Quá trình khắc phục hạn chế và hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ tháng 3 - 1935 đến tháng 5 – 1941 2.2.1 Giai đoạn 3/1935-11/1939 a Bối cảnh lịch sử Đại hội đại biểu l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM
BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI 2:
QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG
LAO ĐỘNG VIỆT NAM.
LỚP L03 - NHÓM 10 - HK 221 NGÀY NỘP …26/09/2022…
Giảng viên hướng dẫn: Thầy Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ
Lê Đỗ Danh Khoa 2011418
Nguyễn Quốc Khánh 1913746
Phan Ngụy Huy Khánh 1913750
Trương Anh Khánh 2013468
Mai Chiếm Khoa 2113757
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ BÀI TẬP LỚN
Môn: Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Lớp: L03 Nhóm: 10
Đề tài:
QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH
CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM.
ST
Kết quả
(Nhóm tự đánh giá mức độ đóng góp của từng cá nhân)
Ký tên
1 2011418 Lê Đỗ Danh Khoa Tổng hợp tài liệu; Phần mởđầu; Phần kết luận; Chương
1, Mục 1.1 và mục 1.2 100%
2 1913746 Nguyễn Quốc Khánh Chương 2, Mục 2.2 100%
3 1913750 Phan Ngụy Huy Khánh Chương 3, Mục 3.2 100%
4 2013468 Trương Anh Khánh Chương 2, Mục 2.1 100%
5 2113757 Mai Chiếm Khoa Chương 3, Mục 3.1 100%
NHẬN XÉT,
ĐÁNH GIÁ CỦA
GIẢNG VIÊN
Họ và tên nhóm trưởng: Lê Đỗ Danh Khoa , Số ĐT: 0838907300 Email: khoa.lekayden48@hcmut.edu.vn
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ VÀ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 4
1.1 Bối cảnh lịch sử 4
1.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên 7
CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TỪ 10 - 1930 ĐẾN THÁNG 5 - 1941 14
2.1 Luận cương chính trị 14
2.2.1 Đại hội Đảng lần thứ nhất (3-1935) và Phong trào dân chủ 1936-1939 17
2.2.2 Phong trào giải phóng dân tộc 1939-1941 22
CHƯƠNG 3 CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ SỰ GOÀN CHỈNH ĐƯỠNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN 27
3.1 Những yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 27
3.2 Sự bổ sung, hoàn chỉnh của Đảng so với Cương lĩnh và Luận cương chính trị 30
PHẦN KẾT LUẬN 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 42.2 Quá trình khắc phục hạn chế và hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ tháng 3 - 1935 đến tháng 5 – 1941
2.2.1 Giai đoạn 3/1935-11/1939
a) Bối cảnh lịch sử
Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra khi lực lượng cộng sản trong nước gần như hoàn toàn bị triệt tiêu sau đợt khủng bố trắng của Pháp sau Xô-viết Nghệ Tĩnh nay đã dần dần phục hồi trở lại Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ thị triệu tập đại hội Đảng
Trên cơ sở phong trào cách mạng phục hồi và chuẩn bị trước đó, từ ngày 27 đến 31 tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ Nhất của Đảng đã họp tại Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc) Tham dự Đại hội có 13 đại biểu thuộc Đảng bộ ở trong nước gồm có: 2 đại biểu của Đảng bộ Bắc Kỳ, 2 đại biểu Đảng bộ Trung Kỳ, 3 đại biểu Đảng bộ Nam Đông Dương, 1 đại biểu Đảng bộ Lào, 3 đại biểu của Thái Lan, 2 đại biểu Ban chỉ huy nước ngoài của Đảng Đại hội thông qua Nghị quyết chính trị, Điều lệ Đảng và các nghị quyết
về vận động quần chúng Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới do Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư, bầu đoàn đại biểu di dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3-1935) vẫn chưa đề ra một chủ trương chiến lược phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, chưa đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tập hợp lực lượng toàn dân tộc Đại hội Đảng vẫn cho rằng, “người ta không làm cách mạng phản đế, sau đó mới làm cách mạng điền địa Cách mạng sẽ chỉ thắng lợi với điều kiện hai cuộc cách mạng ấy gắn bó chặt chẽ với nhau và cùng đi với nhau” “Chính sách của Đại hội Ma Cao vạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nước lúc bấy giờ”
