạ xích lại với nhau trong niềm tin cậy, hòa hiếu Một số tác giả lí luận Xô viết đã xem đây như những biểu hiện sơ khai của chức năng giao tiếp trong nghệ thuật

Ở một khía cạnh nhất định, sáng tác và thưởng thức nghệ thuật đều nhằm thỏa mãn nhu cầu được giao tiếp Trong sáng tác, dù ít dù nhiều, tác giả cũng phải đứng về phía người đọc mà viết, cho nên trong ngôn ngữ của tác giả đã có ngôn ngữ của người đọc Tác phẩm

là nơi giao hòa “hai tiếng nói”, là một sự “đối thoại” Nhà văn trong sáng tác mong muốn một sự gặp gỡ, cảm thông, như sự khát khao của một “điệu tâm hồn đi tìm hồn đồng điệu” Cho nên Nguyễn Du từng băn khoăn hơn ba trăm năm sau liệu còn ai hiểu mình Xtăngđan chờ người đọc thực sự của mình mãi tận năm mươi năm sau Tiềm năng thông tin, giao tiếp

đã khiến những tác phẩm văn học lớn chiếm giữ vai trò sứ giả tinh thần của thời đại đã nảy sinh ra nó với các thời đại tiếp theo, thành “con tin” của dân tộc này với các dân tộc khác Trường ca Dam San, Iliát và Ôđixê, những bi kịch cổ Hi Lạp cho tới hôm nay vẫn tồn tại như những bức thông điệp lớn của người xưa, báo cho người hôm nay biết mình đang ở đâu trong chiều dọc lịch sử, chiều ngang không gian của tồn tại loài người Với lượng thông tin thẩm mĩ - xã hội phong phú, tác phẩm văn học là nơi con người tiếp thu kinh nghiệm lịch sử, là nơi có thể tìm thấy khả năng liên kết, thống nhất các dân tộc trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình và tự do thực sự của loài người

Trang 26

“Thế giới không thỏa mãn con người, bằng hành động của mình, con người quyết định biến đổi nó đi” Văn học nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức chính là một hình thái hoạt động “biến đổi thế giới”, “không chỉ phản ánh mà còn sáng tạo ra thế giới khách quan” Ngay trong những hình thức sơ thai, ban đầu của nó, văn học đã chứa đầy nhiệt tình cải tạo hiện thực Từ hình tượng bi kịch hoành tráng Prômêtê tới hình tượng người anh hùng Đancô, văn học đã chứng tỏ rằng, miêu tả hiện thực không phải là mục đích cuối cùng của nó Chủ nghĩa nhân đạo, nhiệt tình đấu tranh cho con người chính là ngọn đuốc thắp sáng trong văn học Văn học vô cùng phong phú, đa dạng qua mỗi thể loại, trào lưu, tác gia và tác phẩm Không phải tác phẩm nào cũng đề xuất những khẩu hiệu đấu tranh Nhưng bất kì tác phẩm văn học lành mạnh nào cũng có nghĩa nâng cao con người,

cổ vũ con người vươn lên chiến thắng mọi cản trở trên con đường dẫn tới tự do

Sứ mệnh của văn học, xét cho cùng, không nằm ngoài sự đóng góp thực tiễn của nó, tức là không nằm ngoài mối liên hệ của nó với cuộc đấu tranh chung cho tiến bộ xã hội

“Vũ khí phê bình” tất nhiên không thể thay thế được “sự phê bình bằng vũ khí” Văn học nghệ thuật không thể thay thế được vũ khí trong các cuộc đấu tranh, cũng không tự nó làm nên cách mạng Nhưng với khả năng cảm hóa và giáo dục của nó, văn học góp phần không nhỏ cho sự sản sinh những con người biết cầm vũ khí và biết sáng tạo xã hội Trên tinh thần

ấy, chức năng giáo dục, xây dựng con người vẫn là thiên chức cao quý, là lí do tồn tại chính đáng nhất và sâu xa nhất của văn học nghệ thuật”9

1.3 Nhận diện một số vấn đề lí luận văn học về tác phẩm, loại thể được đưa vào đề thi học sinh giỏi

J.Paul Sartre từng quan niệm rằng, “Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc.Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục.Ngoài

sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng” Các em học sinh tham gia đội tuyển,

để làm chủ kiến thức và kĩ năng làm bài nghị luận về tác phẩm văn học cụ thể, cũng cần nắm chắc kiến thức lí luận văn học Ngay cả quan niệm của Sartre nói trên, chúng ta cũng

có thể thấy nó nêu lên một vấn đề lí luận

Đó có thể là gợi ý cho đề thi giúp học sinh huy động trải nghiệm về văn học của bản thân để làm sáng tỏ ý kiến của J.Paul Sartre: “Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ

có thể xuất hiện trong vận động Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc.Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục.Ngoài

sự đọc ra, nó chỉ còn là những vệt đen trên giấy trắng”

Từ đó, hoc sinh vận dụng kĩ năng chứng minh để làm sáng tỏ ý kiến của J.Paul Sartre Có thể giải thích để thấy ý kiến của J.Paul.Sartre đề cập đến vấn đề tiếp nhận văn

9 Dẫn theo Hà Minh Đức (Chủ biên) (2003), Lí luận văn học, tái bản lần thứ 9, Nxb Giáo dục, tr.44-56

Trang 27

nó – sự đọc Được viết ra từ những ẩn ức của nhà văn nhưng để hướng tới độc giả, nhân loại nói chung, tách khỏi sự đọc, tác phẩm chỉ là cái xác vô hồn Bởi, quá trình văn học được tạo thành từ quá trình sáng tác (của nhà văn) và quá trình tiếp nhận (của người đọc)

Nó có tính liên tục, quan hệ chặt chẽ, không tách rời bởi hạt nhân – văn bản Trung tâm của quá trình văn học là văn bản Nhà văn tạo ra văn bản đồng nghĩa với việc sáng tạo những tín hiệu thấm mĩ, thực hiện quá trình kí mã (chuyển ngôn ngữ tự nhiên thành ngôn ngữ nghệ thuật) Đến lượt mình, độc giả thực hiện việc giải mã Bởi, ý đồ của nhà văn chỉ là một khả năng tồn tại của tác phẩm Mỗi người đọc, bằng nền tảng văn hóa, tâm lí, trình độ thụ cảm riêng lại tạo ra vô vàn khả năng khác cho văn bản Xét ở góc độ này, văn bản có tính độc lập tương đối với nhà văn và bạn đọc Cái trục của con quay kì lạ chính là những chỉ dẫn nghệ thuật thông qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm Để làm rõ tính đúng đắn,

có lí của quan niệm trên, học sinh buộc phải vận dụng kĩ năng chứng minh, đưa ra dẫn chứng, dùng lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thắp để thuyết phục người khác tin theo nhận định của mình Học sinh có thể chọn hàng loạt dẫn chứng: dẫn chứng văn hoc sử, dẫn chứng lí luận văn học, dẫn chứng trong đời sống văn học nghệ thuật hiện nay: Truyện Kiều của Nguyễn Du khai sinh cách đây mấy nghìn năm vẫn còn mời gọi khám phá, tạo ra biết bao cách cảm nhận và tranh luận khác nhau Có thời, người ta đặt Truyện Kiều lên bàn cân tư tưởng phong kiến để đánh giá vị trí của tác phẩm Thậm chí, dùng quan điểm xã hội học,

