Hiến pháp Việt Nam là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất do Quốc hội ban hành, có nội dung điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất của xã hội. Đó là các quan hệ xã hội mang nội dung xác định chế độ xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy nhà nước.
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiến pháp Việt Nam là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất do Quốc hộiban hành, có nội dung điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọngnhất của xã hội Đó là các quan hệ xã hội mang nội dung xác định chế độ xã hội,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy nhà nước
Trang 2NỘI DUNGPHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIẾN PHÁP PHẦN 2 NỘI DUNG CỦA CÁC BẢN HIẾN PHÁP
1.HIẾN PHÁP NĂM 1946
1.1 Lịch sử ra đời của bản Hiến pháp 1946
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chínhphủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định việc xây dựng một bản hiến pháp dân chủ làmột trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Người nói: “Trước chúng ta đã bịchế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyênchế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dânchủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”
Ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh thành lập Ban dự thảo hiếnpháp 7 thành viên bao gồm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại), ĐặngThai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu(Trường Chinh) Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảođược công bố cho toàn dân thảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham giađóng góp ý kiến cho Bản dự thảo với những nội dung mơ ước bao đời của bản thân vềđộc lập, tự do Ngày 2/3/1946, trên cơ sở Ban dự thảo hiến pháp của Chính phủ, Quốchội khóa I đã thành lập Tiểu Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, đại diện cho nhiều
tổ chức, đảng phái khác nhau gồm: Tôn Quang Phiệt,Trần Duy Hưng, Nguyễn ThịThục Viên, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận (Dân chủ Đảng), Nguyễn Đình Thi (ViệtMinh), Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, PhạmGia Đỗ (4 vị thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dânĐảng) tiểu ban này tiếp tục nghiên cứu dự thảo Hiến pháp, tổng kết các ý kiến thamgia đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hộixem xét, thông qua
Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiếnpháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với 240 phiếu thuận, 2 phiếuchống Hiến pháp được thông qua đã đánh dấu sự cáo chung của nền thống trị ngoại
Trang 3bang, tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ Bắc đến Nam, theo chế độ dân chủ nhândân, quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân không phân biệt nòi giống, gáitrai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; các quyền tự do dân chủ được đảm bảo…
Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội thông quaHiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ) bản Hiếnpháp năm 1946 không được chính thức công bố, nhưng dưới sự lãnh đạo củaChủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần của các quy định trong Hiến pháp năm 1946 đãđược thực hiện trên thực tế căn cứ vào tình hình cụ thể
1.2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946
1.2.1 Hình thức
Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn ngắn, gồm 7 chương 70 điều và3.385 từ
Lời nói đầu khẳng định Hiến pháp được xây dựng dựa trên 3 nguyên tắc:
- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôngiáo
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân Trong đó, nghĩa vụcủa công dân là bảo vệ tổ quốc, tôn trọng hiến pháp, tuân theo pháp luật và côngdân có nghĩa vụ phải đi lính Quyền lợi của công dân: mọi công dân Việt Namđều ngang quyền về mọi phương diện, đều bình đẳng trước pháp luật, “đàn bà
Trang 4ngang quyền với đàn ông”, “quốc dân thiểu số” được giúp đỡ về mọi mặt để
“chóng tiến kịp trình độ chung” cùng các quyền lợi khác của công dân như: tự
do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do
cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài Ngoài ra còn quy định về quyền lợicủa người già, người tàn tật và trẻ nhỏ
Điều thứ 16 quy định: những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và
tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam Cho thấy, Việt Namsẵn sàng bảo vệ, đảm bảo quyền lợi cho bạn bè quốc tế, những người tranh đấucho nền dân chủ tự do
Quy định về quyền bầu cử, bãi miễn và phúc quyết: chế độ bầu cử là phổthông đầu phiếu, “bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín”; mọi công dân từ đủ 18 tuổiđều có quyền bầu cử và “ít ra là 21 tuổi” biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ cóquyền ứng cử Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu và phúc quyết Hiến pháp
Chương III quy định về nghị viện nhân dân - cơ quan có quyền cao nhất.Quy định này một mặt khẳng định nguồn gốc quyền lực nhà nước thuộc về nhândân, mặt khác khẳng định tính thống nhất của quyền lực nhà nước là thuộc vềnhân dân chứ không phải một thiết chế nào khác Bên cạnh đó, phải khẳng địnhHiến pháp 1946 đi theo hướng đề cao vị thế của nghị viện trong tương quan vớicác nhánh quyền lực khác Tính trội ở đây thuộc về nghị viện Nếu chỉ dừng lại
ở quy định này, có thể thấy Hiến pháp 1946 là theo chế độ đại nghị, chế độ tínhtrội thuộc về cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Bởi vì, trong Hiến phápquy định Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất Ngày nay, trong nhiều tácphẩm khoa học nước ngoài và trong Hiến pháp của một số nước trên thế giớiđều khẳng định nguyên tắc phân quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp VậyHiến pháp 1946 đã tiếp cận vấn đề này như thế nào? Hiến pháp 1946 là Hiếnpháp đã áp dụng những nguyên lý cơ bản của thuyết phân quyền ở khía cạnh kỹthuật tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Điều 22 Hiến pháp 1946 quy định:
“Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủCộng hoà”, Điều 43 quy định: “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là
Trang 5Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, Điều 63 quy định: “Cơ quan tư phápcủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có: toà án tối cao, các toà án phúcthẩm, các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp” Như vậy, ở đây đã có sự áp dụng nguyên
lý phân quyền rất rõ Mỗi loại cơ quan nắm một nhánh quyền lực Nghị việnnhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho đất nước
Chương IV quy định về chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toànquốc Chính phủ bao gồm: Chủ tịch nước, Phó chủ tịch và Nội các
Điều thứ 49 quy định quyền hạn của Chủ tịch nước gồm:
a) Thay mặt cho nước
b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chứccác tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân
c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên caocấp thuộc các cơ quan Chính phủ
d) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ
đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị
e) Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự
g) Đặc xá
h) Ký hiệp ước với các nước
i) Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giaocủa các nước
k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như Điều 38 đã định
Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm nào trừ tội phản quốc Điềunày gián tiếp khẳng định tội phản quốc là tội danh nặng nhất, dù là người đứngđầu đất nước cũng không tránh khỏi bị xét xử khi phạm vào tội danh này
Điều thứ 52 quy định quyền hạn của Chính phủ:
a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện
b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện
c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghịviện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt
Trang 6d) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần.đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chínhhoặc chuyên môn.
