Năm 1009 vương triều Lý ra đời đã mở đầu “thời đại Lý Trần” vàng son trong lịch sử Việt Nam. Năm 2010, vua Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long. Hai triều đại Lý (10091226), Trần (12261400) đã xây dựng Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa của đất nước. Bộ máy nhà nước được xây dựng và kiện toàn theo hướng tập quyền. Quan lại, quân đội, trí thức, thợ thủ công, thương nhân tập trung về đây dần khiến đời sống kinh tế, văn hóa của người dân Thăng Long phát triển mạnh mẽ. Từ vai trò trung tâm chính trị, hành chính, Thăng Long đã nhanh chóng phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hóa số một của đất nước. Kinh thành Thăng Long thời Lý Trần còn là một đô thị lớn ở khu vực Đông Nam Á, một biểu tượng của quyền lực. Năm 2010, Trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến mọi mặt đời sống Thăng Long bấy giờ chính là Phật Giáo. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, tồn tại và phát triển gắn liền với lịch sử đất nước và góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc biệt, thời Lý Trần, Phật giáo phát triển hưng thịnh và trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị nước ta.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** _
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: HÀ NỘI HỌC
Giảng viên: ThS Vũ Thị Xuyến
Hà Nội - 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** _
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: HÀ NỘI HỌC
Chủ đề: So sánh ảnh hưởng của Phật Giáo trong kiến trúc của kinh đô Thăng Long thời Lý Trần và Kinh đô Sukhothai (Thái Lan) thế kỷ XI - XIV
Giảng viên: ThS Vũ Thị Xuyến
Hà Nội - 2022
Trang 3MỤC LỤC
1 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến các công trình kiến trúc kinh đô Thăng Long 1
1.1 Tổng quan về bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội 1
1.2 Công trình kiến trúc mang dấu ấn Phật giáo tiêu biểu 2
2 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến các công trình kiến trúc kinh đô Sukhothai (Thái Lan) 3
2.1 Tổng quan về bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội 3
2.2 Công trình kiến trúc mang dấu ấn Phật giáo tiêu biểu 4
3 So sánh 6
3.1 Tương đồng 6
3.2 Khác biệt 6
4 Kết luận 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 4SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG KIẾN TRÚC CỦA KINH
ĐÔ THĂNG LONG THỜI LÝ TRẦN VÀ KINH ĐÔ SUKHOTHAI (THÁI LAN)
THẾ KỶ XI - XIV
1 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến các công trình kiến trúc kinh đô Thăng Long
1.1 Tổng quan về bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội
Năm 1009 vương triều Lý ra đời đã mở đầu “thời đại Lý - Trần” vàng son trong lịch sử Việt Nam Năm 2010, vua Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long
Hai triều đại Lý (1009-1226), Trần (1226-1400) đã xây dựng Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa của đất nước Bộ máy nhà nước được xây dựng và kiện toàn theo hướng tập quyền Quan lại, quân đội, trí thức, thợ thủ công, thương nhân tập trung về đây dần khiến đời sống kinh tế, văn hóa của người dân Thăng Long phát triển mạnh mẽ Từ vai trò trung tâm chính trị, hành chính, Thăng Long đã nhanh chóng phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hóa số một của đất nước Kinh thành Thăng Long thời Lý Trần còn là một đô thị lớn ở khu vực Đông Nam Á, một biểu tượng của quyền lực Năm 2010, Trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến mọi mặt đời sống Thăng Long bấy giờ chính là Phật Giáo Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, tồn tại
và phát triển gắn liền với lịch sử đất nước và góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc Đặc biệt, thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển hưng thịnh và trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị nước ta
Thời kỳ này, các vua và hoàng tộc đều sùng Phật; nhiều đường lối, chính sách của Nhà nước được các trí thức Phật giáo tham gia xây dựng Các thiền sư đạo cao đức trọng được triều đình tin dùng và được coi như những cố vấn đặc biệt cho triều đình Được vua ủng hộ, hoạt động của Phật Giáo có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng nào cũng có chùa, tháp Thậm chí, đến cuối thời Trần Phật giáo đã phát triển vượt tầm kiểm soát, “dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền”1
Phật giáo thời này giữ vai trò quan trọng trong tất cả các mặt xã hội, nền giáo lý
và tín ngưỡng được áp dụng một cách rộng rãi trong văn học, kiến trúc xây dựng, nghi