áp đặt những yếu tố bên ngoài để nhận xét mà không căn cứ vào ngôn từ, mọi nhận định cơ

hồ đều đi vào phiến diện, bế tắc GS Trần Đình Sử, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, phân tích các tín hiệu thẩm mĩ đã rút ra những luận điểm chính xác về Thi pháp Truyện Kiều, gợi

mở cho chúng ta thấy cách tiếp cận trục trụ của con quay kì lạ chính là ngôn từ nghệ thuật; Sáng tạo văn học đồng nghĩa với việc thiết kế những tín hiệu thẩm mĩ Đó là những chỉ dẫn nghệ thuật người đọc dù tạo ra bao nhiêu khả năng cho tác phẩm vẫn phải tụ phát từ trục quay này Chẳng hạn, tín hiệu thẩm mĩ mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mạc Tử) có thể hiểu là khuôn mặt của người con trai – tác giả hoặc khuôn mặt của người con gái soi qua trái tim nhớ thương da diết của thi sĩ Dẫu hiểu theo cách nào cũng cần đặt trong hệ

thống Nghĩa là gắn với văn cảnh Lá trúc che ngang mặt chữ điền để thấy được nét đẹp

của con người Vĩ Dạ và niềm hoài mong đau đáu của Hàn Mạc Tử; Cặp hình tượng non –

nước ở Thề non nước của Tản Đà mang tính đa nghĩa: vừa là hai vật thể thiên nhiên với qui

luật muôn đời, vừa là người con trai và người con gái nhớ thương trong xa cách, vừa là đất nước bị cắt chia đầy xa xót nhưng tất cả đều mang một trạng thái cảm xúc chung.; Đời sống của tác phẩm không phải tính bằng thời gian nhà văn thai nghén ra nó Có những sản phẩm

Trang 28

nghệ thuật mới ra đời đã chết yểu và mãi mãi không phục sinh vì thiếu vắng độc giả Lại

có những tác phẩm cổ xưa vẫn dồi dào sức sống nhờ quá trình thụ cảm còn tiếp tục Đó có

thể Truyện Kiều của Nguyễn Du, bộ Đi tìm thời gian đã mất của Maxcel Proust

Như vậy, để hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, đối với bộ môn Văn, ngoài việc trang bị kiến thức tác phẩm, rèn luyện kỹ năng làm bài thì việc hiểu trúng, vận dụng linh hoạt kiến thức lý luận văn học là một trong những năng lực cần được hình thành cho học sinh

Trước hết, lý luận văn học giúp khắc phục nhược điểm bài văn thiếu chiều sâu Bởi

lẽ trong quá trình học Văn, nhất là khi làm bài, trong nhận thức của học sinh còn hiện tượng hay hiểu sai hoặc nhầm lẫn các khái niệm, thuật ngữ chuyên môn Quan trọng hơn, điều đó dẫn đến học sinh chưa giải quyết được một cách chính xác, đầy đủ các nội dung theo yêu cầu đề bài, hoặc viết còn rất sơ sài, mơ hồ, chung chung…

Việc trang bị thêm kiến thức lý luận văn học giúp học sinh khắc phục được những nhược điểm đó Đối với đối tượng là học sinh giỏi, được trang bị kiến thức lý luận văn học giúp học sinh có những bình giá, nhận xét chuẩn xác hơn về một hiện tượng văn học nào đó; bài viết của các em trở nên sâu sắc hơn về ý tưởng, chặt chẽ hơn về lập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ

Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, tiết học về lí luận văn học bổ sung những kiến thức lí luận văn học cơ bản cho học sinh nhưng để có thể vững vàng tìm hiểu,

lí giải và giải quyết những thách đố từ những vấn đề lí luận mang tính trừu tượng, khái quát cao trong các đề thi hoc sinh giỏi Quốc gia thì học sinh buộc phải tìm tòi, đọc và hiểu những vấn đề cơ bản của lí luận văn học ở chiều sâu Đặc biệt không thể vận dụng được kĩ năng chứng minh trong kiểu bài này nếu không có thêm kiến thức về văn học sử Việt Nam và nước ngoài để có thể lí giải, chứng minh cho vấn đề lí luận nêu ra theo quan điểm của bản thân người tạo lập văn bản Nắm vững kiến thức lý luận văn học là yêu cầu bắt buộc

Hiện tượng văn học bao giờ cũng được quy về và giải quyết từ góc độ lí luận Ngược lại, những vấn đề lí luận còn gây tranh cãi chỉ có thể đi đến hồi kết khi học sinh biết vận dụng kĩ năng chứng minh, có dẫn chứng từ văn học sử, từ hiện tượng văn học đã và đang xuất hiện trong đời sống để chứng minh Chẳng hạn, quan niệm của Pautopxki: “truyện hay đến mộtmức nào đó thì thành thơ” Đây là quan niệm của một nhà văn theo khuynh hướng lãng mạn Tác phẩm của ông thường tạo cảm giác nhẹ nhàng, êm dịu, đầy hình ảnh, như một chuyến tàu đêm, một lẵng quả thông, những bông hồng vàng Đây là lời nhận định đung nhất với các truyện ngắn lãng mạn Truyện hay đạt đến các tiêu chuẩn thẩm mĩ như ngôn từ, hình ảnh, hệ thống tín hiệu nghệ thuật đặc sắc, tư tưởng đậm tính nhân văn,… sẽ hướng con người đến cái đẹp, cái chân, cái thiện, được đánh giá trở thành thơ Chuyện này, học sinh cũng có thể bắt gặp khi đọc truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam Truyện ngắn này như một bài thơ trữ tình đượm buồn: ngôn ngữ giàu chất thơ, tính nhạc,

Trang 29

28

gợi cảm giác man mác buồn, going lên một cái gì ở tương lai, bút pháp tương phản tạo hiệu ứng hình ảnh làm nổi bật tư tưởng, giá trị nhân đạo, một truyện không có cốt truyện, hấp dẫn ở sự gợi tả những cảm giác mong manh, mơ hồ, khó nắm bắt

Giáo viên nên in thành tài liệu cho học sinh đọc và tìm hiểu trước theo định hướng trước với mục đích để học sinh bước đầu có những hiểu biết nhất định những nội dung chính của từng chuyên đề