e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đấtnước
1.3.1 Ý nghĩa của Hiến pháp 1946
Đây là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thểhiện ý chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Sau gần 3 thập kỷ kể từ Bản yêusách của nhân dân An Nam (năm 1919) gửi hội nghị Versailles đến năm 1946,
tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thựchiện Hiến pháp năm 1946 là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu lực nhất đểbảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng và thực hiện quyềnlực nhân dân Giá trị xuyên suốt bản Hiến pháp là giá trị dân chủ, tất cả quyềnbính trong nước là của toàn thể nhân dân, xây dựng một chính thể dân chủ rộngrãi, một bộ máy nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt, đề cao và tôn trọng quyền conngười, quyền công dân Hiến pháp quy định nội dung và cách thức thực hànhdân chủ; là phương tiện để cho nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ
Trang 71.3.2 Đánh giá
Dù đây là bản Hiến pháp đầu tiên nhưng đã cho thấy rõ tư tưởng chỉ đạo,lãnh đạo đất nước của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh vềvấn đề dân chủ Với Bác, “dân là chủ và dân làm chủ”, quyền lợi thuộc về nhândân điều này có thể thấy thông qua chương II Nghĩa vụ và quyền lợi của côngdân Lần đầu tiên, có một văn bản pháp luật ghi nhận các quyền con người,quyền tự do cơ bản của người dân Việt Nam Lần đầu tiên, mọi công dân ViệtNam cảm thấy mình được hiện diện, được nói lên chính kiến của bản thân vềpháp luật, về “những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”
Theo GS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hộiphân tích: "Sau chương Chế độ chính trị là chương về Quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân để thấy rằng vị trí pháp lý của quyền tự do dân chủ trong điềukiện ra đời của bản Hiến pháp được đưa lên hàng đầu để nói Bác nhận thức sâusắc quyền tự do dân chủ của người dân của một nước mới giành được độc lập.Các quyền tự do dân chủ phải được ghi nhận đầy đủ trong bản Hiến pháp.Người dân là người chủ và là người làm ra bản Hiến pháp đó nên điều đầu tiên
và trước hết là họ phải có quyền tự do dân chủ Giá trị quyền tự do dân chủtrong Hiến pháp năm 1946 đầy đủ trên các mặt, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội cũng như các quyền tự do của cá nhân công dân được quy định đầy đủ, rõràng, minh bạch"
TS Nguyễn Sĩ Dũng nhận định: “Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp dânchủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới"
GS Phạm Duy Nghĩa, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng Hiến pháp năm
1946 là "bản hiến văn dân chủ vào loại bậc nhất Đông Nam châu Á lúc bấy giờ"
và “chứa đựng những tư tưởng dân chủ hơn hẳn hệ thống luật pháp của Cộnghòa nhân dân Trung Hoa” "
Theo TS Nguyễn Minh Tuấn, điểm khác biệt của Hiến pháp năm 1946không tuân theo bất kỳ một nguyên mẫu Hiến pháp nào có sẵn thời điểm đóngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh - người chịu ảnh hưởng sâu sắc của Chủ nghĩa
Trang 8Mác - Lênin cũng không lấy bản Hiến pháp năm 1936 của Liên Xô làm nguyênmẫu Đây là bản hiến pháp được soạn thảo theo tinh thần "tam quyền phân lập":lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án) Điều 1 củaHiến pháp 1946 ghi rõ: "Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa" Nókhông hề có một điều khoản nào quy định là một đảng phái nào hay một ý thức
hệ nào là độc tôn và độc quyền lãnh đạo đất nước như các bản hiến pháp saunày của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận thẳng thắn những điều còn hạn chế trongHiến pháp 1946 Trước hết để nhìn nhận những hạn chế của Hiến pháp 1946,chúng ta cần phân tích tình hình bối cảnh của đất nước ở thời điểm đó BảnHiến pháp này được soạn thảo, thảo luận và thông qua trong bối cảnh căngthẳng gia tăng với Pháp, vốn toan tính quay trở lại áp đặt cai trị thuộc địa ởĐông Dương, không khí chung của tháng 11 năm 1946 là sự cảnh giác và tinhthần bảo vệ nền độc lập và kiến thiết quốc gia Đa số đại biểu Việt Minh đã chorằng bản Hiến pháp phải đặt độc lập quốc gia và hoàn cảnh thực tế lên hàngđầu, có nghĩa rằng lợi ích tập thể đặt trước quyền lợi cá nhân, quyền lợi giaicấp
Thứ nhất, trong Hiến pháp 1946 mới chỉ ra Việt Nam là một khối thốngnhất Bắc, Trung, Nam; không nói về chủ quyền ở vùng trời, vùng biển của nướcta
Thứ hai, cơ chế quyền lực Nhà nước là cơ chế tập quyền không phải phânquyền Nghị viện chỉ có một viện Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước, với 2/3 sốđại biểu tán thành; hoặc nếu sau lần bầu thứ nhất không có đủ 2/3 phiếu thuận,trong lần bầu thứ 2, chỉ cần đa số Nghị viện là đủ để bầu Chủ tịch nước (điều45) Chủ tịch nước chọn Thủ tướng với chuẩn thuận của Nghị viện (Điều 47)
Mà Thủ tướng được bổ nhiệm bởi Chủ tịch nước chắc chắn sẽ phục tùng cácchính sách của Chủ tịch nước Thêm vào đó, mỗi sắc lệnh của chính phủ phải cóchữ ký của Chủ tịch nước (điều 53) Chữ ký này đảm bảo tiếng nói của Chủ tịch
Trang 9nước phải được tôn trọng trong các quyết định của Nội các Như vậy, quyền lựchành pháp nằm trong tay Chủ tịch nước chứ không phải Thủ tướng và Nội các.
Thứ ba, mặc dù được đề cao bởi những quyền con người, quyền công dânđược nêu đầy đủ trong Hiến pháp nhưng mới chưa được trình bày cụ thể như:quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam (điều 12); quyền lợi các giới cầnlao trí thức và chân tay (điều 13); quyền bất khả xâm phạm về thân thể Cácquyền con người cần được đảm bảo như quyền về môi trường, quyền bình đẳng,không bị phân biệt đối xử, không được ghi nhận
Thứ ba, các quyền liên quan tới giai cấp tư sản, tiểu tư sản không được đềcập Ông Nguyễn Sơn Hà doanh nhân Hải Phòng - đại biểu độc lập, đã không
bỏ phiếu thông qua Hiến pháp 1946 vì Hiến pháp không công nhận quyền tự dodoanh thương
Tóm lại, Hiến pháp năm 1946 vẫn có nhiều điều đáng để học hỏi như sựxúc tích ngắn gọn, các điều khoản về quyền con người rõ ràng, không mập mờbởi cụm từ “theo quy định của pháp luật” Mặc dù do hoàn cảnh chiến tranh nênbản Hiến pháp không được ban hành thực thi rộng rãi nhưng nó vẫn đặt ra nềnmóng để các cơ quan ban hành pháp luật của Nhà nước xây dựng, sửa đổi, bổsung Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - văn bản phápluật có giá trị cao nhất, ngày càng tiến bộ và hoàn thiện
Trang 102 HIẾN PHÁP NĂM 1959
2.1 Hoàn cảnh ra đời của hiến pháp năm 1959
Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, thực dân Pháp lạigây ra chiến tranh để xâm lược nước ta một lần nữa Nhân dân ta lại bước vàocuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ
Ngày 7/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ tạo tiền đề cho Hiệpđịnh Giơ-ne-vơ (các bên ký kết ngày 20/7/1954), văn kiện quốc tế đầu tiên,tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ViệtNam
Tuy nhiên, ngay sau đó được sự ủng hộ trực tiếp của Mỹ, chính quyềnNgô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã cự tuyệt thi hành Hiệp địnhGiơ-ne-vơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam
Sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội nói trên đã làm cho Hiến pháp
1946 không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước Mặt khác, nhiều quyđịnh của Hiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạngnước ta ở miền Bắc lúc bấy giờ Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đãđược đặt ra Để thực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Bansửa đổi Hiến pháp với 28 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm TrưởngBan
Ngày 1/4/1959, Bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dânthảo luận và đóng góp ý kiến Đến ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hộikhóa I đã thông qua bản Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1946; và ngày1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố bản Hiến pháp này – Hiếnpháp năm 1959
2 2 Nội dung cơ bản của hiến pháp 1959
Hiến pháp năm 1959 gồm có lời nói đầu và 112 điều, chia làm 10chương
Lời nói đầu khẳng định nước Việt Nam là một nước thống nhất từ LạngSơn đến Cà Mau, khẳng định những truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Trang 11Nam Lời nói đầu ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay
là Đảng Cộng sản Việt Nam), đồng thời xác định bản chất của Nhà nước ta làNhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấpcông nhân lãnh đạo
Chương I - Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, gồm 8 điều, quy định cácvấn đề cơ bản sau đây:
Hình thức chính thể của Nhà nước là cộng hoà dân chủ Hiến pháp xácđịnh tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhândân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồngnhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân
Quy định Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan nhà nướckhác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ
Cũng như Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 khẳng định đấtnước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt
Quy định nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc trên đấtnước Việt Nam Nghiêm cấm mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ các dântộc
Quy định các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dâncác cấp là: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
Xác định nguyên tắc tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhândân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát củanhân dân
Chương II - Chế độ kinh tế và xã hội, gồm 13 điều quy định những vấn
đề liên quan đến nền tảng kinh tế - xã hội của Nhà nước:
