BỘ GIÁO DỤC Và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU LÊ THỊ MỸ TRANG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ GIAO DỊCH LIÊN KẾT TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU LUẬN VĂN THẠC SĨ Bà[.]
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là một nền kinh tế phát triển nhanh và tương đối ổn định ở khu vực Châu Á, với những dấu hiệu hồi phục và các chỉ số kinh tế vĩ mô khả quan tại năm 2009–2010 sau khủng hoảng tài chính toàn cầu Thành công này đến từ nỗ lực của Chính phủ trong đẩy mạnh hội nhập kinh tế toàn cầu, bắt đầu từ việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ngày càng tham gia đàm phán cùng ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Nhờ đó, Việt Nam thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài và luôn nằm trong danh sách lựa chọn đầu tư Với một môi trường chính trị ổn định, chi phí lao động và vận hành thấp, cùng triển vọng kinh tế đầy hứa hẹn, Việt Nam hiện là thị trường năng động và là điểm đến hấp dẫn cho cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn khu vực tư nhân tham gia vào nền kinh tế.
Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tư hàng đầu ở Đông Nam Á nhờ lợi thế địa lý, tài nguyên thiên nhiên dồi dào và nguồn lao động có chi phí cạnh tranh Quốc gia này thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn mỗi năm và có nhiều lĩnh vực tiềm năng chưa được khai phá cùng thị trường tiêu dùng đang phát triển nhanh chóng Dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, làm hạn chế di chuyển và giảm thu hút FDI mới, 12 tháng gần đây Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong thu hút FDI ở một số ngành và tại các địa phương như Bạc Liêu, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các khu vực khác Những điểm sáng này cho thấy tiềm năng phục hồi, mở rộng dòng vốn FDI và củng cố vị thế Việt Nam như một điểm đến đầu tư an toàn và hấp dẫn trong khu vực.
Thành công của Việt Nam trong thu hút FDI được đánh giá không chỉ bằng vốn đăng ký hay giải ngân mà còn ở nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết và kế hoạch hành động nhằm thực hiện cam kết cải thiện môi trường đầu tư và cộng đồng kinh doanh cho các nhà đầu tư Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi mang đến nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư Ưu đãi đầu tư vào các khu công nghiệp được khôi phục Thuế suất thuế TNDN đã giảm xuống 20% và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2016 Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài ngày càng được nhấn mạnh Các cuộc họp và đối thoại "Diễn đàn doanh nghiệp" giữa Chính phủ với khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài được tổ chức thường xuyên, mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực nước ngoài, được lắng nghe về các vấn đề pháp lý quan trọng.
Những thông tin trên cho thấy vai trò của doanh nghiệp FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với việc tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thu hút vốn đầu tư FDI Cùng với chủ trương chung của Chính phủ, tỉnh BRVT đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm kêu gọi thêm nhiều dự án đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, qua đó khẳng định cam kết sử dụng nguồn vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững cho địa phương và cả nước.
Trong giai đoạn 2016–2020, Bà Rịa–Vũng Tàu luôn nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về quy mô vốn và dự án, hiện được xếp thứ 4/63 tỉnh, thành phố về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Với lợi thế hạ tầng giao thông, cảng biển được nâng cấp và khu công nghiệp ngày một hoàn thiện, BR-VT sẵn sàng đón dòng vốn đầu tư nước ngoài và hưởng lợi từ các dự án phát triển Bên cạnh những lợi ích kinh tế-xã hội mà doanh nghiệp FDI mang lại, vẫn tồn tại các vấn đề như chuyển giá, trốn thuế và ô nhiễm môi trường Quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI gặp nhiều khó khăn khi các doanh nghiệp tìm cách giảm gánh nặng thuế, đặc biệt bằng chuyển giá, đặt ra thách thức cho Cục Thuế tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu trong việc đảm bảo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp FDI đồng thời duy trì công bằng nghĩa vụ thuế với doanh nghiệp trong nước Từ thực tiễn này, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu” cho luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần xây dựng môi trường đầu tư an toàn và minh bạch cho tỉnh nhà.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý giá chuyển nhượng của giao dịch liên kết chống chuyển giá
+ Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK ở Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
+ Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian tới.
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn của mình, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp định tính được tác giả sử dụng thông qua phỏng vấn chuyên gia để thu thập ý kiến và đánh giá khách quan về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK tại BRVT, đồng thời tiếp thu các tư vấn về các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế cho nhóm doanh nghiệp này Quá trình phỏng vấn chuyên gia diễn ra trong khoảng 1 tháng nhằm đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin và quan điểm từ các chuyên gia có kinh nghiệm Tất cả các chuyên gia tham gia đều là cán bộ, nhà quản lý có trình độ chuyên môn cao, đang công tác tại các đơn vị quản lý liên quan đến doanh nghiệp có GDLK, như Sở Công Thương, Cục Thuế và các cơ quan liên quan khác.
Trong bài nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp thống kê để phân tích dữ liệu thứ cấp liên quan đến tình hình công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK tại tỉnh BRVT, nhằm làm rõ xu hướng và đặc điểm của hoạt động quản lý thuế ở địa phương và từ đó đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế cho nhóm doanh nghiệp này, cũng như đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả quản lý thuế tại BRVT.