Nếu là học sinh giỏi, sẽ trao đổi trong giờ bồi dưỡng; nếu là học sinh bình thường thì sẽ trao đổi ngoài giờ học hoặc qua các kênh giao tiếp khác nhau.Giáo viên sẽ trực tiếp giải đáp giúp học sinh hiểu rõ, nắm vững hơn vấn đề Khi không còn thắc mắc, học sinh sẽ được giáo viên yêu cầu trình bày lại kiến thức mình đã nắm bắt được thông qua những hình thức như thuyết trình trước lớp học, viết bài kiểm tra trên giấy… Khi đó, học sinh sẽ tái hiện kiến thức theo cách hiểu của mình, giáo viên sẽ bổ sung nếu chưa đầy đủ, sẽ sửa chữa nếu hiểu chưa đúng… Nắm được kiến thức lí luận văn học đầy đủ, vững chắc sẽ là cơ sở

để vận dụng kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận Thiếu kĩ năng chứng minh, bài văn kiểu này của học sinh sẽ thiếu sức thuyết phục

Trên cơ sở nắm vững các vấn đề lí luận văn học như đã nói ở trên cộng với việc hiểu biết sâu sắc về một số vấn đề văn học sử, giáo viên sẽ cho đề bài viết tại lớp hoặc về nhà, học sinh sẽ vận dụng những kiến thức mình có để giải quyết vấn đề cụ thể, giáo viên chấm bài, sửa chữa hoàn chỉnh từng bài trả lại cho học sinh tự kiểm tra lại mình.Một trong những điều rất cần thiết là từ những kiến thức có tính nguyên lý, yêu cầu học sinh tìm dẫn chứng qua những tác phẩm cụ thể đã học, hoặc vận dụng để phân tích những hiện tượng văn học

cụ thể nào đó, để từ đó giúp các em dễ dàng hình thành hệ thống dẫn chứng để chứng minh trong kiểu bài nghị luận nêu trên

Hãy xem lại đề thi tuyển chọn học sinh giỏi ngữ văn trong năm năm trở lại đây: Năm 2015 – 2016

Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”

Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/ chị hãy bình luận những nhận định trên Năm 2016 – 2017

Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên

Trang 30

Năm 2017 – 2018

Chế Lan Viên viết trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thếnày chăng? : “Hãy biết ơn

vị muối của đời cho thơ chất mặn!”

Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt?, Lưu Trọng Lư cho rằng : “ Sự sống phải được chắc lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải được “tập trung” cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu Sự thực phải được sáng tạo, phải nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng

để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống”

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình luận những quan niệm trên Năm học 2018-2019

Thời đại ngày nay, con người phải đối mặt với nhiều áp lực trong cuộc sống Liệu văn học có khả năng giúp con người hóa giải những áp lực đó?

Năm học 2019 – 2020

Trên con đường sáng tạo, Nam Cao đã nghĩ tới “một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người” Đó cũng là khát vọng của Nguyễn Minh Châu khi ông trăn trở vì sao văn học Việt Nam “không

là văn học của cả thiên hạ, của cả loài người”

Bằng hiểu biết và trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về những niềm khát khao, trăn trở ấy

Tất cả những đề thi tuyển học sinh giỏi Quốc gia nói trên tuy vấn đề nêu ra khác nhau nhưng đều đề cập đến các vấn đề lí luận văn học và không giới hạn cụ thể phạm vi tư liệu Để giải quyết những đề văn này, ngoài những thao tác lập luận khác, thí sinh buộc phải vận dụng thuần thục kĩ năng chứng minh

Kiến thức lí luận văn học được sử dụng trong bài phải phù hợp với yêu cầu của đề, trình bày vừa phải không ôm đồm, phô trương kiến thức một cách không cần thiết(Không nên phô diễn kiến thức lí luận một cách tùy tiện, không gắn với nội dung đề bài hoặc đưa vào mà không phân tích, lý giải) Tuy nhiên tránh trường hợp học sinh vận dụng kiến thức

lí luận một cách mờ nhạt, chung chung, không đủ sức thuyết phục người đọc.Bài văn đạt hiệu quả cao là nhờ vận dụng một cách linh hoạt, hợp lí giữa nhiều kiến thức lí luận, kiến thức văn học được diễn đạt giàu cảm xúc và hình ảnh

Những nhận định, câu nói về lí luận văn học rất phong phú, giáo viên cần chọn lọc theo chủ đề cho học sinh vận dụng dễ dàng Kiến thức lí luận phải được trình bày một cách

tự nhiên, rành mạch bằng lời văn, cách hiểu của học sinh chứ không nên sao chép máy móc kiến thức sách vở hay lời dạy rập khuôn của thầy cô.Nếu không bài viết sẽ khô khan thiếu

sự truyền cảm

Trang 31

30

Một số đề văn tham khảo như:

a “Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó Nhưng

là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, chứ không phải là cái

tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy Có thể nói, tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ

thuật” (Theo Nguyễn Khải, Các nhà văn nói về văn)

Bằng những trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về

Đó chính là cái hơi thở, cái sức sống của những tác phẩm vĩ đại” (Quá trình bồi

dưỡng nghề viết văn của tôi)

Bình luận ý kiến trên

Tiểu kết

Trên đây, chúng tôi đã giới thuyết về văn nghị luận và việc rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học cho đội tuyển học sinh giỏi quốc gia đồng thời đưa ra vấn đề nguyên lí lí luận văn học để bước đầu giúp học sinh hình dung về những vấn đề cơ bản liên quan đến Lí luận văn học Từ việc giới thuyết trên, chúng tôi lấy

đó làm cơ sở để triển khai tiếp chuyên đề này Như vậy, việc sắp xếp các luận cứ, luận chứng, việc lựa chọn đưa ra lí lẽ, lập luận sẽ quyết định đến việc làm rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của dẫn chứng trong bài văn nghị luận Các thao tác lập luận được vận dụng vào làm bài nghị luận nói chung cần sự chính xác, hiệu quả và các thao tác lập luận được vận dụng trong bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học lại càng cần phải chính xác, hiệu quả, có sức thuyết phục cao Học sinh giỏi đã nắm chắc cách làm bài nghị luận có vận dụng thao tác lập luận chứng minh, có vận dụng kỹ năng chứng minh, với yêu cầu đề cần nghị luận

về một vấn đề lí luận văn học, việc cốt yếu là phải nắm chắc kiến chức lí luận văn học Biết quy những ý kiến, nhận định, đánh giá về văn học nghệ thuật được nêu trong đề bài về một hoặc một số vấn đề lí luận văn học cơ bản để bàn bạc, rút ra nhận định của mình Trên thực

