Đề tài Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 nghiên cứu nhằm 2 mục tiêu: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện E năm 2020; phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
TỔNG QUAN
Danh mục thuốc
According to the World Health Organization's Drug and Therapeutics Committees – A Practical Guide, published in 2003, a formulary list is defined as the medicines approved for use at a specific healthcare facility.
Một DMT tốt sẽ loại bỏ các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó giảm chi phí điều trị và số ngày nằm viện của bệnh nhân Bên cạnh đó, DMT giúp giảm số lượng và chi phí mua thuốc, tối ưu hóa ngân sách y tế và ngăn ngừa lãng phí nguồn lực.
1.1.2 Phương pháp phân tích sử dụng thuốc
1.1.2.1 Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách thuốc của bệnh viện Qua phân tích ABC, các mặt hàng thuốc được phân tầng theo mức độ đóng góp vào chi phí tiêu thụ, giúp quản trị viên nhận diện thuốc nhóm A có giá trị chi phí cao và/hoặc lượng tiêu thụ lớn, nhóm B ở mức trung bình và nhóm C có chi phí thấp Phân tích này hỗ trợ tối ưu quản lý tồn kho, ưu tiên mua sắm và kiểm soát giá thành, từ đó giảm lãng phí và tăng hiệu quả ngân sách thuốc Với kết quả ABC, bệnh viện có thể thiết kế các chiến lược cụ thể cho từng nhóm thuốc như theo dõi chặt chẽ hơn nhóm A, xác định mức tồn kho an toàn và chu kỳ đặt hàng phù hợp cho từng nhóm, nhằm cải thiện hiệu quả chi phí và quản lý thuốc một cách bền vững.
3 nhóm thuốc để giúp quản lý hiệu quả, bao gồm: các thuốc nhóm A chỉ chiếm
Trong cơ cấu thuốc, 10–20% tổng số sản phẩm thuộc nhóm A nhưng chiếm 75–80% tổng giá trị tiền; nhóm B chiếm 10–20% tổng khoản mục và chiếm 15–20% tổng chi phí; phần còn lại là nhóm C chiếm số lượng lớn nhưng chi phí thấp.
Phương pháp này có vai trò:
• Lựa chọn các thuốc có thể thay thế với chi phí thấp hơn trong DMT
Đo lường mức độ tiêu thụ thuốc thực tế phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện các vấn đề sử dụng thuốc không hợp lý; ưu điểm lớn nhất của phân tích ABC là giúp xác định những thuốc chiếm phần lớn ngân sách, nhưng nhược điểm là không cung cấp đủ thông tin để so sánh các thuốc có hiệu lực khác nhau; phân tích này nên được áp dụng hàng năm hoặc ngắn hạn cho một đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu.
Các bước phân tích ABC gồm [1]:
1 Liệt kê các sản phẩm thuốc
2 Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc: a Đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo thời gian) b Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện
3 Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc
4 Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
5 Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
6 Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm; bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
7 Phân hạng sản phẩm như sau: a) Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền; b) Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền; c) Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền
8 Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng
B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 -80%
9 Kết quả thu được có thể trình bày dưới dạng đồ thị bằng cách đánh dấu phần trăm của tổng giá trị tích lũy vào cột dọc hay trục tung của đồ thị và số sản phẩm (tương đương giá trị tích lũy này) trên cột ngang hay trục hoành của đồ thị
Đối với thuốc nhóm A, cần thiết lập chính sách quản lý sử dụng và quản lý tồn kho chặt chẽ; đồng thời lựa chọn nhà cung cấp phù hợp để tối ưu chi phí và đảm bảo nguồn cung ổn định Việc dự báo nhu cầu và tính toán cho việc mua sắm dựa trên dữ liệu sẽ giúp kiểm soát chi phí, hạn chế lãng phí và nâng cao hiệu quả quản lý dược phẩm nhóm A.
1.1.2.2 Phương pháp phân tích nhóm điều trị
Phương pháp phân tích nhóm điều trị được xây dựng dựa trên phân tích ABC, phương pháp này có vai trò [14]:
• Xác định các nhóm thuốc điều trị được tiêu thụ nhiều nhất và chiếm phần lớn ngân quỹ
• Chỉ ra những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý khi kết hợp cùng các thông tin về MHBT
Xác định các thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc mà lượng tiêu thụ của chúng không được tính vào số ca mắc của một bệnh cụ thể là một yếu tố then chốt trong giám sát dịch tễ học Việc nhận diện và phân loại đúng những thuốc này giúp làm sáng tỏ mức tiêu thụ thực tế và cải thiện độ chính xác của thống kê ca bệnh, từ đó hỗ trợ đánh giá hiệu quả điều trị và chiến lược phòng ngừa Ví dụ điển hình là chloroquine và bệnh sốt rét, cho thấy sự cần thiết của việc theo dõi chặt chẽ việc sử dụng thuốc để không làm sai lệch số ca mắc của bệnh.
• Giúp cho HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả hợp lý trong cùng nhóm điều trị và lựa chọn các thuốc thay thế khác
Các bước tiến hành như sau [1]:
1 Tiến hành 3 bước đầu tiên của phân tích ABC để thiết lập DMT bao gồm cả số lượng và giá trị
2 Sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo DMT thiết yếu của WHO hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý
- Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của WHO
3 Sắp xếp lại DMT theo nhóm điều trị và tổng hợp giá trị phần trăm của mỗi thuốc cho mỗi nhóm điều trị để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất
1.1.2.3 Phương pháp phân tích VEN
Phân tích VEN là phương pháp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn Phương pháp này giúp sàng lọc và phân loại DMT thành các nhóm V (Vital), E (Essential) và N (Non-essential), từ đó xác định các thuốc cần được ưu tiên mua sắm và dự trữ HĐT&ĐT có trách nhiệm xem xét, thống nhất và phân nhóm DMT vào nhóm V, E và N, đảm bảo việc phân bổ nguồn lực hợp lý Đây là một phương pháp phổ biến và hiệu quả giúp bệnh viện lựa chọn thuốc cần ưu tiên mua sắm và tồn trữ.
Phân tích ABC chỉ cho phép so sánh các thuốc có cùng hiệu lực, còn phân tích VEN cho phép so sánh các thuốc có khác biệt về hiệu lực và hiệu quả điều trị Trong phân tích VEN, các thuốc được chia thành 3 hạng mục như sau:
Thực trạng phân tích danh mục thuốc
1.2.1 Thực trạng phân tích danh mục thuốc trên thế giới
Việc phân tích DMT bằng các phương pháp phân tích sử dụng thuốc đã được thực hiện tại nhiều bệnh viện, thậm chí là các nhà thuốc trên thế giới
Một nghiên cứu năm 2017 tại khoa dược của một bệnh viện ở Thổ Nhĩ Kỳ dựa trên 157 SKM thuốc được sử dụng cho thấy kết quả phân tích ABC: nhóm A chiếm 10%, nhóm B chiếm 23%, nhóm C chiếm 67%; ba nhóm này chiếm lần lượt 80%, 17% và 3% tổng giá trị tiền Đồng thời, qua phân tích VEN, nhóm thuốc V chiếm 24,20%, nhóm thuốc E chiếm 14,01% và nhóm thuốc N chiếm 61,78% số SKM.
Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN tại bệnh viện Arbaminch, Ethiopia châu Phi được thực hiện năm 2015-2017 [13] cho thấy: nhóm 1 (gồm các thuốc
AV, AE, AN, BV, CV) chiếm 39,91% SKM và 80,86% GTSD, nhóm 2 (gồm các thuốc BE, CE, BN) chiếm 59,17% SKM và 18,79% GTSD, còn lại là nhóm
3 (gồm các thuốc CN) Nhóm nghiên cứu đề nghị cần kiểm soát chặt chẽ việc
Việc sử dụng các thuốc thuộc nhóm 1 đòi hỏi theo dõi thường xuyên số lượng dự trữ, vì đây là nhóm thuốc tối cần thiết Trong bảng chi phí thuốc, có một khoản mục thuốc thuộc phân nhóm AN, chiếm 1,99% tổng chi phí thuốc.
