TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG KHOA NGỮ VĂN TIỂU LUẬN Tên đề tài TIẾP NHẬN VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC VĂN (KHẢO SÁT QUA BÀI THƠ CHÂN QUÊ CỦA NGUYỄN BÍNH) Học phần Tiếp nhận văn học Giảng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA NGỮ VĂN
TIỂU LUẬN
Tên đề tài:
TIẾP NHẬN VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC VĂN
(KHẢO SÁT QUA BÀI THƠ CHÂN QUÊ CỦA NGUYỄN BÍNH)
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 2
1.1 Ký hiệu học văn học 2
1.1.1 Khái niệm ký hiệu 2
1.1.2 Khái niệm ký hiệu học 3
1.1.3 Ký hiệu học văn học 6
1.2 Sơ lược về tác giả, tác phẩm 7
1.2.1 Tác giả Nguyễn Bính 7
1.2.2 Tác phẩm Chân quê 8
PHẦN 2: TIẾP NHẬN VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC VĂN HỌC (KHẢO SÁT QUA BÀI CHÂN QUÊ CỦA NGUYỄN BÍNH) 10
2.1 Ngôn từ nghệ thuật 10
2.1.1 Tính chuyển nghĩa 10
2.1.2 Tính đối thoại 11
2.2 Hình ảnh biểu trưng 14
2.3 Giọng điệu 16
2.4 Điểm nhìn nghệ thuật 18
2.5 Hình tượng nghệ thuật 20
KẾT LUẬN 23
Trang 3MỞ ĐẦU
Thi đàn văn học Việt Nam đã chứng kiến sự nở rộ của bao cây bút tài năng.Mỗi cây bút là một cá tính riêng, một màu sắc riêng Một trong số đó có thể kể đếnNguyễn Bính, một nhà thơ mang đậm hồn quê Ông được biết đến như một nhà thơcủa làng quê Việt Nam với nhiều bài thơ mang đậm sắc thái dân giã, mộc mạc nhưnhững con người nơi thôn quê Một trong những bài thơ để lại nhiều ấn tượngtrong lòng người đọc nhất có lẽ là bài thơ “Chân quê” Hai chữ “chân quê” như mở
ra trước mắt người đọc không chỉ là khung cảnh, mà còn là lối sống, là nét văn hóađặc trưng của người dân quê Bài thơ cũng chỉ xoay quanh hai chữ “chân quê”,xoay quanh những vấn đề nhức nhối hiện nay, xoay quanh việc giữ gìn những nétđẹp hồn hậu, giản dị của những người dân quê Chính vì lẽ đó, nhóm chúng tôi xinđược nghiên cứu về đề tài: “Tiếp nhận văn học từ góc nhìn kí hiệu học văn học (Khảo
sát qua bài thơ Chân quê của nguyễn Bính)”
Trang 4NỘI DUNG PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Ký hiệu học văn học
1.1.1 Khái niệm ký hiệu
Vạn vật trên đời, khi hiện diện trong giao tiếp hay trong tâm thức của con người
đều hiện diện dưới dạng ký hiệu Mỗi dạng ký hiệu đều mang những nét đặc trưng văn
hóa của mỗi vùng miền nhất định Ký hiệu thuộc lĩnh vực ý thức Khi một xã hội pháttriển đến mức nào đó thì ký hiệu ra đời Nói một cách cụ thể hơn là khi yêu cầu giaotiếp của con người xuất hiện và phát triển thì đó cũng là lúc ký hiệu ra đời
Theo cách nhìn của khoa học xã hội thì ký hiệu có hai cách định nghĩa cơ bản sau:
- Ký hiệu là cái con người dùng để giao tiếp – định nghĩa này thiên về lý thuyếtcủa Saussure Như thế, ký hiệu là những quy ước do con người đặt ra cho các sự vật,hiện tượng, dùng làm phương tiện giao tiếp Theo quan điểm này, ký hiệu là một trạngthái tinh thần thuần túy
- Ký hiệu là cái mà con người dung để tri nhận thế giới – lý thuyết của Pierce thiên