Trang 32

tế khảo sát đội tuyển học sinh giỏi mà chúng tôi đang phụ trách, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bài viết vận dụng thuần thục kỹ năng phân tích, chọn dẫn chứng, kĩ năng khái quát, tổng hợp một vấn đề lí luận văn học bao giờ cũng tốt hơn việc vận dụng kĩ năng chứng chứng minh trong làm kiểu bài văn như chúng ta đang bàn Từ kết quả khảo sát bước đầu đó, từ việc vận dụng việc tập trung rèn thực hành kĩ năng chứng minh cho học sinh tham gia đội tuyển trong thời gian qua, chúng tôi mạnh dạn đề xuất giải pháp để nâng cao kĩ năng chứng minh cho học sinh để giải quyết đề thi yêu cầu nghị luận về một vấn đề nghị luận văn học Những vấn đề lí luận văn học về tác phẩm, loại thể là những vấn đề xuất hiện thường xuyên trong đề thi tuyển chọn học sinh giỏi những năm gần đây Đề thi đòi hỏi thí sinh phải vận dụng thuần thục kĩ năng chứng minh để có thể đưa ra dẫn chứng, cả về lí luận và thực tiễn sáng tác văn học để làm rõ vấn đề lí luận văn học được nêu trong đề bài Cũng vậy, vận dụng thuần thục kĩ năng chứng minh để có thể huy động kiến thức về văn học sử, tác phẩm

và lí luận văn học để khẳng định nhận định trong bài văn nghị luận

Trang 33

32

CHƯƠNG 2 NHẬN DIỆN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC VỀ TÁC

PHẨM VÀ LOẠI THỂ CÓ TRONG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI

Từ việc khảo sát các đề thi tuyển chọn học sinh giỏi Quốc gia qua các năm, từ việc khảo sát các đề thi của các trường tham gia tuyển chọn học sinh giỏi các trường THPT Chuyên khu vực duyên hải Bắc Trung Bộ trong những năm gần đây, chúng tôi đã phân tích

và liệt kê một số vấn đề lí luận dưới đây, những vấn đề hoặc sẽ trực tiếp xuất hiện trong đề thi học sinh giỏi hoặc sẽ gián tiếp trở thành nguồn cứ liệu để học sinh vận dụng để chứng minh cho các luận điểm được triển khai trong bài thi

2.1 Nhà văn và quá trình sáng tác

2.1.1 Nhà văn

“Với tư cách là chủ thể thẩm mỹ, nhà văn, do đó cũng phải có tư chất nghệ sĩ đặc biệt Phan Huy Chú cho rằng các nhà trước thuật thì cô đọng, sâu suốt, bao quát xa rộng, cốt ở tính chất mực thước và hệ thống”, nhưng “phần lớn kém ở lời văn họa mi” Còn nhà văn, nhà thơ thì “diễn đạt tình cảm đến tột mức và thu lượm được mọi cảnh hay việc lạ

mà nhà học giả giỏi về điển chương không rỗi đâu để tâm đến, cũng không có tài làm ra” Nếu nhà trước thuật “có đủ cái học uyên bác”, thì nhà văn, nhà thơ lại “có nguồn cảm hứng bay bổng”10

Tư chất nghệ sĩ rõ nhất ở nhà văn, là một con người giàu tình cảm, dễ xúc động và nhạy cảm Trong khoa học, tình cảm chỉ nằm trong tiền đề sáng tạo, còn trong văn học, tình cảm nằm ngay trong thành phần sáng tạo Chính vì thế mà nhà văn, chủ thể sáng tạo, không thể chỉ có lý trí lạnh lùng đã đành, mà cũng không phải chỉ có tình cảm thông thường hơi hợt Yêu, ghét, vui, buồn, thương mến hay căm giận, v.v đều đến độ mãnh liệt ở nhà văn

Lỗ Tấn nói: “Gặp những cái gì hay và đáng yêu thì họ sẽ ôm choàng lấy, nếu gặp điều trái đáng giận thì họ sẽ bác bỏ Phải kịch liệt công kích cái sai như đã từng nhiệt liệt chủ trương cái đúng Ôm chặt người yêu như thế nào thì phải nghiến chặt kẻ thù như thế, như Ecquyn nghiến chặt người khổng lồ Ăngtê, anh ta nhất định làm đứt sương gân kẻ thù mới thôi” Ngô Thì Nhậm cũng nói đến tính chất mãnh liệt, thắm thiết đó ở tình cảm nhà văn: “Tình cảm dồi dào thì thơ nảy sinh Hoặc là tình nam nữ thương nhau, hoặc là tình vợ chồng nhớ nhau Niềm vui thích của ta ở triều chính thì ta cùng triều chính có cái tình nam nữ, nỗi nhớ mong của ta là ở ruộng vườn thì ta cùng ruộng vườn có cái tình vợ chồng” Bất kỳ viết

về cái gì, nhà văn cũng thâm nhập vào đối tượng với một con tim nóng hổi, chuyển hóa cái đối tượng khách quan thành ra cái chủ quan đến mức “tưởng như chính mình sinh ra cái khách quan ấy” Nhà văn luôn luôn mang một tấm lòng rộng mở biết ngạc nhiên dù là với một vẻ đẹp bình dị của cuộc sống, rất nhạy cảm với những đổi thay xung quanh

10 Dẫn theo Phương Lựu (Chủ biên) (2002), Lí luận văn học, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 34

Trí tưởng tượng phong phú cũng là tư chất nghệ sĩ nổi bật nhà văn Gorki nhấn mạnh tưởng tượng là một trong những biện pháp quan trọng nhất để nhà văn xây dựng hình tượng Quả vậy, qua óc tưởng tượng, các hình tượng mới hiển hiện sống động dưới ngòi bút nhà văn với ngôn ngữ cử chỉ hành rộng, với dáng vẻ và nội tâm Chính nhờ trí tưởng tượng mà nhà văn mới sống cuộc đời của hàng trăm hàng ngàn nhân vật khác Bandắc cảm thấy được

sự rách rưới của nhân vật trên lưng của chính mình và như mình đang đi đôi giày thủng của

họ Sự hòa nhập vào nhân vật đến mức có khi nhà văn quên cả bản thân Khi Phlôbe viết đến chỗ bà Bôvari uống thuốc tự tử, thì chính ông cũng cảm thấy trong miệng có mùi thạch tín và rất buồn nôn Trí tưởng tượng còn giúp nhà văn phối hợp tổ chức toàn bộ tác phẩm với tính toàn vẹn của nó Có một trí tưởng tượng phong phú, nhà văn mới tìm ra được những

bố cục với những thế tương đồng và tương phản hợp lý, tạo nên những hình thức hài hòa cân đối và sinh động, từ đó sáng tạo ra, được “thiên nhiên thứ hai” thống nhất nhưng không nồng nhất với cuộc sống, không những phản ánh thực tại khách quan mà còn biểu hiện được

tư tưởng tình cảm phong phú của mình

Nhà văn cũng là người có thói quen và năng khiếu quan sát tinh tế Trí tượng tưởng của nhà văn dù có phong phú đến đâu, cũng không thể phong phú bằng chính bản thân thực

tế, cho nên không thể không biết cách quan sát những sắc thái và diễn biến tinh vi trong cuộc sống Bản chất con người và cuộc sống không phải lúc nào cũng bộc lộ rõ ràng qua những hiện tượng dễ thấy Chỉ có quan sát kĩ lưỡng, nhà văn mới có thể phát hiện được những ý nghĩa sâu xa trong từng chi tiết cùng những diễn biến đa dạng của nó Gớt khuyên mọi người hãy “thọc tay vào tận đáy, vào lòng sâu của cuộc sống con người”, ở đó sẽ “tóm” được nhiều điểu thú vị Các nhà văn lớn thường không từ bỏ bất cứ một cơ hội nào có thể quan sát được những ngóc ngách cuộc sống L Tônxtôi thường đi tàu hỏa với vé hạng bét