Ý nghĩa nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lần này làm rõ hơn các lý thuyết liên quan đến hoạt động quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK, đồng thời hệ thống hóa các khía cạnh thực tiễn và các mô hình quản lý đang được áp dụng Kết quả của luận văn sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho Cục thuế tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu, các lãnh đạo tỉnh BRVT và các bên liên quan, giúp họ có cái nhìn toàn diện về thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK Trên cơ sở đó, các đề xuất điều chỉnh chính sách và biện pháp thực thi sẽ được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với đối tượng doanh nghiệp này và hỗ trợ sự phát triển bền vững của ngân sách địa phương.
Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Chương 3: Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
Doanh nghiệp liên kết và giao dịch liên kết
- Theo thông lệ quốc tế, hai doanh nghiệp được coi là các bên liên kết khi:
+ Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
Hai doanh nghiệp có chung một hoặc nhiều người đại diện hoặc các thực thể khác tham gia quản trị, điều hành hoặc góp vốn cho cả hai bên, ở mức độ trực tiếp hoặc gián tiếp, cho thấy sự liên kết về sở hữu và quản trị giữa các bên.
Giao dịch liên kết là các giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm nhiều hình thức như mua bán, trao đổi, thuê hoặc cho thuê, mượn hoặc cho mượn, chuyển giao hoặc chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay và cho vay, các dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán và trao đổi tài sản hữu hình hoặc vô hình; cùng với các thỏa thuận mua, bán hoặc sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn và lao động, và việc chia sẻ chi phí giữa các bên Trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước, các giao dịch này được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
“Doanh nghiệp liên kết”, trong mối quan hệ với một doanh nghiệp khác, có nghĩa là một doanh nghiệp— (a) tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc thông qua một hoặc nhiều trung gian, vào việc quản lý hoặc kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp kia; hoặc (b) đối với một hoặc nhiều người tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc thông qua một hoặc nhiều trung gian, vào việc quản lý hoặc kiểm soát hoặc vốn của nó, là những người cùng tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc thông qua một hoặc nhiều trung gian, trong việc quản lý hoặc kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp khác
1.1.2 Sự phát triển của các nhóm kinh doanh trong các thị trường mới nổi
Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng và các chính sách tự do hóa kinh tế theo hướng thị trường, các nền kinh tế mới nổi ngày càng nổi bật trên thế giới (Wright và cộng sự, 2005) Trong bối cảnh này, hình thức tổ chức kinh doanh quan trọng xuất hiện phổ biến ở nhiều nền kinh tế mới nổi và các nước châu Á là nhóm doanh nghiệp (Ahlström & Bruton, 2004; Guillén, 2000; Khanna & Rivkin, 2001) Về định nghĩa, Khanna & Rivkin (2001) cho rằng nhóm doanh nghiệp là một tập hợp các công ty, mặc dù độc lập về mặt pháp lý, được ràng buộc với nhau bằng một loạt các mối quan hệ chính thức và không chính thức và quen với việc phối hợp hành động.
Một trong những lĩnh vực nghiên cứu trọng yếu trong tài liệu về doanh nghiệp liên kết là mối quan hệ giữa liên kết nhóm và hiệu quả hoạt động của công ty Lý thuyết dựa trên kinh tế học cho thấy ở các nền kinh tế mới nổi, thể chế thường kém phát triển và làm tăng chi phí kinh doanh; doanh nghiệp liên kết có thể đóng vai trò thay thế để lấp đầy những khoảng trống thể chế này, như thiếu các trung gian trên các thị trường sản phẩm, lao động và vốn (North, 1990; Khanna & Palepu, 1997) Các doanh nghiệp liên kết rất quan trọng ở các nền kinh tế mới nổi, và sự phổ biến của chúng cho thấy chúng có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của các thành viên liên kết với nhóm, mang lại lợi ích hoặc tạo chi phí cho các thành viên.
Ví dụ, Chang và Choi (1988) chứng minh rằng các công ty được bảo trợ bởi tài phiệt Hàn Quốc hoạt động tốt hơn các công ty độc lập; Khanna và Palepu (2000a, 2000b) cung cấp bằng chứng cho thấy tư cách thành viên doanh nghiệp liên kết có liên quan đến lợi nhuận vượt trội của các công ty thành viên ở Ấn Độ và Chile Bằng cách thu thập dữ liệu từ 14 nền kinh tế mới nổi, Khanna và Rivkin (2001) nhận thấy lợi nhuận của các công ty liên kết trong các tập đoàn liên kết cao hơn so với các công ty không liên kết ở sáu quốc gia; ngược lại ở ba nước, lợi nhuận của các công ty liên kết thấp hơn, và ở phần còn lại không có sự khác biệt đáng kể theo năm.
