1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Agribank huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.pdf

95 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Tại Ngân Hàng Agribank Huyện Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận
Tác giả Đoàn Thị Thái Hậu
Người hướng dẫn TS. Mai Xuân Thiệu
Trường học Trường Đại học Bà Rịa–Vũng Tàu
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bà Rịa-Vũng Tàu
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu (11)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (13)
  • 3. Câu hỏi nghiên cứu (13)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (14)
  • 5. Các công trình nghiên cứu thực nghiệm (14)
  • 6. Ý nghĩa của đề tài (15)
  • 7. Kết cấu luận văn (15)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (16)
    • 1.1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM (16)
      • 1.1.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả HĐKD của NHTM (18)
      • 1.1.2. Thu nhập của ngân hàng (19)
      • 1.1.3. Chi phí của ngân hàng (19)
      • 1.1.4. Lợi nhuận của ngân hàng (20)
      • 1.1.5. Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on equity) (21)
      • 1.1.6. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng TS (Return on Assets - ROA) (21)
      • 1.1.7. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest Margin - NIM) (21)
      • 1.1.8. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (Non interest Margin – NOM) (22)
      • 1.1.9. Tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM) (22)
    • 1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD của NHTM (23)
      • 1.2.1. Nhóm nhân tố bên ngoài (23)
        • 1.2.1.1. Môi trường về kinh tế xã hội trong và ngoài nước (23)
        • 1.2.1.2. Môi trường chính trị, pháp lý (24)
        • 1.2.1.3. Môi trường cạnh tranh (24)
      • 1.2.2. Nhóm nhân tố bên trong (25)
        • 1.2.2.1. Năng lực tài chính (25)
        • 1.2.2.2. Năng lực quản trị, điều hành (26)
        • 1.2.2.3. Trình độ công nghệ (26)
        • 1.2.2.4. Nguồn nhân lực (27)
        • 1.2.2.5. Sản phẩm dịch vụ (28)
        • 1.2.2.6. Quy mô tài sản ngân hàng (28)
        • 1.2.2.7. VCSH của ngân hàng (28)
        • 1.2.2.8. Quy mô tiền gửi của khách hàng (29)
        • 1.2.2.9. Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng (29)
    • 1.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả HĐKD của NH thương mại (30)
    • 1.4. Tổng quan về một số nghiên cứu có liên quan (32)
      • 1.4.1. Các công trình nghiên cứu trong nước (32)
      • 1.4.2. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài (33)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI AGRIBANK HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN (35)
    • 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển (35)
      • 2.1.1. Bộ máy quản lý (35)
      • 2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ (37)
    • 2.2. Thực trạng hoạt động tại Agribank Đức Linh (38)
      • 2.2.1. Kết quả kinh doanh 2017-2021 (38)
      • 2.2.2. Các khoản thu 2017-2021 (40)
      • 2.2.3. Các khoản chi 2017-2021 (42)
      • 2.2.4. Các sản phẩm dịch vụ tại Agribank CN Đức Linh (43)
        • 2.2.4.1. Tình hình thu từ hoạt động thẻ 2017-2021 (48)
        • 2.2.4.2. Hoạt động tín dụng (49)
        • 2.2.4.3. Hoạt động thu từ kinh doanh ngoại hối và hoạt động khác (54)
      • 2.2.5. Thuận lợi, khó khăn, hướng phát triển của Agribank Đức Linh (55)
        • 2.2.5.1. Thuận lợi (55)
        • 2.2.5.2. Khó khăn (56)
        • 2.2.5.3. Nguyên nhân (57)
  • CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK ĐỨC LINH (62)
    • 3.1. Tình hình phát triển của Agribank trong bối cảnh hiện nay (62)
    • 3.2. Định hướng phát triển của Agribank Đức Linh (68)
    • 3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Agribank Đức Linh (70)
      • 3.3.1. Giải pháp về hoạt động cho vay (70)
      • 3.3.2. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (71)
      • 3.3.3. Giải pháp nâng cao công tác thẩm định và quyết định cho vay (73)
      • 3.3.4. Đảm bảo thực hiện tốt quy trình cho vay (75)
      • 3.3.5. Tăng cường công tác phòng ngừa và xử lý nhanh chóng nợ quá hạn (76)
      • 3.3.6. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông ngân hàng (77)
      • 3.3.7. Nỗ lực đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt (78)
      • 3.3.8. Nỗ lực đẩy lùi tín dụng “đen” (79)
      • 3.3.9. Giải pháp về hoạt động huy động vốn (81)
      • 3.3.10. Nâng cao hiệu quả năng lực điều hành (83)
      • 3.3.11. Nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin (85)
      • 3.3.12. Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ (85)
    • 3.4. Một số kiến nghị (87)
      • 3.4.1. Đối với ngân hàng TMCP Agribank Việt Nam (87)
      • 3.4.2. Đối với Nhà nước và bộ ngành có liên quan (88)
      • 3.4.3. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (89)
  • KẾT LUẬN (93)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA–VŨNG TÀU ******* ĐOÀN THỊ THÁI HẬU NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN LUẬN VĂN THẠC SĨ Bà Rịa Vũng Tàu, thán[.]

Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu

Từ năm 2019-2021, đại dịch Covid-19 đã gây bất ổn cho nền kinh tế trong nước và thế giới, khiến hoạt động của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống ngân hàng Trước những khó khăn và thách thức này, các nhà quản trị ngân hàng cần đề ra chiến lược thích ứng, tăng cường thanh khoản và nguồn vốn, đồng thời thực thi quản trị rủi ro chặt chẽ và tối ưu chi phí vận hành Bên cạnh đó, cần tiếp tục hỗ trợ khách hàng doanh nghiệp và cá nhân thông qua các sản phẩm, dịch vụ phù hợp; thúc đẩy quá trình số hóa và sự phục hồi của chuỗi cung ứng để duy trì sự ổn định tài chính và tăng trưởng bền vững.

