1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TIỂU LUẬN MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Lạm phát và chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 274,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm vào đó, xung đột giữa Nga và Ucraina cùng với các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ và các nước đối với Nga, nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất và xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG

 TIỂU LUẬN

MÔN HỌC: KINH TẾ VĨ MÔ

Đề tài: Lạm phát và chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thanh Triều

Lớp : 22D9ECO50100208

Sinh viên thực hiện:

1.Phạm Nguyễn Hồng Quân 31211570104

2.Nguyễn Thảo My 31211570336

3.Nguyễn Lê Gia Bảo 31211572280

4.Trần Thị Xuân Mai 31211572304

5.Nguyễn Thị Kim Ngân 31211572308

Trang 2

MỤC LỤC

A.PHẦN MỞ ĐẦU……….3

B.PHẦN NỘI DUNG……….3

Phần I: Lạm phát và vai trò của CSTT trong việc kiểm soát lạm phát… 3

1 Một số vấn đề về lạm phát………3

1.1 Khái niệm ………3

1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát ……….3

1.3 Phân loại lạm phát ……… 5

1.4 Tác động của lạm phát ……….5

1.4.1 Tác động đến lĩnh vực sản xuất ……….5

1.4.2 Tác động đến lĩnh vực lưu thông ……… 5

1.4.3 Tác động đến lĩnh vực tiền tệ,tín dụng ……… 6

1.4.4 Tác động đến cán cân ngân sách –chính sách tài chính của nhà nước ………6

2 Vai trò của CSTT trong việc kiểm soát lạm phát……… 7

2.1 Khái niệm ……….7

2.2 Vai trò của CSTT trong việc kiểm soát lạm phát……… 7

2.2.1 Dự trữ bắt buộc………7

2.2.2 Tái chiết khấu ……… 7

2.2.3 Hoạt động thị trường mở……… 8

2.2.4 Lãi suất……….9

2.2.5 Hạn mức tín dụng ………9

Phần II:Thực trạng của việc sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát những năm qua………9

Phần III:Giải pháp………12

1 Điều hành CSTT góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát……… ………12

2 Điều hành tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát lạm phát ……….12

C.KẾT LUẬN………12

D.TÀI LIỆU THAM KHẢO……….13

Trang 3

A.PHẦN MỞ ĐẦU

Sau đại dịch Covid, kinh tế thế giới phục hồi, nhu cầu nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất tăng cao trong khi nguồn cung bị đứt gãy khiến giá cả hàng hóa trên thị trường quốc tế có xu hướng tăng mạnh, gây áp lực lạm phát lên nhiều quốc gia trên thế giới Áp lực lạm phát tăng cao tại nền kinh tế lớn và

là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Âu Thêm vào đó, xung đột giữa Nga và Ucraina cùng với các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ và các nước đối với Nga, nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất và xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai trên thế giới đã đẩy giá năng lượng toàn cầu lên cao,điều đó làm tăng việc quan tâm đến vấn đề lạm phát ở Việt Nam.Vì vậy,việc nghiên cứu chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát là vấn đề vô cùng cần thiết

Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế xã hội, cho nên ảnh hưởng đến mỗi cá nhân trong xã hội Mặt khác việc nghiên cứu đề tài "Sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát" giúp cho bản thân em nắm vững những kiến thức cơ bản của ngành TC-NH, nhằm phục vụ tốt cho việc học tập Do đó

đề tài "Lạm phát và sử dụng chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát" có

ý nghĩa thiết thực đối với bản thân

B.PHẦN NỘI DUNG

Phần I: Lạm phát và vai trò của CSTT trong việc kiểm soát lạm phát

1 Một số vấn đề về lạm phát

1.1 Khái niệm

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ

1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát

Bạn hãy tạm coi tiền tệ như một món hàng trao đổi thời còn hàng đổi hàng Món hàng nào có giá thì món đó sẽ đổi được nhiều hơn món hàng khác Đô la Mỹ (USD) là đồng tiền có giá, bạn có thể dùng nó để mua hàng hóa ở bất kỳ đâu vì

nó là đồng tiền có giá trị, được bảo chứng toàn cầu

Còn một quốc gia sản xuất yếu kém, hàng hóa khan hiếm thì giá cả hàng hóa tăng Giá tăng thì phải bỏ nhiều tiền hơn mua hàng hóa Mà khi tiền mang đi quá nhiều bất tiện, nhà nước sẽ in các tờ tiền mệnh giá lớn để hỗ trợ lưu thông hàng hóa gọn gàng hơn Khi đó lạm phát bắt đầu xảy ra Có rất nhiều nguyên nhân xảy ra, tuy nhiên do "cầu kéo" và "chi phí đẩy" được coi là 2 nguyên nhân chính

