1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

49 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 695,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (5)
  • 2. Nhiệm vụ của đề tài (6)
  • Chương 1 (0)
    • 1.1. Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (7)
      • 1.1.1. Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 (7)
      • 1.1.2. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam (11)
    • 1.2. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên (13)
      • 1.2.1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (13)
      • 1.2.2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên (14)
  • Chương 2 (0)
    • 2.1. Luận cương chính trị (19)
      • 2.1.1. Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị (19)
      • 2.1.2. Nội dung của Luận cương chính trị (20)
    • 2.2. Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945 (22)
      • 2.2.1. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 (22)
      • 2.2.2. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940 (26)
      • 2.2.3 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 05/1941 (28)
  • Chương 3 (0)
    • 3.1. Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (34)
      • 3.1.1. Bối cảnh lịch sử (34)
      • 3.1.2. Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (36)
    • 3.2. Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân (40)
      • 3.2.1. Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh (40)
      • 3.2.2. Giá trị thực tiễn (44)

Nội dung

Để làm rõ hơn về quá trình Đảng hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân từ đó khẳng định con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



BÀI TẬP LỚN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ TÀI QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

LỚP L07 - NHÓM 15 - HK 213

Giảng viên hướng dẫn: TS ĐÀO THỊ BÍCH HỒNG

Trang 2

BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 15

Trang 3

Mục Lục

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Nhiệm vụ của đề tài: 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Chương 1 7

1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 7

1.1.1 Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930: 7

1.1.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam 11

1.2 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 13

1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 13

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên 14

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 18

Chương 2 19

2.1 Luận cương chính trị 19

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị 19

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị 20

2.2 Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945 22

2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 22

2.2.2 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940 26

2.2.3 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 05/1941 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 32

Chương 3 34

3.1 Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 34

3.1.1 Bối cảnh lịch sử 34

3.1.2 Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 36

3.2 Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân 40

3.2.1 Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh 40

3.2.2 Giá trị thực tiễn 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 46

PHẦN KẾT LUẬN 47

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 5

QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất khiến cho xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện, trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt Sự thất bại của những khuynh hướng chính trị phong kiến và

tư sản trong phong trào dân tộc Việt Nam do chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam, càng khẳng định thêm con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến và tư sản là không thành công, độc lập dân tộc không gắn liền với chủ nghĩa phong kiến hoặc chủ nghĩa tư bản Việc tìm một con đường cứu nước mới, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc

và thời đại là nhu cầu cấp thiết của dân tộc ta lúc bấy giờ Trong quá trình tìm đường cứu nước, sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin thì Hồ Chí Minh đã tìm thấy cơ sở lý luận chắc chắn cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc: đó chính là con đường cách mạng vô sản Hồ Chí Minh đã thấy rõ các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam, hoàn toàn có đủ khả năng và đủ điều kiện để phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa Và Người đã quyết định lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa

Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam thì sự ra đời và lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã quyết định đến thành công trong cách mạng Việt Nam

Đó là bài học lớn cho cách mạng Việt Nam Đưa cách mạng Việt Nam sang một bước ngoặt lịch sử vĩ đại: cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăn khít của cách mạng

Trang 6

vô sản thế giới Và sự ra đời của Đảng cũng đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước Để hình thành đường lối lãnh đạo đúng đắn, Đảng Cộng sản đã trải qua một quá trình nhận thức thực tiễn và vận dụng, phát triển lý luận cách mạng Đó là một quá trình đấu tranh nội bộ, có lúc rất gay gắt, xung quanh hai quan điểm về chiến lược đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, đi tới khẳng định đường lối chiến lược giải phóng dân tộc và định hướng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam

Để làm rõ hơn về quá trình Đảng hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân từ đó khẳng định con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, đó là con đường dẫn tới thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫn tới dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhóm lựa chọn đề tài: “Quá trình hoàn

chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân từ Cương lĩnh chính trị đầu

tiên đến Chính cương Đảng lao động Việt Nam” làm bài tập lớn để kết thúc môn học

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Nhiệm vụ của đề tài:

Một là, làm rõ được đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai

thác thuộc địa của thực dân Pháp và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng;