để tiếp xúc được với những người nông dân, hoặc trực tiếp, trò chuyện hoặc lắng nghe họ chuyện trò với nhau Đôpgiencô nói chí lý rằng: “Hai người cùng nhìn xuống, một người chỉ nhìn thấy vũng nước, người kia lại thấy được những vì sao” Gôgôn tập trung quan sát

sự vật đến mức như sờ mó được những đặc trưng tinh vi của nó Không những quan sát đời sống bên ngoài, mà nhà văn còn rất nhạy bén trong việc cự quan sát Họ giỏi lắng nghe những xúc động tinh vi của mình một cách đầy đủ và rõ ràng, rồi từ đó tìm được một cách biểu hiện độc đáo không giống một ai Đặc biệt đối với những nhà thơ trữ tình và nhà văn viết tự truyện, sự tự quan sát này càng có ý nghĩa quan trọng, vì ở đây những cảm xúc và suy tư của tác giả vốn là một chất liệu trực tiếp của thành phẩm sáng tạo Dĩ nhiên ở bất cứ loại thể văn học nào cũng cần có sự tự quan sát, bởi vì hai loại quan sát không hề loại trừ nhau mà bồi bổ cho nhau Có biết lắng nghe những tiếng nói nội tâm thì mới biêt quan sát thế giới bên ngoài một cách tinh tế Ngược lại, cố nhận biết được sắc thái muôn màu muôn

vẻ của ngoại cảnh thì mối bộc lộ được thế giới nội tâm phong phú của mình

Nhà văn cũng là người có trí nhớ tốt Dĩ nhiên những người thông minh trong mọi lĩnh vực, nhất là các nhà khoa học, đều có phẩm chất trí tuệ này Nhưng nếu nhà khoa học

Trang 35

34

giỏi nhớ chủ yếu những con số, những công thức và khái niệm, những định đề và lý thuyết, thì nhà văn thuộc lòng những ấn tượng sinh động, những chi tiết, những dấu hiệu cụ thể do mình tự quan sát, tưởng tượng, xúc động đem lại Tất cả những cái đó đều trở thành kỷ niệm da diết, khi cần nhà vẫn có thể hồi tưởng và tái hiện lại toàn vẹn lại thành những hình tượng cụ thể cảm tính Bandắc nhớ rành rọt họ tên, lai lịch, hành động, ngôn ngữ, cử chỉ của mấy nghìn nhân vật trong tiểu thuyết của mình Gốt có thể nhắc lại rành rọt nội dung một tác phẩm định viết dở dang từ hơn ba mươi năm trước Cần nói thêm rằng, nếu có sự đãng trí báo học, thì cũng có sự “ngơ ngẩn” của nhà văn, nhà thơ Nhưng điều đó chỉ nói lên rằng những loại người sản xuất tinh thần này chỉ thường tập trung vào lĩnh vực sáng tạo của họ

Nhà văn cũng thường bộc lộ cá tính rõ nét nhất trong lĩnh vực của minh Bởi vì văn học làm giàu cho xã hội không phải bằng số lượng của cải như sản xuất vật chất Chân lý khách quan mà văn học đem lại cũng không phải, chỉ là chân lý khách quan như trong khoa học, mà còn xuyến thấm những sắc thái chủ quan Sự thật có thể là một, nhưng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của nhà văn là muôn màu muôn vẻ, làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho xã hội L Tônxtôi nói: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là như sau: Nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ Anh ta có gì khác với tất cả những người mà tôi

đã biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ về việc cần phải nhìn cuộc sống chúng ta như thế nào”

Nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng nói riêng, giọng điệu riêng, thì đó là một sự tự sát trong văn học - một lĩnh vực tối kị sự nhai lại ngay cả đối với những chân lý quan trong Cao Xuân Dục nói: “Nếu chỉ biết rập khuôn, chắp nhặt những cái sáo

cũ, thì dù cho câu đẹp lời hay vẽ trăng tả gió, nhưng ý tưởng không ký thác vào được, thì rốt cuộc cũng là bắt chước giọng điệu người khác, chẳng nói lên được tính tình thực của mình”

Cũng cần nói thêm rằng, những tư chất nói trên ít nhiều cũng có ở tất cả mọi người Gorki nói: “Tôi tin chắc rằng mọi người đều mang trong mình những năng khiếu của người nghệ sĩ, và nên có thái độ quan tâm nhiều hơn tới những cảm giác và ý nghĩ của mình, những năng khiêu ấy có thể phát triển lên” Điều này cũng giải thích tại sao tác phẩm văn học lại được sự đồng cảm rộng rãi và nhiều tài năng văn học xuất hiện bất ngờ trong quần chúng Có điều là ở nhà văn, những tư chất đố biểu hiện tập trung và phát triển nhanh chóng hơn

2.1.2 Tiền đề hình thành tài năng nhà văn

Phạm Văn Đồng nói: “Tôi nghĩ chúng ta hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt này, lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà không có tài có khiếu thì khó khăn lắm Làm các nghề khác, không có tài cũng có thể làm được việc Nếu không có tài năng gì đặc biệt, thì anh nên đi

Trang 36

làm việc khác, chứ làm văn nghệ khổ lắm” Quả đúng như vậy, trước hết phải nói những năng khiếu thiên bẩm là điều rất đáng quý Phủ nhận điều này, sẽ không giải thích được những tài năng xuất hiện sớm trong văn hoc Lôpđơ Vêga mới năm tuổi đã biết làm thơ Bôcaxiô mới lên sáu tuổi đã biết sáng tác Bảy tuổi, Nhêcraxôp đã ứng tác một bài thơ châm biếm Tám tuổi Puskin đã nghĩ ra một vở hài kịch, ở ta, theo truyền thuyết, Mạc Đĩnh Chi củng là một thần đồng trong văn thơ, Lê Qúy Đôn, Cao Bá Quát năm tuổi đã biết làm thơ; Nguyễn Trung Ngạn mười hai tuổi đỗ thái học sinh, Nguyễn Hiển mười ba tuổi đỗ trạng nguyên, mà thi cử thời xưa, một yêu cầu cơ bản là tài văn thơ