NH do mình quản lý và điều hành ngày càng tồn tại và phát triển và cạnh tranh với các NH khác trong khu vực

Ngân hàng thương mại là ngành dịch vụ khó đo lường hiệu quả sản xuất và tăng trưởng năng suất do ba thực tế chính: có sự tranh luận về loại hình dịch vụ ngân hàng được sản xuất và cách đo lường chúng; các dịch vụ ngân hàng thường được định giá ngầm qua lãi suất thị trường trên số dư tiền gửi, khiến dòng doanh thu quan sát không phản ánh đúng các đầu ra cần phân tích; ngành này được kiểm soát chặt chẽ với bằng chứng cho thấy tồn tại sự thiếu hiệu quả đáng kể, nên các cải tiến công nghệ có thể tăng năng suất nhưng không luôn được phản ánh đầy đủ trong toàn ngành Để nâng cao hiệu quả hoạt động, cần các giải pháp phối hợp như phổ biến và bắt buộc thực thi biểu lãi suất huy động tới mọi cán bộ nhằm tuyên truyền và thực hiện đầy đủ; khi công tác địa bàn, cán bộ tín dụng vừa tuyên truyền vừa hoàn thành chỉ tiêu, đồng thời chăm sóc khách hàng tại chi nhánh theo quy định của trụ sở chính và hướng dẫn của Agribank chi nhánh tỉnh Quan trọng nhất là giao tiếp phục vụ khách gửi/rút tiền thật tốt để xây dựng niềm tin và sự ủng hộ của khách hàng Đối với công tác cho vay, đơn vị phải đảm bảo mục tiêu đầu tư tín dụng hiệu quả và nguồn vốn cho vay được thu hồi đầy đủ và đúng hạn Tại Agribank Chi nhánh huyện Đức Linh, đã thống nhất triển khai tới cán bộ tín dụng chỉ đạo cho vay gắn với bán chéo tối đa các sản phẩm dịch vụ như nhắc nợ bằng tin nhắn, bảo hiểm ABIC, tài khoản thanh toán và thẻ thấu chi.

Nguyễn Ngọc Phúc (2017) cho rằng, trong bối cảnh đầy thách thức hiện nay, các ngân hàng phải vừa mở rộng phát triển vừa củng cố vị thế và tăng sức cạnh tranh bằng cách đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Thách thức then chốt là các nhà quản trị ngân hàng cần đề ra định hướng và xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp với năng lực và trình độ của ngân hàng, bảo đảm sự thích nghi với các thách thức kinh tế, xã hội, pháp lý và cạnh tranh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động trong môi trường ngân hàng ngày càng khắc nghiệt.

Agribank Đức Linh, ngân hàng có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tỉnh Bình Thuận Trong giai đoạn 2017-2021, trước bối cảnh hội nhập kinh tế và dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, hoạt động của ngân hàng chịu nhiều ảnh hưởng Cụ thể, các hoạt động như gửi tiết kiệm và cho vay vốn giảm mạnh; đồng thời thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng vượt trội do khách hàng hạn chế thanh toán bằng tiền mặt và các giao dịch giữa doanh nghiệp được thực hiện chủ yếu qua ngân hàng, từ đó áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng lớn Bên cạnh đó, đại dịch cũng tác động đến tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của khách hàng cá nhân có vay vốn tại ngân hàng.

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa rơi vào trạng thái cầm chừng hoặc mất khả năng thanh toán khi cầu giảm, gây đứt gãy chuỗi cung ứng và thiếu vật liệu đầu vào khiến nguồn cung co hẹp và nợ quá hạn tại ngân hàng tăng lên, điều này là mối lo ngại lớn nhất đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng; việc thanh lý tài sản thế chấp chỉ là biện pháp tạm thời và ngân hàng không mong đợi DN bị phá sản hoặc ngừng hoạt động, bởi DN là một yếu tố ảnh hưởng chủ chốt đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, nhất là với các ngân hàng thương mại như Agribank Đức Linh Mặc dù Agribank Đức Linh được Nhà nước cấp 100% vốn, sự ổn định chỉ mang tính ngắn hạn và Nhà nước không thể bù đắp lỗ mãi cho mọi tổ chức kinh tế quốc doanh, do nguồn vốn bù lỗ xuất phát từ ngân sách và tiền của nhân dân nên trách nhiệm kinh doanh kém hiệu quả thuộc về lãnh đạo và đội ngũ cán bộ nhân viên ngành ngân hàng nói chung và Agribank Đức Linh nói riêng, tạo áp lực lớn lên Ban Lãnh đạo trong việc nắm bắt nhanh các biến đổi thị trường tại Đức Linh, các huyện lân cận và tỉnh Bình Thuận, đồng thời đòi hỏi các giải pháp sát sao, kịp thời và có kế hoạch dự phòng để đạt và vượt các chỉ tiêu kinh doanh do Agribank tỉnh Bình Thuận và Agribank Quốc gia giao phó Từ thực tế hoạt động của Agribank Đức Linh, việc xem xét và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trở nên cấp thiết, và do đó đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động tại ngân hàng Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận” được chọn nhằm đề xuất các giải pháp đóng góp nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Mục tiêu nghiên cứu

Đây là nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Agribank Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, dựa trên số liệu hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn 5 năm từ 2017 đến 2021 Thông qua việc tổng hợp các chỉ tiêu tài chính, dư nợ và hiệu quả hoạt động, bài viết đánh giá toàn diện những thuận lợi và khó khăn mà Agribank Đức Linh đang đối mặt Trên cơ sở phân tích dữ liệu lịch sử, bài viết đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tối ưu chi phí, tăng trưởng tín dụng có chất lượng và cải thiện quản trị rủi ro Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xác định các yếu tố tác động, đo lường mức độ ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp có thể áp dụng để cải thiện hiệu quả hoạt động của Agribank Đức Linh trong thời gian tới.

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của NHTM

Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, từ đó rút ra các hạn chế còn tồn tại trong hoạt động nhằm chỉ ra những điểm yếu cần khắc phục; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp và kiến nghị thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Agribank Đức Linh trong thời gian tới, như cải thiện chất lượng tín dụng và quản trị rủi ro, tăng cường ứng dụng công nghệ ngân hàng số, tối ưu quy trình phục vụ khách hàng và đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, kết nối với khách hàng và doanh nghiệp; bài viết nhấn mạnh mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo an toàn vốn và tuân thủ chuẩn mực, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu và phân tích để hỗ trợ quyết định chiến lược cho Agribank huyện Đức Linh, Bình Thuận.

Câu hỏi nghiên cứu

Câu 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của NHTM là gì?

Câu 2: Thực trạng HĐKD của Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận thông qua các chỉ tiêu tài chính trong giai đoạn 2017 – 2021 như thế nào?

Câu 3: Những giải pháp và kiến nghị nào nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NH Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận trong thời gian tới?

Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với nội dung, mục đích và yêu cầu của đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp mô tả: mô tả thực trạng hoạt động của NH qua giai đoạn 2017-

Trong năm 2021, các thông tin và hiện tượng thực tiễn tại NH Agribank Đức Linh được xem xét kỹ lưỡng Các hoạt động xung quanh NH Agribank Đức Linh cũng được phân tích để làm rõ bối cảnh và tác động đến hoạt động ngân hàng Mục tiêu là tổng hợp dữ liệu và thông tin phù hợp nhằm phục vụ các phân tích có căn cứ về tình hình và triển vọng của NH Những phân tích này cung cấp cái nhìn toàn diện, hỗ trợ quyết định và tối ưu hóa hoạt động ngân hàng trong năm 2021.

Việc áp dụng đồng bộ các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và nhận định được thực hiện trên cơ sở thu thập và sắp xếp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Agribank Đức Linh và từ các nguồn khác như các thông tin công bố từ Ngân hàng Nhà nước, từ Agribank cấp tỉnh (bao gồm tỉnh Bình Thuận) và từ các nhà nghiên cứu, các trung tâm thông tin thống kê ở cấp dưới Nguồn dữ liệu được trình bày dưới dạng các báo cáo thường niên, bài viết báo chí, các bài phân tích tổng hợp, nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các ấn phẩm khoa học khác nhằm đảm bảo tính đầy đủ, khách quan và có thể kiểm chứng Quá trình tổng hợp sẽ cung cấp nhận định tin cậy, hỗ trợ đánh giá xu hướng, hiệu quả hoạt động và đề xuất các khuyến nghị chiến lược cho các cơ quan liên quan.

Các công trình nghiên cứu thực nghiệm

Berger và Mester (1997) cho rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) được thể hiện qua mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí sử dụng nguồn lực đầu vào, tức là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh Cụ thể, NHTM cần tạo ra doanh thu đầu ra lớn nhất với chi phí nguồn lực đầu vào ở mức thấp nhất Như vậy, hiệu quả hoạt động là kết quả của việc tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực để đạt được đầu ra cao nhất với chi phí thấp nhất, giúp NHTM nâng cao hiệu suất và cạnh tranh trên thị trường.

Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể hiểu theo ba hướng: tối thiểu hóa chi phí bằng cách sử dụng ít yếu tố đầu vào như vốn, cơ sở vật chất và lao động để vẫn duy trì đầu ra; giữ nguyên đầu vào nhưng tăng đầu ra; và sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn nhưng đầu ra tăng nhanh hơn so với mức tăng của đầu vào Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, các NHTM được xem là đạt hiệu quả khi đạt doanh thu đầu ra lớn nhất bằng cách sử dụng cùng số lượng nguồn lực đầu vào với các NHTM khác nhưng chi phí sử dụng thấp nhất.

Ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu luận văn này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp ban lãnh đạo Agribank huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đề ra các chiến lược kinh doanh mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại địa phương Cơ sở quan trọng để có được các kết luận có hàm ý quản trị cao là kết quả của phân tích sâu về các hoạt động đã và đang diễn ra tại Agribank huyện Đức Linh trong thời gian qua, từ đó cung cấp nền tảng cho các giải pháp cải thiện quản trị và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh, đồng thời đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng tại khu vực.

Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan lý luận về hiệu quả hoạt động tại NH thương mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tại Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại Agribank huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận.

TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM

Hiệu quả được từ điển tiếng Việt định nghĩa là kết quả đích thực Chính khái niệm có nguồn gốc và tính kinh điển này được nhiều tác giả vận dụng để hình thành các khái niệm và quan điểm tương tự tùy theo mục tiêu nghiên cứu của họ.

Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua doanh thu tiêu thụ hàng hóa sau khi trừ đi chi phí và các khoản thuế, cho một mức dương nhất định Do đó, hiệu quả được hiểu rộng rãi trong kinh tế nói chung và trong lĩnh vực quản trị kinh doanh nói riêng, là các chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ Khi doanh thu tăng mà chi phí không đổi, hoặc doanh thu không đổi mà chi phí giảm, hoặc đồng thời doanh thu tăng và chi phí giảm thì sẽ hình thành nên hiệu quả Ngược lại với các giả định trên, kết luận là không có hiệu quả trong công tác điều hành kinh doanh.

Tiếp nối nghiên cứu và đưa ra khái niệm về hiệu quả, tác giả Nguyễn Ngọc Phúc (2017) quan niệm rằng hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của việc đánh giá kết quả so với các nguồn lực và mục tiêu đã bỏ ra, từ đó giúp doanh nghiệp đo lường mức độ tối ưu hóa hoạt động và hiệu suất kinh doanh Việc coi hiệu quả là một đại lượng so sánh còn hỗ trợ nhận diện điểm mạnh và điểm yếu, đồng thời đề xuất biện pháp tối ưu hóa chi phí, tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp.

Việc so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được cho thấy mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh Xét từ góc độ xã hội, chi phí được xem là chi phí xã hội, phản ánh sự kết hợp của lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo cả lượng và chất trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại rất đa dạng và phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu; với đề tài này, hiệu quả được xem xét ở khía cạnh lợi nhuận và khả năng sinh lời trong điều kiện đảm bảo hoạt động ổn định và hạn chế RR NHTM được ổn định và hạn chế RR.

Hiệu quả nói chung và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh (HĐKD) có nhiều định nghĩa khác nhau; mỗi tác giả có cách nhìn riêng nhưng tựu chung là nó thể hiện một phép so sánh giữa hai đại lượng Phép trừ giữa hai đại lượng cho kết quả dương được xem là hiệu quả, trong khi kết quả âm được xem là không hiệu quả; đại lượng được dùng để so sánh không chỉ là con số mà còn là quan điểm, chỉ tiêu và mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của tổ chức, doanh nghiệp Ví dụ trong một chu kỳ kinh doanh 3 năm ở một phân khúc thị trường nhất định, doanh nghiệp A đặt mục tiêu hiệu quả là bán được một lượng hàng hóa nhất định để có doanh thu và chi phí hợp lý nhằm đạt lợi nhuận sau thuế càng lớn càng tốt Ngược lại, doanh nghiệp B có thể đặt mục tiêu hiệu quả là chiếm lĩnh thị phần của vùng lãnh thổ ấy, đảm bảo tối thiểu 50% số hộ gia đình trong phân khúc đó dùng ít nhất một sản phẩm công ty cung cấp, bất chấp lợi nhuận sau thuế có thể âm hoặc dương Để có cơ sở phân tích và có lối nhìn sâu rộng về mối liên hệ giữa khái niệm hiệu quả với hiệu quả trong ngành ngân hàng, tác giả đưa ra quan điểm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM).

