1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguồn gốc ngôn ngữ _ bài tập môn dân tộc học đại cương

7 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 19,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BAØI KIEÅM TRA CUOÁI KYØ MOÂN DAÂN TOÄC HOÏC ÑAÏI CÖÔNG Caâu 1 Ngoân ngöõ laø gì? “Vì sao noùi ngoân ngöõ laø moät ñaëc tröng cuûa xaõ hoäi loaøi ngöôøi”? Theo thoáng keâ, hieän nay coù haøng nghìn ng.

Trang 1

BÀI KIỂM TRA CUỐI KỲ MÔN: DÂN TỘC HỌC ĐẠI CƯƠNG

Câu 1: Ngôn ngữ là gì? “Vì sao nói ngôn ngữ là một đặc trưng của xã hội loài người”?

Theo thống kê, hiện nay có hàng nghìn ngôn ngữ được sử dụng trên toàn thế giới Ngôn ngữ được xem như một phương tiện giao tiếp không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày của mội con người Hiểu biết ngôn ngữ tộc người là cách tiếp cận lịch sử và văn hóa tộc người đó Vậy ngôn ngữ là gì? Theo chủ nghĩa Mác thì: “Ngôn ngữ là một hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là ý thức hiện thực, thực tiễn” Còn theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Thiện Giáp: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác” Nhưng định nghĩa chung nhất, khái quát nhất của dân tộc học là: “Ngôn ngữ là sản phẩm cao cấp của ý thức con người, là vật chất được trừu tượng hóa và là hệ thống tín hiệu thứ hai của con người Ngôn ngữ là một phương tiện, một công cụ để con người giao tiếp với nhau, trao đổi tư tưởng và đi đến hiểu nhau”

“Ngôn ngữ là một đặc trưng của xã hội loài người”

Trước hết chúng ta cần định nghĩa “xã hội” là gì? Xã hội là một tập hợp đông đảo những người cùng chung sống Xã hội loài người có những đặc trưng riêng và ngôn ngữ là một trong những đặc trưng ấy

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, loài người được tiến hóa từ vượn người nhờ quá trình lao động Do nhu cầu tìm kiếm thức ăn và đấu tranh để tự vệ, vượn người dần dần đi bằng hai chân sau,

Trang 2

dáng thẳng đứng Song song đó, nhờ quá trình lao động mà hình thành nên ngôn ngữ Tuy ban đầu chỉ là những âm tiết chưa rõ ràng, cần phối hợp với điệu bộ, cử chỉ hình thể để biểu lộ tình cảm cảm xúc, thông tin cho nhau Nhưng thường xuyên trao đổi như thế, bộ óc của người tối cổ cũng phát triển theo và họ hình thành nên tư duy độc lập của riêng mình

Đi bằng hai chân sau, hai bàn tay được giải phóng, dáng đi thẳng kết hợp với việc hình thành ngôn ngữ, phát triển tư duy, con người hoàn toàn tách biệt khỏi cách sống hoang dã với các loài động vật khác, nhất là loài vượn, hình thành một cộng đồng xã hội loài người.Trong xã hội ấy, giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu Trong khi các loài vật giao tiếp với nhau chủ yếu bằng cử chỉ, âm thanh, mùi vị,…con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ Từ khi được sinh ra, ví dụ được sống chung với động vật thì con người mất đi hoàn toàn bản năng của mình, vì vậy cần phải luyện tập thường xuyên cac kỹ năng: nghe, hiểu, nói,…Ngôn ngữ ra đời với chức năng giao tiếp tuyệt nhiên trở thành một phạm trù xã hội, là ngôn ngữ xã hội chứ không phải là phạm trù tự nhiên Kết quả của các quá trình trên là loài người có được ngôn ngữ của riêng mình Động vật không có được những quá trình cũng như đặc điểm trên, nên ngôn ngữ trở thành một đặc trưng của xã hội loài người và chỉ có ở loài người thôi

Xin nói thêm, theo nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Mỹ, đột biến gen FOXP2 là nguyên nhân giúp con người nói được, mặc dù không phải là nguyên nhân duy nhất Đột biến gen này tạo sự khác biệt giữa vượn người và người

Tóm lại, nhiều con người họp lại thành một cộng đồng Con người có thể nói lên những gì tư duy mình suy nghĩ nhờ ngôn ngữ, còn động vật thì không, chính điều đó đã làm cho ngôn ngữ trở thành một đặc trưng cho xã hội loài người

Trang 3

Câu 2: Nhận xét về những giả thuyết nói về nguồn gốc của ngôn ngữ.

