1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học chính trị học so sánh, những điều chỉnh của chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đại và xu hướng vận động của chế đô tự bản chủ nghĩa về chính trị

32 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Cao học Chính trị học So sánh, Những điều chỉnh của chế độ Tư bản chủ nghĩa hiện đại và xu hướng vận động của chế độ Tư bản chủ nghĩa về chính trị
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Tiểu luận cao học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 64,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUChính trị học so sánh là một môn học chuyên ngành của Chính trị học. Nếu Chính trị học nghiên cứu chính trị từ các sự kiện và các quá trình chính trị trong đời sống xã hội đến các quan hệ chính trị trong thể chế và bộ máy thực hiện quyền lực nhằm phát hiện ra bản chất và các quy luật vận động của chính trị thì Chính trị học so sánh tập trung nghiên cứu và so sánh những vãn đề chính trị xoay quanh thời gian và không gian lịch đại và đương đại. Theo lịch đại, có thể so sánh hệ thống chính trị của một quốc gia trong các giai đoạn lịch sử khác nhau hoặc các chế độ chính trị từng tồn tại trong lịch sử. Theo đương đại, đơn vị so sánh là các quốc gia, khu vực trên thế giới; nội dung so sánh là các vấn đề, nội dung cụ thể như tư tưởng chính trị, thể chế chính trị, văn hóa chính trị, quan hệ chính trị...Thế giới ngày nay, do sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của quá trình toàn cầu hoá và sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức v.v..., đang thay đổi rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tác động đến sự vận động và phát triển của chính trị, từ những vấn để về quan điểm, nguyên tắc đến những vấn đề về xây dựng và vận hành của các thể chế chính trị, xây dựng chính sách ở các quốc gia. Chính trị, hệ thống chính trị, các nhà nước, các đảng phái chính trị trước hết là các đảng cầm quyền v.v... đang và sẽ có những điều chỉnh mới trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng nhu cầu mới của thời đại.Nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các nước tư bản nói riêng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã có rất nhiều biến đổi so với trước chiến tranh, một trong những nhân tố có vai trò quan trọng tạo nên những biến đổi đó là sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước. Với vai trò to lớn của mình, Nhà nước có thể kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế bằng hệ thống các công cụ và chính sách đã vạch ra. Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp hoạt động lao động chung và do tính chất xã hội hoá của sản xuất quy định. Lực lượng sản xuất càng phát triển, trình độ xã hội hoá của sản xuất càng cao thì phạm vi thực hiện vai trò này càng rộng và mức độ đòi hỏi của nó càng chặt chẽ và nghiêm ngặt. Nhưng có một thực tế chúng ta cần nhìn nhận rằng, dù có những điều chỉnh như thế nào thì chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhưng ở nấc thang phát triển cao hơn, những biến đổi, thích nghi của CNTB ngày nay chỉ là những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của CNTB độc quyền. Bản chất kinh tế của CNTB ngày nay vẫn là sự thống trị của các tổ chức độc quyền, bản chất chính trị là hiếu chiến, xâm lược và phản động.Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những tinh hoa mà nhân loại đã đạt được dưới thời kì tư bản chủ nghĩa. Do vậy, việc nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản luôn là việc làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Những điều chỉnh của chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đại và xu hướng vận động của chế đô tự bản chủ nghĩa về chính trị” để nghiên cứu viết tiểu luận. Trong quá trình làm bài, dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm hiểu song không thể tránh khỏi những hạn chế. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận của tôi được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm

Trang 1

MỞ ĐẦU

Chính trị học so sánh là một môn học chuyên ngành của Chính trị học.Nếu Chính trị học nghiên cứu chính trị từ các sự kiện và các quá trình chínhtrị trong đời sống xã hội đến các quan hệ chính trị trong thể chế và bộ máythực hiện quyền lực nhằm phát hiện ra bản chất và các quy luật vận động củachính trị thì Chính trị học so sánh tập trung nghiên cứu và so sánh những vãn

đề chính trị xoay quanh thời gian và không gian - lịch đại và đương đại Theolịch đại, có thể so sánh hệ thống chính trị của một quốc gia trong các giaiđoạn lịch sử khác nhau hoặc các chế độ chính trị từng tồn tại trong lịch sử.Theo đương đại, đơn vị so sánh là các quốc gia, khu vực trên thế giới; nộidung so sánh là các vấn đề, nội dung cụ thể như tư tưởng chính trị, thể chếchính trị, văn hóa chính trị, quan hệ chính trị

