BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU PHẠM ANH THƯ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN CÔNG NGHỆ KÊ KHAI, NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ CỦA CÁ NHÂN CHO THUÊ TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU LUẬN V[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Bà Rịa - Vũng Tàu, tháng 9 năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-
HỌ TÊN HỌC VIÊN: PHẠM ANH THƯ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN CÔNG NGHỆ KÊ KHAI, NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ CỦA CÁ NHÂN CHO
THUÊ TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào
đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Vũng tàu, ngày tháng năm 2022
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Anh Thư
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn , tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được gửi lời
cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, Quý thầy cô giáo Viện
Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu và các thầy cô giáo trực tiếp
giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã truyền dạy những kiến thức bổ ích,
tạo điều kiện và đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn thạc sĩ
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Võ Xuân Vinh đã tạo điều kiện
thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để t ôi
có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, công chức
và các cá nhân nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo đã nhiệt tình
giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, thực tiễn công tác lại vô cùng sinh động,
chắc hẳn bài luận văn sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi mong
muốn sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu từ Quý thầy cô giáo để đề tài được
hoàn thiện hơn về mặt nội dung và có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vũng tàu, ngày 28 tháng 05 năm 2022
TÁC GIẢ
Phạm Anh Thư
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.6 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 4
1.6.1 Lý luận 4
1.6.2 Áp dụng thực tiễn 4
1.6.3 Khoa học 5
1.7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 TỔNG QUAN VỀ KÊ KHAI - NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ 6
2.1.1 Các khái niệm về kê khai - nộp thuế điện tử 6
2.1.2 Đặc điểm kê khai và nộp thuế điện tử 6
2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁ NHÂN CHO THUÊ TÀI SẢN VÀ CÁC CHÍNH SÁCH THUẾ LIÊN QUAN 7
2.2.1 Cá nhân cho thuê tài sản 7
2.2.2 Chính sách thuế đối với cá nhân cho thuê TS 7
2.3 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 12
Trang 62.3.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 12
2.3.2 Thuyết hành vi dự định (TPB) 13
2.3.3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 14
2.3.4 Mô hình chấp nhận công nghệ hợp nhất UTAUT 15
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY 16
2.4.1 Nghiên cứu của Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005) 16
2.4.2 Nghiên cứu của Suhani Anuar và Radiah Othman (2009) 17
2.4.3 Nghiên cứu của Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012) 17
2.5 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 18
2.5.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 18
2.5.2 Thang đo 22
Tóm tắt chương 2 .24
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 25
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 25
3.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 26
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 26
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính 27
3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 31
3.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
3.3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 32
Tóm tắt chương 3 .36
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TS CỦA CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU 37
4.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 40
4.2.1 Mô tả mẫu khảo sát 40
4.2.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo 41
4.2.3 Phân tích EFA 42
4.2.4 Phân tích tương quan 45
4.2.5 Phân tích hồi quy 46
Trang 74.2.6 Kiểm định sự khác biệt về sự chấp nhận công nghệ kê khai - nộp thuế điện tử của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu theo đặc điểm cá nhân
51
4.3 THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
4.3.1 Về các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ kê khai - nộp thuế điện tử của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu 54
4.3.2 Về ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ khai - nộp thuế điện tử của cá nhân cho thuê tài sản tại thành phố Vũng Tàu theo đặc điểm cá nhân 59
Tóm tắt chương 4 .59
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC HÀM Ý 61
5.1.1 Cơ sở về pháp lý 61
5.1.2 Cơ sở dựa trên kết quả nghiên cứu 61
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61
5.2.1 Đối với nhân tố Cảm nhận sự hữu ích 61
5.2.2 Đối với nhân tố Cảm nhận tính dễ sử dụng 63
5.2.3 Đối với nhân tố Các điều kiện hỗ trợ 64
5.2.4 Đối với nhân tố Chuẩn chủ quan 66
5.2.5 Đối với nhân tố Cảm nhận rủi ro 67
5.3 KẾT LUẬN 68
5.4 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 70
5.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 70
5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
PHỤ LỤC 3.1 DÀN BÀI THẢO LUẬN NHÓM 75
PHỤ LỤC 3.2 PHIẾU KHẢO SÁT 78
PHỤ LỤC 4.1 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 81
Thống kê mô tả mẫu 81
Đánh giá độ tin cậy thang đo 81
Phân tích EFA 84
Trang 8Phân tích tương quan 91 Phân tích hồi quy 92
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Thang đo nghiên cứu đề xuất 23
Bảng 3 1 Thang đo được điều chỉnh sau thảo luận nhóm chuyên gia 28
Bảng 4 1 Số thu thuế GTGT và TNCN từ các cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2019 – 2021 38
Bảng 4 2 Thống kê mẫu khảo sát 40
Bảng 4 3 Hệ số Cronbach’s Alpha các biến trong mô hình nghiên cứu 41
Bảng 4 4 Kết quả EFA cho các biến độc lập lần 1 42
Bảng 4 5 Kết quả EFA cho các biến độc lập lần 2 44
Bảng 4 6 Kết quả EFA cho các biến phụ thuộc 45
Bảng 4 7 Ma trận hệ số tương quan 46
Bảng 4 8 Kết quả phân tích hồi quy 46
Bảng 4 9 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính bằng Independent Sample T Test51 Bảng 4 10 Kiểm định sự bằng nhau về phương sai giữa các nhóm độ tuổi 52
Bảng 4 11 Kiểm định Anova theo độ tuổi 52