Mỗi chúng ta, chắc hẵn ai cũng có nhiều thắc mắc xung quanh vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ Tại sao cùng tiến hóa từ một loài vượn cổ, cùng sinh sống trên Trái Đất này, mỗi đất nước, mỗi dân tộc lại có một thứ tiếng khác nhau Điều quan trọng hơn nữa, tại sao vượn lại không nói được trong khi loài người được tiến hóa từ chúng lại nói được Vậy nguồn gốc của ngôn ngữ ở đây là gì?

Trước khi giả thuyết của Aêng-ghen ra đời thì đã có nhiều giả thuyết khác nhau xung quanh vấn đề này Nhìn chung, các gỉa thuyết chỉ lột tả “hình thức” bên ngoài, tách biệt khỏi ý thức con người, không gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người Chúng ta hãy tìm hiểu một số giả thuyết:

1 Thuyết mô phỏng âm thanh

Thuyềt này phát triển vào thế kỉ XVII-XIX và đến nay vẫn có người ủng hộ Theo thuyết này, toàn bộ ngôn ngữ nói chung và các từ riêng biệt cảu nó đều do ý muốn tự giác hay không tự giác của con người bắt chước những âm thanh của thế giới xung quanh, và gồm những nội dung “bắt chước” khác nhau

Sự “bắt chước” này không có cơ sở khoa học để nói lên rằng nó là điều kiện để làm phát sinh ngôn ngữ Vì thệt ra trong tự nhiên, âm thanh thường đơn giản, không diễn tả hết tất cả những gì con người muốn diễn đạt, hơn nữa bãn thân chủ thể

‘bắt chước’ cũng không nói lên được mình bắt chước để làm gì

Quan điểm phổ biến nhất về sự bắt chức âm thanh là con người dùng cơ quan phát âm của mình mô phỏng những âm thanh do sự vật phát ra Do vậy, sự ‘bắt chước’ này chỉ diễn tả những sự vật đơn giản, còn các khái niệm trừu tượng hay tình cãm con người thì không biết dùng từ gì để nói vì trong tự nhiên vốn không có từ để mà ‘bắt chước’

Trang 4

2 Thuyết tiếng kêu trong phối hợp lao động

Thuyết này xuất hiện vào thế kỉ XIX trong các chương trình của các nhà duy vật như L.Naure, K.Biukher thuyết này cho rằng khi lao động tập thể, con người đã phát ra tiếng kêu để hợp sức với nhau như: dô ta, hầy, hú….cũng có thể là do tiếng hổn hển do hoạt động cơ năng phối hợp nhịp nhàng với động tác lao động….mà từ đó tiếng nói ra đời

Thuyết này tuy có cơ sở thực tế trong sinh hoạt lao động của con người, gần với quan điểm mácxít

‘chính trong quá trình lao động đã phát sinh ra ngôn ngữ Tuy nhiên, những tiếng kêu, những âm tiết rời rạc này chỉ phối hợp với lao động thôi, tức là ngoài lao động ra, khi ăn uống, sinh hoạt thì con người vẫn không nói được Hơn nữa động vật cũng có thể phát ra tiếng thở và sống thành bầy đàn, nhưng chúng không có ngôn ngữ Những tiếng kêu trong lao động là do tự nó phát sinh ra mà thôi, không có sự điều khiển của bộ óc con người, họ cũng không hiểu ý ngiã của những từ đó là gì Tóm lại, tuy có lao động, có phát ra tiếng nói, nhưng tiếng nói này không bổ trợ cho việc phát triễn tư duy, thuyết vẫn không hợp lí

3 Thuyết cảm thán bộc lộ tâm lí, tình cảm.

Thuyết này do Eâpiquya (341-20 TCN) và Lucrexơ Car (99-55 TCN) đề xướng Thuyết cho rằng, con người cũng không có tiếng nói mà đã biến những tiếng kêu trong tự nhiên thành các âm thanh biểu hiện cảm xúc con người như: ái, ối chà, a, ô,…

Nhưng tại sao những tiếng kêu trong tự nhiên chỉ biến thành những tử biểu hiện cảm xúc mà không là những từ trong văn nói hằng ngày Hơn nữa, những người lúc bấy giờ có biết từ nào biểu hiện cảm xúc nào không? Vì vậy, thuyết đã giải thích như sau: người ta sẽ xem xét mối liên hệ gián tiếp giữa âm hưởng của từ và trạng thái cảm xúc của con người, âm tố nào đó gây ra

Trang 5

trong tam hồn chúng ta những ấn tượng giống như những ấn tượng mà các sinh vật đã gây ra cho chúng ta Nếu theo cách giải thích này thì sẽ còn rất lâu con người mới diễn đạt được hết tất cả những gí mình muốn nói Hơn nữa, vấn đề đặt ra trong khi động vật, thực vật, trẻ sơ sinh cũng biểu lộ cảm xúc nhưn chúng đâu nói được Trẻ sơ sinh khi đói, khi đau thì khóc, gặp người quen hay được cho ăn thì cười…Còn động vật, thế giới động vậtlại càng đa dạng hơn: ong, bướm nhận biết đồng loài bằng mùi vị; loài kiến dùng hợp chất với nhiều mùi vị và độ ‘nặng, nhẹ’ do chúgn tiết ra để truyền thông tin cho nhau Trong nhiều nghiên cứu cho thấy, khi trồng cây kết hợp với điệu nhạc nhẹ nhàng, du dương thì cây phát triển mạnh hơn Phải chăng cây đang vui?