về định nghĩa này Như thế, “ký hiệu là cái quy chiếu đến sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan với nhận thức con người, được “gán” cho nghĩa và được giải mã theo một cách nào đó Từ quan niệm này, có thể xem ký hiệu là một sự vật, hiện tượng hoặc một thuộc tính vật chất - tinh thần nào đó tồn tại bên ngoài, tác động đến giác quan của con người, để tri nhận, lí giải, quy ước, suy đoán được “nghĩa” của nó.” [2, tr.25]
Trong ngữ nghĩa học của ngôn ngữ học hiện đại, ký hiệu - một cấu trúc phức tạp,
nhiều cấp độ, bao gồm cái biểu thị (“cơ thể” kí hiệu), cái sở biểu (khái niệm, ý niệm),
nghĩa đen (cái tham chiếu) - có thể là cái khả thể, cái tiềm tàng, hoặc cái hiện hữu.Theo quan niệm của chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu là một cấu trúc khách quan, không
lệ thuộc vào người diễn giải Quan niệm về kí hiệu của hậu cấu trúc luận có nguồn cội
từ hệ thống quan điểm của Ch Peirce Mô tả kí hiệu như là quan hệ giữa cái Môi giới(cái biểu thị), Khách thể (nghĩa đen) và cơ sở của Khách thể (cái sở biểu), Ch Peirceđưa ra khái niệm Người Phiên Dịch “được tạo ra trong óc” của người diễn giải và nó có
Trang 5thể được phát triển lớn hơn (hoặc nhỏ hơn) so với Cái Môi giới Bởi vậy, về nguyêntắc, kí hiệu bao giờ cũng đa nghĩa, và cái nội dung lệ thuộc vào giả định của nhữngngười diễn giải được hậu cấu trúc luận xem là công cụ của văn hóa, công cụ của hoạtđộng nhận thức đầy năng động mang tính liên chủ thể nhằm trao đổi tư tưởng (ý niệm)bằng kí hiệu.
Tổng hợp ưu điểm từ lý thuyết của các bậc thầy trên, ta có định nghĩa sau: “ký hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, những tác động đến giác quan và ý thức của con người, được con người tri nhận,
mã hóa, để chuyển tải thông điệp, phục vụ giao tiếp thông qua một hệ “nghĩa” nhất định trong từng bối cảnh cụ thể.” [2, tr.26]
Có thể khái quát chúng bằng mô hình khái niệm sau:
Ký hiệu (sign)Nghĩa (meaning)
Cái biểu đạt (Signify)/ Hình thức (Form)
Mã xã hội (Social code)Nội dung (Content)
1.1.2 Khái niệm ký hiệu học
Ký hiệu học là khoa học nghiên cứu về ký hiệu “Theo cách hiểu hiện đại, thì ký
hiệu học được xếp vào dạng lý thuyết về nghĩa (theory of signification) Ký hiệu học
thừa nhận sự hiện diện của những cấu trúc phổ quát Chúng tồn tại theo lối ngầm ẩnnhưng lại có khả năng gợi mở và giải phóng nghĩa Ra đời song song với chủ nghĩa cấutrúc (lý thuyết thiên về tri nhận và mô tả cấu trúc) nhưng ký hiệu học thực sự có mụctiêu lớn hơn chủ nghĩa cấu trúc nhiều, mặc dù cách thức nghiên cứu và đối tượng của
nó có phần trùng nhau Ký hiệu học đặt mục tiêu nghiên cứu sự hình thành nghĩa,không chỉ nghĩa của ngôn ngữ viết mà còn là bất cứ “lớp vỏ” nào có khả năng tạo
“nghĩa” Vì thế, ký hiệu học bao quát mọi nguyên tắc và hệ thống tạo nghĩa cũng như
Trang 6Trong những năm 1950 -1960, Chủ nghĩa cấu trúc đã tạo nên một bước dịchchuyển lớn trong lối tư duy của những nhà trí thức trên thế giới trong cách nhìn về sựchủ quan Tuy nhiên, khởi nguồn của chủ nghĩa này là giai đoạn đầu thế kỷ 20, cùngvới các công trình của Ferdinand de Saussure (1857 - 1913) - người được xem là cha đẻcủa lý thuyết ngôn ngữ hiện đại Trước khi đến với khái niệm về Huyền thoại học củaRoland Barthes, chúng ta không thể không nhắc tới nền tảng của nó: lý thuyết về Kýhiệu học của Saussure.