lễ tín ngưỡng văn hóa v.v…
1 Lê Văn Hưu, Đại Việt Sử Ký toàn thư.
Trang 51.2 Công trình kiến trúc mang dấu ấn Phật giáo tiêu biểu
Hầu hết các công trình kiến trúc thời Lý - Trần đều chịu ảnh hưởng từ quan điểm Phật Giáo, đặc biệt là chùa, tháp được xây dựng khắp nơi Mỗi công trình đều nói lên đặc điểm văn hóa, đời sống xã hội và thể hiện nhiều khát vọng của nhân dân Tất cả đều mang đậm bản sắc, phong vị đặc trưng thời đại Một trong những công trình mang đậm dấu ấn Phật Giáo thời này còn lưu giữ đến ngày nay là chùa Một Cột
Theo sử xưa, chùa Một Cột được vua Lý Thái Tông cho xây dựng vào mùa đông năm 1049 và hoàn thiện vào năm 1105 thời vua Lý Nhân Tông
Chùa Một Cột là công trình nổi tiếng nhất nằm trong quần thể kiến trúc chùa Diên Hựu (có nghĩa là ngôi chùa "Phúc lành dài lâu") Đến đời vua Lý Nhân Tông, quần thể chùa Diên Hựu được cải tạo lại, thêm hồ Linh Chiểu vào và trang trí thêm một tòa sen mạ vàng trên đỉnh chùa Một Cột Ẩn trong tòa sen là ngôi đền được sơn tím với hình ảnh chim thần được điêu khắc trên mái nhà, bên trong có bức tượng Quan Thế Âm mạ vàng Tuy nhiên, trải qua những năm tháng chiến tranh triền miên, đến nay, quần thể chùa Diên Hựu đã không còn giữ được nguyên trạng
Chùa Một Cột chỉ có một gian chùa bằng gỗ nhỏ nằm trên một cột đá lớn được đặt ở chính giữa hồ Linh Chiểu Cấu trúc của ngôi chùa này gồm 3 phần chính là cột trụ, đài Liên Hoa và mái chùa
Cột trụ của ngôi chùa là 2 cột đá đường kính 1,2 mét chồng lên nhau thành một
khối vô cùng vững chắc Tổng chiều dài chưa kể phần chìm dưới mặt đất của cột trụ đá
là 4 mét Phía trên của cột trụ là hệ thống các dầm gỗ có kết cấu đối xứng, chắc chắn
để làm giá đỡ cho ngôi đài Liên Hoa ở phía trên
Đài Liên Hoa được thiết kế bằng gỗ theo hình vuông có độ dài mỗi cạnh là 3
mét với chắn song lớn bao xung quanh Bên trong đài là án thờ Tượng Phật bà Quân
Âm nghìn mắt nghìn tay mạ vàng được bài trí vô cùng tôn nghiêm và sang trọng
Mái chùa Một Cột được lợp bằng ngói màu đỏ gạch, có bốn góc uốn cong như
đầu đao vút lên trời Trên đỉnh mái là biểu tượng "lưỡng long chầu nguyệt" tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, âm dương hài hòa của nền văn hóa đậm chất phương Đông Rồng thời Lý trong “Lưỡng long chầu nguyệt” có thể không có vảy hoặc vảy nhỏ, mịn Thân rồng luôn được uống sóng nước thành 12 khúc tương đương 12 tháng trong năm, vừa thể hiện độ dài các tháng vừa thể hiện sự biến đổi của thời tiết và mùa màng Trong tâm linh, “Lưỡng long chầu nguyệt” thể hiện sức mạnh của thiên nhiên,
Trang 6vũ trụ Hình ảnh rồng linh vật đứng đầu trong tứ linh quay đầu về hướng mặt trăng -biểu tượng của thánh thần - trong tư thế mắt hướng lên, đầu hạ thấp -biểu thị sự thần phục trước sức mạnh thiên nhiên, vũ trụ Dù trong xã hội phong kiến hay hiện tại người ta vẫn hết sức trân trọng, giữ gìn những di sản văn hóa này Cùng với các biểu tượng bánh xe luân hồi, đài sen, “lưỡng long chầu nguyệt” cũng là biểu tượng tiêu biểu của kiến trúc Phật Giáo thời kì này