Trang 4

Lạm phát do cầu kéo

Khi nhu cầu thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ khiến giá cả của mặt hàng đó tăng theo Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”

Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận Mức giá chung của toàn thể nền kinh

tế tăng lên được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”

Lạm phát do cơ cấu

Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danh nghĩa” cho người lao động Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động

Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát

Lạm phát do cầu thay đổi

Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát

Lạm phát do xuất khẩu

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu

Trang 5

khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát

Lạm phát do nhập khẩu

Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát

Lạm phát tiền tệ

Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát

1.3 Phân loại lạm phát

*Lạm phát được chia làm ba loại chính: Lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát

a)Lạm phát vừa phải (0%-10%) còn gọi là lạm phát chỉ xảy ra với một

con số, tỷ lệ lạm phát dưới 10%/1 năm, lạm phát vừa phải này gây ra sự thay đổi giá cả vừa phải Trong thời kỳ nền kinh tế hoạt động bình thường và đời sống của người lao động được duy trì ổn định

Sự ổn định này thể hiện qua: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xuất hiện tình trạng mua hàng và tích trữ với số lượng lớn Lạm phát vừa phải tạo cảm giác thoải mái cho những người lao động chỉ phụ thuộc vào thu nhập

b)Lạm phát phi mã (10%-1000%): tình trạng lạm phát này xảy ra khi giá

tăng tương đốinhanh với tốc độ tăng vọt 2 và 3 con số mỗi năm Lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hóa Vào thời điểm này, người dân đang tăng cường tích trữ hàng hóa, vàng bạc, bất động sản, họ không cho vay với lãi suất bình thường, nếu lạm phát phi mã không được kiểm soát sẽ gây ra những biến động lớn trong nền kinh tế

c)Siêu lạm phát (trên 1000%): xảy ra khi lạm phát tăng với tốc độ cao

vượt qua lạm phát phi mã dẫn đến tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên nhanh chóng, giá cả tăng không ổn định và đồng tiền mất giá Các yếu tố thị trường trở nên biến dạng và gây ra sự gián đoạn trong hoạt động kinh doanh Trên thực tế, siêu lạm phát hiếm khi xảy ra

1.4 Tác động của lạm phát

1.4.1 Tác động đến lĩnh vực sản xuất

Trang 6

Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hóa hoạt động hạch toán kinh doanh Hiệu quả kinh doanh – sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ

có nguy cơ phá sản rất lớn

1.4.2 Tác động đến lĩnh vực lưu thông

Lạm phát làm tăng nhu cầu đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá.Các nhà doanh nghiệp tập trung đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông.Khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao

Do có nhiều người tham gia vào lĩnh vực lưu thông nên nó càng trở nên hỗn loạn,đồng tiền ở trong tay những người vừa bán hàng xong lại nhanh chóng được đầu tư vào lưu thông khiến cho tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt kéo theo lạm phát không ngừng tăng lên

1.4.3 Tác động đến lĩnh vực tiền tệ,tín dụng

- Lạm phát khiến lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng khiến suy thoái kinh tế bắt đầu phát triển

- Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trong việc vay vốn trả góp để đầu cơ kiếm lợi Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao

- Các quốc gia đang phát triển sẽ có những khoản nợ nước ngoài khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỉ giá giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài sẽ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng

1.4.4 Tác động đến cán cân ngân sách –chính sách tài chính của nhà nước

Tác động đến cán cân ngân sách .

Thâm hụt ngân sách là tình trạng số thu thấp hơn số chi tại một quốc gia Việc thâm hụt ngân sách có thể được xem là một nguyên nhân gây nên tình trạng đồng tiền mất giá của một nền kinh tế Như đã biết các phương thức cơ bản có thể tài trợ chi tiêu chính phủ bao gồm:

Tăng thu thuế

Phát hành trái phiếu Chính phủ

In tiền (Lưu ý: Ở nhiều quốc gia, chính phủ không có quyền phát hành tiền để đảm bảo các khoản chi Chính phủ)

Thông thường nếu tài trợ ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu bán cho công chúng sẽ không tác động đến lượng tiền cơ sở và không ảnh hưởng đến lượng cung tiền Tuy nhiên trong một số trường hợp nhà nước tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành thêm tiền có thể sẽ dẫn đến lạm phát kéo dài Từ đó gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế đất nước

Chính sách tài chính của nhà nước.