Theo Ferdinand de Saussure ký hiệu học là ngành nghiên cứu sự truyền đạt thôngtin dựa trên hệ thống các tín hiệu và quy ước, mà đối tượng của sự truyền đạt này sẽtiếp nhận một cách có ý thức hoặc một cách vô thức, với tư cách là thành viên của mộtnền văn hoá hoặc một cộng đồng cụ thể Điều này có nghĩa là bên cạnh những hệ thốngbiểu nghĩa mà chúng ta dễ dàng nhận biết như hình ảnh, ngôn từ, âm thanh, ngôn ngữ
cơ thể,… thì trong một số bối cảnh, kể cả quần áo, đồ lưu niệm hay hashtag… cũng đều
là đối tượng của Ký hiệu học
Từ những năm đầu của thế kỉ XX, Charles Peirce (1839 - 1914) và Ferdinand deSaussure (1837 - 1913) đã đặt cơ sở cho kí hiệu học như là khoa học về kí hiệu và cácchức năng của nó trong đời sống xã hội Sau Thế chiến thứ hai, nhất là ở những năm
1960, 1970, nhân loại chứng kiến sự bùng nổ của nó Phong trào kí hiệu học phát triểnrầm rộ, lan rộng và được vận dụng ở khắp các nước từ Nga qua Mĩ, từ Tây Âu đếnĐông Âu Nhiều người vẫn chưa quên không khí náo nhiệt xung quanh hai tờ tạp chíthể hiện tinh thần quốc tế và ý nghĩa toàn cầu của ký hiệu học thời ấy: “Tel quel” ởPháp (tồn tại 22 năm, từ 1960 đến 1982) và “Những công trình nghiên cứu các hệ thống
kí hiệu” (“Sign Systems Studies”) của Trường phái Tartus - Moskva ở Liên Xô (tồn tại
28 năm từ 1964 đến 1992)
Sự bùng nổ của ký hiệu học đánh dấu bước ngoặt mang tính cách mạng của khoahọc xã hội - nhân văn Từ nửa sau thế kỉ XX, nghiên cứu văn học mở rộng biên độchiếm lĩnh đối tượng sang các lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu hiện vàbiểu diễn, trước hết là sân khấu và điện ảnh Nghệ thuật học và nghiên cứu văn họcchuyển đổi mạnh mẽ thành văn hóa học Dẫu rất khác biệt trong quan điểm cá nhân,
Trang 7giữa các nhà nghiên cứu văn học và nghệ thuật học theo hướng ký hiệu học có mộtđiểm chung: khẳng định vai trò trung gian của ngôn ngữ và ý nghĩa lớn lao của nó tronghoạt động nhận thức và giao tiếp của con người R Jakobson, K Taranovski, Lesvi -Strauss, R Barthes, J Kristeva, Tz Todorov, K Bremond, U Eco, B Egorov, Y.Lotman, Z Mintz, A Tzernov, B Uspenski, V Toporov, V Ivanov, Y Lekomsev vànhiều học giả lỗi lạc khác đã nghiên cứu văn học nghệ thuật như là nơi lưu giữ, truyềnđạt và sáng tạo thông tin Với họ, văn hóa là hệ thống ký hiệu, là cấu trúc biểu nghĩađược sử dụng trong giao tiếp, tồn tại giữa những mạng lưới ký hiệu quyển hết sức phứctạp Cho nên, văn hóa học chính là ký hiệu học và ký hiệu học là con đường duy nhấtgiúp tiếp cận hữu hiệu các hiện tượng văn hóa, bao gồm cả văn học nghệ thuật.