Một nghiên cứu phân tích ABC/VEN khác tại Nga từ 2011-2014 [15] cho kết quả rằng năm 2013, bệnh viện đã triển khai đào tạo dựa trên kết quả phân tích ABC/VEN DMT năm 2011-2012 Kết quả này giúp chi phí thuốc năm 2014 giảm đáng kể so với ba năm trước đó, đồng thời số tiền mua sắm thuốc nhóm A được cân đối lại, chiếm 40% GTSD so với khoảng 30% ở các năm trước. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình cho SEO và muốn làm cho các đoạn văn mạch lạc hơn? [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/U6sdfee4?user_id=229098989) có thể giúp bạn! Nghiên cứu tại Nga từ 2011-2014 cho thấy việc đào tạo dựa trên phân tích ABC/VEN đã giúp bệnh viện giảm chi phí thuốc đáng kể vào năm 2014 Điều này đạt được bằng cách cân đối lại số tiền mua sắm các thuốc nhóm A, chiếm 40% GTSD so với 30% ở các năm trước Soku AI có thể giúp bạn đạt được những kết quả tương tự bằng cách tối ưu hóa nội dung của bạn, giống như cách AI này đã được đào tạo bởi các chuyên gia quảng cáo Facebook để tối ưu hóa chiến dịch.
Trong một nghiên cứu phân tích DMT tại một bệnh viện nha khoa tư nhân ở Ấn Độ [12], trên tổng số 215 mục thuốc được xem xét, 13,5% thuốc thuộc nhóm A chiếm tới 70% GTSD, 21% thuốc thuộc nhóm B chiếm 20% GTSD và phần còn lại là 65% thuốc thuộc nhóm C chiếm 10% GTSD Phân tích VEN trong nghiên cứu này đòi hỏi thành lập một hội đồng gồm 9 chuyên gia từ các chuyên ngành khác nhau Kết quả phân tích VEN cho thấy các thuốc nhóm
V, E, N chiếm lần lượt 47%, 37,6% và 15,4% SKM thuốc Kết quả cho thấy bệnh viện nên xem xét tăng tỷ trọng của các thuốc nhóm V và E
1.2.2 Thực trạng phân tích danh mục thuốc tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thu Hương năm 2012 cho thấy hầu hết HĐT&ĐT của các bệnh viện chưa hiểu hoặc chưa biết sử dụng phương pháp ABC/VEN; phần lớn thành viên HĐT&ĐT cho biết “không biết”, “chưa biết” hoặc “đã nghe nói qua nhưng chưa biết áp dụng” các phương pháp này Ngày 08/08/2013, BYT đã ban hành thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong các bệnh viện, trong đó có hướng dẫn chi tiết việc sử dụng các phương pháp quản lý sử dụng thuốc như ABC, VEN, DDD Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều đề tài phân tích DMT tại các bệnh viện, qua đó giải quyết được bài toán sức khỏe và chi phí điều trị.
Phân tích VEN khi tiến hành thường gặp nhiều khó khăn hơn so với phương pháp phân tích ABC, do cần xếp loại các thuốc vào nhóm V, E, N sao
Đảm bảo tính hợp lý và chính xác là mục tiêu chính, nhưng hiện tại vẫn chưa có tiêu chí phân loại cụ thể Việc phân loại này đòi hỏi sự đồng thuận cao giữa các thành viên trong HĐT&ĐT để đảm bảo tính nhất quán và khách quan trong toàn bộ quy trình.
Trong nghiên cứu của tác giả Huỳnh Hiền Trung [8], việc phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN tại Bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy thuốc không thiết yếu chiếm khoảng 32,9% SKM và 10,7% GTSD, với AN 3,5%; BN 4,3%; CN 3% Chính việc áp dụng phân tích ABC/VEN đối với DMT sử dụng năm mang lại những nhận định quan trọng về quản lý thuốc và tối ưu hóa chi phí tại bệnh viện.
2006 đã giúp cho HĐT&ĐT nhận ra vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý, khi nhiều thuốc ngoài danh mục được bác sĩ kê đơn mặc dù trong danh mục có nhiều thuốc có tác dụng điều trị tương ứng Sau khi can thiệp, đã có 30,9% (tương ứng 167 hoạt chất) bị loại khỏi DMT bệnh viện.
Nghiên cứu DMT tại Bệnh viện Bạch Mai của tác giả Lê Thị Tuyết Mai năm 2016 [5] cho thấy thuốc nhóm A chiếm 15,7%, nhóm B 21,0% và nhóm C 63,3% tổng DMT của bệnh viện, cho thấy tỉ lệ này phù hợp với lý thuyết Phân tích ma trận ABC/VEN cho thấy bệnh viện ưu tiên mua sắm các nhóm thuốc V, E và phân bổ phần lớn ngân sách cho hai loại thuốc này ở cả ba nhóm A, B, C Những thuốc có chi phí cao nhưng không thiết yếu (nhóm AN) có 14 thuốc, chiếm 1,3% SKM, tương đương 6,7% GTSD, cần được xem xét điều chỉnh phù hợp.
Phân tích ma trận ABC/VEN tại Bệnh viện Phổi Trung Ương năm 2017
Phân tích cho thấy nhóm thuốc AE chiếm 59,08% và nhóm thuốc AV chiếm 20,45%, là hai nhóm có tỉ lệ lớn nhất, cho thấy sự phân bổ này hợp lý vì AE và AV đều là các nhóm thuốc quan trọng Nhóm thuốc AN chỉ có một thuốc là Kyominotin, được xem là thuốc hỗ trợ chức năng gan; tuy nhiên hiệu quả điều trị của Kyominotin còn chưa được làm rõ và cần được xem xét để điều chỉnh trong chiến lược sử dụng thuốc.
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017 cho thấy nhóm thuốc A gồm 35 khoản chi, chiếm 79,04% giá trị và 13,36% số khoản mục; GTSD thuốc AN là gần 1,2 tỷ đồng Nhóm thuốc A có tỷ trọng giá trị cao nhất thuộc nhóm tác động trên đường hô hấp, chiếm 15,11% giá trị nhóm A, cho thấy bệnh lý thai kỳ tại các bệnh viện tuyến Trung ương thường nặng và có nhiều trường hợp trẻ sinh non bị suy hô hấp Đứng thứ hai về giá trị tiêu thụ trong nhóm A là nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn, chiếm 13,28% giá trị nhóm A.
Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic
Theo Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế, khi lựa chọn thuốc để đưa vào Danh mục thuốc (DMT) bệnh viện, ưu tiên thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế (INN), và hạn chế dùng tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể trong DMT.
Theo nghiên cứu năm 2012 của tác giả Vũ Thị Thu Hương, thuốc generic tại các bệnh viện tuyến trung ương chiếm từ 32,6% đến 35,1% tổng số thuốc được sử dụng, và GTSD của nhóm thuốc này dao động từ 21,1% đến 31,2% Trong những năm gần đây, các phân tích tại một số bệnh viện cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc generic đã tăng lên đáng kể, như được trình bày trong bảng kết quả.
Bảng 1.3: Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic nước tại một số bệnh viện tuyến trung ương
STT Bệnh viện SKM Thuốc BDG Thuốc generic
2 Bệnh viện Phổi Trung Ương
3 Bệnh viện Phụ sản Trung ương (2017) [4]
4 Bệnh viện nội tiết trung ương (2019 -2020) [6]
Hầu hết các bệnh viện đã ưu tiên sử dụng thuốc generic thay vì thuốc BDG Theo công văn số 3794/BHXH-DVT, tỷ lệ sử dụng BDG tại các tuyến điều trị được thống nhất theo chỉ đạo của Chính phủ, áp dụng đối với các bệnh viện ở các tuyến từ Trung ương đến địa phương.
Theo chỉ đạo của Trung ương, tỷ lệ sử dụng BDG tối đa được quy định ở 30% tổng chi phí thuốc Vì vậy, tỷ lệ sử dụng thuốc BDG tại các bệnh viện vẫn còn khá cao và chưa bảo đảm các yêu cầu đặt ra, đòi hỏi các cơ sở y tế tăng cường quản lý và triển khai biện pháp giảm thiểu để đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
1.3.2 Tình hình sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước
Giá thuốc nhập khẩu cao hiện là rào cản lớn cho người bệnh có cơ hội tiếp cận thuốc để phòng và chữa bệnh Hiện nay, thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng khoảng 50% nhu cầu thuốc cho công tác phòng ngừa và điều trị cho nhân dân, đáp ứng đầy đủ 27 nhóm TDDL theo phân loại của WHO Đáng kể là có 652 thuốc trong nước đã được công bố chứng minh tương đương sinh học so với thuốc BDG, thuốc phát minh.
Kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện tuyến trung ương trong những năm gần đây cho thấy thuốc nhập khẩu chiếm ưu thế cả về SKM và GTSD, như được trình bày dưới đây Các kết quả cho thấy xu hướng tăng của thuốc nhập khẩu so với thuốc sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu dược phẩm và công tác quản lý thuốc tại bệnh viện Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá liên tục nguồn gốc thuốc, đảm bảo an toàn, chất lượng và hiệu quả điều trị cho người bệnh, cũng như cần thiết có các chiến lược về nguồn lực, chi phí và chính sách y tế nhằm tối ưu hóa sử dụng thuốc và giảm thiểu tác động chi phí đến hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Bảng 1.4: Tình hình sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước tại một số bệnh viện tuyến trung ương
STT Bệnh viện SKM Thuốc SXTN Thuốc NK
2 Bệnh viện Phổi Trung Ương
3 Bệnh viện Phụ sản Trung ương (2017) [4]
4 Bệnh viện nội tiết trung ương (2019 -2020) [6]
Đề án "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam" nhằm đến năm 2020 tăng dần việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước, với mục tiêu 22% ở tuyến Trung ương (tăng 1–3% mỗi năm, trừ một số bệnh viện chuyên khoa), 50% ở tuyến tỉnh và 75% ở tuyến huyện Như vậy, cần có các biện pháp khác phù hợp hơn trong công tác xây dựng danh mục thuốc (DMT) để đảm bảo được mục tiêu đề ra Để thực hiện hiệu quả, cần điều chỉnh và bổ sung các chính sách liên quan đến DMT, tăng cường nguồn lực, nâng cao quản lý chất lượng và tính cạnh tranh của thuốc Việt Nam ở các tuyến y tế từ Trung ương đến cơ sở.
1.3.3 Tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng
Theo Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế có giường bệnh, việc ra y lệnh đường dùng thuốc phải căn cứ vào tình trạng người bệnh và mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng phù hợp Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị, hoặc với các thuốc chỉ có thể dùng đường tiêm Kết quả phân tích tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng tại một số bệnh viện trong những năm gần đây được trình bày dưới bảng sau, cho thấy ưu tiên sử dụng đường uống vẫn chiếm tỷ lệ cao, nhưng có những trường hợp bắt buộc dùng đường tiêm tùy vào tình trạng lâm sàng Các kết luận này nhấn mạnh sự cần thiết của đánh giá tình trạng người bệnh và lựa chọn đường dùng thuốc đúng mục đích để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho người bệnh.
Bảng 1.5: Tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng tại một số bệnh viện tuyến trung ương
Bệnh viện SKM Đường tiêm và tiêm truyền Đường uống Đường dùng khác
2 Bệnh viện Phổi Trung Ương (2017) [7]
Nhìn chung, GTSD của thuốc đường tiêm và tiêm truyền thường chiếm tỉ lệ cao hơn so với các thuốc đường dùng khác do có chi phí cao Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017 cho thấy thuốc đường tiêm và tiêm truyền chiếm phần lớn về SKM và GTSD, do là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối nên thường có những trường hợp cấp cứu, cần thuốc có tác dụng nhanh Còn ở Bệnh viện Hữu Nghị năm 2018, do là bệnh viện đa khoa đặc thù với số lượng bệnh nhân ngoại trú lớn mắc bệnh mạn tính, nên việc sử dụng các thuốc đường dùng khác tiêm và tiêm truyền chiếm tỉ lệ lớn hơn.
1.3.4 Tình hình sử dụng thuốc đơn thành phần – đa thành phần
Theo tiêu chuẩn lựa chọn thuốc để đưa vào DMT của WHO và quy định TT21/2013/TT-BYT, ưu tiên chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần, cần có đầy đủ tài liệu chứng minh liều lượng từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
Bảng 1.6: Tình hình sử dụng thuốc đơn thành phần – đa thành phần tại một số bệnh viện tuyến trung ương
STT Bệnh viện SKM Thuốc đơn thành phần
2 Bệnh viện Phổi Trung Ương (2017) [7] 397 91,18 94,62 8,82 5,38
3 Bệnh viện Phụ sản Trung ương (2017) [4] 262 85,50 84,42 14,50 15,58
Kết quả nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần tại một số bệnh viện tuyến trung ương trong những năm gần đây cho thấy thuốc đơn thành phần được ưu tiên sử dụng, chiếm tỉ lệ lớn ở cả hai nhóm SKM và GTSD.
1.3.5 Tình hình sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Việt Nam đang đối mặt với MHBT kép, bao gồm cả bệnh lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm, trong đó các bệnh không lây nhiễm như ung thư, đái tháo đường và tim mạch đang gia tăng mạnh Việc điều trị các bệnh không lây nhiễm đòi hỏi kỹ thuật y tế hiện đại, thuốc điều trị đắt tiền, thời gian điều trị kéo dài và có thể đi kèm với biến chứng, từ đó tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và áp lực lên hệ thống y tế.
Kết quả nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc theo nhóm TDDL tại một số bệnh viện tuyến Trung ương trong những năm gần đây được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây Bảng cho thấy xu hướng tiêu thụ thuốc theo từng nhóm TDDL, mức phân bổ giữa các nhóm và sự biến động theo thời gian, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý thuốc tại các cơ sở y tế tuyến Trung ương và hỗ trợ các quyết định can thiệp nhằm tối ưu hóa chi phí và chất lượng điều trị.
Bảng 1.7: Tình hình sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý tại một số bệnh viện tuyến trung ương
STT Bệnh viện SKM Số nhóm TDDL
Nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị
1118 21 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
2 Bệnh viện Phổi Trung Ương (2017) [7]
397 14 Thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
233 21 Thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
4 Bệnh viện nội tiết trung ương (2019-2020) [6]
409 21 Thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết
1278 29 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
948 27 Thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Thuốc điều trị ký sinh trùng và thuốc chống nhiễm khuẩn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dược phẩm của bệnh viện Bên cạnh đó, các nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch, nhóm thuốc tim mạch, cùng với các thuốc hormone và các thuốc tác động lên hệ nội tiết cũng đóng vai trò đáng kể trong cơ cấu thuốc của bệnh viện.
1.3.6 Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích ABC
Phương pháp phân tích ABC là một tiếp cận hiệu quả trong quản lý thuốc, giúp tối ưu hóa nguồn lực và danh mục thuốc tại cơ sở y tế Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc theo phân tích ABC tại một số bệnh viện tuyến trung ương trong những năm gần đây cho thấy tỉ lệ các nhóm thuốc A, B, C phù hợp với lý thuyết, khẳng định tính thực tiễn và lợi ích của phân tích ABC trong quản lý thuốc ở bệnh viện.
Bảng 1.8: Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích ABC tại một số bệnh viện tuyến trung ương
STT Bệnh viện Hạng A Hạng B Hạng C
%KM %GT %KM %GT %KM %GT
2 Bệnh viện Phổi Trung Ương (2017) [7]
4 Bệnh viện nội tiết trung ương (2019 -2020) [6]
1.3.7 Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích VEN
Giới thiệu về Bệnh viện E
1.4.1 Giới thiệu chung về bệnh viện E
Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế (BYT), được thành lập từ năm 1967, có địa chỉ tại 89 Trần Cung, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội Đến nay, bệnh viện đã phát triển với quy mô hơn 1.000 giường bệnh, gồm Trung tâm Tim mạch và 62 khoa phòng chức năng, trên diện tích 41.000 m2 với khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, xanh, sạch, đẹp Với truyền thống 55 năm thành lập và phát triển, Bệnh viện E có đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, trong đó 70% bác sĩ có trình độ sau đại học, gồm Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ và Thạc sĩ.
Phạm vi hoạt động và các dịch vụ bao gồm:
Chúng tôi cung cấp khám chữa bệnh đa khoa và các chuyên ngành như nội, ngoại, sản, nhi, ung bướu, y học cổ truyền và phục hồi chức năng, cùng với các lĩnh vực chuyên khoa riêng như tai mũi họng, răng hàm mặt và mắt Người bệnh được hưởng đầy đủ quyền lợi BHYT và có thể khám theo yêu cầu Đặc biệt, chúng tôi tiếp nhận bệnh nhân BHYT tuyến cuối từ khắp cả nước nhằm đảm bảo tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng ở mọi địa bàn Với đội ngũ bác sĩ giỏi, cơ sở vật chất hiện đại và quy trình khám chữa bệnh chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết mang lại hiệu quả điều trị và phục hồi tối ưu cho người bệnh.