1.1.3 Các quy định của pháp luật liên quan giao dịch liên kết
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan qua các thời kỳ
* Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1997:
Ngay từ cuối thập niên 1990, vấn đề chống gian lận thuế thông qua định giá chuyển nhượng đã được đề cập trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Trong thời kỳ áp dụng Luật đầu tư nước ngoài, các văn bản hướng dẫn về thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã quy định ba phương pháp xác định giá thị trường, nhằm tạo cơ sở cho cơ quan thuế tiến hành thanh tra và kiểm tra chống chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Việt Nam đã tiếp nhận và ký kết các nguyên tắc cốt lõi điều chỉnh vấn đề chuyển giá thông qua hệ thống Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế đối với thuế thu nhập với các nước từ những năm 1990 Mặc dù nội luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về chuyển giá, tại các Hiệp định thuế đã có điều khoản riêng điều chỉnh về chuyển giá trong giao dịch của các doanh nghiệp liên kết nhằm bảo lưu quyền đánh thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập khi các doanh nghiệp đa quốc gia có phát sinh thu nhập tại Việt Nam Điều khoản quản lý chuyển giá trong các Hiệp định thuế thường được quy định như sau.
Khi một doanh nghiệp của một nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của nước ký kết kia, hoặc khi các đối tượng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của một nước ký kết và vào một doanh nghiệp của nước ký kết kia.
Trong cả hai trường hợp liên quan đến mối quan hệ tài chính và thương mại giữa hai doanh nghiệp, các điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt có sự khác biệt so với điều kiện giữa các doanh nghiệp độc lập Do đó, mọi lợi tức mà doanh nghiệp có thể thu được nếu không có các điều kiện đó, nhưng nay bị hạn chế bởi chúng, vẫn được tính vào lợi tức của doanh nghiệp và chịu thuế tương ứng.
* Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006:
Từ năm 1997, hệ thống chính sách pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam đã hình thành khung pháp lý đầu tiên về xử lý thuế đối với các trường hợp chuyển giá, được quy định tại Thông tư 74/1997/TT-BTC ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài Sau Thông tư 74/1997/TT-BTC, Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu và ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, như Thông tư 89/1999/TT-BTC ngày 16/7/1999 hướng dẫn thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài và Thông tư 13/2001/TT-BTC ngày 08/03/2001 hướng dẫn thực hiện quy định về thuế với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó có quy định xử lý thuế đối với các trường hợp chuyển giá.
Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005 này, mặc dù đã có khung pháp lý điều chỉnh đối với các hành vi chuyển giá nhưng thực trạng chuyển giá vẫn tiếp tục tồn tại, ngày càng phức tạp và gia tăng Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã bộc lộ những mặt tồn tại, hạn chế, khó khăn trong việc giải quyết đối với các trường hợp chuyển giá tránh thuế như: việc quy định các bên có mối quan hệ liên kết còn chưa cụ thể, rõ ràng nên việc hiểu và xác định mối quan hệ liên kết của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và người nộp thuế không thống nhất, không quy định các tổ chức, cá nhân có giao dịch kinh doanh với bên liên kết có nghĩa vụ kê khai và điều chỉnh đối với các giao dịch mua, bán sản phẩm không theo giá thị trường; Cơ quan thuế có trách nhiệm xác định giá thị trường theo quy định đối với sản phẩm được chuyển giao giữa người nộp thuế với bên liên kết trong quá trình ấn định thuế đối với người nộp thuế có giao dịch chuyển giao sản phẩm với bên liên kết không theo giá thị trường, do vậy không khuyến khích tính tự giác tuân thủ và minh bạch trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; chỉ quy định 3 phương pháp xác định giá thị trường (Phương pháp so sánh giá thị trường, Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào, Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác định thu nhập chịu thuế) nhưng chưa có hướng dẫn chi tiết về cách lựa chọn giao dịch độc lập tương đồng để so sánh với giao dịch liên kết và chưa có hướng dẫn chi tiết cách xác định giá trị phù hợp làm căn cứ điều chỉnh giá đối với sản phẩm trong giao dịch liên kết khi thực hiện tính toán và ấn định thuế,
Từ khi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được sửa đổi năm 2004 theo hướng thống nhất nghĩa vụ thuế giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nguyên tắc “giá thị trường” lần đầu được đưa vào làm cơ sở xác định nghĩa vụ thuế công bằng giữa các doanh nghiệp, đồng thời chính thức hoá việc kiểm soát vấn đề chuyển giá nhằm ngăn chặn việc gian lận lỗ giả, lãi thật để trốn thuế Điều 11 Luật số 09/2003/QH11 quy định các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định liên quan đến giá thị trường và báo cáo chuyển giá, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong nghĩa vụ thuế.
“Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ theo giá thị trường”
* Giai đoạn từ kỳ tính thuế năm 2006 đến ngày 06/6/2010:
Ngay từ năm 2006, quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thuế được tiếp tục đẩy mạnh với nguyên tắc người nộp thuế tự kê khai và tự nộp thuế Luật Quản lý thuế năm 2007 tiếp tục áp dụng nguyên tắc giá thị trường trong quản lý thuế, theo đó cơ quan thuế được quyền ấn định thuế và ấn định các yếu tố làm căn cứ để tính thuế tại Điều 37, trong đó có trường hợp ấn định thuế đối với doanh nghiệp thực hiện.
“Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường”
Thông tư số 117/2005/TT-BTC (ngày 19/12/2005) có hiệu lực từ ngày 28/01/2006 đã định hình lại chính sách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá giữa các doanh nghiệp Việt Nam và bên liên kết, phù hợp với thông lệ quốc tế và nâng cao ý thức tuân thủ của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI Thông tư được xây dựng trên cơ chế quản lý thuế mới, theo đó người nộp thuế tự kê khai thông tin giao dịch liên kết với cơ quan quản lý thuế và tự điều chỉnh các giao dịch liên kết không theo giá thị trường khi kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp; đồng thời phải cung cấp và chứng minh giá thị trường cho giao dịch liên kết khi có yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền Cơ quan thuế sẽ tập hợp thông tin, phân tích, đánh giá rủi ro, yêu cầu người nộp thuế giải trình và chỉ tiến hành thanh tra khi cần thiết hoặc khi có biểu hiện không hợp tác từ phía người nộp thuế, tạo một cơ sở pháp lý để nâng cao tính tự giác và tuân thủ trong việc xác định giá giao dịch với bên liên kết theo giá thị trường Đồng thời Thông tư 117/2005/TTBTC khắc phục được một số tồn tại, hạn chế của các văn bản trước đây của Bộ Tài chính.
Những vấn đề chung về chuyển giá
Chuyển giá là khái niệm được quan tâm nhiều trong doanh nghiệp, khi một trung tâm lợi nhuận cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho một trung tâm lợi nhuận khác Ví dụ, một công ty có thể cung cấp vật đúc cho cơ sở lắp ráp và đôi khi bán vật đúc ra bên ngoài nếu hai đơn vị này không có trung tâm lợi nhuận riêng biệt; giá chuyển nhượng sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận được báo cáo Nói một cách cơ bản, thông tin về giá chuyển nhượng ảnh hưởng đến nhiều quyết định quan trọng, từ mua lại và phân bổ nguồn lực của tổ chức đến ảnh hưởng của giá cả trên toàn nền kinh tế đối với phân bổ nguồn lực của một quốc gia Trong thực tế, chuyển giá nên giúp các nhà quản lý phối hợp lựa chọn đầu vào và đầu ra với các đơn vị khác nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của tổ chức nói chung.
Chuyển giá là phương pháp phân bổ lợi nhuận của một tập đoàn đa quốc gia giữa các khu vực địa lý nhằm phân bố lãi và lỗ cho các khu vực pháp lý thuế nơi các công ty con do nước ngoài kiểm soát được điều hành (CFCs) Giá chuyển nhượng là mức giá được thiết lập giữa các công ty liên quan cho hàng hóa hoặc dịch vụ trong các giao dịch giữa các công ty liên kết (Mary Riley, 2014).
Chuyển giá đề cập đến cơ chế mà các giao dịch nội bộ giữa các khách hàng nội trú được định giá Bản thân nó là một sự cố bình thường trong hoạt động của các Doanh nghiệp Đa quốc gia - ví dụ, nó cho phép các DNĐQG xác định những phần nào trong nhóm đang có lãi hoặc lỗ Tuy nhiên, nếu phương pháp được sử dụng để xác định giá của các giao dịch đó, vì bất kỳ lý do gì, không phản ánh giá trị thực của chúng, lợi nhuận có thể được chuyển sang các khu vực pháp lý có thuế thấp hoặc không có thuế và các khoản lỗ và khấu trừ sang các khu vực pháp lý có thuế cao (DESA, 2013)
Theo ICAN (2014) Chuyển giao là quá trình đạt được mức giá tính cho hàng hóa và dịch vụ do một đơn vị con của một tổ chức cung cấp hoặc chuyển giao cho một đơn vị con khác hoặc một thành viên của nhóm này sang một đơn vị khác Thực tiễn giữa các DNĐQG về việc điều chỉnh giá hàng hóa và dịch vụ khi chúng di chuyển xung quanh các hoạt động toàn cầu của họ thường được gọi là chuyển giá và được mô tả trong Phần 22 của Luật Thuế Nigeria (Đạo luật thuế thu nhập công ty) là giao dịch “giả tạo hoặc hư cấu” khi ghi rõ chiều dài của cánh tay (Định giá sai) nó cũng có thể là một kế hoạch để trốn hoặc tránh thuế Nó rất phức tạp, đặc biệt là liên quan đến các Công ty Đa quốc gia, mặc dù thuật ngữ này cũng có thể hoàn toàn áp dụng cho chuyển tiền trong nước ( Abdulahi, 2014)
Chuyển giá là quá trình thiết lập mức giá cho các giao dịch hàng hóa và dịch vụ giữa các phân khúc hoặc đơn vị liên kết trong một tập đoàn Mục tiêu của chuyển giá là mô phỏng mức giá thị trường cho các giao dịch nội bộ nhằm đảm bảo tính hợp lý về thuế và tối ưu hóa lợi nhuận của toàn bộ doanh nghiệp Các yếu tố quyết định bao gồm chi phí sản xuất và phân phối, điều kiện thị trường bên ngoài và mức độ tương ứng của giá với giao dịch liên doanh Theo nguyên tắc cạnh tranh theo giá thị trường, các giao dịch nội bộ được định giá như thể hai bên là độc lập, giúp tránh lệch lạc lợi nhuận và rủi ro pháp lý Do đó, quản trị chuyển giá yêu cầu phân tích chi phí, xác định giá cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ, và thiết lập hệ thống báo cáo, tài liệu chứng minh tính hợp lý của mức giá theo quy định.