Hai là, phân tích được nội dung của Luận cương chính trị với những ưu điểm và hạn

chế và quá trình khắc phục hạn chế về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng;

Ba là, làm rõ nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và sự hoàn chỉnh

đường lối cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng

Bốn là, làm rõ giá trị của việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ

Nhân dân đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ,

KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

1.1.1 Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

và các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930:

Một là, bối cảnh thế giới nữa sau thế kỷ XIX

Các nước tư bản Âu – Mỹ có những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế -

xã hội Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch của các nước

đế quốc Trước bối cảnh đó, nhân dân các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở châu Á Cùng với phong trào đấu tranh giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ phận quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa tư bản, thực dân Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển rộng khắp, tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”; Chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành hiện thực; Quốc tế Cộng sản được thành lập tháng 3 năm 1919 và năm 1920 tại Đại hội II của Quốc

Trang 8

tế Cộng Sản, Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố Điều này ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam

Hai là, Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuốc địa của thực dân

Pháp

Là quốc gia Đông Nam A nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược của thực dân Pháp, Triều đình nhà Nguyễn từng bước thoả hiệp (Hiệp ước 1862, 1874, 1883) và đến ngày 6/6/1884 với Hiệp ước Patonốt đã đầu hàng hoàn toàn, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”.1

Sau khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục, phong trào đấu tranh diễn ra liên tục Thực dân phải dùng vũ lực để bình định (1885-1896), xây dựng chính quyền thuộc địa bên canh duy trì chính quyền phong kiến tay sai, thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc

Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) Mưu đồ nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hoá “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động, cùng nhiều hình thức thuế khoá nặng nề Về văn hoá- xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân”, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hoá, duy trì các tệ nạn xã hội, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, …

Từ đây đã tạo ra sự biến đổi về kinh tế gồm có sự du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; quan hệ kinh tế phong kiến lạc hậu vẫn được duy trì; kinh tế chủ yếu vẫn

là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc Dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm nặng nề, tiến triển chậm chạp, què quặt, lệ thuộc vào kinh tế Pháp Bên cạnh đó là sự biến đổi về xã hội: dưới chế

1 Hồ Chí Minh(2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 401

Trang 9

độ phong kiến, địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong xã hội, khi trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hoá Một bộ phận địa chủ làm tay sai cho Pháp nhưng vẫn có một bộ phận địa chủ có tinh thần dân tộc đứng lên chống Pháp Giai cấp nông dân (khoảng hơn 90% dân số) thảm hơn xưa, bị mất đất, nông dân ngày càng bần cùng hoá, càng nhiều người mất ruộng đất nên phải ly hương về đô thị Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc địa, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền… Công nhân ra đời từ một bộ phận người dân mất đất, ra đời ở cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I và gia tăng đáng kể ở khai thác lần II Giai cấp tư sản, tiểu tư sản xuất hiện muộn sau chiến tranh thế giới thứ I, tầng lớp tư sản mại bản làm tay sai cho Pháp, còn giai cấp tư sản dân tộc bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc yếu ớt về kinh tế Trừ tư sản mại bản và đại địa chủ tất cả giai cấp đều mâu thuẩn với thực dân Pháp

Với việc hình thành những giai cấp, tầng lớp mới với thái độ chính trị khác nhau, những mâu thuân mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất

và ngày càng gay gắt

Ba là, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930, Ngay từ khi Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước

chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục, rộng khắp Đến năm

1884, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã cùng với nhân dân tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp như phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1885-1896) Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương là các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) … nhưng do ngọn cờ phong kiến lúc đó không còn là ngọn

cờ tiêu biểu để tập hợp một cách rộng rãi toàn thể các tầng lớp nhân dân nên đã thất bại Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại (1896) là dấu mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến đối với phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam Phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kiên cường chống Pháp gần 30 năm vì mang nặng cốt cách phong kiến, nên không

Trang 10

có không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất, do vậy cũng bị thực dân Pháp đàn

áp

Với việc thất bại của các phong trào này đã cho thấy, khuynh hướng theo phong kiến đã lỗi thời và không phù hợp, không còn lấy được niềm tin của toàn thể quần chúng nhân dân Việc thất bại và từ bỏ khuynh phong kiến là tất yếu