Thế giới ngày nay, do sự tác động của cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại, của quá trình toàn cầu hoá và sự xuất hiện của nền kinh tế trithức v.v , đang thay đổi rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tác động đến sự vậnđộng và phát triển của chính trị, từ những vấn để về quan điểm, nguyên tắcđến những vấn đề về xây dựng và vận hành của các thể chế chính trị, xâydựng chính sách ở các quốc gia Chính trị, hệ thống chính trị, các nhà nước,các đảng phái chính trị - trước hết là các đảng cầm quyền v.v đang và sẽ cónhững điều chỉnh mới trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triểnkinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu mới của thời đại

Nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các nước tư bản nóiriêng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã có rất nhiều biến đổi so với trướcchiến tranh, một trong những nhân tố có vai trò quan trọng tạo nên nhữngbiến đổi đó là sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước Với vai trò to lớn của mình,Nhà nước có thể kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế bằng hệthống các công cụ và chính sách đã vạch ra Vai trò quản lý kinh tế của nhànước bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp hoạt động lao động chung và do

Trang 2

tính chất xã hội hoá của sản xuất quy định Lực lượng sản xuất càng pháttriển, trình độ xã hội hoá của sản xuất càng cao thì phạm vi thực hiện vai trònày càng rộng và mức độ đòi hỏi của nó càng chặt chẽ và nghiêm ngặt.Nhưng có một thực tế chúng ta cần nhìn nhận rằng, dù có những điều chỉnhnhư thế nào thì chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyềnnhưng ở nấc thang phát triển cao hơn, những biến đổi, thích nghi của CNTBngày nay chỉ là những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của CNTB độcquyền Bản chất kinh tế của CNTB ngày nay vẫn là sự thống trị của các tổchức độc quyền, bản chất chính trị là hiếu chiến, xâm lược và phảnđộng.Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việcxác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bảnchủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những tinh hoa mà nhân loại đã đạt đượcdưới thời kì tư bản chủ nghĩa Do vậy, việc nghiên cứu về chủ nghĩa tư bảnluôn là việc làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn

đề tài: “Những điều chỉnh của chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đại và xu hướng vận động của chế đô tự bản chủ nghĩa về chính trị” để nghiên cứu

viết tiểu luận Trong quá trình làm bài, dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìmhiểu song không thể tránh khỏi những hạn chế Tôi rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận của tôi đượchoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm !

Trang 3

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đãlàm cho chủ nghĩa tư bản biến đổi một cách sâu sắc từ lực lượng sản xuất đếnquan hệ sản xuất, từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng Do đó, chủ nghĩa

tư bản hiện đại là chủ nghĩa tư bản có trình độ phát triển cao và có sự điềuchỉnh thích nghi với thời đại

ở vật chất kỹ thuật mới hoàn toàn về chất

- Nhà nước tư bản là một trung tâm điều tiết vĩ mô, người tổ chức đời sống kinh tế xã hội của xã hội tư bản.

Trang 4

Đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại, sự can thiệp của nhà nước vàonền kinh tế mới trở thành nhân tố chủ động, định hướng và uốn nắn được quátrình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo các mục tiêu định trước Tuynhiên, hiệu quả của quá trình định hướng này còn nhiều han chế do bản chất

tư bản chủ nghĩa của nó kìm hãm, nhưng đây cũng là bước biến đổi về chấttrong sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản Ở giai đoạn này, sự can thiệpcủa nhà nước vào nền kinh tế đã có những chuyển biến quan trọng, từ chỗ chỉ

là những giải pháp tình thế ứng phí với tình hình chiến tranh và khủng hoảngkinh tế, nó đã chuyển sang các giải pháp chỉ đạo tăng trưởng, ổn định, pháttriển lâu dài nền kinh tế Hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản hiệnđại đã được định hình và có khả năng can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sốngkinh tế xã hội Nó có thể hoàn thành cả nhiệm vụ điều tiết kinh tế ngắn hạn vàđiều chỉnh sự vận động của nền kinh tế dài hạn Từ đó, điều chỉnh kinh tế củanhà nước tư bản hiện đại đã trở thành một bộ phận cấu thành hữu cơ trongtoàn bộ cơ chế tái sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự can thiệp toàn diện của nhànước vào quá trình tái sản xuất tư bản xã hội là đặc trưng nổi bật của chủnghĩa tư bản hiện đại Song đó chỉ là sự thích ứng của chủ nghĩa tư bản với sựphát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Nó không xóa bỏ được các điềukiện mà trong đó các quy luật vốn có của chủ nghĩa tư bản hoạt động, tức là

sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế vẫn chịu sự chế ước của quy luậtkinh tế tư bản chủ nghĩa Do đó, không thể xóa bỏ được tình trạng phát triển

Trên thực tế, thông qua các chiến lược kinh doanh, đầu tư toàn cầu, cáccông ty xuyên quốc gia đóng vai trò là động lực phát triển kinh tế thế giới

Trang 5

cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế ở các quốc gia có chi nhánh của nó hoạtđộng Với tiềm lực chiếm tới 4/5 tổng sản lượng công nghiệp thế giới và 90%tổng FDI toàn cầu, các công ty xuyên quốc gia thực sự chi phối hầu hết cáchoạt động kinh tế trên phạm vi toàn thế giới Tuy nhiên, cũng phải thấy tínhchất 2 mặt của đầu tư trực tiếp mà các công ty xuyên quốc gia thực hiện Mộtmặt làm tăng thêm nguồn vốn và các hệ quả lợi ích khác cho nước chủ nhà,nhưng mặt khác, nếu không quản lý giỏi thì chính qua đó cũng để lại nhữnghậu quả ngoài mong muốn.