Nguyễn Thu Hà (2014) cho rằng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được xem là kết quả lợi nhuận do các hoạt động ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định Quan điểm này cho thấy Hà đã vận dụng mạnh khái niệm hiệu quả trong kinh doanh bằng cách đồng nhất doanh nghiệp với một ngân hàng thương mại (NHTM), tức là xem NHTM như một thực thể kinh doanh duy nhất nhằm tối đa hóa lợi nhuận và hiệu suất hoạt động.

Việc nhận thức sự đồng nhất giữa vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại (NHTM) với đầy đủ chức năng kinh doanh như một doanh nghiệp là hợp lý Cụ thể, NHTM tập trung vào kinh doanh tài chính thay vì cung cấp các sản phẩm hữu hình như các doanh nghiệp khác Dựa trên phân tích của các tác giả trước và quan điểm được trình bày trên trang ditiep.com, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại được định nghĩa là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa kết quả kinh tế và chi phí của ngân hàng Mối quan hệ này có thể được đo bằng các chỉ tiêu tuyệt đối (theo chiều sâu và chiều rộng) hoặc bằng các chỉ tiêu tương đối (theo không gian và thời gian) giữa kết quả kinh tế và chi phí của ngân hàng thương mại.

Để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng một cách chính xác, cần dựa trên kết quả lợi nhuận mà ngân hàng đạt được trong một khoảng thời gian nhất định Kết quả lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời, quản trị chi phí và hiệu quả vận hành các sản phẩm dịch vụ của NH Việc theo dõi lợi nhuận theo từng kỳ cho phép so sánh hiệu suất theo thời gian, nhận diện xu hướng tăng trưởng và điều chỉnh chiến lược kinh doanh nhằm tối ưu lợi nhuận Do đó, thước đo chủ yếu cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng là kết quả lợi nhuận đạt được trong một thời gian cụ thể.

1.1.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả HĐKD của NHTM

Hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng thương mại (NHTM) bản chất là hiệu quả của một tổ chức kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp kinh doanh nói riêng Đối với những NHTM có vốn góp 100% từ Nhà nước như Agribank Việt Nam, các nhiệm vụ do Nhà nước giao vẫn được coi là một phần tham gia vào doanh thu và chi phí, và tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến quá trình xác định hiệu quả kinh doanh Nhiều nhà nghiên cứu nhận định về hiệu quả kinh doanh thông qua lợi nhuận và cho rằng việc phân tích hiệu quả là rất quan trọng đối với quản trị và đánh giá hiệu suất của ngân hàng.

Nguyễn Ngọc Phúc (2017) cho rằng lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại Trong điều kiện cạnh tranh với các tổ chức định chế tài chính khác, ngân hàng thương mại phải chịu áp lực hạ thấp chi phí để nâng cao hiệu quả hoạt động Do đó, đánh giá hiệu quả được xem xét trên quan điểm biến đổi đầu vào thành đầu ra nhằm đo lường khả năng tối ưu hóa lợi nhuận và hiệu suất hoạt động trong môi trường cạnh tranh.

Phân tích hiệu quả là một giai đoạn quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng Dựa trên phân tích này, các nhà quản trị có thể đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh, nhận diện các nguyên nhân ảnh hưởng đến chiến lược và đề xuất những giải pháp xử lý nhằm đảm bảo các quyết định được đưa ra kịp thời và đúng đắn Bằng cách so sánh kết quả kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả đó, ta có thể đánh giá toàn diện hiệu quả của quá trình kinh doanh và quản trị nguồn lực của ngân hàng.

Các hoạt động của NH gồm huy động tiết kiệm, cho vay, kinh doanh ngoại hối và dịch vụ thẻ cùng với các dịch vụ tài chính khác; để các nhà quản trị NH có thể đo lường hiệu quả cho từng hoạt động của NHTM, cần dựa trên các chỉ tiêu phù hợp và quan trọng như hiệu quả sinh lời, hiệu quả chi phí, rủi ro tín dụng và thanh khoản, chất lượng dịch vụ cũng như mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng Việc áp dụng đầy đủ các chỉ tiêu này giúp tối ưu hóa nguồn lực, cải thiện lợi nhuận và tăng cường sự ổn định, an toàn cho ngân hàng và hệ thống tài chính.

1.1.2 Thu nhập của ngân hàng

Thu nhập của ngân hàng thường được xác định dưới góc nhìn của kế toán nói chung và hệ thống kế toán ngân hàng nói riêng đó là được xem xét dưới 2 hai dòng tiền Dòng thứ nhất đến từ các hoạt động kinh doanh và dòng thứ hai là đến từ các thu nhập khác Điển hình là, trong đó các hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu từ mua bán nợ, lãi từ các khoản lợi nhuận sau các hợp đồng cho vay Trong khi đó các khoản thu nhập khác được xác định tương tự như hệ thống tính toán trong bảng cân đối kế toán và xác định kết quả kinh doanh đó là các khoản thanh lý hay các khoản dự phòng không dùng đến Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2017) định nghĩa thu nhập của NH: “Ngày nay trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các NH để có thể đáp ứng nhu cầu cung ứng các sản phẩm dịch vụ đến KH thì các NHTM phải ngày càng cải tiến mở rộng và phát triển nhiều hoạt động Do vậy sẽ làm tăng nguồn thu nhập của các

Ngân hàng thương mại có thu nhập từ hoạt động KD (HĐKD) trong kỳ và từ các nguồn thu nhập khác Các nguồn thu từ HĐKD gồm: thu từ chênh lệch tỷ giá, thu từ HĐKD khác, thu từ HĐKD ngoại hối và vàng, thu lãi góp vốn, thu từ hoạt động mua bán nợ (gồm thu từ hoạt động TD), thu lãi tiền gửi và thu dịch vụ Các nguồn thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định như xe, đất đai, nhà cửa, cơ sở sản xuất hoặc các nguồn thu từ dự phòng RR được gọi là thu nhập khác.