Chúng tôi thực hiện khám sức khỏe và cấp giấy chứng nhận sức khỏe cho người Việt Nam đi học, đi tập lao động tại nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Dịch vụ khám tuyển lái xe, khám tuyển dụng và khám định kỳ được triển khai cho các cơ quan, trường học theo hợp đồng, đảm bảo tuân thủ quy định và chất lượng tiêu chuẩn.
Chúng tôi cung cấp điều trị tuyến cuối cho các bệnh lý phức tạp ở nhiều lĩnh vực y học, bao gồm tim mạch (nội và ngoại khoa), tiêu hóa, chấn thương chỉnh hình và cơ xương khớp, ung bướu và sản phụ khoa Với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm và hệ thống chăm sóc đa chuyên khoa, mục tiêu là tối ưu hóa chẩn đoán và lên phác đồ điều trị cá nhân hóa, phối hợp giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa để kéo dài sự sống, giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh ở giai đoạn nặng Đồng thời, chúng tôi chú trọng phục hồi chức năng, chăm sóc giảm đau, dinh dưỡng và hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân và gia đình trong suốt quá trình điều trị.
- Tiêm vaccin phòng bệnh cho tất cả các đối tượng
- Tư vấn sức khỏe trực tuyến, đặt khám online tại bệnh viện
- Khám và lấy máu xét nghiệm tại cộng đồng
Đoàn cơ sở đào tạo và thực hành của một số trường đại học, cao đẳng chuyên ngành y, dược khoa gồm Đại học Y Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Y học cổ truyền Việt Nam và Cao đẳng y tế Hà Nội Các cơ sở này cung cấp chương trình đào tạo y khoa, dược khoa và y học cổ truyền chất lượng cao và tạo điều kiện cho sinh viên thực hành tại bệnh viện, viện nghiên cứu và các cơ sở y tế liên kết Nhờ trang thiết bị hiện đại, đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm và mạng lưới thực tập rộng, sinh viên có cơ hội tiếp cận môi trường học tập thực tế, chuẩn bị nguồn nhân lực y tế có trình độ cao.
1.4.2 Cơ cấu tổ chức Khoa Dược Bệnh viện E
Khoa Dược được thành lập năm 1967 song song với sự ra đời của bệnh viện, đảm nhận nhiệm vụ cung ứng thuốc, hóa chất và vật tư tiêu hao cho toàn bệnh viện Trong thời kỳ kháng chiến, khoa Dược là cơ sở pha chế huyết thanh, dịch truyền và nhiều loại thuốc khác nhằm đảm bảo phục vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân và thương binh giữa hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, gian khổ.
Các bộ phận được tổ chức thành các đơn vị như sau:
- Kho thuốc: gồm kho thuốc chính, kho lẻ nội trú, kho lẻ ngoại trú, kho dịch truyền, kho hoá chất, kho dược liệu
- Tổ pha chế: phòng cấp phát lẻ dịch truyền, phòng pha chế, kho đông dược
- Tổ dược chính: nghiệp vụ dược, thống kê dược, dược lâm sàng
Tính thiết yếu của đề tài
Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế, là địa chỉ khám chữa bệnh đầu ngành với nguồn lực thuốc và thiết bị đa dạng Vì vậy, mọi hoạt động điều trị tại bệnh viện luôn phải sẵn sàng, hiệu quả, hợp lý và đạt chất lượng cao Để đáp ứng những yêu cầu này, công tác cung ứng thuốc phải kịp thời, đầy đủ và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm quyết định quá trình điều trị Để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc, bệnh viện cần tiến hành phân tích DMT sử dụng nhằm nắm bắt những thông tin mới nhất về tình hình sử dụng thuốc và giúp HĐT&ĐT có thêm cơ sở, căn cứ trong hoạt động cung ứng thuốc trong những năm tới.
Việc tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020” là cần thiết để có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về danh mục thuốc đã được sử dụng tại bệnh viện Qua phân tích, chúng ta sẽ làm rõ những thiếu sót, bất cập và các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng thuốc, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân Điều này giúp tăng tính an toàn, hợp lý và hiệu quả trong sử dụng thuốc, tối ưu hóa quy trình điều trị và chi phí tại Bệnh viện E Tóm lại, đề tài sẽ đóng góp vào cải thiện quản trị thuốc và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho cộng đồng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện E từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020.
Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 06/2021 đến tháng 05/2022
Thời gian lấy số liệu: từ tháng 12/2021 đến tháng 01/2022
Địa điểm nghiên cứu
Trường Đại Học Y Dược – Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu Nội dung nghiên cứu được tóm tắt như sau:
Toàn bộ các thuốc được sử dụng, các khoản mục thuốc trong DMT Bệnh viện E từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện
Mô tả cơ cấu sử dụng DMT
Cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc dược liệu
Cơ cấu theo nhóm TDDL
Cơ cấu theo nguồn gốc xuất xứ
Cơ cấu theo thuốc BDG và thuốc generic
Cơ cấu theo thành phần
Cơ cấu theo đường dùng
Phân tích DMT sử dụng theo ABC/
Phân tích ABCPhân tích VENPhân tích ABC/VEN
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
Hồi cứu hồ sơ tài liệu sẵn có: danh mục thuốc bệnh viện, báo cáo tổng kết bệnh viện…
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Giải thích biến Phân loại biến Cách thức thu thập
Số lượng thuốc sử dụng
Biến dạng số Hồi cứu tài liệu sẵn có
2 Đơn giá thuốc Đơn giá thuốc sử dụng
Biến dạng số Hồi cứu tài liệu sẵn có
3 Nước sản xuất Thuốc sử dụng phân loại theo nước sản xuất thuốc
1 Thuốc sản xuất trong nước
Hồi cứu tài liệu sẵn có
Thuốc sử dụng phân loại theo đường dùng
1 Đường tiêm và tiêm truyền
Hồi cứu tài liệu sẵn có
5 Tên thuốc Tên của các thuốc sử dụng
Biến danh mục Hồi cứu tài liệu sẵn có
Tên hoạt chất của các thuốc sử dụng
Biến danh mục Hồi cứu tài liệu sẵn có
Thuốc phân loại nhóm V, E, N theo phân loại của bệnh viện
Hồi cứu tài liệu sẵn có
2.4.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.4.5.1 Phương pháp xử lý số liệu
Quá trình thu thập dữ liệu, mã hóa, làm sạch và xử lý được thực hiện bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 Đối với một thuốc có cùng hoạt chất, hàm lượng, đường dùng và đơn giá nhưng tồn tại nhiều lô, hạn sử dụng khác nhau hoặc được ghi nhận ở nhiều lần nhập liệu khác nhau và phân thành nhiều dòng, dữ liệu thô sẽ được loại bỏ bằng cách gộp các thuốc đó lại với nhau Để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu, kết quả sẽ được kiểm tra đối chiếu giữa file nhập liệu và file gốc.
2.4.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp tính tỷ trọng là cách xác định tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu của một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng số liệu nghiên cứu so với tổng giá trị dữ liệu Bằng cách lấy giá trị của đối tượng đó chia cho tổng giá trị dữ liệu và nhân với 100, ta xác định được tỷ lệ phần trăm đóng góp Phương pháp này giúp so sánh các phần của tổng thể, đánh giá mức độ ảnh hưởng và hỗ trợ đưa ra nhận định dựa trên số liệu quan sát được Đây là bước quan trọng trong phân tích dữ liệu ở nhiều lĩnh vực, giúp hiểu rõ phần trăm đóng góp của từng đối tượng trong tổng dữ liệu.
- Phương pháp phân tích ABC
- Phương pháp phân tích VEN
- Phương pháp phân tích kết hợp ma trận ABC/VEN
Để đạt mục tiêu 1, các bước xử lý và phân tích số liệu được thực hiện như sau: mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 bằng cách phân loại thuốc theo nhóm, đánh giá tỉ lệ sử dụng và kê đơn, đồng thời làm sạch và tổng hợp dữ liệu để làm rõ sự phân bổ thuốc theo các tiêu chí liên quan Quá trình này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về cơ cấu danh mục thuốc, hỗ trợ đánh giá mức độ phù hợp và đề xuất các biện pháp tối ưu hóa danh mục thuốc cho năm 2020.