Xác định đường lối kinh tế của Nhà nước ta trong giai đoạn này là biếnnền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa với công nghiệp vànông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Quy định mục đích cơ bảncủa chính sách kinh tế của Nhà nước là không ngừng phát triển sức sản xuấtnhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân
Trang 12Quy định các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất trong thời kỳquá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là: Sở hữu nhà nước (tức là của toàn dân); sởhữu của hợp tác xã (tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động); sởhữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
Xác định kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của toàn dân, giữ vaitrò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước đảm bảo phát triển
ưu tiên Các hầm mỏ, sông ngòi, những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác màpháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu của toàn dân
Quy định việc Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệusản xuất khác của nông dân; bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của nhữngngười làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác; bảo hộ quyền
sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc; bảo hộ quyền
sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở vàcác thứ vật dụng riêng khác; bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân
So với Hiến pháp năm 1946 thì Chương II là một chương hoàn toàn mới.Chương này được xây dựng theo mô hình của hiến pháp các nước Xã hội chủnghĩa.Vì vậy, ngoài việc quy định kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo trongnền kinh tế quốc dân, Hiến pháp còn quy định Nhà nước lãnh đạo hoạt độngkinh tế theo một kế hoạch thống nhất
Chương III - Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm 21điều (từ Điều 22 đến Điều 42) Theo Hiến pháp, công dân Việt Nam có cácquyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
Các quyền về chính trị và tự do dân chủ như: Quyền bầu cử và ứng cử;quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lậphội, biểu tình; quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm pháp luật củanhân viên cơ quan nhà nước
Các quyền về dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội như: Quyền làm việc;quyền nghỉ ngơi; quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mấtsức lao động; quyền học tập; quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn
Trang 13học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác; quyền tự do tínngưỡng.
Các quyền về tự do cá nhân như: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể;không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của tòa án nhân dân hoặc sựphê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân; quyền bất khả xâm phạm về nhà ở;quyền bí mật thư tín; quyền tự do cư trú và tự do đi lại
Các nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của Hiến pháp bao gồm:Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng vànhững quy tắc sinh hoạt xã hội; nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng;nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật ; nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Sovới Hiến pháp năm 1946, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trongHiến pháp năm 1959 là một bước phát triển mới
Bên cạnh việc quy định các quyền của công dân, Hiến pháp còn xác địnhnghĩa vụ của Nhà nước trong việc đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện.Ngoài những quyền và nghĩa vụ mà Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận, Hiếnpháp năm 1959 còn quy định thêm những quyền và nghĩa vụ mới mà trong Hiếnpháp năm 1946 chưa được thể hiện Ví dụ: Quyền của người lao động được giúp
đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động; quyền tự do nghiêncứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoákhác; quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơquan nhà nước; nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng
Chương IV - Quốc hội, bao gồm 18 điều, quy định các vấn đề liên quanđến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quốc hội - cơ quanquyền lực nhà nước cao nhất
So với nhiệm kỳ của Nghị viện theo Hiến pháp năm 1946 thì nhiệm kỳcủa Quốc hội dài hơn (nhiệm kỳ của Nghị viện là 3 năm, còn nhiệm kỳ củaQuốc hội là 4 năm) Hiến pháp năm 1959 quy định quyền hạn của Quốc hội mộtcách cụ thể hơn Theo Điều 50 Hiến pháp năm 1959 thì Quốc hội có nhữngquyền hạn sau đây: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật; giám
Trang 14sát việc thi hành Hiến pháp; bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước; theo đề nghịcủa Chủ tịch nước Việt Nam quyết định cử Thủ tướng Chính phủ; theo đề nghịcủa Thủ tướng Chính phủ quyết định cử Phó Thủ tướng và các thành viên kháccủa Hội đồng Chính phủ; theo đề nghị của Chủ tịch nước quyết định cử PhóChủ tịch nước và các thành viên khác của Hội đồng quốc phòng; bầu Chánh ánTòa án nhân dân tối cao; bầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bãimiễn Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Phó Thủ tướng và nhữngthành viên khác của Hội đồng Chính phủ, Phó Chủ tịch và những thành viênkhác của Hội đồng quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định kế hoạch kinh tế nhà nước; xét duyệt
và phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách của nhà nước; ấn định các thứthuế Ngoài ra, Quốc hội còn có những quyền hạn quan trọng khác như: Phêchuẩn việc thành lập và bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việcphân vạch địa giới các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương; quyếtđịnh đại xá; quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; những quyền hạn cầnthiết khác do Quốc hội định
Quốc hội có cơ quan thường trực của mình là Ủy ban Thường vụ Quốchội do Quốc hội bầu ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch, các PhóChủ tịch, Tổng thư ký, các uỷ viên Quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hộicũng được quy định rõ ràng tại Điều 53 Hiến pháp năm 1959 Ngoài nhữngquyền hạn được quy định trong Hiến pháp, Quốc hội có thể trao cho Ủy banThường vụ Quốc hội những quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết Theo quyđịnh của Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có các quyền hạn sau đây:Tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu Quốc hội; triệu tập Quốc hội; giảithích pháp luật; ra pháp lệnh; quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân; giámsát công tác của Hội đồng Chính phủ, của Tòa án nhân dân tối cao và của Việnkiểm sát nhân dân tối cao; sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết, chỉthị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh; sửa đổihoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân trong
Trang 15trường họp các Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dânmột cách nghiêm trọng Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền bổ nhiệmhoặc bãi miễn Phó Chánh án, thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệmhoặc bãi miễn Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
bổ nhiệm hoặc bãi miễn các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ta ở nướcngoài; quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài(trừ trường hợp mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét cần phải trình Quốc hộiquyết định) Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội còn có thẩm quyền quy địnhhàm và
Cấp quân sự, ngoại giao, những hàm và cấp khác; quyết định đặc xá; quyđịnh và quyết định việc tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhànước; quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ; quyết định việcgiới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương Trong thời gian Quốc hộikhông họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền quyết định việc bổ nhiệmhoặc bãi miễn Phó Thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng Chínhphủ; có quyền quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợpnước nhà bị xâm lược
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, ngoài Ủy ban Thường vụ Quốchội, Quốc hội còn thành lập các uỷ ban chuyên trách như Uỷ ban dự án phápluật, Uỷ ban kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu và các uỷban khác mà Quốc hội thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Ủy ban Thường vụQuốc hội (Điều 56 và 57)
Chương V - Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, bao gồm 10 điều(từ Điều 61 đến Điều 70)
So với Hiến pháp năm 1946 thì đây là một chương mới Theo Hiến phápnăm 1959, Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước không nằm trong thành phần củaChính phủ Đứng đầu Chính phủ lúc này là Thủ tướng Chính phủ, còn Chủ tịchnước chỉ là người đứng đầu nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại Vìvậy, chế định Chủ tịch nước được quy định thành một chương riêng Theo Hiến
Trang 16pháp năm 1959, Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra Công dân nước Việt Namdân chủ cộng hoà từ 35 tuổi trở lên có quyền ứng cử chức vụ Chủ tịch nước.Như vậy, khác với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 quy định tuổi tốithiểu để có thể ứng cử chức vụ Chủ tịch nước là 35, còn Hiến pháp năm 1946không quy định cụ thể, mặt khác, theo Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch nước phảiđược chọn trong Nghị viện nhân dân, tức là trong số các nghị sĩ, còn Hiến phápnăm 1959 không đòi hỏi ứng cử viên phải là đại biểu Quốc hội.