1.1.3 Chi phí của ngân hàng

Ngược với doanh thu, chi phí là các khoản ngân hàng phải chi ra để bảo đảm các hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ được thực thi, và điều quan trọng là phải tìm các giải pháp giảm thiểu chi phí ở mức thấp nhất nhưng vẫn mang lại hiệu quả cao nhất có thể Bài toán chi phí luôn là thách thức đối với các nhà hoạch định và quản trị ngân hàng, họ phải trăn trở và tìm phương án phù hợp với từng thời điểm và kỳ hoạt động của ngân hàng Nhiều nhà hoạch định chính sách và điều hành cấp trung và cấp cao vẫn còn lúng túng hoặc do hạn chế về nghiệp vụ và hiểu biết chi phí nên có thể bóp chặt chi phí đến mức doanh nghiệp thiếu hơi thở và chết ngạt trước khi nhận ra; việc cắt giảm chi phí quá mức sẽ không khiến doanh nghiệp chết ngay lập tức nhưng có thể dẫn đến cái chết từ từ Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà (2014), chi phí của ngân hàng được định nghĩa là các khoản chi trả hợp lý, hợp lệ phát sinh trong kỳ; chi phí và thu nhập của ngân hàng rất đa dạng, bao gồm hai nhóm: chi phí HĐKD và chi phí khác Chi phí cho HĐKD bao gồm các khoản như chi trả lãi vay, lãi tiền gửi, chi cho phát hành trái phiếu, chi cho cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng và mua bán ngoại tệ.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD của NHTM

Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM tùy theo từng bối cảnh nghiên cứu khác nhau Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả trình bày ngắn gọn các kết quả nghiên cứu của một số tác giả và các nhóm tác giả điển hình từ năm 2013 đến năm 2017 nhằm làm cơ sở so sánh, đánh giá và rút ra những yếu tố chính tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại trong từng bối cảnh cụ thể.

Các tác giả Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013), Nguyễn Thu Hà (2014) và Nguyễn Ngọc Phúc (2017) đều nhận định rằng hiệu quả hoạt động là điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại (NHTM) trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập Để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cần tiến hành phân tích, đánh giá và xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động cho thấy các nhân tố ảnh hưởng được chia thành hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan (nhân tố tác động bên ngoài NH) và nhóm nhân tố chủ quan (nhân tố từ nội tại NH).

1.2.1 Nhóm nhân tố bên ngoài

1.2.1.1 Môi trường về kinh tế xã hội trong và ngoài nước

Một ngân hàng hoạt động chịu tác động rất lớn từ môi trường xã hội; nắm bắt nhu cầu và quy luật hay đường xu hướng của xã hội ở từng giai đoạn và thời điểm cụ thể chính là yếu tố giúp ngân hàng quảng bá và phục vụ khách hàng tốt hơn Quy mô ngân hàng bị ảnh hưởng bởi môi trường nơi nó hoạt động: quy mô nhỏ dễ chịu biến động lớn, trong khi quy mô lớn ít bị ảnh hưởng bởi các biến động vi mô từ phía môi trường Tác giả Trương Quang Thông (2010) tổng kết mối quan hệ giữa môi trường và ngân hàng: khi nền kinh tế chính trị thế giới có dấu hiệu tăng trưởng chậm, các ngân hàng châu Âu nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ đối mặt với sức ép cạnh tranh và áp lực lợi nhuận lớn; vì vậy, điều kiện để các ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả là nền kinh tế được duy trì ổn định, chính sách tiền tệ đi đúng hướng, đẩy mạnh tái cơ cấu, bảo đảm an toàn và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững, đồng thời hội nhập quốc tế mạnh mẽ.

1.2.1.2 Môi trường chính trị, pháp lý

Chính trị và pháp lý ở mỗi quốc gia gắn chặt với ngành ngân hàng vì đây là ngành đặc thù có tác động nhanh chóng, mạnh mẽ và rất nhạy cảm với biến động kinh tế, sự ổn định chính trị và hệ thống pháp luật của quốc gia Tiền và tài chính là hai đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi tâm lý con người và biến động của các hoạt động vĩ mô ở phạm vi quốc gia và quốc tế Nhận định về môi trường chính trị, pháp lý của Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) cho rằng: các quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển nền kinh tế và xã hội; thực hiện các kế hoạch, chương trình theo các quan điểm, mục tiêu của Chính phủ và khả năng điều hành của Chính phủ; tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước và của các tổ chức tài chính, thương mại khu vực và quốc tế như AFTA, WTO, IMF…; ngành ngân hàng thương mại muốn phát triển bền vững thì môi trường chính trị, pháp lý đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Cạnh tranh được hiểu lành mạnh như là chất xúc tác cho sự phát triển của mọi thị trường, kể cả thị trường tài chính mà ngân hàng là nhân tố chủ chốt Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghệ và các học thuyết tiên tiến cập nhật thực trạng thế giới, nhiều hình thức cạnh tranh truyền thống như cạnh tranh về giá, cụ thể là lãi suất đầu vào và đầu ra, đã không còn được ủng hộ rộng rãi và nhiều doanh nghiệp, bao gồm ngân hàng, đã học hỏi và chuyển sang các phương thức cạnh tranh mới Thay vào đó, người ta tập trung phát triển cá nhân hóa sản phẩm và cạnh tranh dựa trên các hoạt động có sức cạnh tranh vô hạn như kỹ năng chăm sóc khách hàng của đội ngũ nhân viên Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013), khi nền kinh tế bước vào cơ chế thị trường và hội nhập toàn cầu với sự gia nhập của nhiều ngân hàng 100% vốn nước ngoài, môi trường cạnh tranh trở nên gay gắt, các NHTM cạnh tranh nhau về nguồn vốn, công nghệ và nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả kinh doanh Quá trình cạnh tranh sẽ giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả tồn tại và phát triển, những ngân hàng kém hiệu quả sẽ thu hẹp phạm vi hoạt động và bị thị trường đào thải, cho thấy yếu tố môi trường cạnh tranh ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

1.2.2 Nhóm nhân tố bên trong

Ngân hàng, dù là một đơn vị kinh doanh tài chính, vẫn cần có năng lực tài chính mạnh để vận hành và phát triển theo quy luật của các doanh nghiệp khác Điểm khác biệt căn bản giữa ngân hàng và các loại hình doanh nghiệp khác chính là sản phẩm họ bán ra: ngân hàng cung cấp tiền và các giấy tờ có giá trị tương đương tiền, thay vì hàng hóa được sản xuất tại nhà máy Điều này đặt ra yêu cầu cao về quy mô hoạt động và khả năng quản trị rủi ro để bảo đảm thanh khoản và an toàn cho người gửi tiền và khách hàng Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) xác nhận rằng yếu tố thể hiện quy mô hoạt động của ngân hàng là khả năng mở rộng các hoạt động tài chính và cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng Vì vậy, chiến lược phát triển ngân hàng cần tập trung vào tăng trưởng nguồn vốn, quản trị chất lượng tài sản và tối ưu hoá hiệu quả vận hành để đảm bảo phát triển bền vững.