1.3 Những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản

1.3.1.Cách mạng khoa học và công nghệ.

Cách mạng khoa học và công nghệ tác động đến chủ nghĩa tư bản theohai hướng: một mặt, chủ nghĩa tư bản hiện đại sử dụng những thành tựu củacuộc cách mạng này để tăng tỷ suất thặng sư, tăng khả năng chi phối các nướcđang phát triển Các nước tư bản phát triển làm chủ công nghệ cao và tiêntiến, tiếp tục dẫn dắt các tiến trình khoa học và công nghệ và cả các tiến trìnhphát triển kinh tế của thế giới Một hậu quả của nó là khoảng cách giàu nghèogiữa các nước phát triển với các nước chậm phát triển đã không giảm đi màngày càng có xu hướng gia tăng nhanh chóng Thực tế đó đang trở thành nguy

cơ chia cắt thế giới thành hia nửa khác biệt và gia tăng sự mất ổn định quốc

tế Mặt khác trong sâu xa và về lâu dài, cách mạng khoa học và công nghệ lànhân tố thách thức chủ nghĩa tư bản, cũng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượngsản xuất xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngàycàng gay gắt và sâu sắc

1.3.2 Sự ra đời, phát triển, khủng hoảng và đổi mới của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1980, các nước xã hộichủ nghĩa trên thế giới lần lượt tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới,…Đến cuốinhững năm 1980 đầu những năm 1990, một loạt nước xã hội chủ nghĩa ởĐông Âu rồi đến Liên Xô lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, chế độ xã hội

Trang 6

chủ nghĩa ở các nước này sụp đổ, các đảng cộng sản và công nhân cầm quyền

ở các nước này bị tan rã; các nhà nước xã hội chủ nghĩa liên bang như Liên

Xô, Tiệp Khắc, Nam Tư cũng tan rã

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu

đã gây nên cơn chấn động chính trị toàn cầu Song không một ai có thể phủnhận được ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của cuộc Cách mạng tháng Mười Nganăm 1917 cũng như vị trí, vai trò và những đóng góp vĩ đại của hệ thống xãhội chủ nghĩa thế giới đối với lịch sử phát triển của nhân loại

Hiện có năm đảng cộng sản và công nhân đang trực tiếp lãnh đạo sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình là: Đảng Cộng sản TrungQuốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Lao động TriềuTiên và Đảng Nhân dân cách mạng Lào Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộicủa nhân dân các nước này chính là chủ nghĩa xã hội hiện thực, là thành quảchung của phong trào cộng sản và Công nhân quốc tế Năm đảng, năm nướcđang đi tiên phong trong sự nghiệp đấu tranh của nhân loại tiến lên hình tháikinh tế xã hội mới – xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa

xã hội

Từ những bài học thành công và thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô và các nước Đông Âu, những kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước mình, các nước Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba, Cộng hòa dân chủnhân dân Triều Tiên đã và đang tích cực tìm tòi sáng tạo, cả về lý luận vàthực tiễn, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện, hoàn cảnhcủa đất nước, dân tộc mình, phù hợp với những biến đổi diễn ra trên thế giới.Mặc dù vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trong nước và vớicác âm mưu hành động “ diễn biến hòa bình”, can thiệp, phá hoại, lật đổ củacác thế lực đế quốc thù địch Song chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, Việt Nam,Lào, Cuba và Triều Tiên đã không chỉ kiên cường trụ vững mà còn có nhữngbước phát triển mới được thế giới công nhận Vượt qua muôn ngàn khó khănthứ thách và cả sự chống phá của các thế lực thù địch, năm nước xã hội chủ

Trang 7

nghĩa đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Tuy vẫn cònrất khó khăn, song thế và lực của chủ nghĩa xã hội đã khác xã so với thời kìnăm 1990 khi Liên Xô tan rã.

1.3.3 Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.

Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càngnhiều nước tham gia, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiềuyếu tố, bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất làcác nước đang phát triển Toàn cầu hóa là quá trình phổ biến trên toàn cầunhững giá trị, mô hình kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, khoa học - kỹ thuật,công nghệ,…nhất định Toàn cầu hóa bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và cho đếnnay, nội dung chủ yếu của nó vẫn là toàn cầu hóa kinh tế, Khái niệm nàybao hàm sự gia tăng nhanh chóng hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giớiquốc gia, khu vực để vươn tới quy mô toàn cầu Toàn cầu hóa kinh tế vừa làtrung tâm, vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xuthế toàn cầu hóa Sự tham gia vào quá trình toàn cầu hóa được gọi là hộinhập Hội nhập có thể theo nhiều cấp độ và nội dung khác nhau như: hội nhậpkhu vực, hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế, hội nhập văn hóa,…

1.3.4 Hòa bình, hợp tác và phát triển.

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển đang là một xu thế lớn củathời đại Xu thế này được quy định bởi các yếu tố sau:

- Sự tồn tại của vũ khí giết người hàng hoạt, với sức mạnh hủy diệt

khủng khiếp của nó, đã làm cho bất cứ giới cầm quyền nào cũng phải tínhtoán kỹ vấn đề chiến tranh và hòa bình Ngày nay, nhiều nước ở nhiều khuvực khác nhau trên thế giới đã sở hữu vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí giếtngười hàng loạt với sức hủy hoại ghê gớm, mà nếu chiến tranh xảy ra thìkhông có bên thắng bên thua mà chỉ có sự hủy diệt toàn cầu Điều đó có nghĩa

là tất cả các nước đều có lợi ích giống nhau trong việc ngăn ngừa chiến tranhhủy diệt

- Cục diện thế giới ngày nay đã có sự thay đổi quan trọng Mỹ vẫn tiếp

Trang 8

tục là siêu cường duy nhất có sức mạnh vượt trội về các mặt so với các cườngquốc khác, nhưng thế của Mỹ đang suy giảm tương đối và không phải muốnlàm gì cũng được, trong khi đó, các cường quốc khác đang vươn lên mạnh mẽtrở thành đối trọng với sức mạnh của Mỹ Xu hướng đa cực hóa, đa dạng hóatrong quan hệ quốc tế đang phát triển Quan hệ giữa các nước lớn hiện nay làquan hệ thận trọng, vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau Hợp tácnhưng không dẫn tới liên minh, liên kết; đấu tranh nhưng tránh xung đột vàđối đầu quân sự trực tiếp.

- Sự phụ thuộc lẫn nhau, nhất là về kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa

giữa các quốc gia rất sâu sắc, khiến sự đụng đầu quân sự sẽ làm đổ vỡ toàn bộnền kinh tế thế giới, gây thiệt hại cho tất cả các quốc gia Hơn bao giờ hết,vấn đề lợi ích kinh tế, tài chính hiện đang có tiếng nói quan trọng trong quan

hệ giữa các quốc gia Quản lý kinh tế đang là sư thử thách quan trọng nhất đểđánh giá khả năng của một chính phủ Tăng cường lợi ích kinh tế quốc giađang là mục tiêu hàng đầu trong chính sách đối ngoại của các nước

- Nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu và mối đe dọa anninh phi truyền thống hết sức bức xúc đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương

để giải quyết Đó là các vấn đề như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốcgia, thảm họa môi trường sinh thái,…chúng đan xen và tác động tiêu cực đến

an ninh và phát triển của các quốc gia, do đó, không thể xem xét giải quyếtmột cách riêng lẻ ,à cần tới sự hợp tác đa phương

- Tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu muốn ổn định, hòa

bình, hợp tác để phát triển Đây chính là môi trường và điều kiện thuận lợicho tất cả các quốc gia có thể tham gia tích cực vào không gian hội nhập quốc

Trang 9

thể có lúc dẫn tới căng thẳng cục bộ.

+ Các cuộc xung đột khu vực cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, biêngiới lãnh thổ vẫn sẽ tiếp diễn Các nước đế quốc đang và sẽ tiếp tục lợi dụng,khai thác những mâu thuẫn đó vì lợi ích riêng của chúng

+ Khủng bố quốc tế, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tiếp tục diễnbiến phức tạp Mỹ và một số nước lợi dụng vấn đề khủng bố, ngăn chặn vũkhí hủy diệt hàng loạt để thực hiện ý đồ riêng của mình, gây tác động tiêu cựcđến tình hình chính trị, an ninh của các quốc gia và khu vực Đồng thời, cácvấn đề an ninh phi truyền thống khác như tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán

ma túy, đói nghèo, dịch bệnh,…tiếp tục tác động đến an ninh và phát triển củamọi quốc gia

+ Các vấn đề nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền vẫn còn diễn biến rấtphức tạp và là nguyên nhân gây mất ổn định ở một số nước và khu vực

Tất cả những điều đó, đòi hỏi các quốc gia phải nâng cao cảnh giácquan tâm đến củng cố an ninh, quốc phòng, chống sự can thiệp, áp đặt từ bênngoài

