Nông thôn Việt Nam dưới thời Lê sơ là một bức tranh rất đa dạng, muôn màu. Ở đó tồn tại nhiều giá trị cũ có từ hàng ngàn năm trước nhưng cũng đồng thời xuất hiện nhiều giá trị mới mẻ độc đáo. Nếu như trong các triều đại trước tính tự trị của nông thôn làng xã còn sâu đậm, ảnh hưởng quyền lực của trung ương xuống địa phương còn hạn chế thì sang thời Lê sơ nhà nước phong kiến đã tìm mọi cách để kiểm soát cấp cơ sở làng xã. Mặt khác ở thời nhà Lê chắc chắn thấy được rất rõ vai trò to lớn từ nông thôn làng xã. Bởi thông thường đây là nơi đảm bảo sự ổn định hay biến động của cả một triều đại. Sự với tay của triều đình xuống làng xã một cách thường xuyên và chặt chẽ cũng nhằm đảm bảo sự phát triển thịnh vượng của cả một triều đại vậy. Song khi nhà nước thâu tóm được đơn vị hành chính cấp cơ sở thì tác động của nó lại thể hiện ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Do đó trong kinh tế như nông nghiệp cũng như thủ công nghiệp có nhiều bước phát triển mạnh mẽ hơn so với các thời kì trước. Vì vậy tác động từ những chính sách của nhà nước thời kì này là rõ rệt. Một mặt nông thôn làng xã chuyển biến theo chiều hướng ổn định hơn. Đời sống của người dân được đảm bảo sung túc hơn. Các chính sách đã ban hành cho thấy sự nỗ lực cố gắng rất lớn của nhà nước trung ương nhằm xây dựng một xã hội ổn định, thịnh trị với một nền kinh tế phát triển toàn diện. Chính vì vậy trong vòng mấy chục năm tồn tại ở thế kỉ XV không có cuộc khởi nghĩa nào của nông dân nổ ra đã minh chứng cho chủ trương đúng đắn và tầm nhìn sâu rộng của nhà Lê đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông. Nhưng mối dây liên hệ giữa quá khứ và hiện tại trên nhiều phương diện vẫn rất đậm nét. Đặc biệt trên phương diện tư tưởng, văn hóa truyền thống. Chúng ta vẫn có thể dễ dàng bắt gặp những giá trị cũ trên nền tảng xã hội mới. Có những yếu tố mang tính bền vững khó biến đổi theo thời gian. Điều này một phần là do tâm lý người dân vùng nông thôn dưới các triều đại khác nhau lại khá giống nhau. Đó là mong muốn có một cuộc sống yên bình, no đủ, đời sống tinh thần phong phú. Thiết nghĩ ngày nay trong bối cảnh Đảng và nhà nước ta đang cố gắng xây dựng thành công mô hình nông thôn mới thì các vấn đề cốt yếu ở nông thôn cần được chú trọng nhiều hơn. Bài học trong cách quản lý để ổn định, phát triển nông thôn và đời sống nông dân của nhà Lê sơ vẫn còn có giá trị nhất định, cần thiết cho công cuộc xây dựng nông nghiệp, nông thôn trong thời đại ngày nay.
Trang 1Sự khác biệt cơ bản trong bộ máy quản lý làng xã hiện đại với bộ máy quản lý làng xã
thời Nguyễn?
Nhóm 6
Trang 2Cấu trúc
Bộ máy quản lý làng xã thời Nguyễn
Bộ máy quản lý làng xã hiện đại
Biện pháp quản lý làng xã hiện đại Tổng kết
02 04 01
03
Trang 3Bộ máy quản lý làng xã thời Nguyễn
01
Trang 4a)Giới thiệu chung
▪ Nhà Nguyễn thừa nhận sự tồn tại của hai thiết chế: thiết chế
quan phương (hội đồng chức dịch) & thiết chế phi quan
phương (hội đồng kỳ mục)
▪ Quy định “nhất nguyên hóa” – chỉ có 1 xã trưởng.
▪ Quy mô cấp xã “nhất xã nhất thôn” hoặc hai đến bốn năm thôn
▪ Xã trưởng vẫn là người đứng đầu
Trang 6Một viên Lý
trưởng tại
miền Bắc
Nguồn: Báo Pháp luật (14/5/2018), “Luật
làng” thời phong kiến Việt Nam (Bài 1): Đội ngũ “dân quan”
Trang 7Một viên Cai
tổng ở miền
Nam
Nguồn: Báo Pháp luật (14/5/2018), “Luật
làng” thời phong kiến Việt Nam (Bài 1): Đội ngũ “dân quan”
Trang 9Tồn tại hai thiết chế Tăng cường kiểm soát hoạt động của bộ máy quản lý cấp xã, thôn
Trang 10Bộ máy quản lý làng xã hiện đại
Trang 11Bộ máy quản lý
làng xã hiện nay
được chia như sau:
a) Cán bộ cấp xã: thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy.
b) Công chức cấp xã: phụ trách chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã.
Trang 12a) Cán bộ cấp xã
Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ
nữ
(Chủ tịch Hội Nông dân)
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh
Trang 13b) Công chức cấp xã
Trưởng công an
Chỉ huy trưởng quân
sự
Văn phòng – thống kê
Trang 14c) Trưởng thôn, ấp, bản (gọi chung là thôn)
• Thôn là cộng đồng tự quản Thôn không có chức trách, thẩm quyền quản lý, không phải là cấp
hành chính, không có tư cách pháp nhân Tuy
nhiên được xác định khá rõ trong một số VBPL.
• Đại diện cho UBND cấp xã, chịu sự quản lý chỉ đạo của UBND xã
• Do dân bầu và phải được UBND xã công nhận
Trang 16Thành phần trong bộ máy đa dạng hơn
Luật pháp của Nhà nước là yếu tố quyết định chính trong quan
Trang 17Tổng kết
03
Trang 18Bộ máy làng xã thời
Đơn giản, chặt chẽ nhưng một chức
vụ phải đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau
Phức tạp, phân thành nhiều cấp nhưng được chia ra các ban ngành
Trang 19Người được đảm nhiệm các chức vụ lớn
Đình làng là nơi hội họp chính, quản lý,
giải quyết vấn đề của làng xã, nơi sinh
hoạt chung của dân làng
Nhà văn hóa xã, thôn là nơi tổ chức các buổi hội họp chính UBND xã là nơi giải quyết các thủ tục hành chính của dân
Trang 20Biện pháp quản lý
Trang 21❑ Chính quyền trung ương tăng cường việckiểm soát hoạt động của bộ máy quản lý xãthôn Hạn chế tình trạng ăn lậu, chèn épngười dân.
❑ Nâng cao trách nhiệm của chính quyền cáccấp trong công tác quản lý, bảo tồn, pháttriển làng xã
❑ Đổi mới cơ chế, chính sách để huy động cácnguồn lực và tăng cường ứng dụng trongcông tác sản xuất sản phẩm kinh tế cho ngườidân
❑ Nhà nước cần có những giải pháp vĩ mô đểvai trò của mỗi người dân trong làng xã vàcán bộ ở địa phương phát huy hết năng lực,bảo vệ giá trị truyền thống của làng trong xãhội hiện đại
Trang 22CREDITS: This presentation template was created by Slidesgo, including icon by Flaticon, and infographics &
images from Freepik
Thanks!
Do you have any
questions?