Bốn là, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị tư sản từ cuối thế

kỷ XIX đến đầu năm 1930, những năm đầu thế kỷ XX, hệ tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng

vào Việt Nam, các trí thức phong kiến tiếp thu hệ tư tưởng tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh Phan Bội Châu dựa vào Nhật để chống Pháp Còn Phan Châu Trinh lại dựa vào chính Pháp, cho rằng Pháp rời đi sau khi Việt Nam phát triển tư sản Cả hai đều không thành công do không hiểu được bản chất của đế quốc và thực dân, do đứng trên hệ tư tưởng tư sản, các ông không thấy được vai trò công nhân, nông dân, nên thiếu khả năng tập hợp lực lượng dẫn đến không thành công

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ I, tiểu tư sản ra đời, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần thứ hai, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp càng trở nên gay gắt, các phong trào theo khuynh hướng chính trị tư sản nổ ra gồm phong trào quốc gia cải lương tư sản (1919-1923), phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925-1926), phong trào cách mạng quốc gia tư sản (1927-1930) nhưng rồi cũng thất bại

Nguyên nhân thất bại của các phong trào đó là do thiếu chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội, chưa có một tổ chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc, chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù Tuy thất bại nhưng các phong trào yêu nước

đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại Điều này tạo ra nhiệm vụ lịch sử cấp thiết cho thế hệ đương

Trang 11

thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn

để giải phóng dân tộc

1.1.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt

ra đối với cách mạng Việt Nam

Một là, quá trình lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc

Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, với nhiệt

huyết cứu nước, với nhãn quan chính trị sắc bén, vượt lên trên hạn chế của các bậc yêu nước đương thời, năm 1911, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước Từ năm 1911 tới 1916, Người nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn.Qua trải nghiệm thực

tế nhiều nước, Người đã nhận thức được một cách rạch ròi: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”1, từ

đó xác định rõ kẻ thù và lực lượng đồng minh của nhân dân các dân tộc bị áp bức

Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái về quyền con người của cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789),… ; bên cạnh đó nhận ra hạn chế của các cuộc cách mạng này “chưa đến nơi” vì quần chúng nhân dân vẫn đói khổ Năm 1917, ông quan tâm tìm hiểu về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga nhận ra trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi Tháng 7/1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc

và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo), số ra ngày 16

và 17/7/1920 Từ đây Người tìm thấy trong Luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam

Hai là, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tích cực các điều kiện về chính trị tư tưởng cho

việc thành lập Đảng

Về tư tưởng, từ giữa năm 1921, Người cùng một số nhà cách mạng của các nước

thuộc địa khác tham gia thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Người

cùng khổ Năm 1922, vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong

phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Người đã tích cực tố cáo, lên án bản chất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân, kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu

1 Hồ Chí Minh(2011) ,Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 287

Trang 12

tranh giải phóng Người tiến hành tuyên truyền tư tưởng về con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác- Lênin

Về chính trị, Người khẳng định: con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức

là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng

vô sản ở “ chính quốc” mà có thể thành công trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần tích cực thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc” Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở chính quốc, nhưng phải chủ động và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

Về lực lượng cách mạng, Người chỉ rõ nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị

đế quốc, phong kiến áp bức vì v.ậy phải xây dựng khối liên minh công – nông làm động lực cách mạng: “công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ…

của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người”2 Về lãnh đạo cách mạng Người khẳng định lãnh đạo cách mạng là Đảng cộng sản Về phương pháp cách mạng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì vậy phải động viên, tổ chức và lãnh đạo đông đảo quần chúng… quần chúng một khi được giác ngộ, có tổ chức và lãnh đạo sẽ là lực lượng cách mạng vô địch

Về tổ chức, tháng 11-1924, Người đến Quàng Châu (Trung Quốc), nơi có

đông người Việt Nam yêu nước hoạt động, để xúc tiến công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản Tháng 2- 1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) nòng cốt là Cộng sản đoàn

Ba là, phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản phát triển như thế nào