1.3.5 Các cuộc khủng hoảng liên tiếp xảy ra.

Những cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản sau cách mạngtháng Mười Nga đến nay bao gồm hai loại: khoảng hoảng chu kì và khủnghoảng cơ cấu Theo nhận xét của nhiều học giả, các cuộc khủng hoảng chu kì

nổ ra dồn dập hơn Nếu trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, chu kì khủnghoảng kinh tế kéo dài khoảng 8-10 năm, thì sau chiến tranh thế giới lần thứhai, chu kì này rút ngắn xuống còn 5-6 năm Điều đó có nghĩa là sức ép kinh

tế diễn ra dồn dập hơn, đòi hỏi chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh mau lẹ hơn.Các cuộc khủng hoảng cơ cấu xẩy ra đa dạng hơn trước: khủng hoảng nguyênliệu, dầu mỏ, tài chính, tiền tệ,…Những cuộc khủng hoảng cơ cấu này phảnánh sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho nhu cầu về nguyên liệu, dầu

mỏ đã vượt quá khả năng cung cấp Các ngành công nghiệp mới phát triển đãlàm cho sản phẩm của các ngành công nghiệp truyền thống trở nên ế ẩm, phá

Trang 10

sản Sự bùng nổ của sản xuất và lưu thông hàng hóa đã làm cho số lượng vàngcủa thế giới không đủ làm bản vị của tiền tệ,… Cùng với các cuộc khủnghoảng kinh tế thì các cuộc khủng hoảng chính trị, tư tưởng xã hội ở các nước

tư bản chủ nghĩa cũng đang diễn ra khá phức tạp Các cuộc khủng hoảng hệthống chính trị đã thể hiện sự bất lực của các nhà nước tư sản hiện đại trướcchiều hướng giảm sút liên tục nhịp độ tăng trưởng kinh tế của hầu hết cácnước tư bản chủ nghĩa phát triển kể từ những năm 1960 đến nay

Có thể nói, những cuộc khủng hoảng đa dạng dưới chủ nghĩa tư bản đãphản ánh sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội vượt qua các giớihạn của quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội và ép buộc các quan hệ này phảithay đổi Sự bảo thủ, trì trệ của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội của chủnghĩa tư bản hiện đại luôn là nguyên nhân sâu xa của các cuộc khủng hoảng

Để thoát khỏi khủng hoảng, duy trì sự tồn tại và phát triển của mìnhchủ nghĩa tư bản hiện đại đã điều chỉnh để thích nghi Chủ nghĩa tư bản đã sửdụng được những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phươngpháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất,…Những điều chỉnh đó có tác dụng rấtlớn trong việc duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản

Trang 11

Chương 2.

NHỮNG ĐIỀU CHỈNH CỦA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CHẾ ĐÔ TỰ BẢN CHỦ

NGHĨA VỀ CHÍNH TRỊ

2.1 Những điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Trong những thập kỷ gần đây, chế độ chính trị ở các nước tư bản chủnghĩa đã có những điều chỉnh lớn, xuất phát từ sự thay đổi cơ cấu giai cấp và

lợi ích của các nhóm xã hội

Trong giai cấp tư sản, tầng lớp tư bản chức năng, các nhà kỹ trị nắm

giữ quyền quần lý, kinh doanh, các tiến bộ kỹ thuật ngày càng tăng trong xãhội Lợi ích của tầng lớp này phụ thuộc vào thành tựu cách mạng khoa học -công nghệ, cho nên họ luôn muốn làm giàu bằng sự đổi mới, chống lại nhữnghình thức bóc lột cũ Tầng lớp tư bản sở hữu, tư bản thực lợi ngày càng phổbiến hơn Ngoài ra, còn có các tầng lớp tư sản khác: tầng lớp đại tư bản tàichính đang nắm giữ nhiều ngành quan trọng; tầng lớp tư bản vừa và nhỏ tăngnhanh về số lượng và hoạt động năng động, hiệu quả; tầng lớp tư bản quânphiệt có lợi ích gắn với việc sản xuất, buồn bán vũ khí; tầng lớp tư bản quanliêu có lợi ích gắn với giới cầm quyền; tầng lớp tư bản maphia gắn lợi ích vớicác hoạt động phi pháp Họ có nhiều lợi ích chung của giai cấp, nhưng đồngthời giữa họ cũng tồn tại nhiều bất đồng, thậm chí xung đột về lợi ích, dẫnđến những cuộc đâu tranh quyết liệt với nhau

