1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Khảo sát kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 và các yếu tố liên quan

53 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Khảo sát kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 và các yếu tố liên quan nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021; tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

LƯU THỊ PHƯƠNG

KHẢO SÁT KIẾN THỨC SỬ DỤNG THUỐC CỦA THAI PHỤ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

NĂM 2021 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC

Hà Nội - 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

Người thực hiện: LƯU THỊ PHƯƠNG

KHẢO SÁT KIẾN THỨC SỬ DỤNG THUỐC CỦA THAI PHỤ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

NĂM 2021 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới người thầy đã

hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp: ThS Nguyễn Xuân Bách – Giảng

viên Bộ môn Khoa học cơ sở Dược, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy đã tận tình hướng dẫn về cả kiến thức và phương pháp luận, đồng thời luôn sát sao, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn ThS Mạc Đăng Tuấn – Giảng

viên Bộ môn Y dược cộng đồng và Y dự phòng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, thầy đã luôn nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn, lắng nghe, giúp đỡ tôi giải quyết từ những vấn đề nhỏ nhất và góp rất nhiều công sức trong nghiên cứu này của tôi

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, cán bộ cùng tập thể các bác

sĩ, điều dưỡng, nhân viên các phòng ban tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập số liệu cho đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn ở bên, động viên và khích lệ giúp tôi vượt qua những gia đoạn khó khăn trong suốt 5 năm đại học cũng như quá trình thực hiện khóa luận này

Hà Nội, ngày 23 tháng 06 năm 2022

Sinh viên

Lưu Thị Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GFR Độ lọc cầu thận (Glomerular Filtration Rate)

TSH Hormone kích thích tuyến giáp

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng điểm đánh giá nhận thức 20 Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu 22 Bảng 3.2 Đặc điểm của gia đình đối tượng nghiên cứu 23 Bảng 3.3 Tiền sử sản khoa của thai phụ 24 Bảng 3.4 Các kênh thông tin sức khỏe của thai phụ 24 Bảng 3.5 Nhận thức của phụ nữ mang thai về việc sử dụng thuốc chung 25

Bảng 3.6 Tỷ lệ phụ nữ tự điều trị/tự mua thuốc không theo kê đơn của

bác sĩ mỗi khi ốm đau trước khi mang thai 26

Bảng 3.7

Tỷ lệ phụ nữ tự điều trị/tự mua thuốc không theo kê đơn của bác sĩ mỗi khi ốm đau trong khi mang thai với triệu chứng cụ thể

26

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tuổi của thai phụ và kiến thức sử dụng

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của thai phụ và kiến thức sử

dụng thuốc trong khi mang thai 29

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của thai phụ và kiến thức

sử dụng thuốc trong khi mang thai 29

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nơi sống của thai phụ và kiến thức sử dụng

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa số lần mang thai của thai phụ và kiến thức

sử dụng thuốc trong khi mang thai 30

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa việc lần mang thai có kế hoạch hoặc không

có kế hoạch và kiến thức sử dụng thuốc trong khi mang thai 31

Bảng 3.14

Mối liên quan giữa nguồn nhận thông tin về thuốc và sử dụng thuốc của thai phụ và kiến thức sử dụng thuốc trong khi mang thai

31

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan quá trình mang thai 3

1.1.1 Đại cương 3

1.1.2 Những thay đổi giải phẫu ở phụ nữ mang thai 3

1.1.3 Những thay đổi sinh lý ở phụ nữ mang thai 4

1.2 Sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai 8

1.2.1 Sự hấp thu thuốc qua nhau thai 8

1.2.2 Sự phân phối và biến dưỡng thuốc từ mẹ qua nhau thai 8

1.2.3 Hệ thống phân loại mức độ an toàn của thuốc đối với phụ nữ mang thai 9 1.2.4 Nguyên tắc trong sử dụng thuốc cho phụ nữ mang thai 10

1.2.5 Ảnh hưởng của thuốc dùng cho phụ nữ mang thai đối với thai nhi 11

1.3 Một số thuốc và vi chất đối với thai nghén 11

1.3.1 Sắt 11

1.3.2 Acid folic 12

1.3.3 Canxi 12

1.3.4 Các vitamin 13

1.4 Những nghiên cứu liên quan trên thế giới và trong nước 14

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới 14

1.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 16

1.5 Khái quát về Bệnh viện phụ sản Hà Nội 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 19

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu 19

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 19

Trang 8

2.5 Biến số, chỉ số nghiên cứu 19

2.6 Quy trình và kỹ thuật thu thập số liệu 21

2.7 Xử lý và phân tích số liệu 21

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu khoa học 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Khảo sát kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 22

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 22

3.1.2 Kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ 25

3.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 27

3.2.1 Tỷ lệ thai phụ đạt kiến thức sử dụng thuốc trong khi mang thai 27

3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc ở thai phụ trong thời kỳ mang thai 28

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 33

4.1 Về đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 33

4.2 Về kiến thức sử dụng thuốc trong quá trình mang thai 34

4.3 Về một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc của đối tượng nghiên cứu 35

4.3.1 Mối liên quan giữa tuổi của thai phụ và kiến thức sử dụng thuốc 35

4.3.2 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và trình độ học vấn của thai phụ và kiến thức sử dụng thuốc 35

4.3.3 Mối liên quan giữa nơi sống, số lần mang thai, việc mang thai theo kế hoạch/không theo kế hoạch và kiến thức sử dụng thuốc 36

4.3.4 Mối liên quan giữa nguồn nhận thông tin thuốc và sử dụng thuốc và kiến thức sử dụng thuốc 36

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

Mang thai và làm mẹ là trọng trách thiêng liêng của người phụ nữ Sự mang thai xảy ra khi giao tử của nữ là noãn bào kết hợp với giao tử của nam là tinh trùng trong quá trình thụ tinh Theo Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, quá trình mang thai thường diễn ra từ 37 đến 41 tuần tính từ ngày kinh cuối cùng [3].Phụ nữ khi mang thai thường xuất hiện các vấn đề về sức khoẻ, có thể bị thiếu máu, thiếu các chất dinh dưỡng, gặp phải một số tình trạng nghiêm trọng liên quan đến thai nghén như: sảy thai, thai lưu, đẻ non, chửa trứng, chửa ngoài tử cung, rau tiền đạo, tiền sản giật,… và thai nhi cũng có nhiều nguy cơ như dị tật, thai suy dinh dưỡng, suy thai, thai mắc bệnh trong tử cung… Nếu thai phụ và thai nhi được thăm khám và quản

lý thai nghén tốt khi xuất hiện những bất thường, đặc biệt được các nhân viên y tế chăm sóc và tư vấn tận tình, chu đáo sẽ giảm thiểu được những nguy cơ trên

Trong các chế độ chăm sóc cho thai phụ, sử dụng thuốc và các vi chất dinh dưỡng là một trong những vấn đề quan trọng giúp thai phụ và thai nhi khỏe mạnh Khi thai phụ đến khám thai, các nhân viên y tế sẽ hướng dẫn cho họ sử dụng một số thuốc thiết yếu, những khoáng chất, vitamin cần thiết cho quá trình hình thành và phát triển Trong trường hợp phát hiện các vấn đề bất thường về sức khoẻ của người

mẹ hoặc thai nhi, thai phụ sẽ được tư vấn, yêu cầu sử dụng thuốc Hiện nay, các chế phẩm thuốc cho phụ nữ mang thai xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường Thai phụ có thể tiếp cận những thông tin về sử dụng thuốc từ nhiều nguồn khác nhau Nếu

họ không được tư vấn đúng và không được trang bị những kiến thức cơ bản về sử dụng thuốc ở đối tượng phụ nữ mang thai sẽ dẫn đến việc sử dụng thuốc hoặc các chất dinh dưỡng sai mục đích, gây nên những hậu quả khó lường