Giai đoạn phát triển của ký hiệu học với các trường phái lớn
Ký Hiệu Học bắt nguồn từ triết gia René Descartes (1596-1650) và John Locke(1632-1704) Từ sự phân chia vũ trụ ra hai thành phần: vật chất và tinh thần Decartescho rằng tinh thần với tư tưởng và suy nghĩ là sự hiện hữu
Một trong hai người đặt nền tảng cho Ký Hiệu Học (Semiotics) là triết gia Hoa
Kỳ, Charles Sanders Peirce (1839-1914.) Quan điểm chính của ông là sự khác biệtgiữa ký hiệu và ý nghĩ Theo ông, ký hiệu có thể là sự suy nghĩ nhưng không phải là ýnghĩ Ký hiệu nhận được ý nghĩa do sự suy nghĩ hoạt động và giải thích Ví dụ, Thấymột bảng hiệu đi đường, trước hết, thấy bảng hình tròn rồi mới tiếp nhận chữ STOP
Đó là sự diễn tiến liên kết của hiểu biết
Người thứ hai là nhà ngữ học người Pháp gốc Thụy Sĩ, Ferdinant de Saussure(1857-1913) Với chủ đích nghiên cứu sinh hoạt của ký hiệu trong đời sống xã hội, ông
đã được công nhận là sáng lập viên của Semiology, tạm gọi là Ký Hiệu Giải Tích đểphân biệt với Semiotics là Ký Hiệu Học Ký Hiệu Giải Tích là một phần của Ký HiệuHọc Có lẽ vì vậy mà người ta gọi chung là Ký Hiệu Học
Ký Hiệu Học bắt đầu từ ngôn ngữ, bước qua triết học, lan rộng ra nhiều lãnh vực
và có tầm ảnh hưởng trong mức độ khác nhau trong đời sống
Trang 81.1.3 Ký hiệu học văn học
Ký hiệu học văn học là một trong những khuynh hướng nghiên cứu văn học giàutiềm năng, đáng được quan tâm hiện nay Đây là khuynh hướng bám sát vào ngôn ngữtác phẩm - điều mà phản ánh luận - khuynh hướng đang ngự trị trong nghiên cứu vănhọc hiện nay còn hạn chế Song dù bám sát vào ngôn ngữ, vào cấu trúc tác phẩm,khuynh hướng nghiên cứu này cũng không phủ nhận sự ảnh hưởng của bối cảnh giaotiếp đối với vấn đề nghĩa của tác phẩm Vì vậy, nó cho phép người đọc đi sâu vào tất cảcác quan hệ cơ bản của văn học với hiện thực, với nhà văn, với bạn đọc và với chínhbản thân nó Điều đó giúp công việc nghiên cứu và giảng dạy vươn tới sự toàn diện,tránh phiến diện hay cực đoan
Edward Quinn cho rằng “Ký hiệu học văn học tập trung vào ký hiệu ngôn từ, mắc
dù nó cũng thừ nhận sự hiện diện nghĩa phi ngôn từ trong văn học, có hai truyền thống
ký hiệu học văn học, một bắt nguồn từ Saussere và được phát triển trong cấu trúc luận
và hậu cấu trúc luận, nguồn khác bắt nguồn từ Peirce Nhóm Peirce không chỉ quan tâmđến cấu trúc ký hiệu và cả sự tác động của chúng đến đọc giả lẫn nối quan hệ của chúngđến xã hội được hướng đến Hướng nghiên cứu được gọi là ngữ dụng này khám phámối quan hệ của ký hiệu với ý nghĩa xã hội, chính trị và tầm quan trọng của chúngtrong lĩnh vực như quảng cáo và văn hoá đại chúng”
Đề cập đến tính kí hiệu của văn học, Lotman khi trình bày khái niệm ngôn ngữnghệ thuật ngôn từ đã viết: “Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ
tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống kíhiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các kí hiệu ấy để chuyển tải nhữngthông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng những phương tiện khác”Văn học thực hiện quá trình giao tiếp giữa nhà văn với người đọc bằng việc thựchiện chức năng thông báo Trong quá trình mã hóa (encoding) văn bản, nhà văn đóngvai trò là chủ thể giao tiếp, còn trong quá trình giải mã (decoding) văn bản, người đọcđóng vai trò là chủ thể giao tiếp
Quá trình mã hóa văn bản là quá trình nhà văn mã hóa thông tin nghệ thuật dựatrên những quy tắc về mã chất liệu, mã hình tượng, mã kết cấu, mã ngôn từ, mã giọng
Trang 9điệu, mã thể loại, mã biểu tượng… Điều đặc biệt của hoạt động mã hóa thông tin trongvăn bản nghệ thuật là ở chỗ thông tin ở đó bao giờ cũng mang tính chất đa nghĩa, mơ
hồ, khó xác định chứ không phải là những tin mang tính cụ thể, chính xác như trong cácvăn bản pháp luật, văn bản kinh tế… Quá trình mã hóa trong văn học chính là quá trìnhtạo ra những khả năng giải mã khác nhau Tuy nhiên, ở quá trình này, bóng dáng ngườiđọc đã xuất hiện trong tư duy thẩm mĩ và ý đồ nghệ thuật của nhà văn
Văn bản văn học là một hệ thống kí hiệu được nhà văn mã hóa để chuyển tảinhững thông tin nghệ thuật Trong quá trình văn học: nhà văn văn bản người đọc,văn bản đóng vai trò là yếu tố trung gian trong hành vi giao tiếp giữa nhà văn với ngườiđọc Tuy nhiên, từ góc nhìn của kí hiệu học văn hóa, văn bản khước từ vai trò yếu tốtrung gian để trở thành “người đối thoại bình đẳng có trình độ độc lập cao” và “có thểhoạt động như một tổ chức trí tuệ độc lập, giữ vai trò tích cực, không lệ thuộc trong đốithoại, cả với tác giả lẫn người đọc”
1.2 Sơ lược về tác giả, tác phẩm
1.2.1 Tác giả Nguyễn Bính
Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính; 1918–1966) là một nhà thơ lãngmạn nổi tiếng của Việt Nam Ông được coi như là nhà thơ của làng quê Việt Nam vớinhững bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc
Nguyễn Bính sinh ngày 13 - 02 - 1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ với tênthật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xãCộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) Một vùng quê Bắc Bộ vốn nổi tiếng vớitruyền thống văn chương, khoa bảng Nơi ấy mang những đặc trưng của làng quê Bắc
bộ xưa với những đêm hát giao duyên giữa các liền anh liền chị, những gánh hát chèogiữa các thôn Những sinh hoạt văn hóa đó đã ảnh hưởng rất nhiều tới những sáng táccủa Nguyễn Bính sau này
Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bàBùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả Ông bà sinh được ba người con trai làNguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính
Trang 10Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi Để lại cho ôngBình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ batuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng Đúng như câu thơ ông viết:
Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ.