Bảng 4 12 Kiểm định Post Hoc theo nhóm độ tuổi 52
Bảng 4 13 Kiểm định sự bằng nhau về phương sai giữa các nhóm thu nhập 53
Bảng 4 14 ANOVA theo thu nhập 54
Bảng 4 15 Thống kê các thang đo nghiên cứu 55
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2 1 Thuyết hành động hợp lý TRA 13
Hình 2 2 Thuyết hành vi dự định TPB 14
Hình 2 3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 15
Hình 2 4 Mô hình nghiên cứu của Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005) 16
Hình 2 5 Mô hình nghiên cứu của Suhani Anuar và Radiah Othman (2009) 17
Hình 2 6 Mô hình nghiên cứu của Mohammed (2012) 18
Hình 2 7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22
Hình 3 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25
Hình 4 1 Thống kê số cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2019 - 2021 37
Hình 4 2 Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy 48
Hình 4 3 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 49
Hình 4 4 Sự khác biệt về sự chấp nhận công nghệ kê khai - nộp thuế điện tử của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu theo độ tuổi 53
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Một làn sóng mới trong cuộc cách mạng về thông tin, mọi hoạt động của nhà nước được "điện tử hóa", "Internet hóa" được gọi là Chính phủ điện tử Không chỉ đơn thuần máy tính hay mạng Internet; Chính phủ điện tử làm thay đổi các nguồn lực, các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của chính quyền trung ương và địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạt động
đó, thúc đẩy tiến trình chính trị, xã hội và phát triển kinh tế đất nước để tiến đến mục tiêu lớn hơn là nền Chính phủ hiện đại Một trong những tiền đề cho chính ph ủ điện tử là chương trình cải cách hành chính, điều này đòi hỏi vai trò đặc biệt của việc thành công trong công tác nâng cao sự hiểu biết, chấp nhận của người nộp thu ế đối với Chính phủ điện tử
Sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông, tự động hóa và triển khai các thủ tục hành chính, hệ thống Chính phủ điện tử sẽ thay đổi cách thức tạo ra và cung c ấp các dịch vụ công để phục vụ người dân tốt hơn, hỗ trợ các bước công việc đảm bảo, vận hành tốt, và đáng tin cậy
Ngành thuế đặt trọng tâm hướng đến Chính phủ điện tử và trong nhiều chương trình đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để cải cách thủ tục hành chính với quy mô chính phủ, họ đều coi lĩnh vực thuế là nơi cần đi “tiên phong” trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đặc biệt đối tượng NNT cá nhân ngày càng tăng cao lên, vì vậy đối tượng nộp thuế chính là trung tâm phục vụ quan trọng nhất hiện nay Ngành thuế đã phát triển cổng thông tin điện tử, hỗ trợ và triển khai ở từng khu vực
để NNT có thể tham khảo và tự kiểm soát
Đối với các tổ chức, doanh nghiệp, việc kê khai - nộp thuế điện tử (KK - NTĐT) đã trở nên rất phổ biến từ năm 2014 nhưng đối với cá nhân thì vẫn còn khá mới mẻ do cá nhân chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công Các đối tượng cá nhân cho thuê tài sản (TS) phải khai nộp thuế bao gồm cá nhân cho thuê nhà, xưởng, mặt bằng (sau đây gọi chung là cá nhân cho thuê TS) Trước đây, tùy theo từng hợp đồng từng kỳ cho thuê, NNT thực hiện khai và nộp thuế thu nhập cá nhân (thuế
Trang 13TNCN), thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) tại chi cục thuế nơi có TS cho thuê, hình thức nộp là nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện Tiếp đó NNT phải đến kho bạc hoặc các ngân hàng để nộp tiền thuế Việc chờ đợi thời gian dài để nộp hồ sơ khai thuế diễn ra thường xuyên, đặc biệt là vào ngày những ngày cuối hạn nộp hồ
sơ Đối với các cá nhân có nhiều TS và cho thuê ở nhiều địa phương thì việc đi lại tốn khá nhiều thời gian, ảnh hưởng đến lịch trình sinh hoạt, công tác và sức khỏe Tuy nhiên, cơ quan thuế, kho bạc hay ngân hàng đều chỉ làm việc vào giờ hành chính, rất bất tiện cho các cá nhân mong muốn được thực hiện và hoàn thành nghĩa
vụ thuế với nhà nước Việc khai thuế như vậy, theo Tổng cục Thuế là không hiệu quả và không hỗ trợ tốt cho NNT
Nhận thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống kê khai và nộp thuế là cần thiết cho việc phát triển kinh tế xã hội, Tổng cục Thuế đã mở rộng việc khai nộp thuế cho cá nhân qua hình thức điện tử Chỉ cần đăng ký tài khoản giao dịch thuế điện tử trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế và làm theo hướng dẫn, cá nhân cho thuê TS có thể dễ dàng khai thác các dữ liệu, hỗ trợ kê khai và nộp thuế qua cổng điện tử trực tuyến, vừa nhanh chóng, vừa tiện lợi
Tuy nhiên, dịch vụ và hệ thống KK - NTĐT phải sử dụng công nghệ hiện có của ngành, vẫn chưa phù hợp và đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của NNT, dẫn đến trong quá trình sử dụng còn nhiều bất cập, như: đường truyền dữ liệu về cơ quan thuế chậm, đôi lúc hệ thống bị lỗi làm mất nhiều thời gian trong các thao tác nhưng vẫn không gửi được tờ khai và nhận thông báo từ cơ quan thuế; các chi phí cho dịch vụ khi sử dụng KK - NTĐT vẫn còn cao đối với mức sống của người dân;
…
Bên cạnh đó, với tâm lý ngại học hỏi, tìm tòi và sử dụng công nghệ hiện đại khiến cho đa số NNT cá nhân vẫn ưa chuộng hình thức khai nộp thuế truyền thống Chưa kể những rủi ro và bất cập có thể gặp phải trong giao dịch điện tử cũng là khía cạnh ảnh hưởng đến tính hiệu quả của nộp tờ khai thuế điện tử Điều này làm cho những lợi ích thiết thực từ phương thức KK - NTĐT chưa được biết đến rộng rãi Vì thế, việc tuyên truyền, phổ biến hỗ trợ NNT trong việc kê khai và thu thuế cần được chú trọng và phát huy, tăng tính hiệu quả và là tiền đề để thực hiện tốt công tác hội
Trang 14nhập quốc tế Xuất phát từ thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh
hưởng đến sự chấp nhận công nghệ kê khai - nộp thuế điện tử của các cá nhân cho thuê tài sản tại thành phố Vũng Tàu” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, để tìm
hiểu xem có những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu, từ đó đề xuất các hàm ý góp phần khuyến khích các cá nhân cho thuê TS tại đây KK - NTĐT
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu Dựa trên cơ sở đó, tác giả gợi ý các hàm ý chính sách để hỗ trợ và khuyến khích các cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu thực hiện KK - NTĐT
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu bị ảnh hưởng bởi những nhân tố nào và mức độ ảnh hưởng của chúng thể hiện ra sao?