Ngoài ra, nền tảng văn hóa có thể có tác động quan trọng đến nhận thức và thái độ đối với việc dùng thuốc Nhận thức của phụ nữ mang thai về rủi ro liên quan đến thuốc đã được nghiên cứu trước đây Thực tế là hầu hết phụ nữ có nhận thức đúng

về nguy cơ dị tật thai nhi, họ có tâm lý phải tránh dùng thuốc quá mức Các nghiên cứu cũng đã ghi nhận rằng nhận thức sai về nguy cơ có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ một loại thuốc cần thiết cho sức khỏe của mẹ và thai nhi, chẳng hạn việc phụ nữ

tự ý mua thuốc không cần kê đơn là rát phổ biến vì họ cho rằng thuốc không cần kê đơn là thuốc an toàn Vào năm 2019, một nghiên cứu của Thụy Điển đã chỉ ra rằng khoảng 19,4% số người được hỏi (n = 160/824) là người sử dụng thường xuyên (sử dụng thuốc hàng ngày đến vài lần một tuần) và 28,4% (n = 234/824) là người sử dụng thuốc mỗi tuần một lần đến một tháng [28] Trong một nghiên cứu khác của Francesco

Trang 10

Lapi cùng các cộng sự vào năm 2017 cho thấy phần lớn các đối tượng (68%) cho biết

đã sử dụng một hoặc nhiều thuốc thay thế (được định nghĩa là các sản phẩm được sản xuất từ thảo mộc hoặc có nguồn gốc thiên nhiên) trong suốt cuộc đời của họ, 48% phụ nữ mang thai cho biết đã dùng ít nhất một thuốc thay thế trước đây và trong khi mang thai hiện tại nhưng có tới 59,1% đối tượng không thể xác định chính xác loại thuốc thay thế mà họ đang sử dụng [19]

Ở Việt Nam, các cuộc khảo sát cụ thể điều tra thái độ của phụ nữ mang thai đối với việc sử dụng thuốc vẫn còn thiếu cả về độ rộng lẫn chiều sâu Các nghiên cứu trên thế giới không phù hợp với đặc điểm xã hội ở trong nước nên tính ứng dụng không cao Trong khi nguồn thông tin cũng như hiểu biết của thai phụ còn nhiều hạn chế [23]

Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Khảo sát kiến thức sử dụng

thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 và các yếu tố liên quan” với các mục tiêu chính sau:

1 Mô tả kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc của thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan quá trình mang thai

1.1.2 Những thay đổi giải phẫu ở phụ nữ mang thai

1.1.2.1 Thay đổi ở bộ phận sinh dục

- Khi có thai thân tử cung mỗi ngày một to ra Niêm mạc tử cung biến thành ngoại sản mạc Cơ tử cung mềm ra, giảm trương lực Các mạch máu nuôi dưỡng tử cung cũng tăng sinh Cơ ở thân tử cung đặc biệt phát triển mạnh ở lớp giữa là lớp cơ

có các sợi đan chéo nhau

- Tại cổ tử cung: chất nhày ở ống cổ tử cung đặc lại, bịt kín ống này giống như một cái nút chai gọi là nút nhầy cổ tử cung

- Âm đạo mềm, dài ra và có khả năng dãn rộng cho thai nhi chui ra khi sinh

nở

- Dịch âm đạo tăng nhiều hơn, có mầu trắng đục và độ pH toan [2]

1.1.2.2 Thay đổi ở các cơ quan ngoài bộ phận sinh dục

Thay đổi tại vú

Vú căng và mỗi ngày một to ra do các tuyến sữa và các ống dẫn sữa phát triển Quầng vú, núm vú thẫm màu Tại quầng vú nổi các hạt như hạt kê Các mạch máu ở

vú cũng tăng sinh, dãn rộng Gần đến ngày đẻ trong vú đã có sữa non [2]

Thay đổi ở da, cân, cơ và xương khớp

- Xuất hiện các vết xạm trên mặt ở vùng trán, gò má, cổ; vết rạn trên bụng Các cơ nhất là cơ thành bụng cũng mềm và dãn ra

- Hệ thống xương cũng bị ngấm nước nên hơi mềm ra Có thể gặp tình trạng loãng xương do lượng canxi được huy động ra nhiều để tạo xương cho thai nhi

Trang 12

- Những tháng cuối của thai nghén có thể gặp hiện tượng đau, tê bì, mỏi yếu của các chi [2]

Thay đổi ở bộ máy hô hấp

Nhịp thở của thai phụ tăng Khi hô hấp, mức di động của cơ hoành tăng lên và rộng hơn [2]

Thay đổi ở bộ máy tiết niệu

Thận hơi to ra Niệu quản người có thai dài ra, giảm trương lực, lại bị tử cung

to, nặng đè vào nên bị ứ đọng nước tiểu, dễ gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu (viêm

thận-bể thận)

Đến gần tháng đẻ, ngôi thai xuống thấp lại đè vào bàng quang gây đái rắt [2]

Thay đổi ở bộ máy tiêu hoá

Khi thai đã lớn, dạ dày bị tử cung to đẩy lên, nằm ngang ra nên hay ợ hơi hoặc

ợ chua do chảy ngược dịch vị lên thực quản

Răng dễ bị sâu do tình trạng thiếu canxi và từ đó dễ viêm lợi, viêm miệng [2]

Sự tăng trọng lượng cơ thể

Trong suốt thời kỳ thai nghén thai phụ sẽ tăng khoảng 11 đến 12 kg [2]

1.1.3 Những thay đổi sinh lý ở phụ nữ mang thai

Thay đổi tim mạch

Những thay đổi trong hệ thống tim mạch bắt đầu sớm trong thai kỳ, chẳng hạn như khi thai được 8 tuần, cung lượng tim đã tăng 20% Yếu tố chính có thể là giãn mạch ngoại vi Thể tích máu tuần hoàn cũng tăng lên trong thời gian này Giãn mạch ngoại vi dẫn đến giảm 25–30% sức cản mạch hệ thống, do đó cung lượng tim tăng khoảng 40% trong thời kỳ mang thai Cung lượng tim tăng chủ yếu do tăng thể tích nhát bóp và một phần là sự gia tăng nhịp tim Tăng thể tích nhát bóp có thể xảy ra do

sự gia tăng sớm khối lượng cơ thành tâm thất và thể tích cuối tâm trương (nhưng không tăng áp lực cuối tâm trương) Tim được giãn ra theo cơ chế sinh lý bình thường cũng với sự tăng sức co bóp của cơ tim Mặc dù thể tích nhát bóp giảm dần theo thời gian thai kì, nhưng nhịp tim của người mẹ tăng lên, do đó cung lượng tim vẫn tăng lên ở mức ổn định Cung lượng tim tối đa của người mẹ đạt được ở tuổi thai khoảng 20–28 tuần Cung lượng tim thường trở về mức bình thường hai tuần sau khi sinh,

Trang 13

tuy nhiên trong trường hợp một số thay đổi bệnh lý (ví dụ như tăng huyết áp trong tiền sản giật), điều này có thể mất nhiều thời gian hơn [26]