Mấy năm sau ông Bình cưới bà Phạm Thị Duyên làm vợ kế (bà sinh được bốnngười con, hai trai hai gái)
Bà cả Giần là chị ruột của mẹ Nguyễn Bính, nhà bà lại giàu có, nên bà cùng ôngBùi Trình Khiêm là cậu ruột của Nguyễn Bính và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn,đón ba anh em Nguyễn Bính về nuôi cho ăn học Nguyễn Bính làm thơ từ thuở bé,được cậu Khiêm khen hay nên được cưng
Ông sáng tác từ rất sớm,với tập thơ “Tâm hồn tôi” ông đã giành được giải thưởngcủa “Tự lực văn đoàn” Nguyễn Bính được nhận xét là người rất đào hoa và lãng mạn.Ông trải qua nhiều mối tình và nhiều cuộc hôn nhân Thế nhưng, trong sự nghiệp vănchương thì ông lại vô cùng chỉn chu, cần mẫn, đều đặn sáng tác
Người có ảnh hưởng nhiều nhất trong cuộc đời thơ ca của ông chính là Đại thi hàoNguyễn Du Ông luôn coi Đại thi hào Nguyễn Du là thần tượng số một của mình.Chính bởi sự ngưỡng mộ đó, nên những vần thơ của Nguyễn Bính có đôi lúc phảngphất âm hưởng của truyện Kiều Ông yêu văn hóa dân tộc, yêu ngôn ngữ dân tộc và yêutất cả những chất liệu thơ ca truyền thống
1.2.2 Tác phẩm Chân quê
Các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng “lãng mạn” và “cáchmạng” mà dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về Nguyễn Bính là nói vềnhà thơ lãng mạn của làng quê Việt Nam Thơ Nguyễn Bính đến với bạn đọc như một
cô gái quê kín đáo, mịn mà, duyên dáng Người đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị,đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân tộc, gần gũi với ca dao Cái tình trong thơNguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách, tâmhồn của người Á Đông Vì vậy thơ Nguyễn Bính sớm đi sâu vào tâm hồn của nhiều lớp
Trang 11người và đã chiếm lĩnh được cảm tình của đông đảo bạn đọc từ thành thị đến nôngthôn Đặc biệt là lớp người bình dân, họ thuộc lòng, ngâm nga nhiều nhất Vì ngoàiphần ngôn ngữ bình dân dễ hiểu, dễ thuộc còn một vấn đề khác khiến thơ ông trườngtồn chính là tiếng nói trong thơ ông cũng là tiếng nói của trái tim nhân dân thời đó.Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơphương Tây, Nguyễn Bính lại gắn bó và hấp thụ tinh hoa ca dao, dân ca, truyện thơ dângian cả về nội dung lẫn hình thức Bài thơ “Chân quê” chính là tuyên ngôn của thơNguyễn Bính.
Ông luôn khao khát dù cuộc sống có thay đổi như thế nào thì những người dân quêvẫn luôn giữ được những nét chân quê vốn có “Chân quê” ở đây là những đức tính tốtđẹp từ ngàn đời nay của những người dân quê Đó là hồn hậu, chân chất, giản dị sốngnghĩa tình có trước có sau Là lưu giữ duy trì được những phong tục tập quán truyềnthống của dân tộc
Với Nguyễn Bính, chân quê chính là cái gốc, là bản sắc văn hoá dân tộc, là nétđẹp nhân bản của con người Việt Nam, phải biết bảo vệ và gìn giữ nó
Trang 12PHẦN 2: TIẾP NHẬN VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC VĂN HỌC
(KHẢO SÁT QUA BÀI CHÂN QUÊ CỦA NGUYỄN BÍNH)
2.1 Ngôn từ nghệ thuật
2.1.1 Tính chuyển nghĩa
Nói đến tính chuyển nghĩa chúng ta không thể không nhắc đến đến tính chuyển
nghĩa trong nhan đề của bài thơ Chân quê nghe rất đỗi thân thuộc Từ “chân quê” nghe