Hàm ý nào quan trọng trong việc khuyến khích các cá nhân cho thuê TS khu vực thành phố Vũng Tàu KK - NTĐT?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu Đối tượng khảo sát: là các cá nhân cho thuê TS thực hiện kê khai và nộp thuế tại thành phố Vũng Tàu
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 15- Phạm vi không gian: thành phố Vũng Tàu
- Phạm vi thời gian:
Dữ liệu thứ cấp sử dụng trong khoảng thời gian từ năm 2018-2020
Dữ liệu sơ cấp: Tháng 10-11/2021
- Nội dung:
Tham khảo và nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến sự chấp nhận công ngh ệ
KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS
Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu
Đề xuất các chính sách nhằm nâng cao tỷ lệ chấp nhận KK - NTĐT của các cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, tác giả lựa chọn kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính cùng nghiên cứu định lượng Cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: áp dụng trong giai đoạn phát triển bảng câu hỏi Thảo luận nhóm chuyên gia là phương pháp phù hợp Kết quả nghiên cứu định tính là thiết kế được bảng câu hỏi khảo sát để sử dụng cho nghiên cứu định lượng
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: được sử dụng trong giai đoạn điều tra đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích kiểm định mối quan hệ của các biến trong mô hình nghiên cứu để đưa ra ý kiến chấp nhận hay không chấp nhận các giả thuyết nghiên cứu
1.6 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
1.6.1 Lý luận
Là một đề tài nghiên cứu khoa học có tính độc lập, Luận văn góp phần khái quát và phát triển những nội dung lý thuyết về sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT, cá nhân cho thuê TS và các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ
KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS
1.6.2 Áp dụng thực tiễn
Trang 16Luận văn xây dựng nên mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu; Đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự chấp nhận công nghệ
KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại đây Từ đó, đề xuất các hàm ý có tính khoa học và khả thi, góp phần khuyến khích các cá nhân KK – NTĐT đối với hoạt động cho thuê TS
1.6.3 Khoa học
Luận văn đã phát triển những nội dung lý thuyết về sự chấp nhận công nghệ
KK - NTĐT, cá nhân cho thuê TS và các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu, là tiền đề cho
sự phát triển của các luận văn khác
1.7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài những phần như danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 05 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2 : Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN VỀ KÊ KHAI - NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ
2.1.1 Các khái niệm về kê khai - nộp thuế điện tử
Kê khai thuế điện tử là việc NNT thao tác kê khai thuế trực tuyến tại địa chỉ web http://thuedientu.gdt.gov.vn/ thay cho phương pháp truyền thống là nộp tờ khai giấy trực tiếp đến cơ quan thuế các địa phương Dịch vụ khai thuế điện tử hỗ trợ NNT kê khai và nộp hồ sơ khai thuế qua mạng trực tuyến Internet đến cơ quan thu ế với hình thức xác thực thông tin qua OTP (đối với cá nhân) và qua chữ ký số (đối với doanh nghiệp, tổ chức) NNT có thể dễ dàng thực hiện các bước theo hướng dẫn trên trang web, đồng thời có thể theo dõi thời hạn xử lý và các thông báo phản hồi của cơ quan thuế Điều này đã góp phần giảm bớt các thủ tục hành chính cũng như tránh sự lo lắng không được xử lý kịp thời của NNT vào thời điểm đến hạn nộp hồ
sơ khai thuế Kê khai thuế điện tử là hình thức giao dịch giao dịch văn minh, hiện đại và tiện lợi giữa NNT với cơ quan thuế, được pháp luật công nhận và khuyến khích thực hiện Trong đó, OTP (đối với cá nhân) và chữ ký số (đối với doanh nghiệp, tổ chức) chính là chữ ký tượng trưng và xác thực danh tính người phát hành các hồ sơ, tài liệu, văn bản trong giao dịch điện tử Ngoài ra, việc sử dụng giao dịch điện tử cũng được áp dụng rộng rãi trong các ngành khác như hải quan, ngân hàng, chứng khoán, luôn đảm bảo về tính xác thực, bảo mật, an ninh và mang tính pháp
lý tương đương với con dấu và chữ ký
NTĐT là việc mà NNT không phải trực tiếp đến ngân hàng hoặc kho bạc mà chỉ cần thực hiện các thủ tục nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước thông qua mạng Internet NNT sử dụng dịch vụ lập Giấy nộp tiền điện tử để nộp vào Ngân sách Nhà nước bằng các thao tác trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan thuế, kết quả giao dịch sẽ được xác nhận tức thời qua ngân hàng thương mại
2.1.2 Đặc điểm kê khai và nộp thuế điện tử
Là sản phẩm của sự chỉ đạo, phối hợp và hỗ trợ giữa cục ứng dụng công nghệ thông tin và cơ quan thuế, KK – NTĐT có các đặc điểm nổi trội như sau:
Trang 18- KK - NTĐT giúp tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian giao dịch: Nếu như trước đây NNT phải đi lại rất nhiều để làm các thủ tục thì với KK - NTĐT chỉ cần ngồi một chỗ là đã có thể nộp thuế thành công dễ thực hiện hơn, ít tốn thời gian, chi phí cho NNT và cả cơ quan quản lý thuế, có thể truy cập, trao đổi thông tin, dữ liệu dễ dàng và nhanh chóng Vì thế, các doanh nghiệp và tổ chức đã áp dụng rất phổ biến
- NNT có thể truy cập Cổng thông tin điện tử của Cơ quan thuế để xem, in, tải
về các thông báo, giấy nộp thuế điện tử đã nộp, có thể kiểm tra, kiểm soát tình hình
xử lý hồ sơ bất cứ khi nào và có kế hoạch làm việc hiệu quả
- KK - NTĐT được xem là bước cải cách hành chính vượt bậc của ngành Thuế Do sự cập nhật công nghệ và khá mới mẻ với NNT nên KK - NTĐT không mang tính chất bắt buộc mà cơ quan thuế luôn tuyên truyền và khuyến khích sử dụng
- Trừ thuế đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu, KK - NTĐT được áp dụng cho nhiều loại thuế khác gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên,
2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁ NHÂN CHO THUÊ TÀI SẢN VÀ CÁC
CHÍNH SÁCH THUẾ LIÊN QUAN
2.2.1 Cá nhân cho thuê tài sản
Định nghĩa cá nhân cho thuê TS bao gồm cá nhân kinh doanh và có doanh thu
từ hoạt động cho thuê TS Các tài sản cho thuê bao gồm: bất động sản như nhà, mặt bằng, cửa hàng, nhà xưởng, kho bãi (không bao gồm dịch vụ lưu trú); các phương tiện vận tải, máy móc thiết bị (nhưng không kèm theo người điều khiển) và TS khác không kèm theo dịch vụ Lưu ý rằng, một số Dịch vụ lưu trú sẽ không được tính vào hoạt động cho thuê TS bao gồm các hoạt động: cung cấp lưu trú ngắn hạn cho khách du lịch, khách vãng lai khác; Cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn cho sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự; Cung cấp cơ sở lưu trú cùng dịch vụ ăn uống hoặc các phương tiện giải trí Đối với hoạt động cho thuê căn hộ hàng tháng hoặc hàng năm được phân loại trong ngành bất động sản theo quy định của pháp luật về Hệ thống ngành kinh tế của Việt nam vẫn được xem là cá nhân cho thuê TS