So với Hiến pháp năm 1946, quyền hạn của Chủ tịch nước trong Hiếnpháp năm 1959 hẹp hơn, vì theo Hiến pháp năm 1946 Chủ tịch nước vừa làngười đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ Còn theo Hiếnpháp năm 1959, chức năng của người đứng đầu Chính phủ đã chuyển sang choThủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, theo Hiến pháp năm 1959 quyền hạn của Chủtịch nước vẫn rất lớn Ví dụ Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trangtoàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng (Điều 65) Chủ tịchnước, khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và chủ tọa Hội nghị chính trị đặc biệt(Điều 67) Chủ tịch nước, khi xét thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ tọacác phiên họp của Hội đồng Chính phủ (Điều 66)
Chương VI - Hội đồng Chính phủ, bao gồm 7 điều (từ Điều 71 đến Điều77)
Theo quy định tại Điều 71, Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính nhà nước caonhất Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc quyền lực nhà nước tập trung thốngnhất vào Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân Quy định này cũngcho thấy Hội đồng Chính phủ theo Hiến pháp năm 1959 được tổ chức hoàn toàntheo mô hình chính phủ của các nước Xã hội chủ nghĩa về thành phần của Hộiđồng Chính phủ theo quy định tại Điều 72 khác cơ bản so với trước đây làkhông có Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước và không có các Thứ trưởng
Chương VII - Hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính địa phương cáccấp, bao gồm 14 điều (từ Điều 78 đến Điều 91)
Trang 17Trong chương này, Hiến pháp xác định các đơn vị hành chính ở nước talà: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã;
xã, thị trấn Ngoài ra còn có khu tự trị (Tây Bắc và Việt Bắc) Các khu tự trị nàytồn tại đến tháng 12/1975
Như vậy, theo Hiến pháp năm 1959, cấp bộ (Bắc bộ, Trưng bộ, Nam bộ)được bãi bỏ Khác với Hiến pháp năm 1946 chỉ có cấp tỉnh và cấp xã mới cóHội đồng nhân dân, Hiến pháp năm 1959 quy định tất cả các cấp tỉnh, huyện, xãđều có Hội đồng nhân dân Ngoài ra, Hiến pháp còn ghi rõ Hội đồng nhân dân
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Theo quy định của Hiến pháp, uỷban hành chính được thành lập ở tất cả các cấp tỉnh, huyện, xã Uỷ ban hànhchính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân địa phương, là cơquan hành chính của Nhà nước ở địa phương
Chương VIII - Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, gồm 15 điều(từ Điều 97 đến Điều 111)
So với Hiến pháp năm 1946, Chương này cũng có nhiều thay đổi TheoHiến pháp năm 1959, hệ thống tòa án ở nước ta bao gồm: Tòa án nhân dân tốicao, tòa án nhân dân địa phương và toà án quân sự Ngoài ra, trong trường hợpxét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập toà án đặcbiệt Chế độ bổ nhiệm thẩm phán bị bãi bỏ và thực hiện chế độ thẩm phán bầu.Việc xét xử ở các tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy địnhcủa pháp luật Khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán
Theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của các nước Xã hội chủ nghĩa,Hiến pháp năm 1959 đã quy định việc thành lập hệ thống viện kiểm sát nhândân để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Hệ thống việnkiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân địaphương và viện kiểm sát quân sự
Viện kiểm sát nhân dân tổ chức theo chế độ thủ trưởng trực thuộc mộtchiều Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của viện kiểm sát cấp trên và tất
cả đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện
Trang 18kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội,trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công táctrước Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chương IX quy định về Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô
Chương X quy định về sửa đổi Hiến pháp
Theo quy định của Hiến pháp, chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổiHiến pháp với điều kiện phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốchội biểu quyết tán thành
2.3 Ý nghĩa
Tóm lại, Hiến pháp 1959 là Hiến pháp được xây dựng theo mô hình Hiếnpháp xã hội chủ nghĩa Nó là bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nướcta
Là bản Hiến pháp của một nước dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa
xã hội, Hiến pháp năm 1959 khẳng định nước Việt Nam là một nước thống nhất
từ Lạng Sơn đến Cà Mau, tổ chức theo chính thể Nhà nước dân chủ cộng hòa,tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân, các quyền tự do dân chủ được bảo đảm.Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhândân các cấp do Nhân dân bầu ra Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các
cơ quan nhà nước khác thực hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ…
Hiến pháp 1959 đã ghi nhận những thành quả đấu tranh giữ nước và xâydựng đất nước của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao độngViệt Nam Với Hiến pháp 1959, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam vaitrò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam)được ghi nhận bằng đạo luật cơ bản của Nhà nước Hiến pháp 1959 là Hiếnpháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và Cương lĩnh để đấu tranh thốngnhất nước nhà Hiến pháp 1959 là sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp 1946trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam Nó là cơ sở, nền tảng để xây
Trang 19dựng toàn bộ hệ thống pháp luật ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
3 HIẾN PHÁP 1980
3.1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1980
Sau thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh vào mùa xuân năm 1975 đã
mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc của nước ta Miền Nam hoàn toàngiải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, đất nước hoàntoàn độc lập, tự do Đây là điều kiện thuận lợi để thống nhất hai miền Nam-Bắc, tiến tới quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Trước tình hình đó, tháng 9/1975, Hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hànhtrung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định nhiệm vụ quan trọng hàngđầu là hoàn thành việc thống nhất đất nước, quyết định triệu tập hội nghị hiệpthương chính trị thống nhất Tổ quốc Nhất trí quyết định tổ chức tổng tuyển cửbầu ra quốc hội chung cho cả nước Cuộc tổng tuyển cử diễn ra theo nguyên tắcphổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín diễn ra từ ngày 25/4/1976 với sựtham gia của hơn 23 triệu cử tri, chiếm gần 99% tổng số cử tri
Tổng đại biểu Quốc hội đã bầu là 492, trong đó 249 đại biểu miền Bắc và
243 đại biểu miền Nam
Quốc hội mới đã thông qua các nghị quyết quan trọng, quyết định trongkhi chưa có Hiến pháp mới sẽ tổ chức, hoạt động của Nhà nước ta dựa trên cơ
sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời Quốc hội
đã ban hành Nghị quyết sửa đổi hiến pháp năm 1959 và thành lập Uỷ ban dựthảo hiến pháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh làm chủ tịch
Sau 1 năm rưỡi làm việc, Uỷ ban đã hoàn thành Dự thảo sau đó đưa racho toàn dân thảo luận 9/1980, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam đã họp kỳ đặc biệt để xem xét và cho ý kiến bổ sung, sửa chữa Dự thảotrước khi trình lên Quốc hội thảo luận, thông qua
Trang 20Sau thời gian thảo luận, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã nhất trí thông quaHiến pháp.