Thay đổi ở thận

Một trong những thay đổi sinh lý đầu tiên phải kể đến là giãn mạch thận ở mẹ xảy ra trong thai kì, do đó mà lưu lượng máu và mức lọc cầu thận (GFR) đều tăng so với mức bình thường khi không mang thai, tương ứng là 40–65 và 50–85% Ngoài

ra, sự gia tăng thể tích huyết tương làm giảm áp lực co bóp trong cầu thận cũng dẫn đến tăng GFR [12] Sức cản mạch giảm ở cả tiểu động mạch ra và tiểu động mạch vào thận và do đó, mặc dù lưu lượng máu qua thận tăng mạnh, áp lực thủy tĩnh ở cầu thận vẫn ổn định Khi GFR tăng, cả nồng độ creatinin và urê huyết thanh đều giảm xuống giá trị trung bình, tương ứng là khoảng 44,2 μmol/l và 3,2 mmol/l Lưu lượng máu đến thận tăng dẫn đến tăng kích thước thận từ 1–1,5 cm, thận đạt kích thước tối

đa vào thời điểm giữa thai kỳ [12]

Ngoài ra trong thời kỳ mang thai của người mẹ còn có những thay đổi trong quá trình tái hấp thu và thải trừ một số chất Khi không mang thai, glucose được lọc

tự do ở cầu thận Trong thời kỳ mang thai, sự tái hấp thu glucose ở ống lượn gần và ống góp kém hiệu quả hơn Do sự gia tăng cả GFR và tính thấm mao mạch ở cầu thận đối với albumin, sự bài tiết protein cũng tăng lên Bài tiết acid uric cũng tăng do tăng GFR và/hoặc giảm tái hấp thu ở ống thận [12]

Thay đổi hô hấp

Nhu cầu oxy của người mẹ tăng lên đáng kể trong thai kỳ Nguyên nhân là do

tỷ lệ trao đổi chất tăng 15% và lượng oxy tiêu thụ tăng 20% Sự tăng thông khí làm cho pO2 động mạch tăng lên và pCO2 động mạch giảm xuống, nhưng không xảy ra nhiễm kiềm hô hấp do bicarbonate huyết thanh giảm xuống Mang thai cũng có thể kèm theo cảm giác khó thở, nhưng không phải do thiếu oxy Đây là hiện tượng sinh

lý bình thường và phổ biến, có thể bắt đầu bất cứ lúc nào trong thai kỳ Khó thở có thể xuất hiện ngay khi nghỉ ngơi hoặc nói chuyện nhưng có thể cải thiện khi hoạt động nhẹ [26]

Thay đổi tiêu hoá

Buồn nôn và nôn rất phổ biến trong thai kỳ, ảnh hưởng đến 50–90% các trường hợp mang thai Đây có thể là một cơ chế thích ứng của thai kỳ Cảm giác buồn nôn xuất hiện thường xuyên hơn ở những trường hợp mang thai có nồng độ hCG cao, chẳng hạn như song thai Các triệu chứng buồn nôn thường hết vào tuần 20 nhưng

Trang 14

khoảng 10–20% bệnh nhân có các triệu chứng sau tuần 20 và một số cho đến cuối thai kỳ Điều chỉnh chế độ ăn uống và theo dõi cân bằng điện giải có thể làm giảm tình trạng này [26]

Những thay đổi cơ học trong đường tiêu hóa cũng xảy ra do tử cung tăng kích thước trong quá trình mang thai Dạ dày ngày càng dịch chuyển lên phía trên, vị trí bình thường bị thay đổi và tăng áp lực trong dạ dày Cơ vòng thực quản cũng giảm hoạt động và các yếu tố này có thể dẫn đến các triệu chứng trào ngược, cũng như buồn nôn và nôn [18]

Thay đổi nội tiết

mẹ vào nhau thai và tăng bài tiết iốt qua nước tiểu [26]

Tuyến thượng thận

Ba loại steroid được sản xuất bởi tuyến thượng thận là mineralocorticoid, glucocorticoid và steroid sinh dục Hệ thống RAA bị kích thích do giảm sức cản của mạch và huyết áp, khiến nồng độ aldosterone tăng Nồng độ angiotensin II tăng lên gấp 2-4 lần và hoạt động của renin tăng gấp 3-4 lần so với mức bình thường khi không mang thai Trong thời kỳ mang thai cũng có sự gia tăng nồng độ deoxycorticosterone trong huyết thanh, globulin gắn corticosteroid (CBG), hormone vỏ thượng thận (ACTH), cortisol và cortisol tự do [26]

Tuyến yên

Tuyến yên phát triển trong thai kỳ và điều này chủ yếu là do sự tăng sinh của các tế bào sản xuất prolactin ở thùy trước Nồng độ prolactin huyết thanh tăng trong giai đoạn 1 của thai kỳ và cao gấp 10 lần khi thai đủ tháng [26] Sản xuất hormone tăng trưởng của tuyến yên giảm nhưng nồng độ hormone tăng trưởng trong huyết thanh lại tăng lên do sản xuất hormone tăng trưởng từ nhau thai Thùy sau tuyến yên sản xuất oxytocin và arginine vasopressin (AVP) Nồng độ oxytocin tăng lên trong thai kỳ và đạt đỉnh khi thai đủ tháng Nồng độ hormone chống bài niệu (ADH) không thay đổi nhưng sự giảm nồng độ natri trong thai kỳ làm giảm nồng độ thẩm thấu [20]

Trang 15

Sự trao đổi đường glucose

Tiểu đường ở mẹ có thể xảy ra trong quá trình mang thai, đó là tiểu đường thai

kì Sự thích nghi trong chuyển hóa glucose cho phép chuyển glucose đến thai nhi để thúc đẩy sự phát triển, đồng thời duy trì đủ dinh dưỡng cho mẹ [11] Tế bào beta tuyến tụy tiết insulin tăng sản, dẫn đến tăng tiết insulin và tăng nhạy cảm với insulin trong thời kỳ đầu mang thai, tuy nhiên sau đó là xuất hiện sự đề kháng insulin ở giai đoạn 2 thai kì Kháng insulin và hạ đường huyết dẫn đến phân giải lipid Nếu chức năng tuyến tụy nội tiết của phụ nữ bị suy giảm và không thể vượt qua tình trạng kháng insulin liên quan đến thai kỳ thì bệnh tiểu đường thai kỳ sẽ xuất hiện [26]

Chuyển hoá lipid

Trong thai kỳ có sự gia tăng mức cholesterol và triglycerid huyết thanh LDL cholesterol tăng tối đa đến 50% và rất quan trọng đối với sự hình thành steroid nhau thai Nồng độ HDL cholesterol cũng tăng lên trong nửa đầu của thai kỳ và giảm trong

ba tháng cuối thai kỳ nhưng nồng độ cao hơn trung bình 15% so với khi không mang thai [26]

Chuyển hóa protein

Phụ nữ mang thai cần tăng lượng protein trong thai kỳ Các axit amin được vận chuyển tích cực qua nhau thai để đáp ứng nhu cầu của thai nhi đang phát triển Trong thời kỳ mang thai, quá trình dị hóa protein giảm đi do tăng phân giải lipid [26] Chuyển hóa canxi

Thai nhi cần trung bình khoảng 30g canxi để duy trì các quá trình sinh lý Hầu hết lượng canxi này được chuyển đến thai nhi trong giai đoạn 3 thai kỳ [10] Thành phần canxi ion hóa trong huyết thanh không thay đổi Do đó, nồng độ canxi trong huyết thanh của mẹ được duy trì trong suốt thời kỳ mang thai và nhu cầu của thai nhi được đáp ứng bằng cách tăng hấp thu canxi ở ruột, tăng gấp đôi so với thời điểm thai

12 tuần Tuy nhiên, nhu cầu cao nhất về canxi là trong gai đoạn 3 của thai kỳ Sự gia tăng hấp thụ canxi sớm này có thể cho phép dự trữ canxi từ trước trong xương của người mẹ [14]