Giai cấp công nhân cũng có những thay đổi quan trọng Tầng lớp công

nhân trí thức có tay nghề cao là lực lượng lao động chủ yếu trong các công ty,được trả lương cao, thưởng lớn, được ưu tiên mua cổ phiếu Phần lớn họthuộc tầng lớp trung lưu Tầng lớp công nhân không có tư liệu sản xuất, phải

bán sức lao động để sống hiện còn rất ít và vai trò đã giảm rõ rệt Tầng lớp

những người thất nghiệp thường chiếm khoảng 10% tổng số lao động, trong

họ luôn tiềm tàng sự phản kháng Nhưng chế độ trợ cấp thất nghiệp đã làm

Trang 12

giảm bớt mức chống đối Tầng lớp tiêu tư sản là tầng lớp đông đảo nhất trongcác nước tư bản phát triển, chiếm 60-70% dân số Họ có cuộc sống khá giả,

có lợi ích gắn chặt với xã hội tư bản chủ nghĩa và các tầng lớp tư bản khác

Giai cấp nông dân ở các nước tư bản phát triển chỉ còn chiếm 1-10%

lực lượng lao động, một phần họ đang tiếp tục phân hóa vào giai cấp tư sản,công nhân hay tầng lớp trung lưu

Như vậy, bằng chính sự phát triển các quan hệ kinh tế, giai cấp tư sản

đã tạo ra những mối quan hệ ràng buộc và thống nhất về lợi ích giữa họ vớicác tầng lớp khác nhau trong xã hội nhiều hơn là sự chống đối Điều đó giảithích tại sao trong những thập kỷ gần đây tuy vẫn xảy ra nhiều cuộc biểu tình,bãi công của công nhân, nhưng mức độ không còn nghiêm trọng như trước

Từ sự thay đổi về cơ cấu xả hội và lợi ích như trên, hệ thống chính trị

tư bản chủ nghĩa đã điều chỉnh theo những hướng sau:

Luôn tự điều chỉnh để duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế Công cụ chủ yếu để đạt mục tiêu này

là nhà nước và pháp luật tư sản Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tamquyền phân lập, các cơ quan nhà nước kiêm tra, giám sát lẫn nhau, buộc phảithỏa thuận, nhân nhượng nhau để bảo đảm sự ổn định Pháp luật là tối cao, hệthống luật pháp là cơ sở cho mọi hoạt động của xã hội Tất cả các quan hệ lợiích đều được luật pháp quy định Sự điều chỉnh hệ thống chính trị được thểhiện trước hết ở điều chỉnh luật pháp

Sự tập trung quyền lực vào tay tổng thống hoặc thủ tướng là một điềuchỉnh lớn của hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa hiện đại Tòa án hiến pháp

có vai trò quan trọng trong giải quyết những tranh chấp giữa các cơ quan nhà

nước Tuy nhiên, cơ chế tam quyền phân lập cũng tạo ra những bất hợp lý:

quá nhiều pháp luật dẫn đến chổng chéo, mọi quan hệ xã hội đều được xửtheo pháp luật, không còn sự thỏa thuận, cảm thông; gây tốn kém; Nhiều tổngthống, thủ tướng bị truy tố trước pháp luật, nhiều đảng thất cử vì tham nhũng

Chế độ đa nguyên tư sản chấp nhận sự tồn tại hợp pháp và canh tranh

Trang 13

của các lực lượng xã hội, chấp nhân sự luân phiên cai trị của các thế lực chínhtrị và đặt quyền cai trị dưới quyền bỏ phiếu của nhân dân Đây là sự điềuchỉnh nổi bật, tạo cơ hội cho các phe phái đối lập khả năng cầm quyền bằngcon đường hòa bình, tránh bạo lưc Các tổ chức xã hội (công đoàn, phụ nữ,tôn giáo ) có vai trò ngày càng tăng, gây sức ép đến các cuộc bầu cử và quátrình thông qua các quyết định chính trị Chính phủ thường phải tính đến yếu

tố dư luận xã hội - lợi ích của các nhóm khi thông qua các chính sách Chínhđiều này cản trỏ những tư duy mới, những cải cách mang tính đột phá

Đảm bảo đẩy mạnh việc áp dạng các tiến bộ khoa học - công nghệ Đó

là: thúc đẩy tự do tư tưởng, tự do phát minh sáng chế, đầu tư cho nghiên cứukhoa học và phát triển, đầu tư manh cho giáo dục Tiến bộ khoa học - côngnghệ được áp dụng nhanh chóng vào tất cả các lĩnh vực, kể cả hoạt động nhànước Nhờ tận dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học -công nghệ, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã phát triển vượt bậc về lực lượng sảnxuất Các nước tư bản phát triển chiếm ưu thế tuyệt đối trong nghiên cứu vàsản xuất, nhất là các ngành công nghệ cao