Trang 7

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang nghiên cứu áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu Đây là bước đi cần thiết nhằm kiềm chế lạm phát về mức một con

số trong trung, dài hạn Tuy nhiên, để cơ chế này được áp dụng một cách hiệu quả cần phải lưu ý một số vấn dề sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần tăng cường quyền hạn và tính độc lập hơn cho Ngân

hàng Nhà nước trong việc xây dựng, thực thi, điều hành chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước sẽ thiết lập và tự chịu trách nhiệm về mức lạm phát mục tiêu trong trung hạn, chủ động sử dụng các công cụ chính sách để đạt được mục tiêu đó

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét đưa ra mức lạm phát mục tiêu trong

ngắn hạn hàng năm Việc thực hiện mức mục tiêu trong ngắn hạn sẽ tạo tiền đề

để thành công chính sách lạm phát mục tiêu trong trung hạn Đồng thời, Ngân

hàng Nhà nước cũng cần đưa ra "ngưỡng" lạm phát tối ưu cho kinh tế Việt Nam.

Trong trường hợp tỷ lệ lạm phát của Việt Nam ở dưới ngưỡng này, Chính phủ

có thể áp dụng các biện pháp để tăng lạm phát đạt xấp xĩ ngưỡng lạm phát mà không sợ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Còn nếu tỷ lệ lạm phát vượt ngưỡng này thì sẽ tác động tiêu cực (ảnh hưởng ngược chiều) đến tăng trưởng, Chính phủ phải tìm cách giảm lạm phát để hỗ trợ tăng trưởng

2 Vai trò của CSTT trong việc kiểm soát lạm phát

2.1 Khái niệm

Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do ngân hàng trung ương là

cơ quan tổ chức và thực hiện với các công cụ, biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu: ổn định giá cả, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế… Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia, chính sách tiền tệ có thể theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất, giảm thất nghiệp nhưng tăng lạm phát- chính sách tiền tệ chống thất nghiệp); hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng- chính sách tiền

tệ ổn định giá trị đồng tiền)

2.2 Vai trò của CSTT trong việc kiểm soát lạm phát

2.2.1 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ

Các cơ quan hữu trách về tiền tệ thường quy định các ngân hàng phải gửi một phần tài sản tại chỗ mình Khi cần triển khai chính sách tiền tệ, cơ quan hữu trách về tiền tệ có thể thay đổi quy định về mức gửi tài sản đó Nếu mức gửi tăng lên như khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, thì lượng tiền mà các ngân hàng còn nắm giữ sẽ giảm đi Do đó, tiền cơ sở giảm đi,và lượng cung tiền

Trang 8

trên thị trường cũng giảm đi.Công cụ mang tính chất hành chính này ngày nay ít được sử dụng ở các nền kinh tế thị trường phát triển

2.2.2 Tái chiết khấu

Tái chiết khấu là phương thức để ngân hàng trung ương đưa tiền vào lưu thông, thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng.Thông qua việc tái chiết khấu, ngân hàng trung ương đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện việc tạo tiền,đồng thời khai thông thanh toán Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông Do đó ảnh hưởng vào lưu thông Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều chỉnh chính sách tiền tệ Tuỳ theo tình hình từng giai đoạn, tuỳ thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính sách “ nới lỏng” hay “ thắt chặt” tín dụng mà ngân hàng trung ương quy định lãi suất thấp hay cao Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng thời kì phải có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế giai đoạn

đó Khi đó ngân hàng trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các ngân hàng thương mại cũng phải nâng lãi suất tính dụng của mình lên để khống bị lỗ vốn Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm “ cầu” về tín dụng và kéo theo giảm cầu

về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi) Do đó đầu tư giảm đi dẫn tới tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm) Trường hợp ngược lại tức là ngân hàng trung ương kích thích tăng cung cầu tiền tệ làm cho giá tăng (tỷ lệ lạm phát tăng) Ở các nước công cụ trực tiếp để thực hiện chiết khấu và chiết khấu là trái phiếu, thương phiếu nhưng ở nước ta chưa có công cụ để thực hiện tái khấu và chiết khấu Công cụ tái chiết khấu vừa có khả năng giải quyết nhanh và có khả năng thanh toán nhanh, mở rộng khối lượng tín dụng cho nền kinh tế Cho nên có thể ví dụ công cụ tái chiết khấu là cái máy bơm 2 chiều vừa hút vừa đẩy Khi bơm là thêm tiền vào nền kinh tế Và bơm hút vào thu hồi lượng tiền khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát

Tuy nhiên khi ngân hàng trung ương ấn định lãi suất chiết khấu tại một mức nào

đó sẽ xảy ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu vì khi đó lãi suất cho vay thay đổi Những biến động này dẫn đến những thay đổi ngoài ý định trong khối lượng cho vay chiết khấu do đó

Trang 9

thauy đổi cung ứng tiền tệ làm cho kiểm soát cung ứng tiền tệ vất vả hơn Đây chính là hạn chế của công cụ tái chiết khấu trong lạm phát