NH chính là năng lực tài chính, một NH có khả năng huy động vốn và cung ứng

Vốn tự có cao là yếu tố then chốt giúp các tổ chức tín dụng cạnh tranh, hội nhập và phát triển mạnh hơn so với các TCTD khác khi có nguồn vốn tự có lớn Trong bối cảnh thị trường ngân hàng cạnh tranh gay gắt, những ngân hàng có vốn tự có lớn sẽ có khả năng mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ để chiếm thị phần và mang đến cho khách hàng các giải pháp tài chính hiệu quả, an toàn và cạnh tranh.

Như vậy, năng lực tài chính của NHTM được biểu hiện ở 2 khía cạnh sau:

Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012) định nghĩa năng lực tài chính là tổng hợp các tiềm lực về vốn của ngân hàng; trước hết là khả năng cấp tín dụng và huy động vốn, đồng thời là khả năng trang bị công nghệ và đầu tư tài chính, những tiềm lực về vốn CSH ảnh hưởng đến quy mô hoạt động KD của ngân hàng.

Khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn kinh doanh là thước đo quan trọng phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng, cho thấy mức lợi nhuận có thể tạo ra từ vốn bỏ ra Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro (dự phòng rủi ro) cũng là yếu tố thể hiện năng lực tài chính Khi nợ xấu tăng lên, ngân hàng sẽ tăng trích lập dự phòng rủi ro để củng cố ổn định hệ thống và giảm thiểu nợ xấu.

1.2.2.2 Năng lực quản trị, điều hành

Năng lực quản trị điều hành là một yếu tố thuộc về con người và đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo sự thành công của một tổ chức nói chung và của ngân hàng nói riêng Theo Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012), năng lực này được thể hiện thông qua hệ thống quy chế, quy trình và cơ cấu phân công nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy quản lý để có thể ứng phó hiệu quả với diễn biến thị trường và quản trị rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại Năng lực quản trị điều hành còn phản ánh các phương án chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm mang lại kết quả cao nhất trong các hoạt động của ngân hàng, như huy động vốn và cấp tín dụng Từ các quy trình quản lý về quản trị rủi ro và quản lý tài sản, cùng các chuẩn mực quản trị, ngân hàng có thể vận hành theo chuẩn mực và dần thích nghi với phương thức quản trị hiện đại.

Ngày nay công nghệ nắm giữ ưu thế vượt trội ở nhiều lĩnh vực kinh doanh, trong đó ngân hàng được xem là một mô hình tổ chức dễ tiếp cận và ứng dụng sâu rộng nhất Theo Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012), trình độ công nghệ được hiểu là việc ứng dụng và đổi mới công nghệ thông tin mang lại ý nghĩa then chốt cho ngành ngân hàng nhằm phát triển bền vững và hiệu quả cao, vì các hoạt động dịch vụ tài chính đều gắn với tiếp nhận và xử lý thông tin Cùng với sự hội nhập và phát triển của công nghệ 4.0, vận dụng tốt CNTT sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh thiết yếu cho ngân hàng Để hỗ trợ quá trình kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chi phí và tăng lợi nhuận, phát triển công nghệ là công cụ đắc lực Đồng thời CNTT giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và cung cấp sản phẩm/dịch vụ theo yêu cầu, phù hợp với nhịp độ hội nhập của nền kinh tế; nó còn làm đơn giản hoá quy trình và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cho khách hàng Vì vậy, để duy trì hoạt động hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh, các ngân hàng cần đầu tư mạnh mẽ vào cải thiện và nâng cao công nghệ thông tin.

Có thể nói nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định thành công trong hoạt động vận hành của ngân hàng thương mại, bởi không có con người làm việc chuyên môn sẽ không thể tồn tại và phát triển để thực hiện sứ mệnh được Nhà nước và nhân dân giao Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012) nhấn mạnh nguồn nhân lực là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của ngân hàng; con người tạo ra máy móc, thiết bị và quy trình, quy chế cũng cần có người thực hiện kiểm định, bổ sung, sửa đổi, trong khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng tuân theo quy luật này Trong bối cảnh xã hội ngày càng hội nhập và phát triển, các ngân hàng thương mại phải cung ứng nhiều dịch vụ mới đa dạng và chất lượng ngày càng cao, do đó chất lượng nguồn nhân lực phải được nâng lên Để thực hiện điều đó, cần thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng nhân sự theo hướng tinh gọn và tinh nhuệ; đánh giá và đề bạt đúng người, đúng việc, chí công vô tư Đồng thời cần đổi mới cơ chế thi đua theo hướng gắn với kết quả thực hiện kế hoạch, giảm chỉ tiêu trung gian, tập trung vào chỉ tiêu hiệu quả và nâng cao năng suất lao động, đồng thời hoàn thiện cơ chế tiền lương để phát triển nguồn nhân lực và tạo động lực mạnh mẽ cho toàn hệ thống ngân hàng thương mại.

Nguyễn Thị Hồng Vinh cho rằng sản phẩm và dịch vụ là kết quả của lao động tập thể, được cung ứng ra thị trường nhằm tạo nguồn thu cho tổ chức đồng thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng; song song đó, nó còn mang lại các giá trị xã hội và giá trị nhân văn mà mỗi tổ chức hướng tới.

Khác với các loại sản phẩm của các ngành nghề khác, sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại sản phẩm đặc biệt, vô hình nhưng lại là yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả hoạt động của chính ngân hàng Nếu một NHTM có hệ thống sản phẩm đa dạng và chất lượng dịch vụ tốt để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng sẽ xây dựng được một hệ thống khách hàng trung thành, đồng thời gia tăng hiệu quả hoạt động Chất lượng dịch vụ và giá phải trả cho từng sản phẩm dịch vụ là một trong những yếu tố cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ngoài yếu tố số lượng, vì khách hàng mong nhận được chất lượng tốt nhất nhưng với mức giá phù hợp nhất Truyền thông cũng như hệ thống kênh phân phối là những yếu tố quan trọng giúp đưa sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng.