Thay đổi xương và mật độ xương

Có nhiều tranh cãi liên quan đến ảnh hưởng của thai kỳ đối với sự giảm mật

độ xương của mẹ Mặc dù mang thai và cho con bú có liên quan đến sự giảm mật độ xương và tình trạng này có thể phục hồi, nhưng các nghiên cứu không ủng hộ mối

Trang 16

liên quan giữa tình trạng loãng xương thai kỳ và loãng xương bệnh lý có thể xuất hiện sau này [15]

Chuyển hóa nước trong cơ thể

Thể tích dịch ngoại bào tăng 30-50% và thể tích huyết tương tăng 30-40% Lượng máu của mẹ tăng 45% so với khi không mang thai Sự gia tăng thể tích huyết tương đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì lượng máu tuần hoàn, huyết áp

và sự tưới máu tử cung trong thai kỳ [21]

Thay đổi ở bộ máy thần kinh

Về tâm lý và cảm xúc, khi có thai người phụ nữ có thể có các biến đổi thể hiện bằng sự thay đổi tính tình, giảm sút trí nhớ, dễ giận hờn, cáu gắt, có khi khóc lóc Nhiều người bị rối loạn giấc ngủ: ban ngày thì ngủ gà ngủ gật nhưng đêm đến có khi lại không sao nhắm mắt được [2]

1.2 Sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai

1.2.1 Sự hấp thu thuốc qua nhau thai

Phần lớn các loại thuốc được sử dụng trong thai kỳ ở một mức độ nào đó sẽ xâm nhập vào hệ tuần hoàn của thai nhi thông qua sự khuếch tán thụ động qua nhau thai Một số loại thuốc được vận chuyển qua nhau thai bởi các chất vận chuyển tích cực Gần đây, tác động của các chất vận chuyển tích cực như P-glycoprotein đối với việc vận chuyển thuốc đã được chứng minh Mức độ thuốc đi qua nhau thai cũng được điều chỉnh bởi hoạt động của các enzym chuyển hóa thuốc giai đoạn I và II của nhau thai Đặc biệt, các enzym cytochrom P450 (CYP) như CYP1A1, 2E1, 3A4, 3A5, 3A7 và 4B1 đã được phát hiện trong nhau thai đủ tháng Một số enzym như uridine diphosphat glucuronosyltransferase đã được phát hiện và cho thấy có hoạt tính quan trọng trong việc vận chuyển thuốc qua nhau thai

Các dữ liệu thử nghiệm ngày càng tăng về quá trình vận chuyển thuốc qua nhau thai đã giúp các bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định sáng suốt hơn về loại thuốc nào được vận chuyển qua nhau thai một cách đáng kể và từ đó phát triển các chế độ liều hợp lý để giảm thiểu sự tiếp xúc của thai nhi với các thuốc có nguy cơ tiềm ẩn [27]

1.2.2 Sự phân phối và biến dưỡng thuốc từ mẹ qua nhau thai

Chức năng chính của nhau thai là chuyển chất dinh dưỡng và oxy từ mẹ đối với thai nhi và hỗ trợ loại bỏ các chất thải từ bào thai cho người mẹ Tuy nhiên, nó đã

Trang 17

được chứng minh rằng gần như tất cả các loại thuốc được sử dụng trong thời kỳ mang thai, ở một mức độ nào đó có ảnh hưởng đến thai nhi thông qua khuếch tán thụ động Ngoài ra, một số loại thuốc được bơm qua nhau thai bởi các chất vận chuyển tích cực khác nhau nằm trên cả thai nhi và lớp nguyên bào nuôi của mẹ Sự khuếch tán được tạo điều kiện dường như là một cơ chế chuyển giao nhỏ cho một số loại thuốc, và quá trình pinocytosis và thực bào được coi là quá chậm để có ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ thuốc của thai nhi [27]

1.2.3 Hệ thống phân loại mức độ an toàn của thuốc đối với phụ nữ mang thai

Từ năm 1979, FDA đã phân loại mức độ nguy cơ của thuốc đối với phụ nữ mang thai thành 5 nhóm, tương ứng các chữ cái A, B, C, D hoặc X để chỉ ra khả năng gây dị tật bẩm sinh của một loại thuốc nếu được sử dụng trong thời kỳ mang thai Các danh mục được xác định bằng cách đánh giá độ tin cậy của tài liệu và tỷ lệ rủi ro trên lợi ích Trong nhãn sản phẩm thuốc hoặc tờ hướng dẫn sử dụng, thông tin này được tìm thấy trong phần “Sử dụng thuốc cho các đối tượng cụ thể” Theo đó, thuốc được phân loại vào một trong 5 nhóm sau:

- Nhóm A: Các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát không chứng minh được nguy cơ đối với thai nhi trong ba tháng đầu của thai kỳ (và cả trong ba tháng sau) Một số thuốc hoặc hoạt chất trong nhóm này là: levothyroxine, axit folic, liothyronine,…

- Nhóm B: Các nghiên cứu trên động vật không chứng minh được nguy cơ đối với thai nhi và không có nghiên cứu đầy đủ, có kiểm soát chứng tỏ nguy cơ ở phụ nữ mang thai Một số thuốc hoặc hoạt chất trong nhóm này là: metformin, hydrochlorothiazide, cyclobenzaprine, amoxicillin,…

- Nhóm C: Các nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc có tác dụng phụ đối với thai nhi nhưng chưa có nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát ở người, tuy nhiên những lợi ích của thuốc có thể đảm bảo cho việc sử dụng ở phụ nữ mang thai bất chấp nguy cơ rủi ro Một số thuốc hoặc hoạt chất trong nhóm này là: gabapentin, amlodipine, trazodone,…

- Loại D: Có bằng chứng về nguy cơ đối với thai nhi dựa trên kinh nghiệm dùng thuốc lâu dài, nhưng trong một số trường hợp lợi ích điều trị của thuốc có thể đảm bảo việc sử dụng ở phụ nữ mang thai bất chấp nguy cơ rủi ro Một số thuốc hoặc hoạt chất trong nhóm này là: losartan, phenytoin, lithium,…

Trang 18

- Loại X: Các nghiên cứu trên động vật hoặc con người đã chứng minh những bất thường của thai nhi và/hoặc có bằng chứng về nguy cơ đối với bào thai ở người dựa trên kinh nghiệm dùng thuốc lâu dài và nguy cơ này cao hơn lợi ích điều trị ở phụ nữ mang thai Một số thuốc hoặc hoạt chất trong nhóm này là: atorvastatin, simvastatin, methotrexate, finasteride,…[16]

1.2.4 Nguyên tắc trong sử dụng thuốc cho phụ nữ mang thai

1.2.4.1 Sự thay đổi về liều lượng thuốc ở phụ nữ có thai

Những thay đổi sinh lý của thai kỳ có thể dẫn đến giảm nồng độ trong máu

của một số thuốc Lượng nước trong cơ thể tăng lên 8 lít trong thời gian mang thai, tăng thể tích phân bố Các protein huyết thanh liên kết với thuốc cũng thay đổi nồng

độ đáng kể Chuyển hóa gan tăng trong thời kỳ mang thai Phenytoin được thải trừ với tỷ lệ gấp đôi ở phụ nữ không mang thai Ngược lại, các thuốc đào thải phụ thuộc vào lưu lượng máu của gan, chẳng hạn như propranolol, không thay đổi độ thanh thải khi mang thai Lưu lượng máu qua thận tăng gần gấp đôi vào ba tháng cuối thai kỳ Thuốc thải trừ qua thận ở dạng không biến đổi thường bị thải trừ nhanh hơn, nhưng điều này được chứng minh chỉ quan trọng về mặt lâm sàng trong một số trường hợp