Ngôi chùa được dựng trên một trụ đá vươn cao khỏi mặt hồ mang hàm nghĩa như một bông hoa sen vươn thẳng lên khỏi mặt nước, nở hoa thuần khiết, thanh tao Hình ảnh bông sen chính là biểu tượng của con người Việt Nam, đó là lối sống ngay thẳng, thanh cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Hoa sen cũng tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở bùn mà không bị ô uế, một nét đặc trưng của Phật giáo bắt nguồn từ lối sống dân dã
Chùa Diên Hựu là minh chứng cho sự phát triển kiến trúc cổ truyền với khởi thủy là những cái am thờ giữa trời mà người dân thường thờ cúng Như vậy, chùa Một Cột sở hữu kiến trúc đặc thù, tiếp thu cái cũ và chuyển hóa cái mới, cái mới ở đây là biểu tượng bông sen, “lầu chuông một cột, sáu cạnh, hình hoa sen”, vừa mang tính thẩm mỹ vừa dung chứa tinh thần Phật giáo Tháp Một Cột là mô hình tháp hoa sen, có tính biểu tượng và hiện thực, kết hợp hoàn hảo nhất, đủ những yếu tố của một chùa tháp cổ điển Với kiến trúc độc đáo và lịch sử lâu đời cũng như ý nghĩa tâm linh quan trọng, Chùa Một Cột được công nhận là Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật Quốc gia năm 1962 và kỷ lục "Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á" do Tổ chức Kỷ lục Châu Á xác lập
2 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến các công trình kiến trúc kinh đô Sukhothai (Thái Lan)
2.1 Tổng quan về bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội
Sukhothai là thủ đô đầu tiên của Vương Quốc Sukhothai từ năm 1238 đến 1438
và ngày nay chỉ là thủ phủ của tỉnh Sukhothai (Thái Lan) với diện tích 6.596km2, cách thủ đô Bangkok khoảng 427km về phía Bắc, được mệnh danh là “bình minh của hạnh phúc” Trong tiếng Thái, Sukhothai có ý nghĩa là "cội nguồn của sự hoan lạc" Cùng với nhiều di tích lịch sử như hoàng thành, đền thờ Phật và công viên lịch sử Sukhothai,
Cố đô Sukhothai được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1991
Trang 7Nơi đây có những công trình lịch sử rất tinh xảo, minh chứng cho sự khởi đầu của nền kiến trúc Thái Nền văn minh tuyệt vời gắn với Vương quốc Sukhothai đã tiếp thu những yếu tố này để hình thành nên một nét rất riêng, được gọi là “phong cách Sukhothai” Đây là một trong những nơi tiêu biểu cho nền nghệ thuật Xiêm trong giai đoạn đầu tiên và tiêu biểu cho sự sáng tạo của đất nước Thái Lan đầu tiên
Là một đất nước sùng đạo Phật, Phật giáo hình thành và phát triển ở Thái Lan từ thời kỳ nhà nước Sukhothai Trong buổi đầu vương quốc, Phật giáo tại đây phân hóa thành những vùng theo các dòng truyền thừa khác nhau Từ năm 1277, Phật giáo Theravada của Tăng đoàn Lankavamsa trở nên phổ biến và thực hành rộng rãi trên khắp Sukhothai
Đây cũng là thời kỳ Phật giáo phát triển mạnh mẽ, các vị vua đều sùng tín Phật pháp, tích cực ủng hộ xây dựng chùa chiền lớn, đào tạo tăng tài để phát triển Chính pháp, thậm chí có nhiều nhà vua xuất gia như vua RamKhamhaeng và vua Lu T’ai Mặc dù Sukhothai chỉ tồn tại gần hai thế kỷ (1238-1436) nhưng hai vị vua sùng đạo của vương triều là Ramkhamhaeng cùng Lu T’ai đã củng cố và đưa Phật giáo Theravada được truyền từ Sri Lanka trở thành quốc giáo từ thế kỷ XIII – XIV cho đến tận ngày nay
2.2 Công trình kiến trúc mang dấu ấn Phật giáo tiêu biểu
Nền văn minh gắn với vương quốc Sukhothai đã được kế thừa nhiều ảnh hưởng của truyền thống cổ đại, kết hợp với nhiều yếu tố để tạo nên một phong cách độc đáo riêng mang tên gọi “Sukhothai”