1 Hồ Chí Minh(2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 288

2 Hồ Chí Minh(2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 283

Trang 13

Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách, phái người về nước vận động lựa chọn và đưa một số thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị Từ giữa năm 1925 đến tháng 4/1927, Hội đã tổ chức được trên 10 lớp huấn luyện Sau khi được đào tạo, các hội viên được cử về nước xây dựng và phát triển phong trào cách mạng theo khuynh hướng

Điều này khẳng định, khuynh hướng vô sản là con đường duy nhất đúng đắn, được ủng hộ bởi quần chúng nhân dân yêu nước, đặc biệt là với các phong trào công nhân diễn ra sôi nổi Đánh dấu xu hướng cách mạng vô sản

1.2 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn thích hợp và đủ sức lãnh đạo phong trào Với tình hình đó, ngày 17/6/1929, đại biểu của các tổ chức cộng sản ở Bắc kỳ họp tại số nhà 312, phố Khâm Thiên (Hà Nội) quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng

Trước ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản Đảng, tháng 11/1929, trên cơ sở các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tại Khánh Hội, Sài Gòn Tại Trung Kỳ, Tân Việt Cách mạng Đảng (là một tổ chức thanh nniên yêu nước) chịu tác động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – đã đi theo khuynh hướng cách mạng vô sản Tháng 9/1929 những người tiên tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng họp, ra tuyên khẳng định chính thức thành lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn

Trang 14

Sự ra đời 3 tổ chức cộng sản trong vòng nữa cuối năm 1929, chứng tỏ lý luận cách mạng của Người đã thấm sâu trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, làm cho phong trào cách mạng phát triển mạnh hơn Tuy nhiên, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọi Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều tự nhận là đảng cách mạng chân chính, không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước Điều này đặt ra nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, cần thống nhất thành một Đảng duy nhất

Trước nhu cầu cấp bách ấy, ngày 23/12/1929, Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông (Trung Quốc) triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng họp tại Cửu Long để tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam Thành phần tham gia hội nghị gồm 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản, 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng

Nội dung Hội Nghị Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra năm điểm lớn cần thảo luận và thống nhất:

“1 Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương;

2 Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;

3 Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng;

4 Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước;

5 Cử một Ban Trung ương lâm thời…”1

Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua các văn kiện quan trọng do Người soạn thảo: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 2

Trang 15

Trong các văn kiện do Người soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập

Đảng gồm có hai văn kiện là: Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng đã phản ánh về đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và

sách lược của cách mạng Việt Nam Hai văn kiện trên là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định:

Mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam: Từ thực trạng và mâu thuẫn trong xã

hội Việt Nam - xã hội thuộc địa nữa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc trong đó có công nhân, nông dân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết đã đi đến xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “chủ trương làm tư sản dân quyền c.m và thổ địa c.m để đi tới xã hội cộng sản”.1

Gồm 3 giai đoạn: giai đoạn một làm tư sản dân quyền cách mạng (cuộc cách mạng giải quyết dân quyền), sau đó là giai đoạn Thổ địa cách mạng chống phong kiến để tiến tới giai đoạn xã hội cộng sản

Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng xác định là: “Đánh đổ đế quốc chủ

đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu Điều này là đúng đắn vì ở Việt Nam mâu thuẩn giữa địa chủ

và nông dân không gay gắt, một bộ phận địa chủ còn có tinh thần yêu nước, và hầu hết các giai cấp đều căm thù đế quốc xâm lược

Về chính trị: đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn

toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông

Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ:

“a) Dân chúng được tự do tổ chức b) Nam nữ bình quyền, v.v

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016),Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 2

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 2

Trang 16

c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá.”1

Về Phương diện kinh tế:

“a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái;

b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v) của

tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý;

c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo;

d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; e) Thi hành luật ngày làm tám giờ.” 2

Những nhiệm vụ về phương diện xã hội và kinh tế nêu trên phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội cần giải quyết ở Việt Nam đồng thời xoá bỏ tận gốc ách thống trị, bóc lột hà khắc, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp đặc biệt là công nhân và nông dân