2.2.2 Chính sách thuế đối với cá nhân cho thuê TS
Trang 192.2.2.1 Nguyên tắc, phương pháp tính thuế cho thuê tài sản:
1 Nguyên tắc:
Nếu cá nhân cho thuê TS mà có doanh thu trong năm dương l ịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và lệ phí môn bài Nếu cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động cho thuê
TS tổng trong năm dương lịch trên 100 triệu đồng thì cá nhân phải thực hiện kê khai nộp thuế
2 Căn cứ tính thuế
a) Doanh thu tính thuế:
Căn cứ khoản Điều 4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC quy định căn cứ tính thuế đối với cá nhân cho thuê tài sản được xác định như sau:
- Doanh thu tính thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cho thuê tài sản là doanh thu bao gồm thuế của số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê và các khoản thu khác không bao gồm khoản tiền phạt, bồi thường mà bên cho thuê nhận được theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê
- Doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động cho thuê tài sản là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê và các khoản thu khác bao gồm khoản tiền phạt, bồi thường mà bên cho thuê nhận được theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê
- Trong trường hợp tiền thuê được trả một lần cho nhiều năm thuê thì doanh thu tính thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân xác định theo doanh thu trả tiền một lần
b) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu
Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu đối với hoạt động cho thuê TS là 5% thuế GTGT và 5% thuế TNCN
c) Xác định số thuế phải nộp
Công thức tính thuế cho thuê tài sản như sau
Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT x Tỷ lệ thuế GTGT 5%
Số thuế TNCN phải nộp = Doanh thu tính thuế TNCN x Tỷ lệ thuế TNCN 5%
Trang 20Ngoài ra, cá nhân cho thuê tài sản còn phải nộp them khoản lệ phí môn bài, mức lệ phí môn bài căn cứ theo doanh thu tính thuế thu nhập các nhân của các hợp đồng cho thuê tài sản của năm tính thuế
d) Thời điểm xác định doanh thu tính thuế
Thời điểm bắt đầu của từng kỳ hạn thanh toán trên hợp đồng thuê TS chính là thời điểm xác định doanh thu tính thuế
2.2.2.2 Kê khai và nộp thuế đối với cá nhân cho thuê TS
a Trường hợp cá nhân trực tiếp kê khai thuế:
• Nguyên tắc khai thuế:
Cá nhân cho thuê TS lựa chọn 1 trong 2 cách kê khai gồm khai thuế theo từng lần phát sinh kỳ thanh toán hoặc khai thuế theo năm dương lịch
• Hồ sơ khai thuế
Hồ sơ khai thuế đối với cá nhân cho thuê TS trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế quy định tại tiết a điểm 8.5 Phụ lục I – Danh mục hồ sơ khai thuế ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, cụ thể:
- Tờ khai thuế mẫu 01/TTS ban hành kèm theo Thông Tư 40/2021/TT-BTC;
- Phụ lục bảng kê chi tiết hợp đồng cho thuê TS theo mẫu số 01-1/BK-TTS ban hành kèm theo Thông Tư 40/2021/TT- BTC (nếu là lần khai thuế đầu tiên của Hợp đồng hoặc Phụ lục hợp đồng);
- Bản sao hợp đồng thuê TS, phụ lục hợp đồng (nếu là lần khai thuế đầu tiên của Hợp đồng hoặc Phụ lục hợp đồng);
- Bản sao Giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật (trường hợp cá nhân cho thuê TS ủy quyền cho đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục khai, nộp thuế)
- Chứng minh nhân dân / Căn cước công cân phô tô công chứng của cá nhân cho thuê
- Tờ khai lệ phí môn bài theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP
• Nơi nộp hồ sơ khai thuế:
- Cá nhân có doanh thu thì hoạt động cho thuê TS (trừ bất động sản tại Việt Nam) nộp hồ sơ khai thuế trực tiếp tại Chi cục Thuế nơi cá nhân cư trú
Trang 21- Cá nhân có thu nhập từ cho thuê bất động sản tại Việt Nam nộp hồ sơ khai thuế trực tiếp tại Chi cục Thuế nơi có bất động sản cho thuê
• Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
- Chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của quý tiếp theo quý bắt đầu thời hạn cho thuê là thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với cá nhân khai thuế theo kỳ hạn thanh toán
- Đối với cá nhân khai thuế một lần theo năm, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 90 (chín mươi) kể từ ngày kết thúc năm dương lịch
• Cách thức thực hiện: Cá nhân cho thuê TS có thể lựa chọn phương thức truyền thống để nộp hồ sơ khai thuế là nộp trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế hay gửi qua đường bưu điện; hoặc NNT lựa chọn gửi bằng văn bản điện tử qua cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế
b Trường hợp doanh nghiệp kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê TS:
• Nguyên tắc khai thuế
Nếu trong hợp đồng thuê TS có điều khoản về bên đi thuê là người chịu trách nhiệm kê khai nộp thuế thì Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khai thay thuế cho cá nhân
Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế được lựa chọn 1 trong 4 cách kê khai thuế gồm: khai nộp thuế theo tháng, theo quý, từng lần phát sinh kỳ thanh toán hoặc khai nộp thuế theo năm dương lịch
Sau khi ghi trên tờ khai phần “Khai thay” vào phần trước cụm từ “NNT hoặc Đại diện hợp pháp của NNT”, Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khai thay thuế cho cá nhân cho thuê TS ký tên phải đóng dấu của tổ chức theo quy định Trên hồ sơ tính thuế, chứng từ thu thuế vẫn phải thể hiện đúng NNT là cá nhân cho thuê TS
• Hồ sơ khai thuế
Hồ sơ khai thuế đối với tổ chức kê khai nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê TS cũng tương tự như hồ sơ khai thuế đối với cá nhân cho thuê TS trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế Tuy nhiên, hồ sơ khai thuế này sẽ khác tại mẫu Phụ lục theo mẫu số 01-
Trang 222/BK-TTS ban hành kèm theo Thông Tư 40/2021/TT- BTC thay vì Phụ lục theo mẫu số 01-1/BK-TTS;
• Nơi nộp hồ sơ khai thuế:
- Nơi nộp hồ sơ khai thuế đối với tổ chức khai nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê TS là cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức khai nộp thuế thay
- Trường hợp tổ chức khai nộp thuế thay cho cá nhân có thu nhập từ cho thuê bất động sản tại Việt Nam thì hồ sơ khai thuế được nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi có bất động sản cho thuê
• Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ
sơ khai thuế Tùy tổ chức khai nộp thuế thay lựa chọn cách kê khai thuế thì sẽ tương ứng với các thời hạn nộp hồ sơ khác nhau, cụ thế:
- Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo tháng chậm nhất là ngày thứ 20 (hai mươi) của tháng tiếp theo liền kề tháng phát sinh nghĩa vụ khai nộp thuế thay
- Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quý chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của quý tiếp theo liền kề quý phát sinh nghĩa vụ khai nộp thuế thay
- Đối với hồ sơ khai thuế theo kỳ hạn thanh toán thì thời hạn nộp chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của quý tiếp theo quý bắt đầu thời hạn cho thuê
- Đối với hồ sơ khai thuế một lần theo năm thì hạn nộp chậm nhất là ngày thứ
90 (chín mươi) kể từ ngày kết thúc năm dương lịch
2.2.2.3 Quy trình kê khai thuế điện tử qua mạng đối với cá nhân cho thuê TS
Bước 1: NNT đăng nhập vào trang web để thực hiện kê khai
NNT vào trang Web: http://thuedientu.gdt.gov.vn/, sau đó nhấp chuột chọn tab “Cá nhân” và chọn tab “Đăng nhập”
- Nhập tên đăng nhập là mã số thuế của cá nhân cho thuê TS (chú ý: trường hợp cá nhân có nhiều nhà cho thuê, mỗi nhà kê khai bằng một MST thì khi kê khai thuế của nhà nào, nhập MST của nhà đó)
Trang 23- Nhập mật khẩu là mật khẩu đã được Tổng cục Thuế gửi qua hình thức nhắn tin điện thoại cho NNT và email về hộp thư đã đăng ký trên hệ thống trang web thuế
- Nhập mã kiểm tra hiển thị trên màn hình
Bước 2: Các bước kê khai trên website
NNT chọn tab “Kê khai thuế” sau đó chọn tab “các tờ khai khác”, chọn mẫu
tờ khai 01/TTS và thực hiện kê khai trên tờ khai hiển thị trên màn hình
Bước 3: NNT nhập các thông tin chi tiết của hợp đồng
NNT thực hiện kê khai kê khai đầy đủ và chính xác từng hợp đồng cho thuê
TS theo khung hiển thị và các chỉ tiêu yêu cầu
Bước 4: Gửi tờ khai
NNT chọn tab “Tổng hợp phụ lục” sau đó chọn “Tiếp tục” NNT tổng hợp
dữ liệu lên tờ khai bằng cách chọn tab “Tổng hợp lên tờ khai chính” và chọn “Tiếp tục”
Sau khi NNT chọn “Hoàn thành kê khai” và nhấp chuột vào tab “Nộp tờ khai”, NNT sẽ nhận được mã OTP do Tổng cục Thuế gửi qua tin nhắn SMS Đến đây, NNT đã hoàn thành việc nộp tờ khai thuế Tin nhắn xác nhận việc đã nộp tờ khai sẽ được trả về qua tin nhắn SMS của NNT
Để kiểm tra lại tờ khai, NNT có thể chọn tab “Tra cứu thuế”
2.3 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
2.3.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA)
Thuyết hành động hợp lý đề cập đến một tập hợp các hướng dẫn giúp hiểu được hành vi kinh tế và xã hội, được coi là thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội Mô hình lý thuyết TRA là nghiên cứu chỉ ra hành vi được thực
Trang 24hiện bởi ý định thực hiện hành vi đó Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được chỉ ra và kiểm tra thực nghiệm trong nhiều nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực
Hình 2 1 Thuyết hành động hợp lý TRA
(Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975)
Thái độ cá nhân và tiêu chuẩn chủ quan được tác giả nhận định là hai nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định Đặc biệt, niềm tin và sự đánh giá kết quả hành vi là thước đo thái độ cá nhân Đối với các tiêu chuẩn chủ quan, Ajzen định nghĩa các chuẩn chủ quan là "nhận thức được các áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi"
Trong mô hình TRA, niềm tin của khách hàng cá nhân về một sản phẩm hoặc thương hiệu sẽ tác động đến thái độ định hướng hành vi dẫn đến ảnh hưởng đến xu hướng mua, mặc dù sẽ không trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi mua hàng Vì xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng
2.3.2 Thuyết hành vi dự định (TPB)
Tác giả Ajzen của mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA, sau một thời gian nghiên cứu, ông đã mở rộng và phát triển mô hình lý thuyết hành vi dự định Đây được coi là một cải tiến của lý thuyết hành động hợp lý TRA, tối ưu hơn cho TRA trong việc dự đoán giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng bối cảnh nội dung nghiên cứu Với lý thuyết này, tác giả mở rộng thêm rằng ý định của một cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi một nhân tố khác đó là sự thay đổi nhận thức về kiểm soát hành vi (Perceive Behavioral Control)
Trang 25Hình 2 2 Thuyết hành vi dự định TPB
(Nguồn: Ajzen, 1991)
Ưu điểm chính của TPB là nhận thức rõ hơn về việc rất có thể ý định của một người sẽ hoàn toàn khác biệt với hành vi được lên kế hoạch và thực hiện có chủ ý Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định bao gồm các nhân tố thái độ (Thái độ hướng tới hành vi - ATB), chuẩn mực chủ quan (Danh từ chủ quan - SN) và Kiểm soát hành
vi nhận thức (PBC)
2.3.3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM
Mô hình chấp nhận công nghệ do Davis (1989) phát triển được biết đến như một trong những thuyết nổi tiếng và có sức ảnh hưởng nhất liên quan đến việc ch ấp nhận công nghệ thông tin và hệ thống thông tin và hành vi chấp nhận Mô hình TAM được thiết kế để tìm ra lý do vì sao người dùng chấp nhận và sử dụng công nghệ, và các nhân tố nào tác động đến những quá trình này Mô hình TAM sử dụng hai khái niệm tác động của sự hữu ích và nhận thức việc dễ sử dụng
Nhận thức sự hữu ích được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng khi
sử dụng một hệ thống đặc biệt sẽ giúp cải thiện năng suất làm việc của họ
Nhận thức dễ sử dụng là mức độ mà người dùng tin rằng khi sử dụng một hệ thống nhất định nào đó sẽ khiến họ không mất nhiều công sức Việc sử dụng mạng
do ý định quyết định, tuy nhiên sẽ ảnh hưởng bởi tác động của việc dễ sử dụng và cảm nhận sự hữu ích của hệ thống đến thái độ sử dụng
Trang 26Hình 2 3 Mô hình TAM – Mô hình chấp nhận công nghệ
(Nguồn: Davis, 1989)
Hình 2.3 cho thấy mô hình TAM nguyên bản, trong đó đề xuất rằng thái độ (tích cực) và sự hữu ích có khả năng ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống Đặc biệt, mối tương quan giữa ý định và sự hữu ích ngầm cho thấy người dùng tin tưởng rằng năng suất làm việc của họ được cải thiện, bất chấp những cảm xúc tích cực hay tiêu cực
2.3.4 Mô hình chấp nhận công nghệ hợp nhất UTAUT
Mô hình thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) là mô hình kết hợp của 8 mô hình trước đó dựa trên quan điểm chung nhất là nghiên cứu