Ví dụ, độ thanh thải ampicillin tăng gấp đôi trong thai kỳ và liều sử dụng đối với nhiễm trùng toàn thân cũng nên được tăng gấp đôi, tuy nhiên trong nhiễm trùng tiết niệu điều này là không cần thiết Ảnh hưởng chính của những thay đổi sinh lý này là một số loại thuốc, như thuốc chống co giật và các dẫn xuất của theophylin có thể bị thay đổi trong phân bố và thải trừ dẫn đến điều trị không hiệu quả vì không đủ nồng

độ thuốc trong máu [24]

1.2.4.2 Theo dõi nồng độ thuốc trong thời kỳ mang thai

Nồng độ thuốc nên được đo vào các khoảng thời gian hàng tháng trong suốt thời gian mang thai và vào tuần đầu tiên, tuần thứ 4 sau khi sinh Liều lượng thuốc cần thiết thường tăng trong thai kỳ đặc biệt trong giai đoạn 3 nhưng giảm trong giai đoạn hậu sản Liều lượng thuốc cần tăng có thể khá lớn, ví dụ, một phụ nữ bình thường dùng liều 300 mg phenytoin một ngày có thể cần đến liều 600 mg một ngày

ở thời điểm cuối thai kỳ để ở duy trì nồng độ thuốc trong khoảng điều trị Cần cân nhắc tới 2 vấn đề là khả năng kiên kết của thuốc với protein huyết tương và khoảng nồng độ điều trị của thuốc khi tính toán liều lượng thuốc cần thiết trong thời kỳ mang thai [24]

1.2.4.3 Vận chuyển thuốc qua nhau thai

Trang 19

Nhau thai có bản chất chất là một hàng rào lipid giữa tuần hoàn của mẹ và thai nhi Thuốc đi qua nhau thai bằng cơ chế khuếch tán thụ động Phân tử thuốc có khả năng tan trong lipid, không ion hóa, khối lượng phân tử thấp sẽ đi qua nhau thai nhanh hơn những phân tử thuốc có tính phân cực Tuy nhiên hầu hết các loại thuốc sẽ đạt nồng độ gần bằng nhau ở 2 bên nhau thai theo thời gian Vì vậy, khi kê đơn thuốc cho phụ nữ mang thai cũng cần cân nhắc đến khả năng vận chuyển của thuốc qua nhau thai [24]

1.2.5 Ảnh hưởng của thuốc dùng cho phụ nữ mang thai đối với thai nhi

Bất kì thuốc nào đều có tác dụng không mong muốn bên cạnh những lợi ích điều trị của nó Việc sử dụng thuốc của người mẹ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thai nhi Tuy nhiên, nếu tình trạng nghiêm trọng của người mẹ không được điều trị cũng

có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, do đó cần phải lựa chọn các loại thuốc được chứng minh là an toàn Cần phải cân nhắc cẩn trọng giữa lợi ích điều trị và những nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi của thuốc trước khi quyết định sử dụng Bên cạnh độc tính trực tiếp đối với phôi thai hoặc thai nhi, các phản ứng có hại của thuốc đối với phụ nữ mang thai có thể có ảnh hưởng gián tiếp đến thai nhi Một

số thuốc có khả năng gây quái thai nghiêm trọng không nên dùng trong thai kỳ, đặc biệt là không dùng trong ba tháng đầu có thể kể đến như: các Retinoids, Thalidomide, Mycophenolate, Androgen, Carbamazepine, Methotrexate, Phenytoin, Phenobarbital, … Các loại thuốc có tác dụng phụ gây hại cho thai nhi khi sử dụng trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ như: Benzodiazepine, Lithium, Aminoglycoside, Warfarin, Tetracyclines, các thuốc chẹn thụ thể AT1, các thuốc kháng giáp,…[13]

1.3 Một số thuốc và vi chất đối với thai nghén

1.3.1 Sắt

Phụ nữ mang thai thường cần hàm lượng sắt cao để tạo máu cho con Thực tế nhu cầu về chất sắt thường vượt quá nguồn sắt thai phụ có sẵn Nếu chế độ dinh dưỡng không bù đủ nhu cầu tăng lên khi có thai và cho con bú hoặc thai phụ bị nhiễm các bệnh do vi trùng và ký sinh trùng sẽ làm tăng nguy cơ cho mẹ và thai

Hậu quả của thiếu sắt đối với người mẹ:

- Mỏi mệt, suy yếu do thiếu oxy, tim hoạt động nhiều có thể dẫn đến suy tim

- Sức đề kháng giảm, dễ bị mắc các bệnh khác nhất là nhiễm khuẩn hậu sản

Trang 20

- Khi chuyển dạ thường rặn yếu, gây chuyển dạ kéo dài, co hồi tử cung kém nên dễ bị băng huyết

- Trong thời kỳ hậu sản: tiết sữa kém, mất sữa sớm

Hậu quả của thiếu sắt đối với thai nhi:

- Thiếu oxy làm thai chậm phát triển, tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân rất cao, trẻ dễ bị thiếu máu do thiếu sắt

- Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng và mắc các bệnh đường tiêu hoá do không thực hiện được tốt việc nuôi con bằng sữa mẹ, ăn sam quá sớm [4-6, 8]

1.3.2 Acid folic

Axit folic (folate) còn gọi là vitamin B9, là một loại vitamin cần thiết cho dinh dưỡng hằng ngày của cơ thể người, giúp tổng hợp AND và là một trong những vi chất

quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của bào thai, nhất là hệ thần kinh

Hậu quả của thiếu axit folic là khiếm khuyết ống thần kinh gây ra vô sọ, thoát

vị não- màng não, hở đốt sống, gai đôi cột sống và làm tăng nguy cơ dị tật ở tim, chi, đường tiểu, sứt môi, hở hàm ếch…

Vì ống thần kinh của thai nhi được hình thành trong 4 tuần đầu của thai kì, nên việc bổ sung axit folic phải được thực hiện ngay từ khi có ý định mang thai cho đến hết 3 tháng đầu của thai kì [3, 5, 6]

1.3.3 Canxi

Canxi là chất khoáng thiết yếu rất cần cho cơ thể người với số lượng đòi hỏi cao so với các loại chất khoáng khác như sắt, đồng, kẽm Canxi là thành phần chủ yếu cấu tạo nên bộ xương và răng, nhưng cũng là một yếu tố không thể thiếu tạo nên quá trình đông máu và còn tham gia vào các hoạt động co giãn tế bào cơ

Với phụ nữ có thai, canxi không những cần cho mẹ mà còn rất cần cho thai Nguồn cung cấp canxi cho con là do sự thẩm thấu canxi từ máu mẹ qua rau thai vào máu con Phần lớn lượng canxi này cùng với phospho cấu tạo nên bộ xương thai nhi

Khi có thai, nhu cầu canxi tăng lên: trong 3 tháng đầu, nhu cầu là 800 mg nhưng 3 tháng giữa là 1.000 mg, 3 tháng cuối và khi nuôi con bú là 1.500 mg vì thai càng lớn thì xương thai nhi càng phát triển

Người có thai thiếu canxi có thể thấy mệt mỏi, đau nhức bắp cơ, tê chân, đau lưng, đau khớp, răng lung lay, chuột rút, nặng hơn nữa thì lên cơn co giật do hạ canxi