2.2.3 Hoạt động thị trường mở A.Phương thức mua hoặc bán giấy tờ có giá bao gồm:

- Mua có kỳ hạn : là việc Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá từ thành viên, đồng thời thành viên cam kết

sẽ mua lại giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định

- Bán có kỳ hạn : là việc Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá và chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá cho thành viên, đồng thời cam kết sẽ mua lại giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định

- Mua hẳn : là việc Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá và nhận quyền

sở hữu giấy tờ có giá từ thành viên, không kèm theo cam kết bán lại giấy

tờ có giá

- Bán hẳn : là việc Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá và chuyển quyền

sở hữu giấy tờ có giá cho thành viên, không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ có giá

B.Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá

Đấu thầu khối lượng là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng giấy tờ có giá dự thầu của các thành viên, khối lượng giấy tờ có giá cần mua hoặc bán của Ngân hàng Nhà nước và lãi suất do Ngân hàng Nhà nước thông báo

2.2.4 Lãi suất

Việc ổn định lãi suất chính là thực hiện lãi suất tín dụng cung ứng phương tiện thanh toán, cho nền kinh tế quốc dân thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Theo đó, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội

và với một hệ thống lãi suất linh hoạt, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường

2.2.5 Hạn mức tín dụng

Ngoài các công cụ cơ bản trên, ngân hàng Nhà nước còn sử dụng công cụ hạn mức tín dụng để đảm bảo khối lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại không vượt quá mức cho phép, đảm bảo tỷ lệ lạm phát đã được phê duyệt Do

đó, đầu ra vốn huy động bị bế tắc bởi hạn mức tín dụng Việc đặt ra hạn mức tín dụng là rất quan trọng để đạt được mục tiêu chống lạm phát Tuy nhiên, nó cũng

có những nhược điểm gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại Cần phải có giải pháp khắc phục những khó khăn này

Phần II:Thực trạng của việc sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát những năm qua

Giai đoạn từ 1998 đến 2007, để đạt mục tiêu tăng trưởng - mục tiêu được xếp hàng đầu trong nhiều năm liền, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng liên tục theo hướng: lãi suất ổn định (từ 01/12/2005 - 01/02/2008, lãi suất cơ bản luôn giữ ở

Trang 10

gian 10 năm, từ năm 1998 đến hết năm 2007, bình quân tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm khoảng 25%, riêng năm 2007, con số này đạt kỷ lục (cao nhất trong 10 năm) là 37,8% Bên cạnh hoạt động tín dụng, tiền còn được đưa vào lưu thông qua đường chi tiêu ngân sách, thu mua ngoại tệ… Vì vậy, đã đẩy tổng phương tiện thanh toán mỗi năm tăng thêm hơn ¼ số tiền của năm trước (từ

1996 đến hết năm 2007 tổng phương tiện thanh toán tăng thêm bình quân năm là 26,2%, riêng năm 2007 con số này là 37%) trong khi bình quân mỗi năm GDP chỉ tăng lên khoảng 7,2% (GDP từ 1997 đến hết năm 2007 tăng bình quân năm là: 7,2%) Suốt khoảng thời gian dài, khoảng cách giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP luôn ở mức trên dưới 20%, mà trong đó, tốc

độ tăng tổng phương tiện thanh toán luôn ở biên độ cao hơn so với GDP Qua đó cho thấy, cũng trong suốt thời gian ấy, rất nhiều tiền đã được đưa vào lưu thông nhưng đã không tạo ra một lượng GDP tương ứng Mà có lẽ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán trong những năm qua đã trở thành kênh dẫn cho lượng tiền đó và vì thế, cho đến khi hai thị trường này bị thắt lại, lượng tiền thừa thực sự phát huy tác dụng - nếu không lạm phát mới là hiện tượng lạ (thị trường bất động sản bắt đầu phát triển từ những năm 1997, 1998 và mạnh mẽ nhất vào năm 2007 Còn thị trường chứng khoán mới có sức hút tiền trong khoảng 3 năm gần đây)

Biều đồ: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 bằng

100%, cung tiền đo bằng M2

Nguồn: Website của NHNN Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi (tính từ đầu năm 2005 cho đến hết tháng 6/2007), GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền lên đến 110% Trong cùng một khoảng thời gian, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50% Chênh lệch này ở Thái Lan hầu như không đáng kể

Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp Giá cả tăng cao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hoá Việt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây Trong đó đáng quan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng 59,44%, thực phẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm lên mức 2,86%/tháng Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước (2,14%)

Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc

và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị

Ngày đăng: 05/11/2022, 10:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w