Mặc khác, Thuyết cảm thán bộc lộ tâm lí tình cảm cùng với Thuyết tiếng kêu trong lao động chỉ đề cao những gì mà con người ;bắt chứoc’ được trong thiên nhiên thôi, trong khi ngôn ngữ (thuộc phạm trù xã họi) tách biệt hoàn toàn với các phạm trù tự nhiên

4 Thuyết khế ước xã hội.

Thuyết này bắt nguồn từ một số ý kiến của nhà triết học cổ đại Demorie Phát triển vào thế kỉ XVIII, do G.Rut-xô (1712-1776) và Adam Smit (1733-1790) đề xướng, cho rằng ngôn ngữ ra đời do thỏa thuận giữa các tập đoàn người với nhau

Adam Smit nói Khế ước xã hội là là khả năng đầu tiên làm cho ngôn ngữ được hình thành Trong khi G.Rut-xô cho rằng, loài người trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu tiên là giai đoạn tự nhiên, con người là một bộ phận của tự nhiên, nguồn gốc của ngôn ngữ là cảm xúc Giai đoạn sau là gia đoạn vănminh, ngôn ngự là sản phẩm của khế ước xã hội

Khế ước là gì? Khế ước xã hội trong triết học và chính trị họ là một học thuyết mô tả việc con người cùng thỏa thuận từ bỏ trạng thái tự nhiên

Trang 6

để xây dựng cuộc sống cộng đồng Theo thuyết này, thì có lẽ con người tối cổlúc bấy giờ, tư duy phát triển (trước cả việc hình thành ngôn ngữ) nghĩ rằng cần có một ngôn ngữ để trao đổi với nhau dễ dàng hơn, nên đã bàn bạc với nhau để xây dựng một ngôn ngữ Thuyết này thật phi lí, xét về phương diện thời nay để giải thích, thì muốn có một khế ước, trước tiên phải có ngôn ngữ để mà bàn bạc trước, sau đó thống nhất với nhau, con người mới hi vào bản khế ước đó Nhưng thuyết này lại đi ngược lại Không có ngôn ngữ thì làm sao bàn bạc để mà tọa ra khế ứoc được

5 Đến thế kỉ XIX, do ảnh hưởng thuyết tiến hóa luận của Đac-uyn Sáclơ (1868-1954) nên đã có ý kiến cho rằng ngôn ngữ cũng mang tính di truyền tự nhiên như thực vật và động vật.

Thuyết tiến hóa của Đác-uyn: giải thích quá trình hình thành nhựng đặc điểm thích nghi và quá trình hình thành loài mới bằng con đường phân li tính trạng từ một tổ tiên ban đầu dựa trên chon lọc tự nhiên với cơ sở là tính biến dị và dui truyền Nếu dựa trên thuyết này để giải thích sự hình thành ngôn ngữ là do di truyền thì vấn đề đặt ra là ‘tổ tiên ban đầu’ của loài người, tức là người tối cổ làm cacùh nào để hình thành nên ngôn ngữ để mà truyền lại cho thế hệ con cháu?chúng ta lại tìm đến các loài vượn cổ cồi các loài động thực vật, cũng không có kết quả gì vì lúc bấy giờ ngôn ngữ vẫn chưa có

6 Thuyết độc thần nguyên thủy.

Thuyết của Đạo Cơ Đốc giáo do Hồng y giáo chủ Guyôm Smit (1863-1954) đề xướng, cho rằng chúa trời đã sinh ra ngôn ngữ Đao cơ Đốc đã dựa vào đặc điểm là con người nguyên thủy sống thời đó, khi mà các hiện tượng tự nhiên chưa được giải thích một cách khoa học như bây giờ, con người tin vào một cái gì đó thần bí, siêu nhiên, thần thánh nên đã cho rằgn ngôn ngữ cũng từ thần thánh

Trang 7

mà ra Tuy nhiên, sùng bái thần thánh chỉ cầu mong cho mưa thuận gí hòa, trúng mùa, thần thánh ban cho mọi ngườ bình an chớ không ban phát cho con người tiếng nói Vì muốn cầu thần thánh, theo tâm linh thì trước hết phải có ngôn ngữ để nói lên những gì mình muốn cầu mong đã Hơn nữa, dù sao thần thánh cũng là không có thật

Câu 3 Trình bày quan điểm của Aêng-ghen về nguồn gốc của ngôn ngữ.