Trong Bước 1, tiến hành thu thập đầy đủ dữ liệu về thuốc: tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ/hàm lượng, đường dùng, đơn vị tính, nước sản xuất, đơn giá, số lượng và GTSD, sau đó điền toàn bộ thông tin vào bảng dưới đây.
Bảng 2.2: Biểu mẫu thu thập dữ liệu phân tích
Nồng độ, hàm lượng Đường dùng Đơn vị tính
Nước sản xuất Đơn giá
Bước 2: Căn cứ vào chỉ số nghiên cứu, phân loại các thuốc thành các nhóm phù hợp với từng phân tích
Cơ cấu DMT được phân loại thành hai nhóm thuốc căn cứ vào phân loại hóa dược, thuốc đông y và thuốc dược liệu, nhằm tổ chức và quản lý danh mục một cách hiệu quả; việc phân loại thực hiện dựa trên căn cứ từ thông tư số 30/2018/TT-BYT và thông tư số 05/2015/TT-BYT.
2 Thuốc đông y, thuốc dược liệu
• Cơ cấu DMT theo nhóm TDDL: căn cứ theo thông tư số 30/2018/TT-BYT mã hóa các hoạt chất thành 27 nhóm TDDL
• Cơ cấu DMT theo nguồn gốc xuất xứ: căn cứ vào nước sản xuất của từng thuốc, chia làm 2 nhóm được mã hóa:
1 Thuốc sản xuất trong nước
Cơ cấu DMT được phân loại thành hai nhóm chính: thuốc biệt dược gốc và thuốc generic Thuốc BDG được tra cứu theo danh mục BDG do BYT công bố trên website của Cục Quản lý Dược từ đợt 1 đến đợt 19 Các thuốc generic được xác định là những thuốc không nằm trong danh sách BDG nói trên Từ dữ liệu tra cứu được mã hóa, dữ liệu sẽ được tổng hợp và phân tích để đánh giá sự phân bổ và xu hướng sử dụng của hai nhóm thuốc.
• Cơ cấu DMT theo thành phần: căn cứ vào thành phần có trong thuốc, chia làm 2 nhóm được mã hóa:
• Cơ cấu DMT theo đường dùng: căn cứ vào đường dùng của thuốc để phân loại và mã hóa:
1 Thuốc tiêm và tiêm truyền
Bước 3: Tính tổng SKM, GTSD từng biến số, dùng phương pháp tỷ trọng để tính tỉ lệ phần trăm giá trị số liệu
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑐ủ𝑎 𝑑𝑎𝑛ℎ 𝑚ụ𝑐 𝑡ℎ𝑢ố𝑐 × 100% Đối với mục tiêu 2: Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp
- Phương pháp phân tích ABC:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm
Bước 2: Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm: đơn giá của từng sản phẩm và số lượng các sản phẩm
Bước 3: Tính tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng
Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm
Bước 4: Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền
Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho từng sản phẩm; bắt đầu từ sản phẩm đầu tiên và lần lượt cộng dồn giá trị của các sản phẩm tiếp theo trong danh sách để xác định mức phần trăm tích lũy tương ứng với mỗi mục.
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
Trong quản trị danh mục sản phẩm, hệ thống phân loại ABC được áp dụng để xác định mức độ đóng góp vào giá trị tổng tiền: Hạng A gồm các sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền, Hạng B gồm các sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền, và Hạng C gồm các sản phẩm chiếm 5-10% tổng giá trị tiền.
- Phương pháp phân tích VEN: Phân loại DMT sử dụng theo nhóm V, E,
N và tính tỉ lệ % SKM và giá trị của các nhóm:
Thuốc V (Vital drugs) là nhóm thuốc thiết yếu được dùng trong các trường hợp cấp cứu và các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện Việc đảm bảo tồn kho Thuốc V giúp bệnh viện đối phó với các tình huống khẩn cấp, tăng hiệu quả chăm sóc người bệnh và nâng cao chất lượng điều trị Do vậy, Thuốc V đóng vai trò then chốt trong công tác cấp cứu và quản lý thuốc tại các cơ sở y tế.
+ Thuốc E (Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong MHBT của bệnh viện
Thuốc N (Non-Essential drugs) là nhóm thuốc được dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh có thể tự khỏi, và có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị chưa được khẳng định rõ ràng hoặc có giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN giúp phân loại thuốc thành các nhóm V, E, N và ở nhóm A hình thành các nhóm nhỏ AV, AE, AN Tiếp theo, ta tính tổng số lượng và tỉ lệ phần trăm số lượng cùng GTSD trong từng nhóm nhỏ để xác định mức độ ưu tiên phân bổ nguồn lực Tương tự với nhóm B và nhóm C, ta được ma trận ABC/VEN hoàn chỉnh, phục vụ việc lên kế hoạch quản lý tồn kho và tối ưu tiêu thụ thuốc dựa trên sự kết hợp giữa độ quan trọng (V/E/N) và mức đóng góp tiêu thụ (A/B/C).
Phương pháp trình bày số liệu bao gồm trình bày dữ liệu dưới dạng bảng số liệu, đồ thị và hình minh họa bằng các công cụ Microsoft Word 2016 và Microsoft Excel 2016 Việc kết hợp bảng, đồ thị và hình minh họa giúp thể hiện thông tin một cách trực quan, dễ đọc và dễ hiểu cho người đọc trong các báo cáo và thuyết trình Word 2016 và Excel 2016 được sử dụng đồng bộ để tối ưu hóa việc trình bày số liệu, đảm bảo tính nhất quán và có thể chỉnh sửa nhanh chóng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020
Căn cứ thông tư số 30/2018/TT-BYT và thông tư số 05/2015/TT-BYT, Bệnh viện E tiến hành phân loại các thuốc sử dụng thành ba nhóm: thuốc hóa dược, thuốc đông y và thuốc dược liệu Kết quả phân loại được thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng 3.1: Cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc dược liệu
STT Phân loại SKM GTSD
2 Thuốc đông y, thuốc dược liệu
Kết quả phân tích cho thấy DMT được sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 gồm 629 khoản mục, trong đó nhóm thuốc hóa dược chiếm 607 khoản mục với tổng GTSD là 115.735.132.749 đồng, chiếm 97,72% giá trị cơ cấu sử dụng thuốc của bệnh viện; nhóm thuốc đông y, thuốc dược liệu có 22 khoản mục, chiếm 3,50% SKM và 2,28% GTSD.
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Căn cứ theo thông tư 30/2018/TT-BYT, các thuốc hóa dược sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 được chia theo nhóm TDDL với kết quả như bảng sau:
Bảng 3.2: Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
STT Nhóm thuốc Khoản mục GTSD
1 Thuốc gây mê, gây tê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ
2 Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
3 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn
4 Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong ngộ độc
5 Thuốc chống co giật, chống động kinh
6 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
7 Thuốc điều trị đau nửa đầu 2 0.33 51,834,951 0.04
8 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
9 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu
11 Thuốc tác dụng đối với máu
13 Thuốc điều trị bệnh da liễu 1 0.16 32,025,000 0.03
15 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn
18 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
19 Thuốc làm mềm cơ và ức chế Cholinesterase
20 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng
21 Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ non
22 Dung dịch lọc màng bụng, lọc máu
23 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh
24 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp
25 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác
Phân tích cho thấy danh mục thuốc hóa dược được sử dụng tại Bệnh viện E trong năm 2020 gồm 26 nhóm thuốc thuộc danh mục TDDL, trong đó hai nhóm thuốc có SKM và GTSD chiếm tỷ lệ cao nhất Kết quả này cho thấy sự đa dạng của thuốc được kê toa và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý và tối ưu hóa sử dụng thuốc tại bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng điều trị.
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất về GTSD, đạt 30,61% và gồm 87 khoản mục, chiếm 14,33% tổng số lượng khoản mục thuốc Nhóm thuốc tim mạch xếp thứ hai với 88 thuốc được sử dụng, chiếm 14,50% số lượng khoản mục và GTSD tương ứng là 18.564.003.377, chiếm 16,04% tổng GTSD thuốc của bệnh viện.