Chuyển giá là mức giá mà các bên liên quan xác định khi thực hiện các giao dịch kinh doanh với nhau, bao gồm giao dịch về hàng hóa hữu hình và vô hình, dịch vụ, cho thuê và cho vay Theo Levey và Wrappe (2006), chuyển giá mô tả cách các công ty liên kết thiết lập giá cho những giao dịch này nhằm tối ưu hóa lợi nhuận và nghĩa vụ thuế của tập đoàn, đồng thời ảnh hưởng đến cách phân bổ lợi nhuận và thuế giữa các quốc gia khác nhau.
Chuyển giá là một phương thức định giá được thực hiện trong các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa một doanh nghiệp với các chi nhánh trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc giữa doanh nghiệp và các chi nhánh chia sẻ lợi nhuận, như Kaymaz và cộng sự (2008) đã mô tả Xét trong bối cảnh điều kiện kinh tế và thương mại, chuyển giá được xem như một khái niệm thể hiện các nguyên tắc cơ bản để xác định giá của hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các bên liên quan.
1.2.2 Lịch sử phát triển của chuyển giá
Khi xem xét các nghiên cứu về chuyển giá, có thể nói rằng khái niệm này được hình thành từ đầu những năm 1900 Trong tác phẩm nổi tiếng "Các nguyên tắc của kinh tế chính trị" được xuất bản năm 1901, Harry Sidgwick cho rằng hai nhánh con của một doanh nghiệp có cấu trúc tích hợp theo chiều dọc có thể sử dụng sản phẩm của chính họ trong suốt quá trình sản xuất miễn là giá thị trường mà họ chấp nhận được Nghiên cứu này cũng đặt vấn đề về mức giá chuyển nhượng tại thời điểm đó, như được trình bày trong Güney và Bozkurt (2011).
Vào những năm 1920, với DuPont và từ 1921–1925 ở General Motors, phần nguyên liệu, vật liệu và bán thành phẩm đầu vào của quá trình sản xuất được ghi nhận theo giá thị trường hoặc theo chi phí của chính chúng Năm 1956, nghiên cứu đầu tiên về chuyển giá được công bố bởi Hiệp hội các nước tại Hoa Kỳ (Ece, 2016) Các biện pháp pháp lý đối với chuyển giá tại Hoa Kỳ được thực thi từ năm 1963 Cơ quan Quản lý Thuế của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ (HMRC và IRS) đã phát triển các phương thức và thực hành khác nhau vào năm 1970 nhằm kiềm chế việc nộp thuế ở mức thấp thông qua chuyển giá Trong các hướng dẫn do OECD công bố từ 1979–1984, các thỏa thuận pháp lý quan trọng nhằm kiềm chế chuyển giá được thiết lập.
Biểu hiện “phân phối doanh thu trá hình” trong Luật Thuế Doanh nghiệp ban hành năm 1949 của hệ thống Thuế Thổ Nhĩ Kỳ được coi là những quy định đầu tiên về chuyển giá Tuy nhiên, tại Điều 13 Luật Thuế Doanh nghiệp số 5520 đăng trên Công báo ngày 21/06/2006, thuật ngữ “phân bổ doanh thu ngụy tạo” thông qua chuyển giá có liên quan trực tiếp đến thuật ngữ “chuyển giá” và sẽ được áp dụng từ tháng 7 năm 2006.
Vào ngày 01 tháng 7 năm 2007, Tổ chức Hải quan Thế giới ban hành hướng dẫn về chuyển giá và định giá hải quan dành cho các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hải quan, nhằm trình bày cách xác định trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu từ các công ty thuộc cùng nhóm và thiết lập mối quan hệ được công nhận giữa trị giá hải quan và giá chuyển nhượng để xác định cơ sở hải quan một cách chính xác nhất; các nước G20 tham gia Kế hoạch hành động về mài mòn cơ sở và chuyển dịch lợi nhuận nhằm quản lý thuế chặt chẽ hơn, và kết quả nỗ lực này là Nguyên tắc định giá chuyển nhượng của OECD được công bố vào ngày 5 tháng 10 năm 2015, với nhiều quy định mới sau đó được nhiều quốc gia triển khai kể từ đó (Ece, 2016).
1.2.3 Việc áp dụng chuyển giá ở một số quốc gia
Chuyển giá là vấn đề được cơ quan thuế xem xét kỹ lưỡng vì nó tác động tới số thuế mà doanh nghiệp phải nộp bên cạnh việc di chuyển vốn giữa các nước Nhiều nước đã đưa ra các quy định nhằm hạn chế doanh nghiệp đa quốc gia trốn thuế thông qua chuyển giá Mỹ là một trong những quốc gia hàng đầu coi trọng hoạt động chuyển giá, tiếp theo là Vương quốc Anh, Pháp, Canada và Nhật Bản; Hàn Quốc, Úc và Ý được cho là thể hiện mối quan tâm ít hơn, trong khi Ireland và Puerto Rico không cam kết mạnh mẽ mặc dù thu hút đầu tư nước ngoài với mức thuế suất thấp Trong một nghiên cứu khác của South và Bozkurt (2011), Ấn Độ (47%) và Anh (41%) được xem là hai quốc gia hàng đầu mà chuyển giá được áp dụng; phần này của nghiên cứu xem xét lại một số quy định liên quan đến vấn đề chuyển giá ở mức quốc tế.