Trang 21

huyết quá mức mà biểu hiện đặc trưng là co giật các cơ mặt và chi trên với bàn tay

co rúm, các ngón tay chụm lại giống như bàn tay người đỡ đẻ

Đối với thai, thiếu canxi sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng ngay khi còn trong bụng

mẹ, bị còi xương bẩm sinh, biến dạng các xương gây dị hình, lùn thấp [1, 3, 6]

1.3.4 Các vitamin

1.3.4.1 Vitamin C

Vitamin C thuộc nhóm tan trong nước Nó không có khả năng tồn tại lâu trong

cơ thể, lượng vitamin thừa sẽ được thải ra ngoài ngay Ở phụ nữ mang thai, nhu cầu

về chất này tăng cao nên hàm lượng của nó trong máu thường giảm Những nghiên cứu trước đây cho thấy:

- Vitamin C rất quan trọng đối với cấu trúc của các màng làm từ collagen

- Ở phụ nữ có thai, hàm lượng vitamin C trong máu và trong bạch cầu (kho dự trữ chất này) thường giảm

- Người không dùng đủ vitamin C trước và trong khi có thai dễ bị ối vỡ sớm

1.3.4.2 Vitamin A

Vitamin A có vai trò đặc biệt trong hoạt động thị giác Thiếu vitamin A sẽ làm tăng tỉ lệ mắc bệnh nhiếm khuẩn và tử vong, gây khô mắt, có thể dẫn đến mù loà vĩnh viễn nếu không được điều trị

Đối với người phụ nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt, không cần bổ sung về Vitamin A trong suốt thời kỳ mang thai Trong 3 tháng đầu của thời kỳ có thai, thậm chí phải tránh dùng vitamin A liều cao vì nguy cơ dị dạng Đối với người phụ nữ dinh dưỡng kém, vitamin A là chất dinh dưỡng cần được chú ý đặc biệt Trong thời gian mang thai cũng như sau khi sinh người mẹ cần được dinh dưỡng tốt để đảm bảo việc cung cấp đủ vitamin A cho nguồn sữa mẹ [3, 6, 9]

1.3.4.3 Vitamin D

Vitamin D có vai trò giúp cho cơ thể hấp thu các khoáng chất như canxi, photpho (nếu cơ thể thiếu vitamin D, lượng canxi đưa vào cơ thể từ thức ăn hàng ngày chỉ được hấp thu có khoảng 20%) vì thế dễ gây các hậu quả như trẻ còi xương ngay trong bụng mẹ hay trẻ đẻ ra bình thường nhưng thóp liền lâu [3, 9]

1.3.4.4 Vitamin B1, B2

Trang 22

Vitamin B1 là yếu tố cần thiết để chuyển hoá glucid, vitamin B2 tham gia quá trình tạo máu Thiếu vitamin B2 sẽ gây thiếu máu nhược sắc, nếu kèm theo việc thiếu hụt cả acid folic gây thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, và nếu thiếu thêm cả chất đạm, cơ thể sẽ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu lớn do dinh dưỡng [3, 6]

1.4 Những nghiên cứu liên quan trên thế giới và trong nước

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới

Năm 2012, Bole Sub-City Health Bureau cùng các cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên những phụ nữ đang chờ được tư vấn tại các bệnh viện phụ sản được lựa chọn ở Addis Ababa, Ethiopia Những phụ nữ mang thai được chọn ngẫu nhiên và sau đó phỏng vấn bằng cách sử dụng bảng câu hỏi chuẩn hóa Một bảng câu hỏi đã được chuẩn bị và tính hợp lệ của bảng câu hỏi được đánh giá thông qua thảo luận sâu với các chuyên gia y tế Bảng câu hỏi chuẩn hóa đã được thử nghiệm trước trên 15 phụ nữ trước khi thu thập dữ liệu thực tế Nội dung của bảng câu hỏi là thông tin nhân khẩu học xã hội của phụ nữ, cách tiêu thụ thuốc (khi bắt đầu sử dụng,

lý do sử dụng, vấn đề tự dùng thuốc), kiến thức về NSAID (mục đích, hiệu quả, chống chỉ định, tác dụng phụ), nhận thức về NSAID (an toàn và hiệu quả) và nguồn thông tin về nguy cơ trong thai kỳ Sau đó, cuộc phỏng vấn diễn ra Vào cuối cuộc phỏng vấn, thông tin chung về sự an toàn của NSAIDs trong thời kỳ mang thai đã được đưa ra.Tổng cộng có 224 phụ nữ mang thai tham gia vào nghiên cứu Trong số đó, 203 (90,6%) trong số họ đã sử dụng NSAID từ khi bắt đầu mang thai Khoảng 201 (89,7%), 198 (88,4%) và 189 (84,4%) phụ nữ mang thai cho rằng ibuprofen, diclofenac và aspirin tương ứng không phải là NSAID Về tác dụng giảm đau của NSAID, 97 (43,3%) phụ nữ mang thai cho rằng NSAID có tác dụng điều trị cơn đau Acetaminophen được 84 (37,50%) bệnh nhân coi là phương pháp điều trị đau hiệu quả nhất.Kết quả: Acetaminophen là loại thuốc giảm đau phổ biến nhất được hầu hết phụ nữ mang thai sử dụng Kiến thức của phụ nữ mang thai về NSAID còn kém [17]

Năm 2017, Nurul Afiqah Amani Binti Zaaba cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu nhận thức về tác dụng có hại của thuốc đối với thai nhi trong thời kỳ mang thai của phụ nữ đã có gia đình Một bảng câu hỏi được soạn thảo nhằm đánh giá nhận thức của phụ nữ đã kết hôn về tác dụng có hại của thuốc đối với thai nhi trong thời

kỳ mang thai 100 phụ nữ đã lập gia đình được đưa ra một cách ngẫu nhiên và hoàn thành bảng câu hỏi Dữ liệu thu được đã được lập bảng và phân tích Hầu hết những người tham gia (94%) của nghiên cứu này đã được kê đơn thuốc trong lần mang thai

Trang 23

trước của họ, và phần lớn (92%) trong số họ có kiến thức về các loại thuốc được chỉ định Trong lần mang thai trước của họ, 15% người được hỏi dùng các loại thuốc khác như thuốc bổ sung và chỉ 7% từ họ lấy các loại thảo mộc Khoảng 97% số người được hỏi biết rằng một số loại thuốc nhất định có thể gây tác động tiêu cực đến con

họ và có khả năng dẫn đến bất thường ở trẻ em Khoảng 89% người được hỏi cũng tin rằng họ sẽ mất con nếu họ dùng thuốc quá mức hoặc không theo dõi của bác sĩ

Do đó, nghiên cứu này giúp nâng cao nhận thức của họ về loại thuốc được sử dụng trong thai kỳ cũng như tác dụng phụ của nó đối với chúng và cả thai nhi Kết quả chỉ

ra cá nhân có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng có kiến thức tốt hơn về các loại thuốc và việc mang thai của họ [30]

Cũng trong năm 2017, Francesco Lapi cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu để khám phá cách sử dụng, thái độ, kiến thức và niềm tin của phụ nữ mang thai

về các loại thuốc bổ sung và thay thế, được định nghĩa là các sản phẩm được sản xuất

từ thảo mộc hoặc có nguồn gốc tự nhiên Một cuộc khảo sát sơ bộ được thực hiện trên