sự chấp nhận của người sử dụng về một hệ thống thông tin Giống như những mô hình chấp nhận khác, mục tiêu cuối cùng là các tác động ảnh hưởng ý định người dùng khi sử dụng hệ thống công nghệ và xa hơn nữa là hành vi chấp nhận Mô hình UTAUT cũng cố giải thích lý do vì sao các khác biệt về cá thể lại ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ Cụ thể, mối tương quan giữa nhận thức sự hữu ích, nhận thức dễ sử dụng, và hành vi chấp nhận có thể được điều chỉnh thông qua tuổi tác, giới tính và kinh nghiệm
Mô hình UTAUT có bốn nhân tố dùng để dự đoán ý định hành vi hay hành vi chấp nhận: mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ giúp họ có thể đạt được lợi nhuận trong hiệu suất công việc (Performance Expectancy), mức độ dễ dàng kết hợp với việc sử dụng các hệ thống (Effort Expectancy), mức độ mà một cá
Trang 27nhân cho rằng những người khác tin rằng họ nên sử dụng hệ thống mới (Social Influence ) và mức độ mà một cá nhân tin rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và được tổ chức tồn tại để hỗ trợ sử dụng hệ thống (Facilitating Conditions )
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY
2.4.1 Nghiên cứu của Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005)
Tác giả sử dụng việc khai thuế thu nhập cá nhân ở Đài Loan như một ví dụ cho dịch vụ của chính phủ điện tử, nghiên cứu sử dụng đến hai lý thuyết quan tr ọng
là TAM, TPB và thảo luận các nhân tố tác động đến ý định của NNT để chấp nhận công cụ khai thuế dựa trên dữ liệu của các cuộc điều tra Mô hình được sử dụng ở đây là mô hình kết hợp TAM và TPB có thêm nhân tố cảm nhận rủi ro (PR)
Kết quả cho thấy nhân tố cảm nhận sự hữu ích và tính dễ sử dụng tác động nhiều nhất đến ý định của NNT; nhân tố chuẩn chủ quan có một tác động không đáng kể, nghiên cứu cho thấy sự tự tin trong quan điểm của NNT hơn là những tác động của những người xung quanh Các nhân tố nguồn lực và công nghệ không có tác động nhiều đến ý định và mặc dù NNT điện tử có rủi ro nhận thức cao nhưng đó cũng không phải là nhân tố tác động mạnh
Hình 2 4 Mô hình nghiên cứu của Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005)
Trang 28(Nguồn: Jen-Ruei Fu và cộng sự, 2005)
2.4.2 Nghiên cứu của Suhani Anuar và Radiah Othman (2009)
Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên mô hình TAM với 2 nhân tố chính quyết định đến ý định NTĐT của NNT là nhận thức sự hữu ích và nhận thức tính d ễ
sử dụng, tác giả thêm vào cấu trúc của mô hình 4 nhân tố khác có sự ảnh hưởng đ ến
sự chấp nhận công nghệ trong các nghiên cứu trước đó, đó là: chuẩn chủ quan, sự tự chủ, cảm nhận sự tín nhiệm và số lượng thông tin
Kết quả hồi quy cho thấy sáu nhân tố giải thích 52,4% của phương sai trong ý định sử dụng Trong số những nhân tố này, chỉ có nhân tố cảm nhận tính hữu dụng, chuẩn chủ quan và sự tự chủ được tìm thấy là nhân tố dự báo quan trọng ý định của NNT Nhận thức tính dễ sử dụng, sự tín nhiệm và số lượng thông tin không có ảnh hưởng đáng kể về ý định sử dụng hệ thống
Hình 2 5 Mô hình nghiên cứu của Suhani Anuar và Radiah Othman (2009)
(Nguồn: Suhani Anuar và Radiah Othman, 2009)
2.4.3 Nghiên cứu của Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012)
Để xác định nhân tố tác động đến sự chấp nhận hệ thống chính phủ điện tử (G2C) tại Vương quốc Ả Rập, Tác giả đã sử dụng mô hình UTAUT Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố mong đợi về thành tích và mong đợi về về sự nỗ lực có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng hệ thống của người dân, nhân tố chuẩn chủ quan không có ảnh hưởng nhiều đến sự chấp nhận hệ thống
Trang 29Nghiên cứu cũng khẳng định sự thành công của dịch vụ chính phủ điện tử phụ thuộc vào nhân tố niềm tin (bao gồm niềm tin vào chính phủ và niềm tin vào h ệ thống) Nhân tố chất lượng website cũng có ảnh hưởng tích cực đến ý định của người dân đối với hệ thống
Hình 2 6 Mô hình nghiên cứu của Mohammed (2012)
(Nguồn: MohammedAbdulrahaman Alshehri, 2012)
2.5 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.5.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.5.1.1 Cảm nhận sự hữu ích
Sự hữu ích cảm nhận là mức độ để một người tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù sẽ nâng cao thực hiện công việc của chính họ (Davis, 1989) Theo đó trong nghiên cứu này, sự hữu ích cảm nhận thể hiện ở chỗ NNT cảm nhận được họ sẽ nhận được nhiều lợi ích trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế thông qua việc sử dụng
hệ thống KK - NTĐT
Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012) đã sử dụng các tiêu chí để đánh giá cảm nhận sự hữu ích của NNT, đó là nhanh chóng và hiệu quả; tăng sự công bằng giữa các công dân; tiết kiệm thời gian; tăng chất lượng của dịch vụ Thomas F Stafford và Aykut Hamit Turan (2011) đã đưa ra nhân tố quan trọng trong việc đánh
Trang 30giá cảm nhận sự hữu ích chính là tiết kiệm thời gian và chi phí Có thể hiểu rằng một khi NNT nhận thấy họ nhận được lợi ích từ việc KK - NTĐT thì họ sẽ có ý định sử dụng hệ thống KK - NTĐT Tác giả đặt tên cho nhân tố ảnh hưởng đầu tiên của mô hình nghiên cứu là “cảm nhận sự hữu ích ” Dựa trên các cơ sở lý luận nêu
trên, tác giả đề xuất giả thuyết H1 như sau: Cảm nhận sự hữu ích có ảnh hưởng tích
cực đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu
2.5.1.2 Cảm nhận tính dễ sử dụng
Sự dễ sử dụng cảm nhận là mức độ mà một người tin rằng có thể sử dụng hệ thống đặc thù mà không cần sự nỗ lực (Davis, 1989), nhân tố này cũng tương tự với nhân tố Mong đợi về thành tích (EE) trong mô hình UTAUT, và cũng tương tự với nhân tố sự tự chủ (SE) trong mô hình TPB Theo đó, nhân tố này được hiểu là sự tự tin của NNT khi họ cảm nhận rằng họ có thể dễ dàng sử dụng hệ thống KK - NTĐT, nếu nhận thấy hệ thống quá phức tạp hoặc quá khó để sử dụng thì NNT sẽ
có lựa chọn khác để nộp và khai thuế
Jen-Ruei Fu, Cheng-Kiang Farn và Wen-Pin Chao (2005) đã sử dụng các biến quan sát đo lường khái niệm cảm nhận tính dễ sử dụng bao gồm: Học cách sử dụng
hệ thống nộp thuế điện tử dễ dàng đối với tôi; Tôi thấy hệ thống nộp thuế điện tử dễ
sử dụng; Thật dễ dàng đối với tôi trong việc nhập và sửa đổi dữ liệu với hệ thống nộp thuế điện tử; Hướng dẫn sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử thì dễ dàng để làm theo; Sử dụng hệ thống giúp việc khai và nộp thuế của tôi trở nên dễ hiểu và rõ ràng
Qua các nghiên cứu có thể thấy sự cảm nhận tính dễ sử dụng có tác động tích cực đến NNT Tác giả đặt tên cho nhân tố thứ hai của mô hình nghiên cứu là “Cảm
nhận tính dễ sử dụng” và đề xuất giả thuyết H2 như sau: Cảm nhận tính dễ sử dụng
có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu
2.5.1.3 Chuẩn chủ quan