Có thể nói, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương là một sự kiện cực kỳ quan trọng Đại hội cho thấy rõ sự phục hồi thực sự của Đảng từ trung ương tới cơ sờ, củng cố niềm tin của quần chúng vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo Đồng thời, với hàng loạt các văn kiện
Trang 5quan trọng được thông qua Đại hội tạo ra chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển cùa phong trào trong giai đoạn mới về tư tưởng và tổ chức
b) Những chủ trương và quan điểm của đảng
Tháng 7/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
do Lê Hồng Phong chủ trì họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh Hội nghị xác định:
Nhiệm vụ chiến lược: chống đế quốc và phong kiến
Nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh chống phát xít, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình
Kẻ thù trước mắt là thực dân phản động Pháp và bè lũ tay sai
Phương pháp đấu tranh là kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp
Chủ trương: Thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến tháng 3/1938 đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương
Lực lượng cách mạng: Các giai cấp, dân tộc, đảng phái, đoàn thể chính trị, xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau với nòng cốt là liên minh công - nông
Phong trào đấu tranh tiêu biểu:
Phong trào đấu tranh tự do, đòi dân sinh, dân chủ
Phong trào đấu tranh nghị trường: hình thức đấu tranh mới của Đảng
Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí
Chung quanh vấn đề chính sách mới (10/1936):
Tháng 10-1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư, trong văn kiện Chung quanh vấn đề chính sách mới Ban Chấp hành Trung ương cũng đặt ra vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, phản đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương: Cách mạng giải phóng dân tộc không nhất thiết phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng điền địa Nghĩa là không thể nói rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa thì cần phải đánh đổ đế quốc Phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải
Trang 6quyết trước Nghĩa là chọn địch nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc
mà đánh cho được toàn thắng
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng từ giữa năm 1936 trở đi khẳng định sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng đúng đắn của Đảng Hội nghị lần thứ ba (3 1937), lần thứ tư (9-1937), tiếp đó là Hội nghị lần thứ năm (3-1938) đã đi sâu về công tác
tổ chức của Đảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về phương pháp tổ chức và hoạt động để tập hợp được đông đảo quần chúng trong mặt trận chống phản động thuộc địa, chống phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình
Tại Hội nghị tháng 7-1939 Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cử cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ trích, nhằm rút kinh nghiệm về những sai lầm, thiếu sót của Đảng viên, hoạt động công khai trong cuộc vận động tranh cử ở Hội đồng quản hạt Nam kỷ (4-1939)
Nhận xét:
- So với nhiệm tụ tại luận cương tháng 10 thì nhiệm vụ cách mạng giai đoạn Đảng đã phủ nhận vai trò quan trọng của Cách mạng ruộng đất, bắt đầu tập trung vào kẻ thù chính là đế quốc Đây là một bước chuyển tích cực, là tiền đề cho các chủ trương về sau
- Tại hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (7/1936) bắt đầu khắc phục hạn chế của Luận cương (10/1930) về xác định lực lượng khi thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương
c) Tiểu kết giai đoạn 3/1935-11/1939
Qua lần họp thứ hai của BCH TW Đảng, có thể nhận định quan điểm của Đảng đã từng bước phát triển và dần nhận ra sai lầm trong quan điểm của Luận cương chính trị (10/1930) và hội nghị lần 1 năm 1935
Ở giai đoạn 1936 – 1939, Đảng đã nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về mâu thuẫn