thì rất dễ hiểu nhưng nó lại ngầm chỉ nhiều ý nghĩa khác nhau
Theo từ điển Tiếng Việt “chân quê” là tính từ để chỉ chất mộc mạc, chân chất vàbình dị, như bản chất vốn có của thôn quê
Hoặc khi nói về tính cách của ai đó chúng ta thường hay gọi họ là nhìn rất “chânquê” Chân quê ở đây không phải là quê mùa hay có tính xấu như người thành phố haynghĩ mà đó có nghĩa là chân thật như người miền quê Bởi người miền quê tuy khôngđược học hành nhiều nhưng họ đối với nhau rất tốt sống tình cảm chia xẻ cho nhautừng miếng ăn khi ai đó gặp khó khăn
Còn khi nói về lối sống, chúng ta cũng có thể nói ai đó sống rất “chân quê” Câunói đó mang tính khen ngợi sự đơn giản, mộc mạc, không cầu kì hoa hè hay thích sựsang trọng quý phái Người có lối sống chân quê chỉ ưa thích những thứ đơn giản nhất,giản dị nhất Tuy nhiên không chỉ có người ở nông thôn mới lối sống như vậy, rất nhiềungười thành thị họ muốn có một lối sống giản dị như nhười miền quê Qua việc sử dụngtính chuyển nghĩa trong bài thơ, Nguyễn Bính đã cho chúng ta thấy “chân quê” tuy làmột từ hết sức bình thường nhưng đó một phạm trù rộng lớn về tình cảm, về cái đẹptâm hồn, nhân cách, lối sống của con người Việt Nam
Và chúng ta có thể thấy ngôn từ trong bài Chân quê đúng là chẳng có gì khó hiểu,
chẳng có lấy một cái điển tích để tra cứu, cũng chẳng có những từ lạ, chuyển nghĩa cầukỳ… Đến những chi tiết, thi liệu cũng quá là bình thường Nó chỉ đưa ra hai cách ănmặc khác nhau chút ít phản ánh “mốt” ăn mặc là “mốt” cổ truyền và “mốt mới” hơicách tân kiểu đô thị thời đó Tuy vậy, nhìn từ một phía khác thì thấy không hoàn toànnhư vậy Phải là người có vốn sống phong phú ở làng quê mới có thể có được những
Trang 13ngôn từ “quê mùa” với những từ ngữ đặc biệt chỉ trang phục cô gái quê thời đó với
“yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ” Và cả cái giọng van lơnthuyết phục của anh người yêu với cô gái nữa!
Nhưng đọc thơ không thể chỉ dừng ở lớp ngôn từ (chữ viết và ngôn ngữ âm thanh)với lớp “nghĩa” bề mặt của chúng Như thế thì cũng chưa phải là đọc thơ Nếu chưa đivào lớp hình tượng, “bức tranh cuộc sống” với nhân vật trữ tình và cảm xúc của người
đó thì cũng chưa thể coi là “đọc thơ” Đọc bài “Chân quê” ta sẽ thấy được cái tình cảmđáng thông cảm của anh con trai đang đứng trước những thay đổi của người yêu Cáibiểu hiện bên ngoài anh thấy được là sau khi đi tỉnh về, cô người yêu không còn giữđược vẻ đẹp của y phục cổ truyền làng anh Cô bắt đầu chịu ảnh hưởng của cách ănmặc đô thị Anh cảm thấy rõ đó là bắt đầu một “lối sống” không phù hợp với làng quê.Anh dự cảm một mối đe dọa với tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của anh! Điều đó đã làmột thứ “thơ” đáng trân trọng Vì nó đã cho thấy một khía cạnh tâm tình trong cuộcsống làng quê thời kỳ đất nước đang có những thay đổi Cảm được cái tâm tình ấy củanhân vật sống quanh mình và ghi lại một cách dung dị mà cảm động như thế liệu cóphải là một nhà thơ thứ thiệt thực hiện chức năng của thơ? Những thứ vui buồn quenthuộc như thế ở làng quê - nói như Tô Hoài - tất cả đều có trong thơ Nguyễn Bính