Trong mô hình TRA, mức đo nhân tố chuẩn chủ quan có thể thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (bao gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, ),
Trang 31mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng; Trong mô hình UTAUT, nhân tố ảnh hưởng của xã hội hay chuẩn chủ quan là mức độ người dùng cho rằng người quan trọng với họ mong muốn họ sử dụng công nghệ mới Ảnh hưởng xã hội được xem là nhân tố quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến ý định
sử dụng Đó chính là những suy nghĩ của những người xung quanh tác động đến ý định có nên KK - NTĐT của NNT
Các nghiên cứu đã nêu phía trên cũng đề cập đến tính quan trọng của nhân tố chuẩn chủ quan
Từ đó, giả thuyết H3 được tác giả đề xuất như sau: Chuẩn chủ quan có ảnh
hưởng tích cực đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu
2.5.1.4 Cảm nhận rủi ro
Khi mọi người tham gia vào các giao dịch trực tuyến, những lo ngại về rủi ro
có thể được nhìn thấy ở nhiều người sử dụng (Hoffman et al., 1999), không ít trong
số đó sẽ là kế toán giao dịch với khách hàng các thông tin nhạy cảm về tài chính và thuế Khái niệm về rủi ro cảm nhận được định nghĩa là NNT cảm nhận sự không chắc chắn và mong đợi kết quả phát sinh từ việc sử dụng hệ thống (Fu et al., 2006) Những nhận thức về nguy cơ có thể ảnh hưởng đến thái độ đối với sử dụng hệ thống
KK - NTĐT, quá trình áp dụng hệ thống, đến mức là mối quan tâm cao cho an ninh
hệ thống chính phủ điện tử
Trong nghiên cứu của tác giả Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005) sử dụng các biến quan sát đo lường khái niệm cảm nhận rủi ro, đó là các e ngại về bảo mật thông tin
Từ đó, giả thuyết H4 được đề xuất như sau: Cảm nhận rủi ro có ảnh hưởng
tiêu cực đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu
2.5.1.5 Các điều kiện hỗ trợ
- Điều kiện hỗ trợ về nguồn lực
Sự sẵn có của các nguồn lực bên ngoài ví dụ: thời gian, tiền bạc, kiến thức, công sức cần thiết để tạo điều kiện cho việc thực hiện một cụ thể hành vi, nhân tố
Trang 32này được đề cập trong các bài nghiên cứu gọi là “nhân tố điều kiện hỗ trợ nguồn lực” (Fu et al, 2006; Guo và Barnes, 2007)
- Điều kiện hỗ trợ về công nghệ, thông tin:
Sự sẵn có của thiết bị công nghệ, kết nối băng thông rộng, và các ứng dụng cá nhân Đó là điều kiện hỗ trợ công nghệ TFC (Fu et al., 2006) Vì vậy, các tác động bên ngoài tạo điều kiện, và nhận thức về nguồn thông tin cho một cá nhân để thực hiện một hành vi dự định là một tiền đề quan trọng của vai trò hành vi của con người (Tân và Teo, 2000; Teo và Pok, 2003; Shih và Fang, 2004)
Theo đó có thể hiểu điều kiện hỗ trợ về nguồn lực nói chung chính là các đi ều kiện về thời gian, tiền bạc, công sức, kiến thức, hỗ trợ máy tính, mạng internet cần thiết cho hoạt động KK - NTĐT đảm bảo hoạt động được diễn ra thông suốt
Trong nghiên cứu “Sự chấp nhận hệ thống thương mại điện tử trong thị trường tài chính Hồng Kông” của tác giả Adela Lau and Jerome Yen và Patrick Y K Chau (2001) có đề cập đến các biến quan sát đối với nhân tố điều kiện hỗ trợ về nguồn lực RFC bao gồm: tiền bạc thời gian và công sức Trong nghiên cứu “Nhân tố quyết định của hệ thống NTĐT ở Malaysia” của Suhani Anuar và Radiah Othman (2009)
có nhắc đến lợi ích của số lượng thông tin mà hệ thống mang lại sẽ ảnh hưởng đến ý định của NNT
Trong nghiên cứu “Sự chấp nhận của khai thuế điện tử, một nghiên cứu về ý định của NNT” của tác giả Jen-Ruei Fu và cộng sự năm 2005 đã sử dụng các biến quan sát đo lường khái niệm điều kiện hỗ trợ công nghệ nhằm diễn tả sự ảnh hưởng của nhân tố này đến ý định của NNT
Bên cạnh đó, nhân tố website cũng được nhắc đến vì đó chính là giao diện giữa NNT và cơ quan quản lý, do đó nghiên cứu tác giả Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012) có các biến quan sát về chất lượng website của chính phủ, đó là: an toàn, thu hút, hỗ trợ 24/7 và có tính cập nhật
Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết H5 như sau: Các điều kiện hỗ trợ có ảnh
hưởng tích cực đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu
Trang 33Hình 2 7 Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
2.5.2 Thang đo
Thang đo được hình thành từ việc tổng hợp và kế thừa thang đo trong nghiên cứu trước đó của nhiều tác giả như được đề cập trong bảng 2.1
Như vậy, có tổng cộng 21 biến quan sát, trong đó:
- Cảm nhận sự hữu ích có 03 biến quan sát
- Cảm nhận tính dễ sử dụng có 04 biến quan sát
- Chuẩn chủ quan có 04 biến quan sát
- Cảm nhận rủi ro có 03 biến quan sát
- Các điều kiện hỗ trợ có 04 biến quan sát
- Sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT có 03 biến quan sát
Trang 34Bảng 2 1 Thang đo đề xuất
1
Sử dụng hệ thống NTĐT giúp tôi thực hiện các nhu cầu về nghĩa vụ thuế một cách nhanh chóng và hiệu quả
2 Sử dụng hệ thống NTĐT sẽ giúp tiết kiệm thời gian
3 Sử dụng hệ thống NTĐT giúp tăng tính công bằng
giữa những người nộp thuế
4 Học cách sử dụng hệ thống NTĐT là dễ dàng đối với
tôi
Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005); Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012)
5 Tôi nghĩ hệ thống NTĐT dễ sử dụng
6 Thật dễ dàng đối với tôi trong việc nhập và sửa đổi
dữ liệu với hệ thống NTĐT Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005)
9 Những người quan trọng với tôi nghĩ rằng tôi nên sử
dụng hệ thống NTĐT
10 Tôi sẽ sử dụng hệ thống nếu bạn bè và đồng nghiệp
cũng sử dụng dịch vụ
11 Chính phủ cũng khuyến khích tôi sử dụng dịch vụ
nộp và khai thuế điện tử
12 Sử dụng NTĐT có thể gặp vấn đề thông tin cá nhân
bị mất cắp
13 Tôi cảm thấy tâm lý không được thoải mái khi sửdụng hệ thống NTĐT
14 Tôi không nghĩ hệ thống NTĐT là an toàn bởi vìchính sách bảo mật của nó
15 Tôi có đủ kiến thức cần thiết để sử dụng hệ thống kê
khai và nộp thuế điện tử
Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012)
16 Rất dễ dàng để có sự trợ giúp khi tôi có vấn đề với
mạng và máy tính tại nhà
Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005); Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012)
17 Rất dễ dàng để có được sự trợ giúp khi tôi có vấn đề
với mạng và máy tính trong cơ quan
18 Tôi nghĩ sẽ không thể có đủ máy tính, mạng internet
để có thể thực hiện KK - NTĐT
19 Tôi sẽ sử dụng hệ thống KK - NTĐT cho năm tới
20 Trong các lựa chọn về kê khai và nộp thuế thì
phương pháp KK - NTĐT là lựa chọn ưu tiên của tôi
21 Tôi sẽ giới thiệu cho người thân và bạn bè về hệ
Cảm nhận tính
dễ sử dụng
Chuẩn chủ quan
Mohammed Abdulrahaman Alshehri (2012)
Cảm nhận rủi ro Jen-Ruei Fu và cộng sự (2005)
Trang 35(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Tóm tắt chương 2