1.2.2.6 Quy mô tài sản ngân hàng

Tài sản là một yếu tố đối trọng với nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm cân đối hài hòa và hỗ trợ sự phát triển bền vững Tài sản và nguồn vốn như hai quả cân trên bàn cân, giúp cán cân điều hành của ngân hàng luôn ổn định và phát triển bền vững Theo Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012), quy mô tài sản ngân hàng là những tài sản hình thành từ việc sử dụng nguồn vốn của ngân hàng trong quá trình hoạt động Ngân quỹ, danh mục TD, danh mục đầu tư, tài sản cố định, … là các thành phần của tài sản Đa dạng hóa các khoản mục tài sản để phân tán rủi ro, đảm bảo khả năng sinh lời và nhu cầu thanh khoản trong các khoản mục tài sản, nhằm giúp ngân hàng luôn có một danh mục tài sản phù hợp với những biến động của môi trường kinh doanh.

Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả HĐKD của NH thương mại

Theo Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) đã phân tích sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTM nhằm mục đích:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả HĐKD đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của NHTM

NHTM là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Hiệu quả hoạt động của NHTM được thể hiện thông qua việc tối đa hóa thu nhập và tối thiểu hóa chi phí, từ đó lợi nhuận đạt mức cao nhất.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả HĐKD là cơ sở để NHTM nâng cao năng lực cạnh tranh

Hoạt động an toàn và hiệu quả giúp tăng cường năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) Khi năng lực tài chính được cải thiện, NHTM có khả năng chống đỡ trước biến động và áp lực cạnh tranh trên thị trường, đồng thời tạo lợi thế trong huy động vốn và quản lý vốn Đây là các yếu tố quyết định sự khác biệt giúp NHTM thu hút khách hàng và từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường ngân hàng.

Hội nhập là xu hướng tất yếu và đã diễn ra từ nhiều năm nay, không chỉ ở quy mô vĩ mô về hàng hóa và biên giới mà còn thâm nhập sâu vào vi mô và nội tại của từng quốc gia, thể hiện qua sự chấp nhận công nghệ và các mô hình kinh doanh hiện đại, sự thay thế dần các thao tác truyền thống bằng ngân hàng trực tuyến và hệ thống cung cấp dịch vụ hiện đại; đồng thời hội nhập mang lại cơ hội với công nghệ tối tân và quy trình chuẩn hóa, nhưng cũng mang đến thách thức cho các doanh nghiệp không đủ sức tiếp cận và vận hành các hệ thống này Ngành ngân hàng cũng nằm trong vòng xoáy của quá trình hội nhập, với cạnh tranh ngày càng gay gắt từ ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh, khiến các ngân hàng nội như Agribank buộc phải tìm hướng đi kinh doanh quốc tế Thực tế cho thấy Agribank đã và đang mở rộng sang thị trường thanh toán quốc tế; theo nguồn tin từ baochinhphu.vn đến ngày 15/07/2019, Agribank có 40 sản phẩm thanh toán quốc tế cơ bản, đáp ứng chuẩn thị trường Việt Nam, với các sản phẩm nổi trội như thanh toán biên mậu Việt-Lào qua CBPS, Việt-Trung, dịch vụ chuyển tiền đa tệ và thanh toán Campuchia-Việt Nam qua kênh KO Phương thức thanh toán chủ yếu vẫn là chuyển tiền nước ngoài bằng điện (TTR) chiếm khoảng 77,3%, tiếp đó là thư tín dụng chứng từ (L/C) 18,3% và thanh toán nhờ thu chứng từ 4,3%.

Agribank đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy phát triển tam nông – nông nghiệp, nông thôn và người nông dân mà Nhà nước giao phó Việc thực hiện có hiệu quả trọng trách bảo đảm sự ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) của ngân hàng sẽ là động lực quan trọng để đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế nước ta vẫn còn dựa trên nền nông nghiệp chủ đạo.

Ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả khi có khả năng tài trợ vốn cho các dự án khả thi và các phương án đầu tư, sản xuất - kinh doanh có thể được triển khai Việc tài trợ vốn cho các dự án khả thi giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Đây là cơ sở để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua sự liên kết giữa nguồn vốn và kế hoạch kinh doanh bền vững Vì vậy, vai trò của ngân hàng thương mại trong đánh giá tính khả thi, cấp vốn và hỗ trợ tài chính là yếu tố then chốt cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Tổng quan về một số nghiên cứu có liên quan

1.4.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008)

Tại Việt Nam đã có nhiều bài viết nghiên cứu về đề tài này, điển hình là Nguyễn Việt Hùng (2008) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy các yếu tố nội lực như quản trị nguồn lực, chất lượng nguồn nhân lực và quản trị vận hành đóng vai trò then chốt, đồng thời môi trường kinh doanh, cơ chế chính sách và áp lực cạnh tranh cũng tác động đáng kể tới hiệu suất hoạt động Các kết quả này làm nổi bật sự cần thiết của việc tối ưu hóa quản trị và cải tiến quy trình để nâng cao hiệu quả hoạt động Vì vậy, tổng hợp các nghiên cứu Việt Nam về đề tài này sẽ cung cấp cơ sở lý luận và gợi ý thực tiễn cho quyết định quản trị và chiến lược phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam.

NH Việt Nam, Luận văn tiến sĩ

Trong bài viết, tác giả áp dụng đồng thời phương pháp Data Envelopment Analysis (DEA) kết hợp với chỉ số Malmquist và mô hình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Dữ liệu được thu thập từ 32 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn được khảo sát, nhằm đo lường hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ theo thời gian Việc kết hợp DEA–Malmquist với SFA cho phép tách biệt phần dư ngẫu nhiên và phần biến động biên giới, từ đó cung cấp các chỉ số về hiệu quả tổng thể, hiệu quả công nghệ và hiệu quả biên ngẫu nhiên của từng ngân hàng Kết quả nghiên cứu mang lại cái nhìn sâu về hiệu suất hệ thống ngân hàng Việt Nam, có ý nghĩa cho quản trị và chính sách phát triển ngân hàng.