Thứ nhất, nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Thái Lan bao gồm một tổng thể gọi là Wat Wat được dịch là một tu viện hoặc một ngôi đền, đây là một khuôn viên có tường rào có cổng và nhiều ngôi nhà có chức năng chính phụ khác nhau Trong Wat thường
có hai phần là Phuttha-wat (khu thờ Phật) và Sangha-wat (nơi các vị sư nghỉ ngơi) Phuttha-wat gồm có 7 kiến trúc: Chedi (bảo tháp), Prang, Mondop (những tòa nhà hình vuông), Bot (phòng cầu nguyện chính), Viharn (phòng thờ), Sala (một gian nhà nghỉ ngơi có mái và cột chống) và Ho trai (Tàng Kinh Các) Tiêu biểu trong phong cách Sukhothai là Prang và Chedi Prang là loại hình kiến trúc bắt đầu từ kiểu đền tháp Prasat (đền thờ) trong kiến trúc Khmer, là một dạng bảo tháp nhiều tầng với phần thân trên hình lõi ngô nhiều tầng bậc Kiến trúc dạng Chedi của Sukhothai là những tháp có nền hình vuông được xây cao để làm các khảm chứa tượng Phật Thân của tháp được
Trang 8xây theo hình quả chuông úp nhưng so với các Tháp miền Bắc Thái Lan thì hình chuông lúc này đã thon thả, đỉnh tháp được thay bằng hình chóp nhọn được tạo khối bởi nhiều vòng tròn xếp chồng lên nhau càng lên cao càng nhỏ dần Nơi để thánh tích phía trên vòm chuông có hình vuông, hình bát giác hoặc hình tròn và có thể còn có những hàng cột bao quanh Nguồn gốc của bảo tháp có thể được bắt nguồn tại Ấn Độ,
nó đóng vai trò rất quan trọng và là nơi lưu giữ các xá lợi Phật.
Thứ hai, các tầng mái đóng vai trò rất quan trọng trong lối kiến trúc Phật giáo thời kỳ này Ngoài màu vàng, có một bảng màu đặc trưng cho mái đền Bangkok, gồm: cam, đất, xanh lá cây, đỏ và trắng Kiến trúc mái tháp có độ dốc cao, giữa chính diện thường có chóp tháp, đỉnh tháp nhô lên cao, kết cấu khung tường chịu lực và không gian lớn Kiến trúc tháp Thái là bộ mái dán những lớp ngói men nhiều màu có nhiều
gờ chỉ tinh vi
Thứ ba, gạch được trát bằng vữa nung, cũng có gạch được trang trí bằng mạ vàng Kiến trúc trang trí rất cầu kỳ, toàn bộ chedis dát vàng, thường lấy các thần bảo
hộ làm họa tiết trang trí Mi cửa, phù điêu trang trí những hình trang trí bằng vữa , nhiều tượng phật đứng ngồi, thể hiện rõ nét trường phái tượng Phật Thái thế kỷ XIII-XIV và còn được bảo lưu về sau.
Ngoài ra, còn có cả những con voi xung quanh bảo tháp và những bảo tháp hình hoa sen cũng là những kiến trúc tiêu biểu cho thời kỳ này
Một công trình kiến trúc tiêu biểu thời này còn lưu lại là chùa Mahathat Được xây dựng từ năm 1374, ngôi chùa Mahathat đồ sộ được xây dựng bằng gạch theo phong cách kiến trúc Khmer ở trung tâm của kinh đô Hầu hết các tượng trong chùa làm bằng đá khối, được xếp chồng lên nhau, tư thế thiền đẹp, mềm mại và thanh thoát
Nó gồm một cụm 200 bảo tháp Các công trình kiến trúc được sắp trục theo hướng Đông – Tây Tâm của Wat Mahathat là một bảo tháp cao, trên cùng có búp sen, chi tiết của kiến trúc Phật giáo Thái Lan Những tháp nhỏ hơn được xây dựng bao quanh bảo tháp, được làm bằng gạch và trát vữa
Như vậy, sự kết hợp của nhiều phong cách kiến trúc Phật giáo khác nhau như: phong cách Môn, Khmer, Sri Lanka đã tạo nên lối kiến trúc độc đáo của Sukhothai thời kỳ này
3 So sánh