3.2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp 1980 bao gồm: Lời nói đầu và 147 điều được chia làm 12chương
Lời nói đầu của Hiến pháp khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ta, ghi nhận những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân Việt nam đã giành được trongCách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc khángchiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai
Xác định những nhiệm vũ của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới
mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra và nêu lên những vấn
đề cơ bản mà Hiến pháp năm 1980 đề cập
Chương I: Quy định chế độ chính trị của Nhà nước ta
Có 14 điều, bao gồm các vấn đề cơ bản:
Xác định bản chất giai cấp của Nhà nước: Nhà nước chuyên chính vô sản
Sứ mệnh lịch sử là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, tiến tới chủ nghĩa cộng sản
Khác với hiến pháp năm 1946,1959 Hiến pháp 1980 quy định các quyềndân tộc cơ bản bao gồm 4 yếu tố: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ
Phạm trù quyền dân tộc cơ bản được thế giới thừa nhận một cách rộng rãi
và trở thành một trong những phạm trù quan trọng của luật quốc tế hiện đại, đây
là một đóng góp lớn của Việt Nam vào sự nghiệp bảo vệ các quyền cơ bản củacác dân tộc
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1980 thểchế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội vàomột điều của Hiến pháp (Điều 4) Sự thể chế hoá này thể hiện sự thừa nhậnchính thức của Nhà nước về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 21Ngoài việc thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp năm 1980còn xác định vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội quan trọng Đâycũng là lần đầu tiên vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội này được quyđịnh trong Hiến pháp.
Với Hiến pháp năm 1980, quan điểm về quyền làm chủ tập thể của Đảng
ta đã được thể chế hoá
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồngnhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, hoạtđộng theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Bên cạnh đó, Hiến pháp còn quy định nguyên tắc pháp chế Xã hội chủnghĩa Đây là một quy định hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1959 “Nhànước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa”
Chương II- Chế độ kinh tế, gồm 22 điều (từ Điều 15 đến Điều 36)
Giống như Hiến pháp năm 1959 Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1980 cónhiều điểm khác với Hiến pháp năm 1959 Theo Hiến pháp năm 1959, đất đai
có thể thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, còn Hiến phápnăm 1980 quốc hữu hoá toàn bộ đất đai Theo Hiến pháp năm 1959, các hìnhthức sở hữu về tư liệu sản xuất là: Sở hữu nhà nước , sở hữu của hợp tác xã, sởhữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.Còn theo Điều 18 Hiến pháp năm 1980 thì Nhà nước tiến hành cách mạng vềquan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi Xãhội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu Xã hội chủ nghĩa về tư liệusản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần:Thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tếhợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động
Chương III - Văn hóa, giáo dục, khoa học, Kỹ thuật, bao gồm 13 điều (từĐiều 37 đến Điều 49)
Trang 22Đây là một chương hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1946 và Hiếnpháp năm 1959 Chương này quy định mục tiêu của cách mạng tư tưởng và vănhoá là xây dựng nền văn hoá mới có nội dung Xã hội chủ nghĩa và tính chất dântộc, có tính đảng và tính nhân dân; xây dựng con người mới có ý thức làm chủtập thể, yêu lao động, quý trọng của công, có văn hoá, có kiến thức khoa học, kĩthuật, có sức khoẻ, yêu nước Xã hội chủ nghĩa và có tinh thần quốc tế vô sản(Điều 37) Theo quy định của Hiến pháp, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởngchỉ đạo sự phát triển của xã hội Việt Nam (Điều 38) Nhà nước ta chủ trươngbảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá và tinh thần của dân tộc, tiếp thu tinhhoa văn hoá thế giới; chống các tư tưởng phong kiến, tư sản và bài trừ mê tín,
dị đoan Ngoài những quy định trên, Chương III còn xác định chính sách vềkhoa học, lỡ thuật, văn học, nghệ thuật và các công tác thông tin, báo chí, xuấtbản, thư viện, phát thanh, truyền hình
Chương IV - Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bao gồm 3 điều (từ Điều
50 đến Điều 52)
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Xãhội chủ nghĩa được xây dựng thành một chương riêng trong hiến pháp Điều nàyxuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề phòng thủ đất nước Bảo vệ Tổquốc Xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là một trong hai nhiệm vụ chiếnlược của Đảng và Nhà nước Bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa làhai nhiệm vụ tồn tại song song trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, có sựgắn bó và tương hỗ lẫn nhau vì vậy Hiến pháp đã quy định: “Tất cả các cơ quannhà nước, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và
an ninh do pháp luật quy định” (Điều 52)
Chương V - Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm 29 điều (từĐiều 53 đến Điều 81)
Kế tục và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, Hiếnpháp năm 1980 một mặt ghi nhận quyền và nghĩa vụ của công dân đã quy định
Trang 23trong hai bản Hiến pháp trước, mặt khác xác định thêm một số quyền và nghĩa
vụ mới
So với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đã xác định thêm một
số quyền mới của công dân như quyền tham gia quản lý công việc của Nhànước và của xã hội, quyền được khám và chữa bệnh không phải trả tiền, quyền
có nhà ở, quyền được học tập không phải trả tiền, quyền của các xã viên hợp tác
xã được phụ cấp sinh đẻ
ngoài nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, công dân còn phải bảo vệ an ninhchính trị và trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật nhà nước; ngoài nghĩa vụ đóngthuế, công dân còn phải tham gia lao động công ích
Tuy nhiên, một số quyền mới quy định trong Hiến pháp năm 1980 khôngphù hợp với điều kiện thực tế của đất nước nên không có điều kiện vật chất đảmbảo thực hiện
Mặc dù có những hạn chế nói trên, tuy nhiên chế định quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1980 vẫn là một bước phát triển mới,phong phú hơn, cụ thể hơn, rõ nét hơn
Chương VI - Quốc hội, bao gồm 16 điều (từ Điều 82 đến Điều 97)
Cũng như quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 xácđịnh Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Hiến phápnăm 1980 cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước Nhưng Hộiđồng Nhà nước theo Hiến pháp năm 1980 còn là Chủ tịch tập thể của nướcCộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp năm 1980 thì Quốc hộibầu ra Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội Chủ tịch Quốc hội chủ tọa cácphiên họp của Quốc hội, bảo đảm việc thi hành nội quy của Quốc hội; giữ quan
hệ với các đại biểu Quốc hội; điều hoà và phối hợp hoạt động của các uỷ bancủa Quốc hội; chứng thực những luật và những nghị quyết đã được Quốc hộithông qua; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội
Trang 24Như vậy, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội là một thiết chế mới,một cách tổ chức mới của Quốc hội mà trước đó lịch sử lập hiến nước ta chưabiết đến.