Trước hết, ở đây có vấn đề di truyền cần được tiếp tục chứng giải một cách khoa học, kể cả khoa học tự nhiên Nhưng sự thực lịch sử cũng đã hình thành một ý niệm về

“dòng dõi văn gia” mà ở ta Ngô gia văn phái là một ví dụ Đề tựa bộ sách Ngô gia văn phái,

Phan Huy Ích nói rằng: “Thành một nhà văn là việc nhỏ, một nhà văn mà đời nọ nối đời kia, chi này truyền chi khác, là một việc quý Tất phải là dòng dõi văn nhân, người trước sáng tác, người sau noi theo, dòng nước xa nguồn mà vẫn tràn lan” Ở Trung Quốc càng có nhiều ví dụ minh chứng về hiện tượng này Đời Hán có hai cha con Tư Mã Đàm, Tư Mã Thiên, đời Nguỵ, ba cha con Tào Tháo, Tào Thực, Tào Phi, có thể thành lập “chi hội nhà văn”, vì có đủ thơ văn, lý luận phê bình Đời Đường, ông nội Đỗ Phủ là Đỗ Thấm Ngôn cũng vốn là nhà thơ Đời Tông có ba cha con là Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt Đời Minh có

ba anh em họ Viên là Tông Đạo, Hoằng Đạo và Trung Đạo, v.v

Sự xuất hiện nhân tài nói chung, văn tài nói riêng dường như không phải không liên quan đến thuyết “phong thủy” và quan niệm “địa linh nhân kiệt” Không phải ngẫu nhiên

mà ở nước ta, tỷ lệ nhà văn ở Nghệ An, Nam Hà v.v là khá cao Theo một thống kê sơ bộ

ở Trung Quốc, thì trong số 691 nhà văn nổi tiếng từ cổ chí kim, thì ở các tỉnh Cát Lâm, Hắc Long Giang, Thanh Hải không có ai, có tỉnh chỉ 2,3 người như Vân Nam, Qúy Châu, loại trung bình có Sơn Đông 51 người, Hà Bắc 44 người, Hà Nam 76 người, nhất nhì là Triết Giang; 122 người và Giang Tô 130 người, v.v Như thế việc tập trung văn tài ở một số nơi

là một thực tế, và đó chính là những cái nôi văn hóa, và các nhà văn ở thê hệ sau lại ngày càng được ảnh hưởng nhiều hơn cái di sản địa - văn hóa này Lỗ Tấn xuất hiện ở Thiệu Hưng cũng không phải là ngẫu nhiên, vì đây cũng chính là quê hương của Vương Sung, Đào Tiềm, Lực Du, v.v

Trở lên chỉ là những phương tiện “tiên thiên” vốn có Văn là đời, nhà văn, do đó, trước hết là sản phẩm của chính cuộc đời họ Ở đây người ta thường nhắc đến quy luật

“nghịch cảnh hành tài” Khuất Nguyên thất thế mới có Ly tao, Tư Mã Thiên bị cung hình mới viết cuốn Sử ký Trên thế giới từ Gorki đến Giắc Lơnội dungơn cũng nếm trải qua bao nhiêu nghịch cảnh Anđecxơn xuất thân bần hàn, thân hình gầy yếu xấu xí, thất tình nhiều lần, lại bị người đời chế nhạo “chẳng qua là một anh học sinh trung học, mới mọc râu hôm qua, không hiểu gì ngữ pháp”, nhưng đã kiên gan vượt qua những tủi nhục ấy, để trở thành nhà văn vĩ đại Nhà văn Mỹ O.Henry, vốn làm kế toán ở ngân hàng, bị vu đánh cắp tiền và

Trang 37

gì ngang trái thì tình cảm uất ức Người vui vẻ thư sướng, làm ca thơ vịnh hoa tao tế như gấm thêu, như dây đeo ngọc khuê, không phải không thích mắt, nhưng tìm được giọng tỏa chiết lâm ly, có thể làm cho người ta kích động, nảy nở được ý chí thì chưa có mấy Người

bị vùi dập uất ức, hoài tài phụ khí, không phát triển được, sự vật tiếp xúc ở trong lòng, những tình trạng ly kỳ cổ quái, phân uất lo buôn nên lưu lệ ra thơ ca thường những giọng tích chứa oán hận, chỉ trích rất sâu xa Tắt u uẩn” (Tựa Đông Dã học ngôn thi tập)

Nghịch cảnh trong đời người, hiển nhiên là có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng người

ta hay chú ý đến thời thơ ấu của những nhà văn nổi tiếng Đây không nói đến những thần đồng văn học vốn được ân hưởng những điểu kiện tiên nhiên, mà nói đến những người về sau mới trở thành những nhà văn tên tuổi nhưng vốn thường có một tuổi thơ đau buồn Trả lời một bạn đọc hâm mộ hỏi rằng sự rèn luyện tốt nhất đê trở thành nhà văn là gì? Hêminuây nói: “Một tuổi thơ không vui sướng” Dường như điều này có sự tiếp cận chân lý, bởi vì theo một thống kê về 436 nhà văn danh tiếng nước ngoài, thì có quá nửa có tuổi thơ đúng như vậy Cụ thể là 47 người mồ côi cha, 18 người mồ côi me, và 12 người mô côi cả cha lẫn mẹ, 7 người có bố mẹ ly dị, 34 người gia đình vốn khá già, nhưng suy sụp dần, 24 người

bố mẹ bất hòa phải sống nương nhờ kẻ khác, 9 người vốn đau ốm bệnh tật từ bé, v.v và xuất thân bần hàn có 79 người Có thể kể cụ thể hơn về một 30 trường hợp Bôđde mồ côi cha từ lúc 6 tuổi, mẹ tái giá, và bố dượng rất độc đoán Cápca ốm yếu từ bé, bố chẳng khác bạo chúa Camuy chưa tròn một tuổi, bố đã chết trận, mẹ con phải dọn nhà đến khu dân nghèo, sống qua ngày Rútxô sinh trưởng trong gia đình bố chữa đồng hồ, mẹ mất sớm, 14 tuổi phải đi lang thang kiếm ăn Bôcátxiô vốn là con riêng, mẹ lại mất sớm, bị bố dượng lẫn mẹ ghẻ ngược đãi Raxin mồ côi cả cha lẫn mẹ, bà nội nuôi dưỡng, nhưng mười tuổi đã phải vào sống nhờ trong tu viện Đantơ vốn có ông nội được phong tước kỵ sĩ, nhưng đến đời bố suy kiệt dần và chẳng bao lâu thành trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ Sêli bất đồng chính kiến với ngươi cha bảo thủ, đã bỏ nhà ra đi từ sớm Ípxơn gia đình phá sản, 15 tuổi phải tìm

kế sinh nhai, v.v Có thể giải thích sơ bộ hiện tượng này Nghịch cảnh ai mà chẳng đau