Những giả thuyết nói về nguồn gốc của ngôn ngữ trên chưa giãi thích cặn kẽ của việc hình thành ngôn ngữ, tại sao được hình thành? Hình thành để làm gì? Dưới đây là quan điểm của Aêng-ghen vế nguồn gốc ngôn ngữ Được xem là học thuyết khoa học, chính xác, và đầy đủ nhất

Theo học thuyết này, con người mới chính là chủ thể sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ ra đời cùng với quá trình lao động Lao động đã hình thành nên loài nguời cũng đồng thời làm phát sinh ra ngôn ngữ Con người được tiến hóa từ một loài vượn cổ Bước đánh dấu sự kiện này là đôi bàn tay được giải phóng Trong cuốn sách bách khoa về chủ nghĩa duy vật biện chứng “Biện chứng

của tự nhiên”, Aêng-ghen đã từng nhận xét: “Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh, bàn tay hoàn toàn khác với bàn chân, với tư thế con người đứng thẳng dẫn tới việc con người hoàn toàn tách khỏi khỉ” Bàn tay, chân hoàn toàn được giải phóng,

cùng với tư thế đứng thẳng tạo điều kiện cho con người chế tạo ra công cụ lao động Hoạt động săn bắt-hái lượm trở thành săn bắn bằng cung tên….cùng với việc tìm ra lửa, giữ lửa và sử dụng lửa để làm chín thức ăn hoạt động lao động của con người dần dần phức tạp lên, hoạt động có sáng tạo hơn, khác hẳn với bản năng của động vật Chính những điều này đã làm cho tư duy con người phát triển Trong tác phẩm “Vai trò của lao động trong sự chuyễn biến từ vượn thảnh người”,

Aêng-ghen viết: Dần dần với sự phát triển của bàn

Trang 8

tay và với quá trình lao động, con người bắt đầu thống trị giới tự nhiên và sự thống trị đó, cứ mỗi lần tiến lên một bước, là nó mở rộng thêm tầm mắt của con người Trong các đối tượng tự nhiên, con người luôn luôn phát hiện ra được những đặc tính mới mà từ trước đến nay chưa từng đựơc biết đến”

Sự phát triển của tư duy được đánh giá bằng mức độ làm biến đổi giới tự nhiên của con người Nó đã phát triển cùng với lao động Aêng-ghen đã

khẳng định: “truớc hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ: đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng tới bộ óc con người”.

Mặc khác, lao động bao giờ cũng là lao động xã hội Lao động phát sinh nhu cầu giao tiếp giữa những người lao động trong tập thể, cộng đồng với nhau Họ xuất hiện nhu cầu giúp đỡ, hợp tác lẫn nhau và có những điều cần phải nói mới được Chính điều này lại là tác động trở ngược lại tư duy, làm tư duy phát triển hơn

Nhưng đây mới chỉ là nhu cầu ‘nói’ của mỗi người thôi Điều quan trọng hơn nữa là khả năng nói của chúng ta Bao gồm khả năng phát âm và

tư duy trừu tượng, có tư duy điều khiễn những gì chúng ta muốn nói Ban đầu do các bộ phận phát âm của con người chưa hoàn thiện: lưỡi, sương cằm, hàm dưới và hệ dây thanh….chưa đủ sức phát ra âm thanh rõ ràng, còn bập bẹ,…phải phối hợp với điệu bộ, cử chĩ tay chân Nhưng, như đã nói, ngôn ngữ phát triển song song với lao động Quá trình phát triển của con người làm biến chuyển chính bản thân con người:dần dần hầu quản biến đổi chắc chắn, khí quản dần dần luyện tập được cách phát ra các âm gãy gọn Phổi và thanh hầu được sử dụng trong việc nói…

Đến một mức phát triển của ngôn ngữ, người

ta có thể bộc lộ tâm tư, tình cảm rõ ràng, có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự vật, hiện

Trang 9

tượng bằng các tên gọi cụ thể và nhận biết chúng một cách gián tiếp, trừu tượng thì ngôn ngữ đa thạt sự trở thành một phương tiện giao tiếp không thể thiếu, gắn mãi mãi với con người

Như vậy, nhờ lao động mà ngôn ngữ ra đời cùng với bản thân con người Trở thành công cụ giao tiếp và là động lực thúc đẩy quá trình lao động sản xuất, văn háo, xã hội của con người không ngừng đổi mới./

Ngày đăng: 04/11/2022, 21:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w