Chương VII - Hội đồng Nhà nước, bao gồm 6 điều (từ Điều 98 đến Điều103)
Đây là một chương mới so với Hiến pháp năm 1959 Theo quy định tạiĐiều 98 Hiến pháp năm 1980, Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạtđộng thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà Xã hộichủ nghĩa Việt Nam Như vậy, Hội đồng Nhà nước vừa thực hiện chức năng của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vừa thực hiện chức năng của Chủ tịch nước Vìvậy, thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước tương đương với thẩm quyền của Ủyban Thường vụ Quốc hội và thẩm quyền của Chủ tịch nước trong Hiến phápnăm 1959 Hội đồng Nhà nước có những nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn, đượcquy định tại Điều 100 Hiến pháp năm 1980
Chương VIII - Hội đồng Bộ trưởng, bao gồm 9 điều (từ Điều 104 đếnĐiều 112)
Khác với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng
Bộ trưởng Là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quanquyền lực nhà nước cao nhất Với quy định này, có thể thấy tính độc lập củaChính phủ trong quan hệ với Quốc hội bị hạn chế
Về cơ bản, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng theo Hiến phápnăm 1980 giống với nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Chính phủ theo Hiếnpháp năm 1959
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1980 bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạnmới phù hợp với nhu cầu của xã hội như tổ chức và lãnh đạo công tác trọng tàinhà nước về kinh tế; tổ chức và lãnh đạo công tác bảo hiểm nhà nước So vớicác hiến pháp trước thì chế định về Hội đồng Bộ trưởng còn có một điểm mớinữa là quy định về trách nhiệm tập thể của các thành viên Hội đồng Bộ trưởngtrước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước
Trang 25Chương IX - Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân, bao gồm 14 điều (từĐiều 113 đến Điều 126).
Tại Chương này, Hiến pháp quy định về phân cấp hành chính ở nước ta,xác định vị trí, tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và ủy bannhân dân
Về phân cấp đơn vị hành chính, Hiến pháp năm 1980 quy định nước ta có
ba cấp hành chính Đó là tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tươngđương; huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; xã, phường, thị trấn
Khác với Hiến pháp năm 1959 khu tự trị bị bãi bỏ nhưng lập thêm đơn vịhành chính đặc khu, đơn vị phường ở những thành phố, thị xã Ở tất cả các đơn
vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
Về tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhândân cơ bản giống Hiến pháp năm 1959
Chương X - Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, bao gồm 15 điều(từ Điều 127 đến Điều 141)
Chương XI của Hiến pháp quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủđô
Chương XII quy định về hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiếnpháp
Quy định: Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý caonhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp, về thủ tục sửađổi Hiến pháp hoàn toàn giống Hiến pháp năm 1959
III Ý nghĩa Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp 1980 đã đánh cột mốc quan trọng trong lịch sử nước ta Nó làbản tổng kết những thành tựu của nhân dân Việt Nam đã giành được qua nửa thế
kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc chonhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là bản Hiến pháp của nước Việt Nam
đã hoàn toàn thống nhất, sau hơn hai mươi năm bị chia cắt với những chế độ
Trang 26chính trị - xã hội khác nhau Thể hiện ý chí của nhân dân hai miền Nam- Bắcđoàn kết một lòng cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
3 Tìm hiểu những vấn đề khác liên quan đến Hiến pháp 1980
Hiến pháp Việt Nam năm 1980 là Đạo luật gốc, cơ bản được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa VI, kì họp thứ 7 thông quangày 18.12.1980 và Chủ tịch Hội đồng nhà nước công bố ngày 19.12.1980, gồm
12 chương, 147 điều, được sửa đổi, bổ sung hai lần: Lần thứ nhất sửa đổi Lờinói đầu tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa VIII; lần thứ hai, sửa đổi các điều 57,
115 (điểm 9), 116, 118, 122, 123 và 125 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khoá VIII
Hiến pháp năm 1980 là bản Hiến pháp thứ bậc của nước Việt Nam và làbản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa
Sau ngày 30.4.1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng và do Chính phủcách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý Trên đất nước ViệtNam tổn tại hai chính quyền, xét theo bản chất, đều là chính quyền nhân dân vàđều do Đảng Cộng sản lãnh đạo Vấn để thống nhất nước Việt Nam trước hết vềmặt nhà nước đã được đặt ra Từ ngày 15 đến 21.11.1975, Hội nghị hiệp thươngchính trị bàn về vấn đề thống nhất Việt Nam về mặt nhà nước đã được tiến hànhgiữa hai Đoàn cấp cao của miền Bắc và miền Nam cuộc tổng tuyển cử bầu Quốchội chung của nước Việt Nam thống nhất đã được tiến hành ngày 25.4.1976 kỳhọp đầu tiên của Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất đã khai mạc tạithủ đô Hà Nội Ngày 24.6.1976, Quốc hội đã có những quyết định quan trọng,trong đó có quyết định thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam và sau hơn bốn năm làm việc khẩn trương, cuối năm
1980, Hiến pháp mới, thứ ba đã được Quốc hội thông qua
Kế thừa, phát triển, nâng cao những quy định của 2 bản Hiến pháp trước,vận dụng vào điều kiện cụ thể của giai đoạn phát triển mới, Hiến pháp năm
4980 là một bước phát triển mới của nền lập hiến Việt Nam Đi theo mô hình
"Lời nói đầu" phổ biến lúc bấy giờ của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, "Lời nói
Trang 27đầu" Hiến pháp năm 1980 là một bản tổng kết lớn thành quả đấu tranh của dântộc Việt Nam trong trường kì lịch sử dựng nước, giữ nước, nhất là trong thờihiện đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được nhữngthắng lợi có tính lịch sử "Lời nói đầu", đồng thời, lần đầu tiên đã xác định vaitrò, sứ mệnh của hoạt động lập hiến trong mối quan hệ với đường lối chính trịcủa Đảng lãnh đạo là thể chế hóa đường lối của Đảng: Nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam cần có một bắn Hiến pháp thể chế hóa đường lối của ĐảngCộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộitrong phạm vi cả nước.
Chương l - Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chế độ chính trịvốn là chương thường bao gồm những thể chế cơ bản của Nhà nước và xã hội.Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tính chất, đặc trưng cơ bản là
"một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đấtliền, vùng trời, vùng biển và hải đảo" và tiếp theo là sự ghi nhận các chế định cơbản của chính quyền: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; nhân dân sử dụngquyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân Đồng thời, ởChương I, lần đầu tiên xác nhận bản chất chuyên chính vô sản của chính quyền
ở ngay tại Điều 2, thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam làlực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội
Tiếp đó, Hiến pháp đã lần lượt xác định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổquốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận (Điều 9) và dành riêngmột điều về Tổng công đoàn Việt Nam (Điều 10); của tập thể nhân dân lao động
ở cơ quan, xí nghiệp (Điều 12)
Chương II - Chế độ kinh tế có 22 điều từ Điều 15 đến Điều 36 là mộttrong những chương lớn của Hiến pháp, chỉ đứng sau Chương V - Quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân Nội dung chủ yếu của cả chương là thể chế hoámột cách tổng quát đường lối xây dựng một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trungcủa xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, thiết lập vàcủng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một
Trang 28nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanhthuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể củanhân dân lao động.