Trang 38

buồn, mà đau buồn khi nào cũng nhớ dai hơn vui sướng, điều này đã được tâm lý học thực nghiệm, chứng minh Mặt khác nghịch cảnh cũng giúp người ta nhìn đời không đơn giản xuôi chiều Nghịch cảnh ngay trong tuổi thơ, dễ chuyển hóa thành những khả năng văn học ngay đối với những người không có điều kiện “tiên thiên” để trở thành thần đồng văn học Bởi vì văn học chẳng qua là câu chuyện tình cảm, nhưng không phải hời hợt, mà là tình cảm sâu sắc, nghĩa là phải hàm chứa cảm quan về mặt trái của cuộc đời, hơn nữa phải lắng sâu thành kỷ niệm không phai mờ Nghịch cảnh từ tuổi thơ, nghĩa là sớm “phát tài” về những tố chất văn học này Hiển nhiên, không ai muốn đổi lấy tuổi thơ êm đềm để chóng trở thành nhà văn, nhưng rõ ràng đau buồn, từ tuổi thơ dễ chuyển hóa thành tâm hồn nghệ

sĩ, văn thi sĩ, mặc dù đây chỉ là một trong nhiều khởi điểm

Ngoài thời điểm vừa nói trên, người ta thường nói đến một nội dung hơi đặc biệt của nghịch cảnh là sự thất bại trong tình yêu và hôn nhân, dường như cũng có nhiều duyên nợ trong sự hình thành nhà văn Ai nấy đều biết Gôgôn, Môpátxãng Tuôcghênhép, Anđécxơn độc thân suốt đời, còn Gơtơ, Rômanh Rôlăng đau khổ mãi vì mối tình đầu và Đuyma, Cápca Gioócgiơ Xang, Bairơn, Môlie gặp nhiều trắc trở trong tình duyên Lục Du, Lý Thánh Chiếu, Thái Văn Cơ ở Trung Quốc cũng cùng số phận như vậy: Cuộc đời độc thân của Tuồcghênhép thật ra được an dệt bằng ba lần thất bại liền tiếp trong tình duyên Thời trẻ ở quê nhà, ông yêu một cô thợ khâu và sinh một cháu gái, nhưng ba mẹ dứt khoát ngăn cản Thời sinh viên ở Mátxcơva, mặc dù được nàng Tachiajia Bacunin đem lòng yêu thương, nhưng vẫn không thành Bi kịch tình yêu cuối cùng được tái diễn ngay từ phút đầu trong cuộc tình với một ca sĩ tuyệt thế giai nhân, vì cô đã có chồng, nhưng Tuốcghênhép lại suốt đòi theo đuổi Nhưng sự nghiệp của văn hào Tuốcghênhép dường như không thể tách rời với những bất hạnh liên tiếp sau đó Ngay mối tình đầu bất thành cũng đã được đan dệt thành những đoạn tình tiết rất cảm động trong Tổ ấm qúy tộc

Chỉ cần nhắc lại bà mẹ quý tộc ngăn cản Tuôcghêniép không được thành hôn với cô thợ khâu thì đủ rõ Như thế qua những nỗi đau riêng tư, thầm kín, lại giúp họ nhìn thấy được những mặt trái của xã hội, một điều rất tương hợp với đặc trưng về sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng trong nghệ thuật Nỗi đau của họ sẽ dẫn đến những hoạt động tâm lý theo “nguyên tắc bù đắp” với cả hai “phép thay thế và “phép thăng hoa” Và chỉ có con đường phấn đấu trở thành nhà văn mới thỏa, mãn đến mức tối đa những nội dung của

“nguyên lý bù đắp” đó Bởi vì trở thành nhà văn thì sự đau khổ kia đã “thăng hoa” thành ý chí để khẳng định lẽ sống cho cuộc đời mình Nhưng chính trên con đường trở thành nhà văn, họ đồng thời kết hợp thực hiện được “phép thay thế” Họ dùng ngay nội dung văn thơ

để hồi ức giãi bày những mất mát trong tình yêu, qua đó mà tìm được sự an ủi Tất nhiên ở đây vẫn có thể tạm phân thành hai loại Một loại chủ yếu viết về tình yêu, nhưng qua đó vẫn bộc lộ những vấn đề xã hội như Đuyma với Trà hoa nữ Một loại khác, tuy không khi nào quên những kỷ niệm về tình yêu bất hạnh, nhưng lại biết chuyển dịch nỗi đau ấy thành những tình cảm xã hội lớn lao, như trường hợp Lục Du với hàng vạn bài thơ yêu nước

Trang 39

2.1.3 Nhà văn do khổ luyện mà thành tài

“Phạm Văn Đồng, như đã thấy, vốn rất nhấn mạnh làm văn nghệ phải có khiếu, có

tài, nhưng đồng thời cũng nói: “Nhưng dù có khiếu thế nào đi nữa nếu không cố gắng trau dồi bản thân thì không thể phát triển thành tài năng, làm nảy nở tác phẩm tốt được Cho nên tài năng phải đi đôi với công phu mới làm nên sự nghiệp”

Lịch sử văn học cũng cho biết có nhiều người vốn không có năng khiếu, nhưng do rèn luyện lâu dài bền bỉ mãi về sau lại trở thành những nhà văn vĩ đại Sêcxpia đến tuổi hai mươi sáu mới bắt đầu sáng tác Gần bốn mươi tuổi Rútxô mới cảm thấy trong mình có chất nhà văn Vợ của L.Tônxtôi có nói rằng con người văn sĩ lớn lên trong ông rất chậm chạp,

và trong mội thời gian khá lâu, ông đã không tin vào tài năng vĩ đại cua mình” Như thế, tuy năng khiếu rất quý, nhưng không đủ làm nên tài năng thật sự Gioócgiơ Xăng có luận giải về vấn đề này: “Nghệ thuật không phải là một năng khiếu có thể phát triển mà không cần mở rộng kiến thức về mọi mặt cần phải sống, phải tìm tòi, phải xào nấu lại rất nhiều, phải yêu rất nhiều và chịu nhiều đau khổ, đồng thời không ngừng kiên trì làm việc Trước khi dùng kiếm phải học kiếm thuật Nghệ sĩ mà chỉ thuần túy là nghệ sĩ thôi thì sẽ là một người bất lực, tức là một kẻ tầm thường, hoặc sẽ đi tới chỗ thái quá, tức là một kẻ điện rồ”