172 phụ nữ mang thai trong quý 3 của thai kỳ, được tuyển chọn liên tiếp ở hai cơ sở sản khoa; 15 phụ nữ được chọn ngẫu nhiên để tính toán phân tích kiểm tra lại Tỷ lệ phản hồi là 87,2% Phân tích kiểm tra để cho thấy khả năng tái lập của bảng câu hỏi vượt quá K-giá trị 0,7 cho tất cả các mặt hàng Tuổi trung bình là 32,4 ± 0,4 tuổi; hầu hết phụ nữ là nulliparae (62,7%) Phần lớn các đối tượng (68%) tuyên bố đã sử dụng một hoặc nhiều thuốc thay thế trong suốt cuộc đời của họ; 48% phụ nữ mang thai cho biết đã dùng ít nhất một thuốc thay thế trước đây và trong khi mang thai Việc phụ nữ thường xuyên sử dụng thuốc thay thế có nghĩa là họ có nguy cơ cao hơn khi sử dụng thuốc thay thế trong thời kỳ mang thai (tỷ lệ chênh lệch đã điều chỉnh = 10,8; khoảng tin cậy 95%: 4,7–25,0) Hơn nữa, 59,1% đối tượng không thể xác định chính xác loại thuốc thay thế mà họ đang sử dụng Phần lớn phụ nữ nhờ đến bác sĩ phụ khoa như là nguồn thông tin chính về thuốc thay thế trong khi mang thai, trong khi họ chủ yếu nhờ đến bác sĩ thảo dược khi không mang thai [19]

Năm 2018, Marlene Sinclair cùng các cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá hoạt động tìm kiếm trên Internet của phụ nữ mang thai về

độ an toàn của thuốc, kiến thức và nhận thức về nguy cơ của thuốc và sự sẵn lòng dùng thuốc theo toa và không theo toa hoặc mua thuốc trực tuyến Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 72 câu Kết quả cho thấy trong số 284 người được hỏi, 39% đã dùng thuốc khi mang thai và 76% đã tìm kiếm thông tin an toàn của thuốc trên Internet Thuốc giảm đau là danh mục được tìm kiếm nhiều nhất (41%) Các trang

Trang 24

web dịch vụ y tế là nguồn trực tuyến phổ biến nhất và được coi là hữu ích và đáng tin cậy nhất Bất kể tuổi tác và trình độ học vấn, 90% phụ nữ đồng ý rằng nếu cố gắng mang thai, họ sẽ cân nhắc lại việc dùng bất kỳ loại thuốc nào vì nguy cơ có thể xảy

ra cho thai nhi của họ 46% phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn coi việc mua thuốc trực tuyến là an toàn, một tỷ lệ lớn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp hơn 5% phụ nữ cho biết đã mua thuốc trực tuyến [25]

Vào năm 2019, Nhận thức của phụ nữ về việc sử dụng thuốc khi mang thai và cho con bú - Một nghiên cứu bảng câu hỏi cắt ngang Thụy Điển đã được Emelie Wolgast cùng các cộng sự nghiên cứu Một câu hỏi bảng đã được phát triển về việc

sử dụng thuốc, công thức về việc sử dụng thuốc, công thức về kết quả thai nghén như nhận liên quan đến việc sử dụng thuốc trong thai kỳ Tổng cộng có 850 phụ nữ mang thai ở tuần thai 25-29 tham gia nghiên cứu Kết quả: Tỷ lệ phản hồi là 92,7% (n = 832/898) Khoảng 19,4% số người được hỏi (n = 160/824) là người sử dụng thường xuyên (sử dụng thuốc hàng ngày đến vài lần một tuần) và 28,4% (n = 234/824) là người thường xuyên suốt (sử dụng thuốc mỗi tuần một lần đến một tháng) Đa số cho rằng việc sử dụng thuốc trong thời kỳ đầu mang thai (61,4%, n = 501/816), cuối thai

kỳ (55,6%, n = 455/819) và cho con bú (57,7 %, n = 474/821) là có thể có hại hoặc

có hại Những điều này phát triển phổ biến hơn ở những người không sử dụng (hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng thuốc) hơn những người thường xuyên (P-value

<0,001, <0,001 và 0,007) Phụ nữ mang thai rất tin tưởng vào lời khuyên của bác sĩ (83,8%, n = 666/795) hoặc nữ hộ sinh (77,0%, n = 620/805) về việc sử dụng thuốc khi mang thai Kết luận: Đa số phụ nữ mang thai ở Thụy Điển coi việc sử dụng thuốc khi mang thai là “có thể có hại” hoặc “có tổn hại”và nhận thức này có liên quan đến việc không sử dụng thuốc Những phụ nữ mang thai trong nghiên cứu có sự tin tưởng cao vào các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khi tìm kiếm lời khuyên; do đó phụ nữ mang thai nên chủ động trong việc hỏi đáp những vấn đề mà họ quan tâm với nhân viên y tế, vì điều này có thể giúp nhân viên y tế tư vấn hiệu quả hơn [28]

1.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc đối với thai phụ Một nghiên cứu vào năm 2020, bác sĩ Phùng Thị Mai Loan cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát kiến thức về dự phòng dị tật bẩm sinh của phụ nữ trong độ tuổi 15-49 đang mang thai và xác định một số yếu

tố liên quan đến kiến thức dự phòng dị tật bẩm sinh Đối tượng là các phụ nữ 15-49 tuổi mang thai đến khám tại trung tâm y tế, có đầy đủ các thông tin theo yêu cầu và

Trang 25

đồng ý tham gia phỏng vấn Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện Việc khảo sát ý kiến về các yếu tố nguy cơ có thể gây dị tật bẩm sinh: mẹ nhiễm khuẩn, dùng thuốc không theo đơn bác sĩ, mẹ hút thuốc lá, mẹ uống rượu, mẹ mang gen di truyền, mẹ béo phì, tiểu đường, mẹ trên 35 tuổi cho kết quả như sau: Nhóm tuổi 35-49 có câu trả lời đúng từ 88,2% đến 100% cao hơn nhóm tuổi 15-49 47,3% đến 100% Kiến thức về các yếu tố nguy cơ dị tật bẩm sinh theo nghề nghiệp: Nhóm phụ nữ là cán bộ, công chức có câu trả lời đúng 80% đến 100% cao hơn nhóm phụ nữ có nghề buôn bán nội trợ 55,2% đến 94,7% Kiến thức về dự phòng dị tật bẩm sinh: Sử dụng Iod, uống Acidfolíc, tiêm ngừa vaccine, khám thai cho kết quả: Nhóm tuổi 35-49 có câu trả lời đúng 64,7% đến 100% cao hơn nhóm tuổi 15-24: 63,1% đến 84,2% Nhóm phụ nữ trong tất cả các nghề trả lời về nội dung này có tỉ lệ tương đồng (không có sự chênh lệch cao) [7]

1.5 Khái quát về Bệnh viện phụ sản Hà Nội

Bệnh viện Phụ sản Hà Nội được thành lập năm 1979, trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nay đã trở thành bệnh viện chuyên khoa Phụ sản hạng I của Thành phố Hà Nội cũng như của các tỉnh trong khu vực Hiện, bệnh viện có hơn 1.726 cán bộ công nhân viên chức trong đó có 1 Phó giáo sư,