3.1 Tương đồng
Trang 9Cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, vào thế kỉ XI - XIV, cả hai kinh đô Thăng Long và Sukhothai đều chịu nhiều ảnh hưởng bởi Phật giáo lên mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có các công trình kiến trúc nổi bật của kinh thành
Trước hết, vào thời kì này cả hai quốc gia đều lựa chọn Phật giáo là quốc giáo,
sự sùng tín Phật pháp được thể hiện không chỉ ở tầng lớp bá tánh bình dân mà ở cả tầng lớp vua, quý tộc Những giáo lý Phật pháp đi vào đời sống người dân, xuất hiện trong giáo dục, khoa cử, luật pháp và trở thành một yếu tố không thể thiếu trong xã hội
Các công trình chùa, tháp được xây dựng khắp nơi và ở cả hai kinh thành đều
có những công trình chùa, tháp độc đáo với số lượng và quy mô lớn Tuy chịu ảnh hưởng bởi hai dòng Phật giáo khác nhau nhưng những nét kiến trúc vẫn có nhiều điểm tương đồng như: ở phần mái đều được uốn cong; màu vàng là màu sắc quan trọng trong kiến trúc tổng thể; thờ phụng nhiều vị Phật, thần linh và tạc nhiều tư thế khác nhau cho tượng Phật; đều sử dụng những linh vật, thần thú theo quan niệm của mỗi dân tộc trong nét kiến trúc, điêu khắc Đặc biệt, hình tượng hoa sen luôn là biểu tượng cho sự thanh khiết, cao quý và không thể thiếu trong kiến trúc cũng như đi sâu vào nét văn hóa của cả hai dân tộc
Những nét kiến trúc mang dấu ấn Phật giáo không chỉ thể hiện sự tinh tế, tài hoa của tiền nhân mà còn phản ánh những phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc Qua đó đều thể hiện niềm tin, hi vọng, ước nguyện của nhân dân về một cuộc sống an lạc, ấm no, giang sơn thái bình thịnh thế
3.2 Khác biệt
Nguồn
gốc
Phật giáo Đại thừa (Mahayana
Buddhism)
Phật giáo Tiểu thừa (Hinayana
Buddhism)
Ảnh
hưởng
chủ yếu
Vị trí - Nơi có phong cảnh đẹp, gắn bó với
núi đồi, sông hồ
- Tập trung thành tổ hợp đền, chùa, tháp quy mô lớn
Trang 10- Thời Lý: dựa núi, sông bao quanh
- Thời Trần: dần trở thành trung tâm
văn hoá của làng
Vật liệu
- Kiến trúc bằng danh mộc
- Mái lợp ngói cổ
- Tường gạch xây bằng vôi cát
- Nền bằng đá
- Hầu hết bằng gạch đá
- Kết nối bằng keo thực vật
- Gỗ ít được sử dụng
Cấu trúc
- Có ba gian hai chái
- Theo mô hình kiến trúc theo kiểu chữ
"công"; chữ "Đinh"; chữ "Tam"; hay
kiểu "Nội công ngoại Quốc"
- Mái cong hình thuyền, dốc mái bằng
phẳng
- Thời Lý: chùa cao, to, đơn giản (1
chùa và 1 tháp)
- Thời Trần: chùa phù hợp tầm vóc
Việt, bố cục cân xứng
- Kết cấu chính phụ: 1 tháp cao
và nhiều tháp nhỏ xung quanh
- Chùa có nhiều mái, mái thiết kế cao, cong vút (mái Thái)
- Xuất hiện kiến trúc tháp (Chedi) với nhiều hình dạng khác nhau, tiêu biểu là trụ nhọn nằm trên bệ vuông
Màu sắc - Màu vàng là chủ đạo
- Các màu sắc tương phản: cam, đất son, xanh lá cây, đỏ và trắng
- Vàng cũng đóng một vai trò quan trọng
Trang trí
- Hoa văn cách điệu: hoa sen, rồng,
bánh xe luân hồi
- Thời Lý: ảnh hưởng nhiều văn hoá
Chăm, tinh tế, cầu kỳ
- Thời Trần: đơn giản, khỏe khoắn,
gần gũi với người dân
- Con rắn trong quan niệm về thần thánh của Ấn Độ
- Tượng Phật, thần thánh khổng
lồ ở ngoại cảnh
- Chú trọng tính đối xứng, cân bằng
Tính chất - Tính dân tộc
- Tính thời đại
- Tính hỗn dung văn hoá
Coi trọng cân bằng Âm