Về lực lượng cách mạng, phải đoàn kết công nhân, nông dân – là lực lượng cơ

bản, trong đó công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phân giai cấp mình … phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày, … hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản c.m thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho học đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v) thì phải đánh đỗ”3 Đây là cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước vì nó đánh giá đúng đắn thái độ của từng giai cấp phù hợp với tình hình đa giai cấp ở xã hội Việt Nam

Về lãnh đạo cách mạng, “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục

cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 2

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 3

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 4

Trang 17

chúng.” 1“Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng” 2

Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Cương lĩnh khẳng định phải bằng con dường bạo lực cách mạng của quần chúng, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được thoả hiệp, “trong khi liên lạc với các giai cấp, phải cẩn thận, không khi

Về quan hệ cách mạng, cương lĩnh chỉ rõ trong khi thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp Cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới: “trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước

An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và

vô sản giai cấp thế giới” 4Ngay từ khi thành lập, Đảng đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc các luận điểm

cơ bản của cách mạng Việt Nam; thể hiện bản lĩnh chính trị độc lậo, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nữa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm

vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 4

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 6

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 4

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016): Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, trang 4,5

Trang 18

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, Việt Nam đã hình thành nên nhiều giai cấp mới, nhiều mâu thuẩn tầng lớp mới, nhưng đặc biệt nhất là mâu thuẩn với đế quốc thực dân Dẫn đến nhiều phong trào yêu nước diễn ra từ khuynh hướng chính trị phong kiến hay tư sản nhưng do nhận thức chưa đúng đắn nên thất bại Những khuynh hướng này không phù hợp với tình hình Việt Nam nên đòi hỏi một con đường mới đúng đắn hơn

Với việc ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, đã thể hiện quá trình lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Người Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị tích cực các điều kiện về chính trị tư tưởng cho việc thành lập Đảng để từ đó phong trào yêu nước khuynh hướng vô sản với sự chuẩn bị và đường lối cách mạng đúng đắn phù hợp với tình hình Việt Nam

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lê Nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đã khẳng định

sự lựa chọn con đường để giải phóng dân tộc Việt Nam là con đường cách mạng vô sản, đây là con đường duy nhất đúng đắn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, trở thành nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Đảng ra đời cùng với Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách, phù hợp với xu thế thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam Đường lối đó là kết quả của sự vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và

có phát triển trong điều kiện lịch sử mới

Trang 19

Chương 2

LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945)

2.1 Luận cương chính trị

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị

Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua Hội nghị thành lập Đảng xác định nhiều nội dung quan trọng, phù hợp với đặc điển Việt Nam Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam Xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một cao trào cách mạng rộng lớn của quần chúng diễn ra ngày càng sôi nổi và đang trên đà phát triển mạnh

Tuy nhiên, những quan điểm đúng đắn của Cương lĩnh chính trị lại chưa được Quốc tế Cộng sản công nhận Yêu cầu khách quan đòi hỏi Đảng phải có một cương lĩnh đầy đủ, toàn diện hơn

Tháng 4/1930, đồng chí Trần Phú về nước sau quá trình học tập tại trường Quốc tế Phương Đông, được Quốc tế cộng sản cử về nước hoạt động và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được giao nhiệm vụ soạn thảo “Luận cương chính trị” Đồng chí Trần Phú đã vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, kinh nghiệm phong trào cộng sản quốc tế và Đề cương cách mạng thuộc địa của Quốc tế Cộng sản; kết hợp với đi khảo sát thực tế phong trào công nhân và nông dân ở Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, đồng thời dựa trên ý kiến của Ban Thường vụ Trung ương lâm thời Sau một quá trình làm việc miệt mài, nghiêm túc, đồng chí Trần Phú viết ra Dự thảo Luận cương chính trị của Đảng1

Từ ngày 14-30/10/1930, Hội nghị ban chấp hành Trung ương họp lần thứ nhất tại Hương Cảng tức Hồng Kông (Trung Quốc), quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam

1 Luận cương Chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương

(dangcongsan.vn), truy cập ngày: 23/08/2019

Trang 20

thành Đảng Cộng sản Đông Dương Hội nghị cử Ban chấp hành Trung ương chính thức

và cử Trần Phú làm Tổng bí thư Hội nghị đã thông qua “Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương”