Với mục đích đặt cơ sở khoa học cho việc nhận diện mô hình và đánh giá th ực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu, chương 2 tác giả đã trình bày các lý thuyết về
KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS và các lý thuyết, các nghiên cứu trước có liên quan Kết quả nghiên cứu Chương 2 đã chỉ ra:
- Đặc điểm và quy trình KK - NTĐT
- Cá nhân cho thuê TS và chính sách thuế liên quan
- Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK
- NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu với 5 nhân tố, gồm: (1) Cảm nhận sự hữu ích; (2) Cảm nhận tính dễ sử dụng; (3) Chuẩn chủ quan; (4) Cảm nhận rủi ro; (5) Các điều kiện hỗ trợ
Đây sẽ là cơ sở để tác giả tiến hành thiết kế nghiên cứu trong chương 3 của Luận văn
Trang 36CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại khu vực thành phố Vũng Tàu được thể hiện như sau
Hình 3 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Xuất phát từ cơ sở lý luận về KK - NTĐT, cá nhân cho thuê TS và chính sách thuế liên quan, các lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan được trình bày
Trang 37trong Chương 2, trên các cơ sở của điều kiện nghiên cứu, luận văn sẽ kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng
Phương pháp thảo luận nhóm với 05 người là cán bộ quản lý thuế tại khu vực Thành phố Vũng Tàu thuộc Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo, ghi nhận ý kiến và điều chỉnh mô hình nghiên cứu đã đề xuất Kết quả của nghiên cứu này sẽ cho ra được bộ thang đo cùng các biến quan sát để đưa vào bảng hỏi chính thức về các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu Từ đó thực hiện cuộc điều tra khảo sát, lựa chọn kích thước mẫu phù hợp là 130 người là các cá nhân cho thuê TS thực hiện kê khai, nộp thuế tại khu vực thành phố Vũng Tàu
Thông qua giá trị và độ tin cậy của thang đo, nghiên cứu định lượng hướng đến nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của
cá nhân có doanh thu từ việc cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu Số liệu thu thập
từ khảo sát, được tính toán bằng phần mềm SPSS 22, tổng hợp và phân tích các dữ liệu kết quả nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình đề xuất đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS Qua đó tác giả có cơ sở đề xuất các hàm ý trọng tâm nhằm khuyến khích các cá nhân cho thuê
TS khu vực thành phố Vũng Tàu KK - NTĐT
3.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính
Để củng cố, bổ sung và khẳng định các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu, đề xuất thực hiện cuộc thảo luận nhóm với chuyên gia đồng thời phát triển thang đo những nhân tố này và thang đo Sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT
Tổng thể mẫu: Toàn bộ đội ngũ công chức quản lý thuế tại khu vực Thành phố Vũng Tàu thuộc Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo
Tác giả lựa chọn phương pháp Thuận tiện phi xác suất để thực hiện chọn mẫu, tiến hành sắp xếp lịch hẹn với các chuyên gia được mời thảo luận nhóm và mẫu nghiên cứu sẽ được chọn ngẫu nhiên sao cho đủ số lượng theo kích thước mẫu lựa chọn là 5 người
Trang 38Địa điểm: Thành phố Vũng Tàu - Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo Thời gian thực hiện: 15h00 ngày 01/11/2021
Thời lượng: Thời gian kéo dài 50 phút
Ban đầu, tác giả cùng các chuyên gia trao đổi thông qua một số câu hỏi mở để thu thập các ý kiến chủ quan và khách quan, xem họ đánh giá và đưa ra các nhân tố tác động đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê TS tại thành phố Vũng Tàu có sự khác biệt với nghiên cứu Sau đó, tác giả giới thiệu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ KK - NTĐT của cá nhân cho thuê
TS tại thành phố Vũng Tàu được đề xuất (xem lại Chương 2) để các chuyên gia thảo luận và nêu ý kiến riêng (tham khảo Phụ lục 3.1 – Dàn bài thảo luận nhóm)
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính
Sau khi tham khảo từ ý kiến đánh giá của các chuyên gia về nội dung, cách thức trình bày cùng cách sắp xếp thứ tự của bảng hỏi, tác giả lên bảng tổng hợp các
ý kiến bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện phiếu điều tra với bố cục hợp lý nhất Cụ thể:
(1) Đối với nhân tố Cảm nhận sự hữu ích
Thang đo “Sử dụng hệ thống NTĐT sẽ giúp tiết kiệm chi phí” cần được bổ sung bởi đây là một ưu điểm mang tính đột phá của Chính phủ điện tử nói chung và của chính sách thuế điện tử nói riêng Bên cạnh việc NTĐT sẽ giúp tăng tính công bằng giữa những NNT, giúp thực hiện các nhu cầu về nghĩa vụ thuế một cách nhanh chóng và hiệu quả, nó còn giúp chúng ta tiết kiệm được thời gian và các chi phí liên quan như chi phí đi lại, chi phí bàn giấy,…
(2) Đối với nhân tố Cảm nhận tính dễ sử dụng
- Nên bỏ thang đo “Học cách sử dụng hệ thống NTĐT là dễ dàng đối với tôi” bởi có sự trùng lặp ý đối với thang đo “Hướng dẫn sử dụng hệ thống NTĐT thì dễ dàng để làm theo” và đều diễn đạt ý hỏi về cách thao tác trên hệ thống NTĐT có
dễ hay không? Do đó, nên đơn giản hóa và rút gọn thang đo
- Nên bổ sung thêm thang đo “Sử dụng hệ thống giúp việc khai và nộp thuế của tôi trở nên dễ hiểu và rõ ràng” bởi mục tiêu cần đạt được của Chính phủ điện tử nói chung và của chính sách thuế điện tử nói riêng đó là đơn giản hóa thủ tục hành
Trang 39chính song với thói quen “văn hóa giấy, bút”, chúng ta cần có sự tìm hiểu xem người sử dụng có thấy rõ ràng và dễ hiểu không, vì nếu họ thấy khó hiểu hơn thì khả năng chấp nhận sẽ là thấp
(3) Đối với nhân tố Chuẩn chủ quan
Nên bỏ thang đo “Những người quan trọng với tôi nghĩ rằng tôi nên sử dụng
hệ thống NTĐT” bởi có sự trùng lặp ý đối với thang đo “Những người ảnh hưởng đến hành vi của tôi sẽ nghĩ rằng tôi nên sử dụng hệ thống NTĐT” bởi rõ ràng
“Những người quan trọng” nằm trong số “Những người ảnh hưởng đến hành vi” của một cá nhân, do đó, nên đơn giản hóa và rút gọn thang đo
(4) Đối với nhân tố Các điều kiện hỗ trợ
Nên bỏ cụm từ “không thể” trong thang đo “Tôi nghĩ sẽ không thể có đủ máy tính, mạng internet để có thể thực hiện KK - NTĐT” bởi nên diễn đạt thuận chiều giống các thang đo khác, là đang đi theo hướng đồng tình, chấp nhận nhằm đảm bảo thống nhất ý hỏi, tránh làm rối suy nghĩ của người được hỏi
Bảng 3 1 Thang đo được điều chỉnh sau thảo luận nhóm chuyên gia
Trang 40TT Biến Biến quan sát Mã hóa
1
Sử dụng hệ thống NTĐT giúp tôi thực hiện các nhu cầu về nghĩa vụ thuế một cách nhanh chóng và hiệu quả
SHU1
9
Chuẩn chủ quan
Những người ảnh hưởng đến hành vi của tôi
Cảm nhận sự hữu ích
Cảm nhận tính dễ
sử dụng