Năm 1954, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên đưa ra quy định về định giá chuyển nhượng, dù nguồn gốc của chuyển giá có từ các quy định bắt nguồn từ năm 1928 Những quy định này do Hoa Kỳ thực hiện cũng là ví dụ cho các quy định của OECD Chuyển giá có tính tương xứng trong hệ thống thuế của Hoa Kỳ, và sự gia tăng số lượng doanh nghiệp đa quốc gia hoạt động tại nước này làm tăng tầm quan trọng của chuyển giá Cho đến năm 1962, chưa có phương pháp đặc biệt nào được dự kiến cho các giao dịch giữa các doanh nghiệp trực thuộc Vào năm 1962, việc áp dụng nguyên tắc độ dài nhánh trong các giao dịch không được kiểm soát đã được đưa vào chương trình nghị sự và nguyên tắc độ dài nhánh với các thông lệ chuyển giá đã trở nên hợp pháp từ thời điểm đó.
Quy định nhằm nắm bắt doanh thu từ các giao dịch giữa người nộp thuế và các công ty liên quan và nhằm giảm thất thu thuế (Kapusuzoglu-a, 1999) Ở Mỹ, ba phương pháp xác định giá chuyển nhượng phổ biến là Phương pháp giá không kiểm soát có thể so sánh được, Phương pháp giá bán lại và Phương pháp cộng chi phí; vào năm 1992, ba phương pháp mới được dùng để xác định chi phí vô hình là Phương pháp giao dịch phù hợp, Phương pháp giao dịch có thể điều chỉnh có thể so sánh được và Phương pháp khoảng thời gian lợi nhuận có thể so sánh Theo một nghiên cứu cho thấy do chính sách định giá chậm của các doanh nghiệp, Hoa Kỳ đã phải chịu thất thu thuế lên tới 30 tỷ USD trong giai đoạn 1983–1986 (Doğan, 2004) Kết quả là Mỹ đã thực thi các biện pháp đánh thuế nghiêm ngặt, và các biện pháp trừng phạt đối với hành vi chuyển giá được quy định theo các quy định ban hành vào năm 1990 (Kapusuzoglu-b, 1999).
Trong quản lý giá chuyển nhượng, nếu giá chuyển nhượng bị phát hiện ở mức 200% trở lên hoặc thấp hơn 50% so với giá thị trường theo chuẩn arm's length, hình phạt giao dịch 20% sẽ được áp dụng cho bất kỳ hành vi khai sai thuế nào.
Quản lý thuế các doanh nghiệp có giao dịch liên kết
1.3.1 Những nghiên cứu về quản lý thuế các DN có giao dịch liên kết
Các công ty có động cơ tối đa hóa lợi nhuận bằng cách giảm thiểu thuế TNDN, đây là một nguồn dòng tiền quan trọng Các doanh nghiệp có GDLK (nhóm doanh nghiệp) thường áp dụng chiến lược giảm thiểu thuế ở cấp độ nhóm kinh doanh, được chứng minh qua các nghiên cứu của Gramlich và cộng sự (2004), Jung và cộng sự (2009), Choi và cộng sự (2011), Lee và Yoon (2012) Các nghiên cứu trước đây về giảm thiểu thuế ở cấp nhóm doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào chuyển dịch thu nhập, và điển hình với Harris và cộng sự (1993), Klassen và cộng sự (1993), Jacob
Các nghiên cứu ban đầu (1996), Collins và cộng sự (1998) và Ko (2000) cho thấy các tập đoàn đa quốc gia ở các khu vực pháp lý khác nhau có khuynh hướng dịch chuyển thu nhập từ nước có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp hơn Tuy nhiên, Shackelford và Shevlin (2001) cho rằng đo lường sự dịch chuyển thu nhập của các tập đoàn đa quốc gia có thể bị sai lệch do sự khác biệt trong tiêu chuẩn báo cáo tài chính giữa các quốc gia Sau đó, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào sự dịch chuyển thu nhập trong cùng một khu vực tài phán, nhận thấy vẫn có thể có sự khác biệt về gánh nặng thuế cho các doanh nghiệp ngay cả khi ở cùng khu vực, vì các yếu tố như chiến lược thuế, lỗ hoạt động ròng, tín dụng thuế và các công cụ tối ưu hóa thuế khác.
Gramlich và cộng sự (2004) cùng Jung và cộng sự (2009) chỉ ra rằng việc tránh thuế ở cấp độ nhóm doanh nghiệp diễn ra khi các doanh nghiệp trong nhóm chịu gánh nặng thuế cao nhưng có thu nhập trước thuế trên tài sản thấp, cho thấy sự chuyển dịch thu nhập từ các đơn vị có thuế suất cao sang đơn vị có thuế suất thấp trong cùng nhóm và cho rằng sự chuyển dịch thu nhập nội bộ giúp giảm thiểu thuế cho cả nhóm Lee (2010) và Lee & Yoon (2012) tiếp tục phân tích vai trò của giao dịch với bên liên quan, cho rằng động cơ tối ưu hóa thuế qua các giao dịch này thúc đẩy sự dịch chuyển thu nhập Jacob (1996) xem xét các tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ và thấy gánh nặng thuế doanh nghiệp ở cấp nhóm giảm khi tăng giao dịch với các bên liên quan ở nước ngoài Những kết quả này cho thấy việc tránh thuế ở cấp độ nhóm doanh nghiệp được thực hiện thông qua các giao dịch với bên liên quan.