Chương III - Văn hoá, giáo dục, khoa học, Kĩ thuật: có 13 điều từ Điều
37 đến Điều 49 Lần đầu tiên, trong đạo luật cơ bản của Nhà nước các vấn đề `thuộc đường lối phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật của đất nước đãđược tập trung lại, thể hiện thành những thể chế hiến định trong một chươngriêng, phản ánh một cách nhìn mới về văn hoá, giáo dục, khoa học kĩ thuật trongđời sống của đất nước trong quá trình phát triển đi lên của xã hội
Chương IV - Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: gồm 3 điều, từ Điều 50đến điều 52 Cũng là lần đầu tiên, bảo vệ Tổ quốc có vị trí của một chươngriêng biệt trong Hiến pháp - luật cơ bản, phản ánh một thực tế đấu tranh đã trởthành quy luật trong trường kì lịch sử, công cuộc dựng nước bao giờ cũng gắnvới sự nghiệp giữ nước, bảo vệ Tổ quốc
Chương V - Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: gồm 29 điều, từĐiều 53 đến Điều 81, là chương lớn nhất của Hiến pháp thể hiện quan điểmnhư sợi chỉ đỏ xuyên suốt các Hiến pháp Việt Nam và đến Hiến pháp năm 4980
có bước phát triển mới: địa vị làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội của nhân dân
Nội dung của chương này quy định tương đối bao quát, đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, các quyền tự do dân chủ (các điều 67, 68, 71).Một điều mới trong cách thể hiện là lao động và học tập được quy định là quyềnđồng thời là nghĩa vụ của công dân Các nghĩa vụ cơ bản của công dân cũngđược quy định đầy đủ
Một đặc điểm đáng kể của chương này là cùng với các quy định đầy đủ,toàn diện về các quyền và nghĩa vụ của công dân, lại có những quy định tuykhông trực tiếp đề cập quyền và nghĩa vụ công dân nhưng lại có mối quan hệkhăng khít trong cuộc sống cộng đồng như vị trí, vai trò của gia đình là tế bàocủa xã hội (Điều 64) hoặc trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc chútrọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng (Điều 65), "tạo điều
Trang 29kiện cho thanh niên học tập, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, năng khiếu vàthể lực" (Điều 66) Năm chương từ Chương VI đến Chương X gồm 60 điều từĐiều 82 đến Điều 141, với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước trungương và địa phương thể hiện mối quan hệ khăng khít với nhau theo tinh thầnvừa có sự phân công, vừa có phối hợp trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các quy định
đã thành nguyên tắc, nguyên lí của hai Hiến pháp trước, đồng thời, có sự điềuchỉnh lớn, đưa mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam về cơ bản theo môhình tổ chức nhà nước xã hội chủ nghĩa phổ biến ở những năm 70, 80, thế kỉXX
Về Quốc hội, Chương VỊ có 16 điều từ Điều 83 đến Điều 97, khẳng địnhcác quy định truyền thống có tính nguyên tắc về vị trí của Quốc hội, đồng thời,khẳng định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyếtđịnh những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, mục tiêu phát triển kinh tế
và văn hoá, quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vàthực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước (Điều82)
Chương VII - Hội đồng nhà nước: có 6 điều từ Điều 98 đến Điều 103,thiết kế một thể chế rất mới mẻ ở Việt Nam, vừa làm chức năng của cơ quanthường trực của Quốc hội, vừa làm chức năng của Chủ tịch nước - nguyên thủquốc gia Điều 98 ghi:
Hội đồng nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên củaQuốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hội đồng nhà nước, thông qua Chủ tịch Hội đồng thay mặt nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại
Chương VIII - Hội đồng Bộ trưởng có 9 điều từ Điều 104 đến Điều 112,chủ yếu kế thừa, tiếp thụ các quy định của thiết chế Hội đồng Chính phủ củaHiến pháp năm 1959 với những điều chỉnh, bổ Sung cần thiết cho phù hợp vớigiai đoạn phát triển mới, Hội đồng Bộ trưởng, theo Điều 104, là Chính phủ củanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính
Trang 30nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Về chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ của Hội đồng Bộ trưởng về cơ bản như ở Hiến pháp năm
1959 với sự cụ thể hoá, bổ sung một số chức năng mà Nhà nước ta, do bản chấtnhân dân của nó, ở giai đoạn nào cũng được thể hiện, nhưng ở các Hiến pháptrước chưa được chính thức ghi nhận thì nay đã được bổ sung, trở thành nhữngnhiệm vụ, quyền hạn mới của Hội đồng Bộ trưởng
Chương IX - Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân: có 14 điều, từ Điều
113 đến Điều 126, chủ yếu kế thừa, tiếp tục các quy định của thiết kế mô hình tổchức chính quyền địa phương của các Hiến pháp trước: tổ chức chính quyền bacấp hoàn chỉnh: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đều có Hội đồng nhân dân và Uỷban nhân dân (cơ quan hành pháp địa phương đã được gọi là Uỷ ban nhân dânthay cho tên gọi Uỷ ban hành chính ở hai Hiến pháp trước
Tháng 6.1989, kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khoá VII đã có nghị quyết sửa đổi,
bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1980 trực tiếp liên quan đến các quyđịnh của Chương IX, theo đó tất cả 6 điều được sửa đổi, bổ sung đều quan hệđến 1 thiết chế là thường trực Hội đồng nhân dân được thành lập ở Hội đồngnhân dân cấp tỉnh và Hội đồng nhân dân cấp huyện, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch
và Thư ký Hội đồng nhân dân làm nhiệm vụ triệu tập hội nghị Hội đồng nhândân cùng cấp và điều hành, phối hợp hoạt động của các ban do Hội đồng nhândân lập r4, nhiệm vụ mà trước đó do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp thựchiện Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1980 cũngđiều chỉnh nhiệm kỳ của
Hội đồng nhân dân, nếu trước đây cấp tỉnh là 4 năm, cấp huyện, cấp xã là
2 năm (Điều 116), thì nay theo nghị quyết mới tất cả đều 5 năm
Chương X - Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có 15 điều từĐiều 127 đến Điều 141 về cơ bản kế thừa, tiếp thu những quy định của Hiếnpháp năm 1959 về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Lần đầu tiên, ởtầm hiến định, chương này có quy định: Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích
Trang 31hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏtrong nhân dân, theo quy định của pháp luật.
Chương XI - Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô có 4 điều, từ Điều 142đến Điều 145, so với Hiến pháp năm 1959, có bổ sung quan trọng về Quốc ca:Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội quyết định VềQuốc kỳ (Điều 142); Quốc huy (Điều 143) có sự bổ sung, miêu tả cụ thể nhữngchỉ tiết của quốc kỳ - hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền
đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh; đối với Quốc huy cũng có mô tả chỉ tiết
cụ thể (Điều 143)
Chương XII - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp có 2điều: Điều 146 và Điều 147 So với Hiến pháp 1959, có bổ sung một điều đặcbiệt quan trọng về hiệu lực của Hiến pháp, cụ thể Điều 146 ghi: Hiến pháp nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệulực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.Điều 147 về sửa đổi Hiến pháp giữ nguyên như Điều 112 Hiến pháp năm 1959:chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp và phải được hai phần ba tổng sốđại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành mới có giá trị
3.3 Ý nghĩa Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp 1980 đã đánh cột mốc quan trọng trong lịch sử nước ta Nó làbản tổng kết những thành tựu của nhân dân Việt Nam đã giành được qua nửa thế
kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc chonhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là bản Hiến pháp của nước Việt Nam
đã hoàn toàn thống nhất, sau hơn hai mươi năm bị chia cắt với những chế độchính trị - xã hội khác nhau Thể hiện ý chí của nhân dân hai miền Nam- Bắcđoàn kết một lòng cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trang 324 HIẾN PHÁP 1992
Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 đã để lại nhiều vấn đề có ý nghĩa và giátrị tốt đẹp Đặc biệt, Hiến pháp là cơ sở khoa học để đổi mới nền kinh tế, từngbước đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện
và đổi mới hệ thống các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp
1 Sự ra đời của Hiến pháp 1992
Hiến pháp năm 1992 ra đời trên cơ sở sửa đổi căn bản, toàn diện Hiến pháp năm
1980 Sau 11 năm phát huy hiệu lực, không ít các quy định của Hiến pháp năm 1980 không còn phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước đang biến chuyển nhanh chóng Trước Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), nền kinh nước ta là nền kinh tế kế hoạch hóa, chỉ có hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Từ sau Đại hội VI của Đảng trở
đi, nền kinh nước ta chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô Cũng từ đây, thuật ngữ "chuyên chính vô sản" được thay thế bằng "hệ thống chính trị", được xác định hoàn thiện hơn, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức thành viên và các tổ chức chính trị - xã hội; tự do, dân chủ được phát huy rộng rãi; về xã hội, đời sống nhân dân đã có bước cải thiện, các quyền lợi, trước hết là quyền lợi kinh tế, được bảo đảm hơn, và một số phong trào đã đạt kết quả khả quan như xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa Thực tiễn đó đòi hỏi phải có một bản hiến pháp mới phù hợp hơn để thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội, xây dựng cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân ở một trình độ cao hơn.