13 Tiến sỹ, 140 Thạc sỹ , 58 Bác sỹ chuyên khoa II, 76 Bác sỹ chuyên khoa I, 459 trình độ đại học và 932 Hộ sinh, Điều dưỡng và Kỹ thuật viên Năm 2021, tổng số lượt khám bệnh là 312.762, bao gồm cả trong và ngoài giờ Tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 58.711 Tổng số ca đẻ tại bệnh viện là 33.856, trong đó mổ đẻ là 19.598 Số bệnh nhân mổ phụ khoa là 2.726, mổ nội soi 3.149 Toàn thể cán bộ nhân viên y tế của bệnh viện luôn không ngừng phát triển nâng cao tay nghề đồng thời trang bị các trang thiết bị y tế mới, hiện đại nhằm tối ưu hoá chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân, trở thành địa chỉ uy tín trong lĩnh vực Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ Đây cũng là nơi làm việc và nghiên cứu của đội ngũ y – bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, có nhiều năm kinh nghiệm khám, chữa bệnh tại nhiều chuyên khoa khác nhau Bên cạnh phát triển về mặt kĩ thuật và chuyên môn, Bệnh viện phụ sản Hà Nội còn luôn chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và liên tục nâng cấp cơ sở vật chất với mục đích đem đến những trải nghiệm tốt nhất cho người dân Tất cả là để hướng đến mục tiêu nâng tầm chất lượng khám, chữa bệnh ngang tầm với các nước trên thế giới, đưa đến bệnh nhân những dịch vụ tốt nhất Đến năm

2010, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội được bình chọn là đơn vị khám và điều trị về Sản phụ khoa tốt nhất trên cả nước Bên cạnh đó, bệnh viện còn được trao tặng Huân

Trang 26

chương Lao động hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác đến từ các cấp chính quyền địa phương

Ngày đăng: 04/11/2022, 04:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Huỳnh Nam Phương (2010), Tiếp thụ xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc Mường ở Hòa Bình, Luận án Tiến sĩ, Viện Dinh dưỡng Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp thụ xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc Mường ở Hòa Bình
Tác giả: Huỳnh Nam Phương
Năm: 2010
5. Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Vai trò của sắt trong cơ thể, Cập nhật lâm sàng về Sản phụ khoa, Hội thảo khoa học, Hội Sản phụ khoa và sinh đẻ có kế hoạch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của sắt trong cơ thể
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2013
6. Phạm Duy Tường (2008), Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, Tài liệu dùng cho đào tạo Bác sĩ đa khoa, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
Tác giả: Phạm Duy Tường
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
8. Vũ Bá Quyết (2013), Thiếu máu thiếu sắt trong Sản khoa và liệu pháp sử dụng sắt, Cập nhật lâm sàng về Sản phụ khoa, Hội thảo khoa học, Hội Sản phụ khoa và sinh đẻ có kế hoạch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu máu thiếu sắt trong Sản khoa và liệu pháp sử dụng sắt
Tác giả: Vũ Bá Quyết
Năm: 2013
9. Vương Tiến Hòa (2004), Làm mẹ an toàn: những thành công và thách thức, Những vấn đề thách thức trong sức khỏe sinh sản hiện nay, NXB Y học Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm mẹ an toàn: những thành công và thách thức
Tác giả: Vương Tiến Hòa
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội. Tiếng Anh
Năm: 2004
10. Kovacs C. S. (2000), "Calcium and Phosphate Metabolism and Related Disorders During Pregnancy and Lactation", in K. R. Feingold, et al., Editors, Endotext, South Dartmouth (MA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Calcium and Phosphate Metabolism and Related Disorders During Pregnancy and Lactation
Tác giả: Kovacs C. S
Năm: 2000
11. Angueira A. R., et al. (2015), "New insights into gestational glucose metabolism: lessons learned from 21st century approaches", Diabetes. 64(2), pp. 327-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New insights into gestational glucose metabolism: lessons learned from 21st century approaches
Tác giả: Angueira A. R., et al
Năm: 2015
12. Cheung K. L. and Lafayette R. A. (2013), "Renal physiology of pregnancy", Adv Chronic Kidney Dis. 20(3), pp. 209-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Renal physiology of pregnancy
Tác giả: Cheung K. L. and Lafayette R. A
Năm: 2013
13. Dathe K. and Schaefer C. (2019), "The Use of Medication in Pregnancy", Dtsch Arztebl Int. 116(46), pp. 783-790 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Use of Medication in Pregnancy
Tác giả: Dathe K. and Schaefer C
Năm: 2019
14. Davison J. M., et al. (1989), "Changes in the metabolic clearance of vasopressin and in plasma vasopressinase throughout human pregnancy", J Clin Invest. 83(4), pp. 1313-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changes in the metabolic clearance of vasopressin and in plasma vasopressinase throughout human pregnancy
Tác giả: Davison J. M., et al
Năm: 1989
15. Dorr H. G., et al. (1989), "Longitudinal study of progestins, mineralocorticoids, and glucocorticoids throughout human pregnancy", J Clin Endocrinol Metab. 68(5), pp. 863-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Longitudinal study of progestins, mineralocorticoids, and glucocorticoids throughout human pregnancy
Tác giả: Dorr H. G., et al
Năm: 1989
16. FDA FDA Pregnancy Categories, accessed, from https://www.drugs.com/pregnancy-categories.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDA Pregnancy Categories
17. Kassaw C. and Wabe N. T. (2012), "Pregnant women and non-steroidal anti- inflammatory drugs: knowledge, perception and drug consumption pattern during pregnancy in ethiopia", N Am J Med Sci. 4(2), pp. 72-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pregnant women and non-steroidal anti-inflammatory drugs: knowledge, perception and drug consumption pattern during pregnancy in ethiopia
Tác giả: Kassaw C. and Wabe N. T
Năm: 2012
18. Koch K. L. (2002), "Gastrointestinal factors in nausea and vomiting of pregnancy", Am J Obstet Gynecol. 186(5 Suppl Understanding), pp. S198-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastrointestinal factors in nausea and vomiting of pregnancy
Tác giả: Koch K. L
Năm: 2002
19. Lapi F., et al. (2010), "Use, Attitudes and Knowledge of Complementary and Alternative Drugs (CADs) Among Pregnant Women: a Preliminary Survey in Tuscany", Evid Based Complement Alternat Med. 7(4), pp. 477-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use, Attitudes and Knowledge of Complementary and Alternative Drugs (CADs) Among Pregnant Women: a Preliminary Survey in Tuscany
Tác giả: Lapi F., et al
Năm: 2010
20. Lindheimer M. D., Barron W. M., and Davison J. M. (1991), "Osmotic and volume control of vasopressin release in pregnancy", Am J Kidney Dis. 17(2), pp. 105-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Osmotic and volume control of vasopressin release in pregnancy
Tác giả: Lindheimer M. D., Barron W. M., and Davison J. M
Năm: 1991
21. Lumbers E. R. and Pringle K. G. (2014), "Roles of the circulating renin- angiotensin-aldosterone system in human pregnancy", Am J Physiol Regul Integr Comp Physiol. 306(2), pp. R91-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Roles of the circulating renin-angiotensin-aldosterone system in human pregnancy
Tác giả: Lumbers E. R. and Pringle K. G
Năm: 2014
22. Norby U., et al. (2015), "Pregnant women's view on the Swedish internet resource Drugs and Birth Defects intended for health care professionals", Acta Obstet Gynecol Scand. 94(9), pp. 960-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pregnant women's view on the Swedish internet resource Drugs and Birth Defects intended for health care professionals
Tác giả: Norby U., et al
Năm: 2015
23. Nordeng H., Koren G., and Einarson A. (2010), "Pregnant women's beliefs about medications--a study among 866 Norwegian women", Ann Pharmacother. 44(9), pp. 1478-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pregnant women's beliefs about medications--a study among 866 Norwegian women
Tác giả: Nordeng H., Koren G., and Einarson A
Năm: 2010
24. Rubin P. C. (1986), "Prescribing in pregnancy. General principles", Br Med J (Clin Res Ed). 293(6559), pp. 1415-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prescribing in pregnancy. General principles
Tác giả: Rubin P. C
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w