Các bên liên quan có ảnh hưởng đáng kể đến đối tác kinh doanh và có thể điều chỉnh điều kiện và số lượng giao dịch theo ý muốn Theo K-IFRS 1024, việc tiết lộ các giao dịch với bên liên quan là bắt buộc và các giao dịch với bên liên quan có thể tác động đến thu nhập ròng và tình trạng tài chính của công ty do bán sản phẩm cho công ty kiểm soát với giá gốc hoặc không được bán cho các công ty khác với điều kiện tương tự; số lượng giao dịch với bên liên quan có thể khác với số giao dịch với các công ty không liên quan Do đó, các bên liên quan có thể ảnh hưởng đáng kể đến công ty và các điều kiện hoạt động và trạng thái tài chính Phần chú thích của báo cáo kiểm toán chỉ tiết lộ tên bên liên quan và giao dịch mà không nêu rõ điều kiện giao dịch, khiến Ban giám đốc có thể điều chỉnh giá giao dịch để có lợi cho riêng họ (Choi và cộng sự, 2011) Doanh nghiệp chịu gánh nặng thuế có thể giảm thuế bằng cách giao dịch với bên liên quan có mức thuế suất thấp và với các điều kiện có lợi; các quyết định như vậy được đưa ra để tối ưu hóa thuế ở cấp độ nhóm doanh nghiệp Choi và cộng sự cho rằng quản lý muốn tránh thuế bằng các giao dịch với bên liên quan sẽ cân nhắc chi phí thuế của cả hai công ty, nghĩa là các giao dịch được thực hiện ở mức giảm gánh nặng thuế của công ty có thuế suất cao hơn và ảnh hưởng tới công ty có thuế suất thấp hơn Dự kiến mức độ tránh thuế của cả hai bên sẽ tăng khi số lượng giao dịch với bên liên quan tăng lên, khi các công ty triển khai chiến lược thuế dựa trên các giao dịch này, làm cho mức độ tránh thuế của các tập đoàn trong nhóm trở nên cao hơn.
Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã cho thấy rủi ro trốn thuế của các doanh nghiệp có GDLK là rất cao, do đó đặt ra yêu cầu đối với công tác quản lý thuế với đối tượng này Để giảm thiểu rủi ro này, cần tăng cường nhận diện, giám sát và kiểm tra hồ sơ thuế, kết hợp các biện pháp quản lý thuế phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp có GDLK Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của minh bạch thông tin, phân tích rủi ro và cơ chế xử phạt nghiêm khắc để hạn chế thất thu ngân sách Vì vậy, chiến lược quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK cần được xây dựng bài bản, có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ quan kiểm toán và doanh nghiệp nhằm đảm bảo hiệu lực và bền vững trong công tác thuế.
Ở Việt Nam, hoạt động quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK được thực hiện theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP của Chính phủ, quy định phạm vi quản lý thuế, quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế, các hình thức kê khai, nộp thuế, thanh tra, xử lý vi phạm; đồng thời nêu rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan và các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật, minh bạch và hiệu quả trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có GDLK.
(3) Xác định chi phí để tính thuế đối với GDLK
1.3.2 Đặc trưng của thanh tra, kiểm tra giao dịch liên kết:
1.3.2.1 Phân biệt với thanh tra thông thường
Nội dung Thanh tra thông thường Thanh tra giao dịch liên kết
Nghĩa vụ chứng minh vi phạm
Cơ quan thuế chứng minh vi phạm của người nộp thuế căn cứ các quy định, chính sách thuế tương ứng từng thời kỳ đã được quy định rõ tại các văn bản quy phạm pháp luật Trường hợp việc áp dụng chưa rõ, Đoàn Thanh tra thực hiện lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ để bảo đảm tính đúng đắn và đầy đủ của hồ sơ và kết luận.
NNT và CQT có nghĩa vụ chứng minh giao dịch liên kết tuân theo nguyên tắc giao dịch độc lập và phải thực hiện phân tích so sánh, lựa chọn đối tượng so sánh độc lập tương đồng, và lựa chọn phương pháp xác định giá phù hợp để thể hiện bản chất hoạt động sản xuất kinh doanh của NNT theo quy định pháp luật Cơ quan thuế chỉ được ấn định trong trường hợp NNT có hành vi vi phạm pháp luật về xác định giá giao dịch liên kết được quy định cụ thể tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP.
Thời gian Tuân thủ chặt chẽ quy định hiện hành
Quy định về thời gian thanh tra được tuân thủ nghiêm ngặt và quá trình thanh tra có thể tạm dừng khi doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ thông tin và tài liệu theo yêu cầu, nhằm duy trì tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của quá trình kiểm tra.