cơ bản chủ yếu trong xã hội thuộc địa, về nhiệm vụ của cách mạng thuộc địa, về mối quan
hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc, thực dân và chống phong kiến, mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược, về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp
Trang 7Đảng nhận thức đầy đủ hơn về vị trí chiến lược của công tác mặt trận, có chủ trương linh hoạt để tập hợp lực lượng một cách rộng rãi, lôi cuốn mọi lực lượng, dù là tạm thời vào cuộc đấu tranh nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt
⇨ Đó là nhận thức mới phù hợp với tinh thần Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng, bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930
Sự cải thiện về chủ trương giải phóng dân tộc trong giai đoạn 1935 – 1939:
- Nhiệm vụ Cách Mạng: từ cơ sở dựa theo tình hình cụ thể trong nước để ra các mục tiêu phù hợp hơn với hoàn cảnh nước ta ở giai đoạn 1930 – 1935, Đảng đã phủ nhận vai trò quan trọng của Cách mạng ruộng đất, bắt đầu tập trung vào kẻ thù chính là đế quốc Đây là một bước chuyển tích cực, là tiền đề cho các chủ trương về sau
- Lực lượng Cách Mạng: Với lực lượng cách mạng là tất cả tầng lớp, giai cấp, toàn thể nhân dân trong nước, chủ trương giải phóng dân tộc thời kỳ 1936 – 1939 đã có những bước ngoặt quan trọng: công nhận vai trò cách mạng của tầng lớp tư sản, tiểu sư sản
và địa chủ phong kiến thay vì bỏ qua như giai đoạn trước
- Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc: vẫn tập trung vào khu vực toàn Đông Dương Đây
là vấn đề cốt lõi cần tập trung giải quyết sau khi đã định hình được nhiệm vụ và lực lượng Cách Mạng, tuy nhiên vẫn chưa được Đảng chú trọng cải thiện
2.2.2 Giai đoạn 11/1939-05/1941
a) Tháng 11/1939
1 Bối cảnh lịch sử
Tình hình thế giới:
Nửa cuối năm 1939, do việc thiếu thị trường và cảm thấy miếng bánh thuộc địa phân chia không đồng đều Ngày 1-9-1939, quân Đức tấn công Ba Lan mà không tuyên chiến,
mở đầu cho thế chiến 2 Tháng 6-1940, Đức tấn công Pháp và không mất quá nhiều công sức, quân Đức đã tiến vào được Paris Nửa cuối năm 1940, quân Nhật mở rộng xuống phía nam Trung Quốc và bắt đầu thôn tính Đông Dương
Tình hình trong nước:
Trang 8Quân Pháp lúc này đứng trước nhiều nguy cơ khi phong trào cách mạng ở Đông
Dương đang lên cao, mặt kia là sự đe dọa của phát xít Nhật sẽ hất cẳng chúng khỏi Đông Dương khi mà Nhật đã tiến gần sát biên giới Việt – Trung Trước đó, trước sự khủng bố điên cuồng của Pháp, Đảng ta đã kịp thời chỉ đạo cho các lực lượng cách mạng rút về hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn
Trước sự những diễn biến căng thẳng đó, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương đã triệu tập hội nghị lần thứ VI (11-1939) để chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
2 Nhiệm vụ chủ trương và chiến lược
Nhiệm vụ cách mạng:
Trước bối cảnh đang nóng lên ở quốc tế cũng như trong nước và những biến chuyển mới trong phong trào cách mạng thế giới cũng như toàn Đông Dương, Đảng ta có những quyết sách để thay đổi chiến lược giải phóng dân tộc Với hai cấp độ nhiệm vụ cần phải thực hiện
Nhiệm vụ chiến lược: Thực hiện cách mạng tư sản dân quyền, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi, tiếp tục phát triển bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa và tiến lên
xã hội chủ nghĩa
Nhiệm vụ cụ thể: Nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền là đánh đuổi đế quốc và bọn tay sai, giành lại độc lập dân tộc
Như vậy, Hội nghị xác định kẻ thù nguy hiểm và cụ thể nhất của cách mạng Đông Dương là đế quốc và bọn tay sai của chúng, xác định tính chất của cuộc cách mạng hiện tại là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Hội nghị còn nhấn mạnh:“Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh
đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”
Như vậy, mục tiêu chiến lược là cuộc cách mạng tư sản dân quyền không thay đổi, tuy nhiên nhiệm vụ chống đế quốc được đặt lên hàng đầu
Trang 9Lực lượng cách mạng:
Để gia tăng và tập trung đông đảo lực lượng cách mạng, Hội nghị quyết định thay đổi một số khẩu hiệu, điển hình như việc thay khẩu hiệu cách mạng ruộng đất bằng “tịch
ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”, chỉ chủ trương tịch thu ruộng đất của địa chủ và tay sai Ngoài ra còn quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương
Như vậy, với các thay đổi trong khẩu hiệu tuyên truyền và các mặt trận dân tộc, cách mạng đã liên hiệp các lực lượng dân chủ và tiến bộ đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh Lực lượng cách mạng có sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp công nhân, nông dân, tiểu địachủ, tiểu trí thức, tiểu tư sản Dù vậy, Đảng vẫn đề phòng một bộ phận tiểu tư sản có thể vì lợi ích mà phản cách mạng
Đảng còn cố gắng kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là lực lượng vô sản thế giới Trong Hội nghị, Đảng đã nêu rõ: “Cuộc cách mệnh còn cần đến những lực lượng dự trữ gián tiếp như vô sản Pháp, vô sản thế giới, Liên Xô, dân chúng thuộc địa và bán thuộcđịa”
Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc:
Từ những nội dung về nhiệm vụ và lực lượng cách mạng, có thể kết luận phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc của chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ dân sinh là trên toàn Đông Dương
3 Nhận xét văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần VI (11-1939)
Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ VI đánh dấu sự trưởng thành trong nhận thức của Đảng, làm rõ được mối quan hệ giữa phản đế và phản phong Hơn nữa cụ thể hóa đường lối cứu nước dựa trên cương lĩnh đầu tiên của Đảng về giải phóng dân tộc ngay từ khi thành lập Đảng Đây là bước chuyển đổi từ đấu tranh hòa bình sang đấu tranh
vũ trang – bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang để giành chính quyền.Tuy hai nhiệm vụ phản đế và phản phong vẫn chưa tiến hành nhất loạt ngang nhau, nhưng Hội cho thấy sự thay trong nhiệm vụ hàng đầu của mình là chống đế quốc Ngoài ra còn có thêm đông đảo lực lượng tham gia cách mạng, gia tăng không chỉ về số lượng mà còn
Trang 10chất lượng lực lượng tham gia khi có thêm các tầng lớp tiểu trí thức và tiến bộ, đồng thời
ra sức kêu gọi sự ủng hộ bên ngoài, đặc biệt là tầng lớp vô sản
b) Tháng 11/1940
1 Bối cảnh lịch sử
Tình hình thế giới:
Tháng 9/1939, chiến tranh Thế giới thứ 2 bùng nổ Pháp tham chiến, chính phủ Pháp thi hành hàng loạt các biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ và phong trào cách mạng ở nước thuộc địa Mặt trận nhân dân Pháp bị tan vỡ Ở Đông Dương, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương đặt ra ngoài vòng pháp luật Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, nước Pháp hầu như trở thành thuộc địa của Đức Chính phủ quân nhân độc tài Petanh (Pétain) chỉ là bù nhìn vâng lệnh Hítle Ở Đông Dương, Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, thực hiến chính sách “kinh tế chỉ huy” nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh đế quốc
Tình hình trong nước:
Nhân cơ hội Pháp đại bại, 22/04/1939 Nhật đưa quân vào Việt Nam hòng chiếm đoạt thuộc địa Chỉ sau 1 ngày, Pháp đầu hàng Nhật “Nhưng chúng đã tự biết không đủ sức chống nhau với Nhật để giữ nguyên vẹn lợi quyền của chúng bên Đông Dương, nên chúng đành tự nguyện làm tên đầy tớ “trung thành” cho Nhật trên bán đảo Đông dương này để giúp Nhật phá cách mạng Tàu, dựa vào Nhật đặng đối phó với cách mạng Đông Dương” Chính sự đê hèn ấy đã làm Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng thành bán thuộc địa của Nhật, trở thành căn cứ quân sự cho cuộc chiến tranh Nhật-Trung Từ đây, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp-Nhật trở nên gay gắt
2 Nhiệm vụ chủ trương và chiến lược của Nghị quyết hội nghị
Nhiệm vụ cách mạng
Xác định Cách mạng Đông Dương vẫn là Cách mạng tư sản dân quyền gồm 2 tính chất: phản đế và thổ địa Ban chấp hành trung ương cho rằng: “Cách mạng phản đế và thổ