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị

Xác định mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc

Về phương hướng chiến lược của cách mạng, Luận cương nêu rõ tính chất của cách

mạng Đông Dương lúc đầu mà một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, cuộc cách mạng này có tính chất thổ địa và phản đế Sau đó sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản và tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa

Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải đánh đổ các di tích phong

kiến để thực hành thổ địa cách mạng triệt để và đánh đổ đế quốc làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau, trong đó thổ địa cách mạng là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày

Giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là động lực chính, mạnh, và là giai cấp lãnh đạo cách mạng Luân cương đã bỏ qua, cũng như là phủ nhận vai trò của tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và phú nông

Về lãnh đạo cách mạng, Luận cương đã khẳng định rằng điền kiện quan trọng nhất

quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo Đảng Cộng sản sẽ là người đi đầu, đồng hành cùng nhân dân trong quá trình giành lại chính quyền Đồng thời, cần có những đường lối chính trị đúng đắn, nghiêm túc thực hiện, tập trung tuân theo những nội dung đã đề ra

Về phương pháp cách mạng, Luận cương nêu rõ phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng

về con đường “võ trang bạo động” Đến lúc có điều kiện thuận lợi cho cách mạng, Đảng

sẽ phải lập tức nắm bắt lấy thời cơ lãnh đạo quần chúng nhân dân đánh đổ kẻ thù và giành lấy chính quyền về tay công nông Võ trang bạo động để giành chánh quyền là một nghệ thuật, “phải theo khuôn phép nhà binh”

Trang 21

Quan hệ quốc tế, Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế

giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên hệ với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa

Trên cơ sở phân tích ở trên, so sánh được những điểm giống nhau và khác nhau giữa Cương lĩnh chính trị (2/1930) với Luận cương chính trị (10/1930) như sau:

1 Điểm giống nhau

Thứ nhất, về phương hướng chiến lược của cách mạng, cả hai văn kiện đều xác

định được tính chất của cách mạng Việt Nam là: Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản

Thứ hai, về nhiệm vụ cách mạng, đều là chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng

đất và giành độc lập dân tộc

Thứ ba, về lực lượng cách mạng, chủ yếu là công nhân và nông dân, đây là hai lực

lượng nòng cốt và cơ bản đông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc nước ta

Thứ tư, về phương pháp cách mạng, sử dụng sức mạng của số đông dân chúng Việt

Nam cả về chính trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ

đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông

Thứ năm, về vị trí quốc tế, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít với cách

mạng thế giới đã thể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình

Thứ sáu, lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản

2 Điểm khác nhau

Thứ nhất, về xác định kẻ thù và nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng

Cương lĩnh chính trị thì xác định kẻ thù, nhiệm vụ là đánh đổ giặc Pháp sau đó mới

đánh đổ phong kiến và tay sai phản cách mạng (nhiệm vụ dân tộc và dân chủ) Nhiệm vụ dân tộc được coi là nhiệm vụ trọng đại của cách mạng, nhiệm vụ dân chủ cũng dựa vào vấn đề dân tộc để giải quyết Mục tiêu của cương lĩnh xác định: làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do, dân chủ, bình đẳng, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc Việt gian chia cho dân cày nghèo, thành lập chính phủ công nông binh và tổ chức

Trang 22

cho quân đội công nông, thi hành chính sách tự do dân chủ bình đẳng phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa

Luận cương chính trị thì xác định phải “tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến,

đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bản và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để” và “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” Luận cương chưa xác định được kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nên không nêu cao vấn đề dân tộc lên hàng đầu đó là nêu cao vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề cách mạng ruộng đất

Thứ hai, về lực lượng cách mạng

Cương lĩnh chính trị thì xác định lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân và nông

dân nhưng bên cạnh đó cũng phải liên minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung nông, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa rõ mặt phản cách mạng

Luận cương chính trị thì xác định giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính của

cách mạng mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là đông lực chính và mạnh, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nông dân có số lượng đông đảo nhất, là một động lực mạnh của cách mạng, còn những giai cấp và tầng lớp khác ngoài công nông như tư sản thương nghiệp thì đứng về phía đế quốc chống cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc

2.2 Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945

2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

Về bối cảnh lịch sử Việt Nam và trên thế giới :

Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ (9/1939) , thực dân Pháp ở Đông Dương tiến hành khủng bố Đảng Cộng sản Đông Dương và các đoàn thể quần chúng bộ máy đàn áp được tăng cường , lệnh thiết quân luật được ban bố

Ngày 28/9/1939 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội, đoàn đóng cửa các

tờ báo và nhà xuất bản , cấm hội họp và tụ tập đông người … Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, Phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách

Trang 23

mạng, thực hiện chính sách tăng cường vơ vét sức người sức của để phục vụ chiến tranh

đế quốc.Ngay khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ Đảng kịp thời rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn đồng thời vẫn chú ý thành thị Ngày 29/9/1939 Trung ương Đảng gửi toàn Đảng một thông báo quan trọng chỉ rõ: “ Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”

Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp trong ba ngày 6,

7, 8-11-1939, nhằm giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới Hội nghị được tổ chức tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) Dự hội nghị có các đồng chí Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn , đồng chí Nguyễn Văn

Cừ - Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị

Hội nghị phân tích tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai xác định đây là

cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn đế quốc nhằm tranh giành, chia lại thị trường thế giới Thủ phạm chính của cuộc chiến tranh là phát xít Đức - Ý - Nhật Các nước đế quốc trong khi đánh nhau đều có âm mưu xoay cuộc chiến chĩa mũi nhọn vào Liên Xô

Về Đông Dương , hội nghị nhận định theo tình hình hiện tại Đông Dương sẽ bị cuốn vào guồng máy chiến tranh, phát xít Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật Chế độ cai trị ở Đông Dương đã trở thành chế độ phát xít.Toàn bộ đời sống xã hội của các giai cấp, dân tộc sẽ bị đảo lộn Hội nghị chỉ rõ thái độ từng giai cấp , xu hướng chính trị của các tôn giáo, đảng phái Sau đó hội nghị đưa ra nhận định về mối liên quan lực lượng giữa các giai cấp :

“a) Một bên là đế quốc Pháp cầm hết quyền kinh tế chính trị dựa vào bọn vua quan bổn

xứ thối nát và bọn chó săn phản bội dân tộc

b) Một bên là tất cả các dân tộc bổn xứ bị đế quốc chủ nghĩa Pháp áp bức như trâu

ngựa và đẽo rút xương tủy… Những thảm trạng do chiến tranh gây nên sẽ làm cho trình

tự cấp tiến hóa và cách mạng của quần chúng hết sức mau chóng … Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mạng Đông

Về nhiệm vụ cách mạng :

1 Văn kiện Đảng toàn tập,T.6,Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000,tr.535-536

Trang 24

Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng độc lập".1

Dựa trên sự thay đổi trên quốc tế và trong nước và sự chuyển biến trong phong trào cách mạng thế giới và Đông Dương, hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, dựa trên cơ sở liên minh công nông là "hai lực lượng chính của cách mạng" tập hợp tất cả các dân tộc, các giai cấp đảng phái và các cá nhân yêu chĩa mũi nhọn của cách mạng vào kẻ thù chủ yếu là đế quốc và tay sai của chúng Khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công, nông binh được thay thế bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà

Mục đích của Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương là đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc Để tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ này Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu "tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc"

Về tập hợp lực lượng cách mạng :

Lực lượng chính của cách mạng là công nông dựa vào các tầng lớp trung sản thành thị, thôn quê và đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ Mặt trận ấy phải dưới quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản

Trên cơ sở liên minh công nông là “ hai lực lượng chính của cách mạng” để đoàn kết tất cả các giai cấp các đảng phái, các dân tộc các phần tử phản đế chĩa mũi nhọn của cách mạng vào kẻ thù chủ yếu là đế quốc và tay sai của bọn chúng Khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công nông binh được thay thế bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa Đảng ta kêu gọi :“Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000),Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.538

Ngày đăng: 05/11/2022, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Hồ Chí MinhToàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí MinhToàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
2. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Hồ Chí MinhToàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí MinhToàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
3. Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995-2016), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. Luận cương Chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (dangcongsan.vn), truy cập ngày: 23/08/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương Chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w