Phát hiện xử lý vi phạm Việc ấn định thuế ít khi xảy ra với thủ tục quy định của Luật QLT
CQT thực hiện điều chỉnh giá giao dịch liên kết của doanh nghiệp hoặc ấn định thuế với thủ tục quy định tại VBQLPL hiện hành
Xây dựng cơ sở dữ liệu và lựa chọn DN độc lập (giao dịch) so sánh
Có thể không cần thiết Trường hợp phải xây dựng cơ sở dữ liệu thì yêu cầu cũng ở mức độ thấp với các thủ tục ít phức tạp
Yêu cầu ở mức độ cao (bắt buộc) đối với các thủ tục phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu nhằm đảm bảo tính minh bạch trong quy trình và hạn chế sự tùy tiện áp đặt, từ đó giảm thiểu nguy cơ kiện cáo, khiếu nại kéo dài và các tiêu cực khác trong quản trị.
Nguồn nhân lực Đầy đủ (nhiều CBCC có kinh nghiệm) trong khi quy định chính sách ngày càng minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện
Hạn chế (ít CBCC có kinh nghiệm); đòi hỏi cao về ngoại ngữ, tin học (sử dụng cơ sở dữ liệu thương mại nước ngoài); pháp lý để quản lý được các công ty đa quốc gia lớn, có hệ thống hoạt động phức tạp
NNT nhận được sự hỗ trợ ít phổ biến hơn thanh tra giao dịch Phổ biến, đặc biệt là các DN có vốn đầu tư nước ngoài; DN niêm của các doanh nghiệp kiểm toán lớn, có kinh nghiệm liên kết yết trên sàn chứng khoán
1.3.2.2 Các quy định về xác định giá của giao dịch liên kết
Cơ quan thuế tiến hành quản lý, kiểm tra và thanh tra giá giao dịch liên kết của người nộp thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập và bản chất hoạt động sản xuất, kinh doanh; nghĩa vụ thuế được xác định tương ứng với giá trị phát sinh từ chính hoạt động của doanh nghiệp, và các giao dịch liên kết không tuân thủ nguyên tắc giao dịch độc lập sẽ không được coi là làm giảm nghĩa vụ thuế, mà sẽ bị điều chỉnh để xác định đúng nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Quy định cơ bản về xác định giá thị trường trong các giao dịch liên kết được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và được thực hiện thông qua các phương pháp xác định giá thị trường phù hợp.
(1) Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập
(2) Phương pháp giá bán lại
(3) Phương pháp giá vốn cộng lãi
(4) Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận thuần
Để áp dụng từng phương pháp phân bổ lợi nhuận giữa các bên liên kết, CQT thực hiện phân tích so sánh chức năng, tài sản và rủi ro; phân tích sản phẩm; đánh giá điều kiện kinh tế và điều kiện hợp đồng của giao dịch liên kết, từ đó xác định cách phân bổ lợi nhuận phù hợp cho từng phương pháp và đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực liên quan.
Từ ngày 20/12/2013, CQT và NNT có thể áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá (APA) dựa trên việc áp dụng các phương pháp xác định giá giao dịch liên kết theo quy định về pháp luật chuyển giá cho toàn bộ hoặc một số giao dịch của NNT trước khi các giao dịch này diễn ra, theo Thông tư 201/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn APA trong quản lý thuế.
1.3.3 Kỹ năng thanh tra, kiểm tra giao dịch liên kết
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý thuế đối với doanh nghiệp có
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý thuế nói chung, người ta dựa vào các tiêu chí liên quan đến kết quả thực hiện công việc của các phòng ban chức năng và các nội dung quản lý thuế như kết quả thực hiện dự toán thu thuế, quản lý đối tượng nộp thuế và doanh thu tính thuế, quản lý thuế nợ đọng, hiệu quả của công tác kiểm tra và thanh tra thuế Những tiêu chí này thường được phân tích bằng cách so sánh các số liệu thống kê qua các năm để nhận diện xu hướng và mức độ cải thiện Việc đánh giá tập trung vào mức độ thực hiện các chỉ tiêu quản lý đối tượng nộp thuế, tình hình thu nộp và quản lý nợ đọng, cũng như kết quả của công tác kiểm tra, thanh tra nhằm tối ưu hóa công tác quản lý thuế và tăng cường tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (GDLK) gặp thách thức do các nghiệp vụ như xác định chi phí và xác định giá tính thuế có thể kéo dài nhiều năm, làm phát sinh thêm các tiêu chí liên quan đến chi phí quản lý thuế và chi phí tuân thủ thuế Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung phân tích số liệu về doanh nghiệp có GDLK tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dựa trên Nghị định 132/2020/NĐ-CP về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết để đánh giá công tác quản lý thuế trên địa bàn Các tiêu chí đánh giá được đề cập gồm quản lý số lượng thông tin của người nộp thuế có giao dịch liên kết phục vụ công tác quản lý rủi ro, tình hình thu thuế của doanh nghiệp có GDLK, và số doanh nghiệp có GDLK vi phạm bị phát hiện.
Chương 1 đã nêu lên một số nội dung cơ bản về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết Chương 1 cũng đã chỉ ra các đặc điểm riêng của công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, tóm lược công tác quản lý thuế giá chuyển nhượng của một số nước tiên tiến trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết phù hợp.