Phân tích cụ thể các thuốc thuộc nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn thu được kết quả như sau:
Bảng 3.3: Cơ cấu các thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
STT Nhóm thuốc SKM GTSD
Beta-lactam 26 29.89 22,410,819,574 63.26 Aminoglycosid 7 8.05 375,007,043 1.06 Nitroimidazol 4 4.60 657,522,800 1.86 Lincosamid 1 1.15 70,910,400 0.20
4 Thuốc điều trị bệnh amip 1 1.15 49,616,000 0.14
Trong các phân nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn, phân nhóm Beta-lactam chiếm vị trí hàng đầu về cả số lượng và GTSD với 29.89%, đồng thời được sử dụng và chiếm 63.26% tổng chi phí sử dụng Phân nhóm Quinolon xếp thứ hai với 22.99% SKM và 24.71% GTSD.
Phân tích cụ thể các thuốc thuộc nhóm thuốc tim mạch thu được kết quả như sau:
Bảng 3.4: Cơ cấu các thuốc thuộc nhóm thuốc tim mạch
STT Nhóm thuốc SKM GTSD
1 Thuốc chống đau thắt ngực
3 Thuốc điều trị tăng huyết áp
4 Thuốc điều trị suy tim 10 11.36 563,688,323 3.04
5 Thuốc điều trị suy tim 2 2.27 264,519,399 1.42
Xét riêng nhóm thuốc tim mạch được dùng tại bệnh viện cho thấy có 88 khoản mục thuốc được sử dụng với tổng chi phí trên 18,5 tỉ đồng Trong nhóm này, thuốc điều trị tăng huyết áp được sử dụng nhiều nhất, chiếm 57,95% số khoản mục và chiếm trên 65,29% GTSD của nhóm thuốc tim mạch.
3.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Kết quả phân tích cơ cấu DMT theo nguồn gốc xuất xứ được thể hiện trong bảng dưới đây
Bảng 3.5: Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
STT Phân loại SKM GTSD
1 Thuốc sản xuất trong nước
Thuốc nhập khẩu chiếm tỉ lệ cao hơn thuốc sản xuất trong nước về cả SKM và GTSD, tương ứng là 64,71% và 78,40%
3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc theo thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
Kết quả phân tích cơ cấu DMT BDG và thuốc generic được thể hiện trong bảng dưới đây
Bảng 3.6: Cơ cấu danh mục thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
STT Phân loại SKM GTSD
Giá trị (VND) Tỷ lệ
Tại bệnh viện, tỷ lệ thuốc generic được sử dụng chiếm tới 79,08% về khối lượng sử dụng thuốc (SKM) và tương ứng 81,70% giá trị sử dụng thuốc hóa dược (GTSD) Ngược lại, thuốc BDG được sử dụng ở mức thấp hơn, chiếm 20,92% SKM và 18,30% GTSD.
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần
Kết quả phân tích cơ cấu DMT theo thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 3.7: Cơ cấu danh mục thuốc theo số lượng thành phần thuốc
STT Phân loại SKM GTSD
Trong danh mục thuốc hóa dược được sử dụng tại bệnh viện, thuốc đa thành phần gồm 71 khoản mục, chiếm 11,70% tổng số thuốc và 20,31% tổng giá trị tiền thuốc Ngược lại, thuốc đơn thành phần gồm 536 khoản mục, chiếm 88,30% số khoản mục và 79,69% tổng chi phí thuốc, cho thấy thuốc đơn thành phần có quy mô và chi phí cao hơn nhiều so với thuốc đa thành phần.
3.1.6 Cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng
Kết quả phân tích cơ cấu DMT theo đường dùng được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 3.8: Cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng
STT Đường dùng SKM GTSD
Giá trị (VND) Tỷ lệ
Các thuốc dùng đường tiêm và tiêm truyền là nhóm được sử dụng nhiều nhất, chiếm 46,90% SKM và có giá trị tiền thuốc sử dụng (GTSD) lên tới 60,84% Tiếp theo là các thuốc dùng đường uống, chiếm 44,36% SKM và 34,49% GTSD Các thuốc dùng đường khác như nhỏ mắt, đặt… được sử dụng ở mức rất thấp, với 8,74% SKM tương ứng 4,67% GTSD.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN
Sử dụng phương pháp phân tích ABC với toàn bộ các thuốc được sử dụng tại bệnh viện thu được kết quả như bảng dưới đây
Bảng 3.9: Cơ cấu danh mục thuốc nhóm ABC
STT Nhóm thuốc SKM GTSD
Giá trị (VND) Tỷ lệ
- Thuốc hạng A có GTSD chiếm 79,88% gồm có 149 khoản mục chiếm 23,69% tổng DMT
- Thuốc hạng B với 14,99% GTSD thuốc có SKM chiếm 23,21%
- Còn lại là thuốc hạng C có GTSD thấp 5,12% và có SKM chiếm 334 khoản mục chiếm 53,10%
Thông thường, thuốc hạng A chiếm 10%-20% SKM, thuốc hạng B chiếm 10%-20% SKM và thuốc hạng C chiếm 60%-80% SKM Từ kết quả phân tích cho thấy cơ cấu sử dụng và phân bổ nguồn kinh phí mua thuốc của bệnh viện chưa đạt mức tỷ lệ khuyến cáo theo lý thuyết.
Tiến hành phân tích cụ thể các thuốc hạng A theo nhóm TDDL ta có:
Bảng 3.10: Cơ cấu các thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý
Tỷ lệ (%) Giá trị (VND) Tỷ lệ
1 Thuốc gây mê, gây tê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ 2 1,34 453,247,340 0,48
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn
Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc
5 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 29 19,46 32,746,218,269 34,61
6 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 6 4,03 2,841,291,656 3,00
7 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu 3 2,01 923,079,660 0,98
8 Thuốc tác dụng đối với máu 9 6,04 3,348,221,697 3,54
12 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 11 7,38 6,723,444,005 7,11
13 Thuốc làm mềm cơ và ức chế Cholinesterase 1 0,67 371,133,000 0,39
14 Dung dịch lọc màng bụng, lọc máu 3 2,01 2,646,836,818 2,80
Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh
16 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 5 3,36 2,269,518,574 2,40
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác
19 Thuốc đông y, thuốc dược liệu 4 2,68 1,458,717,100 1,54
Nhóm thuốc hạng A, đặc biệt là các thuốc điều trị ký sinh trùng, kháng khuẩn và thuốc tim mạch, vẫn có GTSD cao và chiếm phần lớn kinh phí của bệnh viện, cho thấy mức độ ưu tiên trong danh mục thuốc Tuy nhiên, đây cũng là những nhóm thuốc thiết yếu cho quá trình điều trị và phù hợp với MHBT của bệnh viện.
Nhóm thuốc đông y, thuốc dược liệu là các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh mà GTSD tương đối cao, là 1,458,717,100 đồng
Bảng 3.11: 10 thuốc nhóm A có giá trị sử dụng cao nhất
STT Tên thuốc Tên hoạt chất Đơn giá
GTSD Tỷ lệ % so với GTSD nhóm A
ABR 2g powder for solution for injection
9 Levofloxacin/co oper solution for infusion
Dung dịch thẩm phân màng bụng (phúc mạc) và lọc máu
Chi phí cho 10 thuốc có GTSD cao nhất thuộc nhóm A chiếm 28,58% GTSD của nhóm A Danh sách này gồm 6 thuốc kháng sinh, 1 thuốc đường tiêu hóa, 1 thuốc thuộc nhóm hormone và các thuốc tác động lên hệ nội tiết, 1 thuốc thuộc nhóm dung dịch lọc màng bụng cho lọc máu và 1 thuốc tác động lên hệ thần kinh.