- Trên nền tảng từ đại hội VI, thì Quốc hội khóa VIII, Kỳ họp thứ 5, ngày 30-6-1989,
đã ra Nghị quyết thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để hiến định đường lối đổi mới trong giai đoạn cách mạng mới Ban dự thảo Hiến pháp gồm 28 thành viên, do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước làm Chủ tịch Cuối năm 1991, dự thảo lần thứ ba được hoàn thành và được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các tầng lớp nhân dân
và sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII), dự thảo Hiến pháp lần thứ tư đã được hoàn thiện và được trình tại Quốc hội khóa VIII, Kỳ họp thứ 11 xem xét Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi, với tinh thần trách nhiệm cao, dự thảo tiếp tục được hoàn chỉnh với chất lượng tốt nhất trong bối cảnh lúc bấy giờ.
Quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1992, có thể nói, là một cuộc sinh hoạt chính trị dài ngày của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thật sự dân chủ trong thảo luận Các ý kiến thảo
Trang 33luận, đóng góp được chắt lọc một cách đầy đủ, nghiêm túc về tất cả các vấn đề, từ những quan điểm chung cho đến các vấn đề cụ thể; từ chế định về chế độ chính trị cho đến tất cả các chế định tiếp theo thuộc nội dung Hiến pháp Đây là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, là sản phẩm trí tuệ của toàn xã hội, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
2 Nội dung cơ bản
- Hiến pháp năm 1992 đã được thông qua với 12 chế định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Chế độ chính trị; Chế độ kinh tế; Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân; Quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, thủ đô và ngày quốc khánh; Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.Trong đó có điểm đối mới ở một số chế định, như:
* Về chế độ chính trị: Hiến pháp 1992 có điều lệ mới được ban hành, đó là: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.”
* Về chế độ kinh tế: điều lệ mới như: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”, “Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh
tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.”, “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.”
Trang 34* Về văn hóa,giáo dục, khoa học, công nghệ: “Nhà nước và xã hội phát triển du lịch,
mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế.”, “Nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao.”
* Bảo vệ Tổ quốc Vn XHCN: “Nhà nước xây dựng quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu trên cơ sở kết hợp xây dựng với bảo vệ Tổ quốc”, “Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.”.
* Quốc hội: “ Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước”,”Thực hiện quan
hệ đối ngoại của Quốc hội”.
* Chủ tịch nước Điều này khác với hội đồng nhà nước ở Hiến pháp trước Ngoài nhiều quyền hạn và nghĩa vụ trước đó như hội đồng nhà nước, chủ tịch nước là người “Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định”
* Chính phủ Điều này cũng khác so với hiến pháp trước, là tên gọi khác của hội đồng chính phủ trước đó Ở hiến pháp 1992, có sửa đổi bổ sung điều lệ mới: “Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài”.
Bên cạnh đó thì 1 số điều lệ sửa đổi bổ sung về hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cũng được ghi rõ ràng trong hiến pháp 1992.
3 Ý nghĩa và giá trị:
- Hiến pháp năm 1992 là cột mốc quan trọng của lịch sử lập hiến Việt Nam
Trang 35+Bởi Hiến pháp năm 1992 là mốc son của việc xây dựng và phát triển ngày càng vững chắc nền tảng kinh tế - xã hội của nước ta từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XX cho đến hiện tại.
- Hiến pháp năm 1992 có vị trí trung tâm trong hệ thống pháp luật hiện hành
- Hiến pháp năm 1992 thể hiện tính pháp lý, tính hiện thực cao
- Hiến pháp năm 1992 là nền tảng để hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp
- Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc mở rộng và phát triển nền ngoại giao sáng tạo Việt Nam trong tình hình thế giới biến đổi khôn lường
* Tư liệu tham khảo:
- Bùi Ngọc ThanhTS, nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ
nhiệm Văn phòng Quốc hội, Hiến pháp năm 1992: Ý nghĩa và giá trị cơ bản, ngày
12/11/2012, https://stc.thuathienhue.gov.vn/?gd=7&cn=121&tc=1033, xem ngày 03/10/2021.
-https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1992-cong-hoa-xa-hoi-ch u-nghia-Viet-nam-38238.aspx, xem ngày 03/10/2021.
5 HIẾN PHÁP NĂM 2013
5.1 Hoàn cảnh ra đời
Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản ViệtNam, cùng với kết quả tổng kết thực tiễn qua 25 năm thực hiện công cuộc đổimới toàn diện đất nước đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm1992; nhằm thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và nhànước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vàđảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Trang 36Ngày 06/8/2011, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, đã thông quaNghị quyết số 06/2011/QH13 thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm
1992 gồm 30 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hộilàm Chủ tịch Ủy ban Sau thời gian 9 tháng (từ 01 đến 9/2013) triển khai lấy ýkiến góp ý của nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài, ngày28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII chính thức thông qua Hiếnpháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp năm 2013 Ngày08/12/2013, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Hiến pháp Hiến pháp năm 2013
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ tiếptục đổi mới đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhậpquốc tế
5.2 Nội dung
Hiến pháp năm 2013 gồm Lời nói đầu, 11 chương, 120 điều So với Hiếnpháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 giảm 1 chương, 27 điều, trong đó có 12điều mới; giữ nguyên 7 điều và sửa đổi, bổ sung 101 điều còn lại
Lời nói đầu của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở chắt lọc, lựa chọn ý
tứ, từ ngữ để nêu bật được một cách ngắn gọn, súc tích tinh thần, nội dung củaHiến pháp, phản ánh được lịch sử hào hùng của dân tộc, thể hiện rõ mục tiêudân chủ và khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng,thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh
Chương I: Chế độ chính trị, gồm 13 điều – Hiến pháp 2013 tiếp tụckhẳng định những giá trị nền tảng và mục tiêu cơ bản của Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời khẳng định rõ hơn chủ quyền nhân dân,với chế độ bầu cử dân chủ, quyền cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và Hộiđồng nhân dân, cũng như cơ chế không chỉ phân công, phối hợp mà còn kiểmsoát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước
Điều 13 Chương này quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, ngàyQuốc khánh và Thủ đô chứ không để một chương riêng như Hiến pháp 1992