Việc trau dồi rèn luyện để trở thành một nhà văn tài năng bao gồm nhiều mặt cơ bản lập trường tư tưởng, vốn sống, trình độ văn hóa và kĩ thuật viết, văn, v.v Nói chung nhà văn phải đi nhiều Huygô đi du lịch Tây Ban Nha, Xécvantex đã sống bảy năm ở Italy, Bairơn cùng đi Hy Lạp và nhiều nơi khác, Sêkhốp thực hiện một chuyến đi gian khổ, vượt qua Xibêri đến tận đảo Xakhalin, Gorki đã đi hầu khắp nước Nga để tìm hiểu không biết mệt mỏi và về sau mới viết nên được Những trường đại học của tôi, v.v Làm một nghề khác để kiếm sống cũng sẽ tăng cường rất nhiều cho vốn sống của nhà văn Điều này không những có tác dụng cho việc xây dựng những tác phẩm nào có tính chất tự truyện như trường hợp Sống mòn của Nam Cao, mà cả đối với mọi thể loại khác Nhờ nghề ghi tốc ký ở nghị viện Anh, mà Đickenx đã hiển rõ bộ mặt thực của nhiều chính khách để đưa vào tiểu thuyết của mình Sêkhốp còn nói rõ tác dụng nghề y của mình như sau: “Công việc y đã mở rộng, khá nhiều lĩnh vực quan sát của tôi, làm phong phú những hiểu biết của tôi, giá trị chân

11 Dẫn theo Phương Lựu (Chủ biên) (2002), Lí luận văn học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 40

chính của những hiểu biết này đối với tôi là một nhà văn, thì chỉ có người nào bản thân là thầy thuốc mới hiểu nổi

Đi nhiều tiếp xúc rộng rãi là cần thiết, nhưng mỗi nhà văn cần gắn bó lâu dài với một vùng quê riêng của mình là một kinh nghiệm tốt Nguyễn Thi với chiến trường Nam

Bộ, Nguyễn Trung Thành với chiến trường Tây Nguyên, Chu Văn với vùng công giáo Nam Định là những ví dụ Dĩ nhiên không nên tuyệt đối hóa kinh nghiệm này Then chốt vấn đề

là ở chỗ sống với tất cả quả tim khối óc, với tất cả tâm hồn và nghị lực để nâng cái vốn sống lên thành chất sống - như ý kiến của nhà văn Bùi Hiển đã nói: Ta thường gọi là vốn sống nhưng tôi gọi là chất sống Vì tôi muốn nói đến cái độ mà lượng biến thành chất, nó quyện chặt vào con người của nhà văn Truyện anh viết hay hay dở là do chất sống của anh có nhuần nhị hay không Và nếu có hay thì nó có ích hay có hại, cũng lại do chất sống nào đó

đã nhuần thấm nhiều nhất vào anh”

Liên quan với vốn sống là trình, độ văn hóa Quá trình sáng tác đòi hỏi nhà văn phải thông qua năng lực tư duy của mình mở rộng sự hiểu biết từ vốn sống trực tiếp đến vốn văn hóa bằng con đường học hỏi gián tiếp qua sách vở Phạm Phú Thứ cho rằng: “Không đọc hết muôn cuốn sách không thể đạt đến chỗ sâu rộng để cho văn thơ làm ra có thể lưu truyền đời sau” (Giá Viên toàn tập) Nguyễn Tư Giản khẳng định: “Đọc nát vạn cuốn sách, cảm thấy như có thần ở bên mình, thì thể cách văn sẽ lớn lao mà đúng đắn” Đó cũng là một phương châm của Đỗ Phủ: “Độc thư phá vạn quyển Dụng bút như hữu thần” Dĩ nhiên đối với nhà văn, vốn văn học thể hiện trước hết ở sự làm chủ kho tàng văn học nghệ thuật của dân tộc và nhân loại Truyện Kiều đã chứng tỏ đại thi hào dân tộc Nguyễn Du tinh thông thơ văn Việt Nam và Trung Hoa, cả hai nguồn bác học lẫn dân gian Truyện ký và thơ của Hồ Chí Minh cho thấy Người am hiểu một cách sâu rộng văn thơ cổ, kim, Đông, Tây Ngoài ra, sáng tác còn đòi hỏi nhà văn phải hiểu biết một cách sâu rộng kiến thức thuộc các lĩnh vực văn hóa khác Tác phẩm văn học là một loại sách giáo khoa về đời sống,

nó đòi hỏi nhà văn phải có một kiến thức phong phú rộng rãi về nhiều mặt

Cuối cùng, cũng như bất cứ ngành nghề nào khác, nhà văn cần phải có vốn nghề nghiệp đặc thù của mình Đó là trình độ vận dụng và sử dụng tất cả các phương tiện và kĩ thuật tổ chức tác phẩm, biện pháp biểu hiện, tả, kể, cách thức khắc họa nhân vật, cách vận dụng thể loại, năng lực sử dụng ngôn ngữ, v.v mà sau này lần lượt sẽ đề cặp đến Vốn nghề nghiệp này vô cùng quan trọng, nhưng nó phải gắn bó hữu cơ với vốn chính trị, vốn sống và vốn văn hóa nói trên, nếu không, nó sẽ có nguy cơ biến nhà văn thành ngươi thợ phép chữ, ghép vần mà thôi Ba thứ vốn căn bản nói trên cũng phải gắn bó chặt chẽ và chuyển hóa lẫn nhau Lập trường chỉ có ý nghĩa đích thực khi nó thoát thai từ vốn sống phong phú từng trải và sẽ trở nên vô cùng sắc bén khi nó gắn quyện với vốn văn hóa sâu rộng vốn sống và vốn văn hóa tức là hai mảng tri thức trực tiếp và gián tiếp có tác động qua lại, và phải được dẫn đường bằng lập trường tư tưởng sáng suốt, nếu không nhà văn chỉ là một người lõi đời, uyên bác, chứ không thể trở thành người chiến sĩ tiên phong, của xã hội

Ngày đăng: 06/11/2022, 19:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
2. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên) (1999), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
8. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (1997), Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu trung học cơ sở, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (1998), Muốn viết được bài văn hay, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết được bài văn hay
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Quốc Siêu (2001), Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông
Tác giả: Nguyễn Quốc Siêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Túy (1980), Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng, dạy tập làm văn cấp 3 phổ thông, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng, dạy tập làm văn cấp 3 phổ thông, tập 1
Tác giả: Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Túy
Nhà XB: Nxb Giáo dục, Hà Nội
Năm: 1980
13. Trần Thị Nguyệt (2014), Rèn luyện kĩ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh 11 trung học phông thông, Luận văn Thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh 11 trung học phông thông
Tác giả: Trần Thị Nguyệt
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Năm: 2014
3. Bảo Quyến (2007), Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, Nxb Giáo dục 4. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) (2007), Làm văn, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội 5. Đỗ Ngọc Thống (2012), Tài liệu chuyên Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
12. Phương Lựu (Chủ biên) (2002), Lí luận văn học, Nxb Đại học Sư phạm Hà nộiTrần Đăng Suyền (2014), Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w