3.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích VEN
Kết quả phân tích VEN đối với DMT được sử dụng trong bệnh viện được trình bày trong bảng 3.12:
Bảng 3.12: Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích VEN
Số lượng Tỷ lệ (%) Giá trị (VND) Tỷ lệ (%)
Qua phân tích VEN cho một số kết quả như sau:
• Nhóm V có 110 khoản mục chiếm 17,49% SKM tương ứng với 15,18% tổng GTSD thuốc của bệnh viện
• Nhóm E là nhóm có SKM và GTSD cao nhất trong bệnh viện tương ứng chiếm 73,61% SKM và 80,81% tổng GTSD thuốc
• Nhóm N có 56 khoản mục chiếm 8,90% SKM thuốc và tương ứng với 4,00% tổng chi phí sử dụng thuốc của bệnh viện
3.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích kết hợp ABC/VEN
Kết quả phân tích kết hợp ABC/VEN đối với DMT được sử dụng tại bệnh viện E được trình bày trong bảng 3.13:
Bảng 3.13: Ma trận ABC/VEN Hạng Nhóm thuốc
Số lượng Tỷ lệ (%) Giá trị (VND) Tỷ lệ (%)
Tổng 629 100,00 118,440,728,659 100,00 Bảng 3.14: Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm ABC/VEN
Giá trị (VND) Tỷ lệ
Nhóm II BE, BN, CE 354 56,28 19,790,554,538 16,71
Qua phân tích ma trận ABC/VEN, nhóm I là nhóm cần được quan tâm nhất vì gồm các thuốc thiết yếu và chiếm giá trị ngân sách lớn, chiếm 38,00% SKM và 82,78% GTSD Trong khi đó, nhóm AN gồm 7 thuốc không thiết yếu nhưng lại chiếm giá trị ngân sách cao, với kinh phí vượt 2,5 tỷ VND.
39 chiếm 2,11% về GTSD Nhóm II và nhóm III chỉ chiếm lần lượt 16,71% và 0,51% về tổng chi phí sử dụng thuốc bệnh viện
Phân tích cụ thể các thuốc cụ thể thuộc nhóm AN cho kết quả như sau:
Bảng 3.15: Các thuốc thuộc nhóm AN
STT Tên thuốc Hoạt chất Đơn giá
1 Flavital 500 Thỏ ty tử, Hà thủ ô,
Dây đau xương, Cốt toái bổ, Đỗ trọng, Cúc bất tử, Nấm sò khô
4 Didicera Độc hoạt, tang ký sinh,
Tế tân, Quế chi, Ngưu tất, Đỗ trọng, Đương quy, Bạch thược, Cam thảo, Xuyên khung, Sinh địa, Đẳng sâm, Bạchlinh
5 Flavital 500 Thỏ ty tử + Hà thủ ô đỏ
+ Dây đau xương + Cốt toái bổ + Đỗ trọng + Cúc bất tử + nấm sò khô
Trong danh sách 6 thuốc thuộc phân nhóm AN, có 3 thuốc là đông y và dược liệu; 2 thuốc thuộc nhóm dung dịch điều chỉnh nước, điện giải và cân bằng acid-base cùng các dung dịch tiêm truyền khác; và 1 thuốc thuộc nhóm khoáng chất và vitamin Đây là những thuốc mà bệnh viện cần cân nhắc giảm sử dụng để tiết kiệm chi phí.
Bảng 3.16: Cơ cấu nhóm thuốc BN
STT Nhóm thuốc SKM GTSD
1 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn
3 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng
4 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động trên hệ thần kinh
5 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác
6 Thuốc đông y, thuốc dược liệu
Trong các nhóm thuốc, nhóm dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác chiếm tỉ lệ cao nhất, với GTSD tương ứng là 27,36% Tiếp đến là nhóm thuốc đông y, thuốc dược liệu, chiếm tỉ lệ cao thứ hai về GTSD là 26,50%.
Bảng 3 17: Cơ cấu nhóm thuốc CN
STT Nhóm thuốc SKM GTSD
1 Thuốc gây mê, gây tê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ
2 Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
3 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
4 Thuốc điều trị bệnh da liễu 1 2.78% 32,025,000 5.30%
6 Thuốc tẩy trùng, sát khuẩn 4 11.11% 116,261,997 19.24%
8 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng
9 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp
10 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác
Trong các thuốc thuộc nhóm CN, nhóm tẩy trùng và sát khuẩn chiếm tỉ lệ cao nhất về GTSD, đạt 19,24% (giá trị sử dụng) Tiếp đến là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn.
BÀN LUẬN
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020
Danh mục thuốc (DMT) được sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 gồm 629 khoản mục, được chia làm hai nhóm lớn là thuốc hóa dược và thuốc đông y (thuốc dược liệu) Trong đó, thuốc hóa dược chiếm phần lớn trong DMT sử dụng của bệnh viện.
607 khoản mục chiếm 96,50% SKM và 97,72% tổng GTSD thuốc của bệnh viện Nhóm thuốc đông y, dược liệu chiếm tỉ lệ thấp hơn với 3,50% SKM và 2,28% GTSD thuốc của bệnh viện
Kết quả này có cao hơn kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai năm
Vào năm 2016, nhóm thuốc Đông y chỉ có 8 khoản mục, chiếm 0,7% SKM và 1,9% GTSD [5], cao hơn kết quả tại Bệnh viện Thanh Nhàn khi nhóm thuốc dược liệu chiếm 1,86% GTSD [9] Thuốc Đông y và thuốc dược liệu chỉ có tính chất hỗ trợ điều trị nên được sử dụng hạn chế trong DMT của bệnh viện.
4.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Phân tích cho thấy danh mục thuốc hóa dược được sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 gồm 26 nhóm thuốc (26 nhóm TDDL) Kết quả này cho thấy tính hợp lý, bởi Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế, do đó cần sự đa dạng các nhóm thuốc để phục vụ nhu cầu điều trị toàn diện cho người bệnh.
Trong 26 nhóm thuốc được sử dụng thì nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất về GTSD là 30,61% với 87 khoản mục chiếm 14,33% số lượng khoản mục thuốc Trong đó phân nhóm Beta-lactam là nhóm kháng sinh chiếm tỷ lệ lớn nhất cả về số lượng và GTSD với 29.89% SKM được sử dụng và chiếm 63.26% tổng chi phí sử dụng Tiếp đến là nhóm thuốc tim mạch xếp thứ hai chiếm 14,50% SKM và 16,04% tổng GTSD thuốc của bệnh viện
Kết quả phân tích này tương đương với kết quả phân tích tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2018 cũng cho thấy nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ cao nhất với 34,57% về GTSD và thuốc tim mạch xếp
Đứng thứ hai với 15,57% GTSD [9] Tuy nhiên, tại bệnh viện Bạch Mai, nhóm TDDL có giá trị sử dụng cao nhất là nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch, chiếm 27,8% GTSD Tương tự tại bệnh viện Hữu Nghị, nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị GTSD.
Bên cạnh đó, các nhóm thuốc gồm thuốc hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết, thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch, cùng nhóm thuốc đường tiêu hóa đều có tỉ lệ SKM và GTSD cao Điều này phản ánh thực trạng ngày càng gia tăng của các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, đái tháo đường và rối loạn nội tiết.
4.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ cho thấy thuốc nhập khẩu chiếm 64,71% về SKM và 78,40% về GTSD; ngược lại, thuốc sản xuất trong nước chiếm 35,29% về SKM và 21,60% về GTSD.
Thuốc sản xuất trong nước ở Bệnh viện E có tỉ lệ sử dụng cao hơn nhiều so với Bệnh viện Bạch Mai Năm 2016, tỉ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại Bệnh viện Bạch Mai ở mức thấp, chỉ 22,9% đối với SKM và 4,3% GTSD thuốc [5] Tương tự, tỉ lệ này ở Bệnh viện Thanh Nhàn và Bệnh viện Hữu Nghị năm 2018 cũng ở mức thấp so với Bệnh viện E.
Đề án "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam" đặt mục tiêu đến năm 2020 tỉ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước ở tuyến Trung ương đạt 22% (tăng 1–3% mỗi năm, trừ một số bệnh viện chuyên khoa), 50% ở tuyến tỉnh và 75% ở tuyến huyện Nhờ đó, Bệnh viện E đã ưu tiên và chú trọng sử dụng thuốc sản xuất trong nước trong quá trình điều trị, giúp giảm chi phí điều trị cho người bệnh.
4.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc theo thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
BYT quy định khi lựa chọn thuốc cho DMT tại bệnh viện, ưu tiên sử dụng thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế (INN) và hạn chế dùng thuốc biệt dược hoặc thuốc từ một nhà sản xuất cụ thể trong DMT Việc sử dụng thuốc BDG không những làm tăng chi phí thuốc mà còn đi kèm với phân phối độc quyền nên việc cung ứng thuốc đôi khi gặp khó khăn.