Trong giai đoạn từ 2001 đến 2005, tác giả sử dụng ba biến đầu vào là chi phí nhân viên, vốn và tổng huy động vốn, và ba biến đầu ra là tổng dư nợ, thu lãi và thu ngoài lãi để phân tích mối quan hệ giữa nguồn lực và kết quả hoạt động Nghiên cứu cho thấy cách phân bổ chi phí và vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô dư nợ cũng như nguồn thu từ lãi và thu nhập từ hoạt động phi lãi Kết quả này cung cấp cơ sở để đánh giá hiệu quả tài chính của hệ thống trong giai đoạn này và đề xuất các biện pháp tối ưu hóa chi phí, tăng cường huy động vốn và cải thiện doanh thu từ các nguồn lãi và phi lãi.

Kết quả của mô hình DEA cho thấy hiệu quả kỹ thuật trung bình của mẫu là 0,88, thấp hơn hiệu quả quy mô bình quân là 0,903; gần đây, các NHTM chỉ có thể sử dụng được 79% các đầu vào, trong khi nhóm NHTMCP dần khai thác có hiệu quả các nguồn lực Các nhân tố phản ánh quy mô hoạt động của ngân hàng đóng góp vào hiệu quả tổng thể lớn hơn hiệu quả kỹ thuật thuần Đối với nhóm NHTMNN, nhân tố phản ánh quy mô hoạt động là nguyên nhân gây ra nguồn phi hiệu quả lớn hơn các nhân tố về mặt kỹ thuật Tác giả đã sử dụng hồi quy Tobit để xem xét các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động tổng hợp được ước lượng ở trên Các biến độc lập được đưa vào phương trình hồi quy là tổng chi phí trên tổng doanh thu; tỷ lệ tiền gửi trên cho vay; VCSH trên tổng tài sản; thị phần tài sản; tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản; tỷ lệ nợ xấu; tỷ lệ vốn vật chất trên tổng tài sản; và tỷ lệ vốn (K) trên lao động (L).

Kết quả hồi quy cho thấy quy mô ngân hàng, tổng chi phí và tổng doanh thu, tỷ lệ tiền gửi cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (VCSH/Tổng TS), thị phần tài sản, tỷ lệ vốn cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ tư bản hiện vật trên tổng tài sản và mức trang bị vốn lao động đều có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012)

Ứng dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA), bài viết đo lường hiệu quả sử dụng nguồn lực của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007–2010 thông qua kết quả hiệu quả kỹ thuật và chỉ số Malmquist; từ đó phân tích các yếu tố tác động và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam.

Tác giả sử dụng mô hình DEA với các biến đầu vào gồm chi phí nhân công,

Tài sản cố định, tiền gửi khách hàng và biến đầu ra gồm thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi phản ánh cơ cấu hoạt động của ngân hàng thương mại; kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng thương mại hoạt động chưa hiệu quả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, với hiệu quả kỹ thuật đạt 76,7% và mức cao nhất năm 2009 là 86,5%; nhóm ngân hàng cổ phần sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn so với ngân hàng nhà nước (78,3% so với 63%); Chỉ số Malmquist trung bình tăng 8,8% trên toàn giai đoạn, gồm tăng 6,4% ở hiệu quả kỹ thuật và 2,2% ở tiến bộ công nghệ; dù Chỉ số Malmquist tăng, hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ vẫn ở mức thấp.

1.4.2 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài

Nghiên cứu của Deger Alper and Adem Anbar (2011)

Các kết quả nghiên cứu về ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2002-2010 và công trình thực hiện năm 2011 cho thấy lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố nội tại và yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Đáng chú ý là quy mô tổng tài sản và thu nhập ngoài lãi được xác định là những nhân tố chủ chốt tác động lên lợi nhuận ngân hàng ở thị trường này Kết quả này nhấn mạnh sự tương tác giữa quản trị nội bộ và điều kiện kinh tế vĩ mô đối với hiệu quả sinh lời của NH tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Nghiên cứu của Muhammad Farhan Akhtar, Khizer Ali and Shama Sadaqat (2011)

Dữ liệu nghiên cứu của tác giả từ năm 2006–2009 tại Pakistan được phân tích bằng phương pháp hồi quy Kết quả cho thấy yếu tố quan trọng nhất khi sử dụng ROA làm biến đo lường lợi nhuận là quy mô của doanh nghiệp, cho thấy quy mô tác động đáng kể đến hiệu quả sinh lợi được đo bằng ROA trong bối cảnh này.

Trong kinh doanh ngân hàng, việc đối mặt với rủi ro cho vay (RR) là điều không thể tránh khỏi Vấn đề then chốt là làm sao để hạn chế RR ở mức thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo hiệu quả và tuân thủ quy định Để làm được điều này, ngân hàng cần phân tích kỹ chất lượng tín dụng, đánh giá rủi ro từng khoản vay, và áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro như thẩm định hồ sơ chặt chẽ, đánh giá khả năng trả nợ, cùng với đa dạng hóa danh mục cho vay Đồng thời, thiết lập hạn mức RR theo sản phẩm và khách hàng, theo dõi và cập nhật hồ sơ thường xuyên, kết hợp quản trị rủi ro với công nghệ và dữ liệu để dự báo rủi ro và xây dựng các dự phòng nợ xấu hợp lý.

Chương 1 trình bày 4 mục chính: tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài; khẳng định sự cần thiết nâng cao hiệu quả nói chung và vai trò của hiệu quả hoạt động NHTM, đặc biệt ở trường hợp Agribank và Agribank Đức Linh; phân tích các yếu tố tác động bằng hai nhóm: yếu tố nội tại (năng lực tài chính, khả năng quản trị điều hành, trình độ và ứng dụng công nghệ trong ngân hàng) và yếu tố ngoại cảnh (môi trường kinh tế - xã hội, môi trường chính trị - pháp luật, môi trường cạnh tranh); đồng thời giới thiệu một số khái niệm quan trọng liên quan.

Trong chương 1, tác giả trình bày các vấn đề khái quát và lý luận về hoạt động tín dụng của ngân hàng, gồm khái niệm, phân loại tín dụng, vai trò của tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng Những nền tảng lý luận này là cơ sở để phân tích và đánh giá thực trạng cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng, đồng thời định hướng cho chương tiếp theo khi đi sâu phân tích các yếu tố tác động và thực trạng hoạt động tín dụng trong thực tiễn.

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI AGRIBANK HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK ĐỨC LINH

Ngày đăng: 05/11/2022, 14:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w