Chủ trương hội nhập sâu, rộng vào sinh hoạt khu vực và thế giới Các

nước tư bản phát triển gia nhập vào hầu hết các tổ chức quốc tế, ký nhiều hiệpước với nước ngoài Bộ máy nhà nước không chỉ chịu sức ép trong nước, màcòn chịu sức ép của dư luận thế giới Vì vậy, một điều chỉnh quan trọng của

hệ thống chính trị các nước tư bản chủ nghĩa là gia tăng tính quốc tế của bộmáy nhà nước Không chỉ bộ ngoại giao mà các cơ quan nhà nước khác đềutham gia hoạt động đối ngoại, ngân sách cho hoạt động đối ngoại ngày cànglớn Hiện nay, các nước tư bản phát triển chi phối hoạt động của các tổ chứcquốc tế lớn như; UN, G7, OECD, VVB, IMF, WTO, EU, NAFTA

Chính trị tư bản chủ nghĩa đã điều chỉnh chính sách kinh tế Tất cả các

đảng cầm quyền, dù cánh tả hay cánh hữu, thông qua nhà nước đã điều chỉnhđường lối, chính sách kinh tế nhằm giảm áp lưc xã hội Chế độ sở hữu tư nhânđối với tư liệu sản xuất đã có những thay đổi rất lớn Ngày nay, sở hữu nhà

Trang 14

nước đã được thiết lập ở các nước tư bản chủ nghĩa với mức độ khác nhau.Khu vực sở hữu nhà nước nắm những ngành kỹ thuật mũi nhọn, những lĩnhvực mà tư nhân không làm dược; và các chính phủ tư sàn dựa vào đó đểđiều tiết, Ổn đinh nền kinh tế Hình thức sở hữu cổ phần trở nên phổ biến.Đông đảo nhân dân, công nhân, người ăn lương đều là chủ sở hữu các cổphần, mắc dù số cổ phần lớn nhất vẫn thuộc về chủ tư bản Hình thức sởhữu hỗn hợp cũng phổ biến ở các nước tư bản với những loại hình hết sức

đa dạng và linh hoạt

Về phân phối thu nhập, họ chủ trương tăng tiền lương, giảm giờ làm,cải thiện điều kiện làm việc, giảm mức độ nặng nhọc cho người lao động.Nhờ đó mức sống và đời sống người lao động được cải thiện nhiều, có cuộcsống sung túc hơn Chủ nghĩa tư bản còn thực hiện điều chỉnh về vấn đề xãhội, gắn tăng trưởng kinh tế với phục vụ mục tiêu xã hội thông qua hệ thốngchính sách an sinh xã hội…

Trong hơn ba thập kỷ qua, hệ thống tài chính tư bản chủ nghĩa cónhiều biến động nhưng vẫn không ngăn chặn được khủng hoảng kinh tế.Một lẩn nữa, chủ nghĩa tư bản lại phải tự điểu chỉnh để vượt qua khủnghoảng Tuy nhiên, các nước tư bản chủ nghĩa vẫn nắm phần lớn vốn, khoahọc công nghệ hiện đại, kiến thức quản lý tiên tiến và lực lượng quân sự củathế giới Nền công nghiệp và dịch vụ của các nước tư bản chủ nghĩa vẫnchiếm ưu thế trên thế giới; nền kinh tế tri thức của các nước tư bản chủnghĩa vẫn đang phát triển

2.1.1 Sự điều chỉnh về kinh tế tri thức

- Các tài sản vật thể (physical assets) như đất đai, nhà máy, thiết bịkhông còn đóng vai trò như trước Chất xám, vốn con người có ý nghĩa quyếtđịnh sức mạnh kinh tế Trong trao đổi, phần mềm chiếm vị trí quan trọng

- Các hoạt động kinh tế đều được “số hoá” và được vận hành trên các siêu

xa lộ thông tin, các mạng lưới máy tính lan toả khắp nơi Thông tin sẽ đóng vaitrò quyết định nhất và có vai trò như “bản vị của mọi hoạt động kinh tế”

Trang 15

- Các quan niệm truyền thống và phương thức sản xuất kinh doanh sẽthay đổi Ví dụ, sở hữu trí tuệ được đề cao, quản lý theo mạng sẽ thay thếphương pháp quản lý theo thứ bậc

Tuy nhiên, hiện nay loài người mới ở bước quá độ, những biểu hiện cụthể của bước quá độ là sự thay thế từng bước các tư liệu sản xuất truyền thống

do cuộc cách mạng công nghiệp mang lại bằng các tư liệu sản xuất hiện đạidựa trên cơ sở của những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ,

mà tập trung ở các lĩnh vực điện tử, tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học,

… thể hiện trong những thiết bị siêu nhỏ, siêu nhẹ, siêu bền,… tác độngnhanh, hiệu quả cao, tiêu tốn ít năng lượng Các tư liệu sản xuất này hết sức

đa dạng, phong phú cả vế đối tượng lao động lẫn tư liệu lao động Các công

cụ thiết bị tự động hoá ngày càng phát triển thay thế cho các công cụ, thiết bị

cơ khí hoá Có thể nói khái quát là hiện đã có ba loại thiết bị biểu hiện chứcnăng tự động hoá Đó là:

+ Máy tự động trong quá trình hoạt động

+ Máy công cụ điều khiển bằng số

+ Người máy, đặc biệt là người máy(Robot) đã từng bước thay thếphần công việc nặng nhọc, những công đoạn nguy hiểm, độc hại cho ngườilao động, đồng thời đã xuất hiện những nhà máy tự động hoá do người máyđiều khiển những công đoạn cần thiết Các quá trình lao động trí óc cũng đãbước đầu được thử nghiệm để người máy thay thế

2.1.2 Sự điều chỉnh về cơ cấu lao động

Đội ngũ người lao động làm thuê lực lượng sản xuất cơ bản, cũng có sựbiến đổi cả về trình độ nghiệp vụ cơ cấu và các yếu tố cấu thành giá trị hànghoá sức lao động để phù hợp với bước nhảy vọt mang tính cách mạng của tưliệu sản xuất Cho đến nay đội ngũ lao động ở các nước tư bản phát triển đãđạt trình độ văn hoá chuyên môn nghiệp vụ cao Cơ cấu lao động đã có sựthay đổi theo chiều hướng tiến bộ và các yếu tố tái sản xuất tư bản chủ nghĩamột cách có hiệu quả

Trang 16

- Về cơ cấu lao động :

Lao động dịch vụ được tập trung cao 70-75%, đồng thời đội ngũchuyên gia có tay nghề cao chủ yếu được tập trung ở khu vực này Chẳng hạn

ở Mĩ thập kỉ 80, tỉ lệ lao động “cổ trắng” và “ cổ xanh” là 50/32 Đồng thờixuất hiện lực lượng “công nhân cổ vàng” Đó là cán bộ có trình độ chuyênmôn đại học, trên đại học Lực lượng lao động này đang ngày càng tăng lên ởcác nước tư bản phát triển

Với nền sản xuất dần dần từng bước chuyển sang nền “ sản xuất trithức”, vai trò của nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng Theo đánh giá củangân hàng thế giới ở Nhật Bản nguồn lực con người chiếm 81% trong tổng sốcác nguồn lực Còn với Mĩ, Pháp, Đức, Italia lần lượt là 59%, 77%, 79%, 82%

Để đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, các nước tư bản đã tăng cườngđầu tư vào việc nghiên cứu và triển khai, thực hiện hợp tác quốc tế trongnhững chương trình nghiên cứu các đề tài mang tính chiến lược, thực hiện cảicách giáo dục

- Về tái sản xuất sức lao động:

Do sự đầu tư vào con người để làm tăng các yếu tố tái sản xuất sức laođộng cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm khơi dậy sự sáng tạo, phục vụ quátrình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện mới một cách tốt hơn nêntốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, GDP bình quân đầu người cao, tuổi thọ bìnhquân và tỉ lệ người biết chữ tăng, điều đó biểu hiện ở chỉ số HDI tăng Theothống kê của LHQ, chỉ số HDI của các nước tư bản phát triển thập kỉ 90 khácao, xấp xỉ 1 Chẳng hạn chỉ số HDI ở Nhật là 0, 98 và Canada là 0 989

Cùng với việc nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động, cácnước tư bản đã quan tâm đến các yếu tố cấu thành của giá trị hàng hoá sức laođộng, thực hiện nâng cao chất lượng cuộc sống Chẳng hạn, thông qua sự điềutiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện của quá trình tái sản xuất, đảm bảocác điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, đi lại, học hành, vui chơi giải trí của bản thân

và gia đình người lao động

Ngày đăng: 05/11/2022, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chủ nghĩa tư bản hiện đại tập I, Nxb CT- QG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản hiện đại tập I
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội
Năm: 1995
3. Các công ty xuyên quốc gia hiện đại, Nxb CT-QG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ty xuyên quốc gia hiện đại
Nhà XB: Nxb CT-QG
Năm: 1995
4. Giáo trình: “ Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2009
5. V.I.Lênin: Toàn tập, nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Progress Publishers
Năm: 1980
6. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Karl Marx, Friedrich Engels
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: 1994
7. Tập bài giảng môn chủ nghĩa tư bản hiện đại và những vấn đề kinh tế thế giới, TS. Vũ Văn Yên, Hà Nội 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng môn chủ nghĩa tư bản hiện đại và những vấn đề kinh tế thế giới
Tác giả: Vũ Văn Yên
Năm: 2014
8. Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin, phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, TS. Ngô Văn Lương - ThS. Vũ Xuân Lai đồng chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, HN 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin, phần kinh tế tư bản chủ nghĩa
Tác giả: Ngô Văn Lương, Vũ Xuân Lai
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2012
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w