Bệnh viện E chú trọng ưu tiên sử dụng thuốc generic trong điều trị, với tỷ lệ thuốc generic được sử dụng tại bệnh viện chiếm tới 79,08% SKM và tương ứng 81,70% tổng GTSD thuốc hóa dược của bệnh viện Tỉ lệ thuốc BDG được sử dụng thấp hơn, với 20,92% SKM và 18,30% GTSD, cho thấy xu hướng tiết kiệm chi phí và tối ưu hoá danh mục thuốc thông qua ưu tiên thuốc generic.
So với một số bệnh viện như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu Nghị và Bệnh viện Thanh Nhàn, tỉ lệ sử dụng thuốc BDG tại các cơ sở này cao hơn so với Bệnh viện E Cụ thể, phân tích dữ liệu DMT tại Bệnh viện Bạch Mai cho một năm nhất định cho thấy sự chênh lệch đáng kể về mức tiêu thụ thuốc BDG giữa các bệnh viện Kết quả này có ý nghĩa cho việc quản lý thuốc và đánh giá chất lượng điều trị tại các cơ sở y tế khác nhau.
2016 cho thấy tỉ lệ thuốc BDG được sử dụng chiếm 33,2% SKM và 61,0% GTSD [5] Bệnh viện Hữu Nghị năm 2018 sử dụng thuốc BDG với tỉ lệ SKM 31,69% tương ứng với 57,51% GTSD [2].
Như vậy, bệnh viện E đã thực hiện tốt theo khuyến cáo của BYT ưu tiên sử dụng thuốc generic trong điều trị
4.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần
Trong DMT hóa dược được sử dụng tại bệnh viện, thuốc đa thành phần có 71 khoản mục chiếm 11,70% tổng số thuốc sử dụng và 20,31% tổng giá trị tiền thuốc Thuốc đơn thành phần gồm 536 khoản mục chiếm 88,30% số loại thuốc và 79,69% tổng chi phí thuốc, cao hơn nhiều so với thuốc đa thành phần Kết quả này tương đồng với Bệnh viện Hữu Nghị năm 2018 khi các thuốc đơn thành phần chiếm 178,87% SKM và 82,62% GTSD [2] Tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 thuốc đơn thành phần cũng được sử dụng với tỉ lệ cao, SKM chiếm 91,18% và GTSD là 94,62% [7].
Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN
Qua kết quả phân tích ABC cho thấy thuốc hạng A có GTSD chiếm 79,88%, gồm có 149 khoản mục chiếm 23,69% tổng DMT; thuốc hạng B chiếm 14,99% GTSD với SKM chiếm 23,21%; còn lại là thuốc hạng C có GTSD thấp 5,12% và có SKM chiếm 334 khoản mục chiếm 53,10% Từ kết quả phân tích cho thấy cơ cấu sử dụng và phân bổ nguồn kinh phí mua thuốc của bệnh viện chưa đạt mức tỷ lệ khuyến cáo theo lý thuyết Nguyên nhân được cho là do phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện E vào năm 2020, thời điểm dịch COVID-19 làm nhu cầu sử dụng thuốc tại bệnh viện có sự thay đổi.
Phân bố thuốc hạng A theo nhóm TDDL cho thấy thuốc điều trị ký sinh trùng, thuốc chống nhiễm khuẩn và thuốc tim mạch vẫn chiếm GTSD cao và tập trung phần lớn ngân sách của bệnh viện Điều này cho thấy bệnh nhiễm khuẩn và bệnh tim mạch đang là gánh nặng về nhu cầu điều trị lẫn chi phí sử dụng thuốc Vì vậy, cần xem xét và triển khai các biện pháp nhằm ngăn chặn lạm dụng, hạn chế sử dụng thuốc không hợp lý, đồng thời thực hiện quản lý tồn kho chặt chẽ để tránh lãng phí ngân sách Các biện pháp quản lý thuốc hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng điều trị, tối ưu chi phí và đảm bảo nguồn lực cho hoạt động khám chữa bệnh.
Phân tích cụ thể 10 thuốc có GTSD cao nhất nhóm A chiếm 28,40% GTSD nhóm A Trong đó gồm có 6 thuốc kháng sinh, 1 thuốc đường tiêu hóa,
Ba nhóm thuốc được đề cập trong bài viết gồm: thuốc thuộc nhóm hormone tác động lên hệ nội tiết, thuốc thuộc nhóm dung dịch lọc màng bụng dùng trong quá trình lọc máu, và thuốc có tác động lên hệ thần kinh, cho thấy sự đa dạng của dược phẩm đối với các hệ cơ quan trong cơ thể.
4.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích VEN
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc của bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn Phân tích VEN khó khăn hơn phân tích ABC vì chưa có tiêu chí xếp loại chính xác và cần có sự chuyên môn, sự đồng thuận cao từ các bên liên quan Đặc biệt tại các bệnh viện đa khoa, việc xếp hạng VEN càng phức tạp vì một loại thuốc có thể quan trọng với một chuyên khoa nhưng lại kém quan trọng với chuyên khoa khác Do đó, việc xây dựng tiêu chí và quy trình đánh giá VEN cần sự tham gia của nhiều chuyên gia dược, bác sĩ và quản trị viên để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quản lý nguồn lực dược phẩm.
Trong danh mục 629 thuốc được sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020, có
110 thuốc quan trọng được xếp vào nhóm V, chiếm 17,49% SKM và 15,18% tổng GTSD thuốc của bệnh viện Nhóm E là nhóm có SKM và GTSD cao nhất, chiếm 73,61% SKM và 80,81% tổng GTSD thuốc Các thuốc nhóm N không cần thiết gồm 56 khoản mục, chiếm 8,90% SKM thuốc và 4,00% tổng chi phí sử dụng thuốc của bệnh viện Tỷ lệ sử dụng thuốc nhóm N thấp hơn so với kết quả phân tích VEN tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2016 (9,1% GTSD) và tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2018 (9,66% GTSD).
Bệnh viện cần xem xét loại bỏ những thuốc thuộc nhóm N khi không thật sự cần thiết cho người bệnh nhằm tiết kiệm ngân sách và tối ưu nguồn lực y tế Việc sắp xếp thuốc vào các nhóm V, E, N tại mỗi bệnh viện có sự khác nhau tùy theo quan điểm và quyết định của HĐT&ĐT, do đó cần có quy trình đánh giá danh mục thuốc sao cho minh bạch và nhất quán Mục tiêu là đảm bảo an toàn cho người bệnh, tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả quản lý thuốc, tránh lãng phí trong ngân sách của bệnh viện.
4.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích kết hợp ABC/VEN
Qua phân tích ma trận ABC/VEN cho thấy bệnh viện đã ưu tiên mua sắm các thuốc nhóm V và nhóm E, đồng thời phân bổ phần lớn ngân sách cho hai nhóm này ở cả ba nhóm A, B và C Nhóm I gồm các thuốc thiết yếu và chiếm giá trị ngân sách cao, cụ thể chiếm 38,00% SKM và 82,78% GTSD Trong đó nhóm AE chiếm 19,40% về SKM và 65,49% về GTSD; nhóm AV chiếm 3,18% về SKM.
12,29% về GTSD; nhóm BV với 3,50% về SKM và 2,19% về GTSD; nhóm
CV với 10,81% về SKM và 0,71% về GTSD Cần giám sát chặt chẽ để tránh bị thiếu thuốc nhưng cũng không nên để tồn kho quá nhiều
Nhóm thuốc AN gồm các thuốc có giá trị tiêu thụ lớn nhưng lại chỉ mang tính chất hỗ trợ điều trị; do đó, bệnh viện cần quản lý chặt chẽ và giảm thiểu việc sử dụng để tiết kiệm chi phí cho người bệnh Nhóm thuốc này gồm 7 khoản mục với kinh phí hơn 2,5 tỷ VND, chiếm 2,11% GTSD.
Flavital 500 có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm sản phẩm này, gồm Thỏ ty tử, Hà thủ ô, Dây đau xương, Cốt toái bổ, Đỗ trọng, Cúc bất tử và Nấm sò khô Công năng của thuốc là bổ gan thận, mạnh gân cốt, tráng dương, ích tinh, nuôi dưỡng khí huyết ở người cao tuổi và được chỉ định trong các trường hợp thận yếu nhằm tăng cường sức khỏe cho người cao tuổi Đây là một thuốc có tác dụng điều trị chưa rõ ràng, mang tính chất hỗ trợ điều trị Vì vậy cần hạn chế sử dụng và bệnh viện nên có sự quản lý chặt chẽ việc sử dụng thuốc này.
Nhóm II gồm nhóm BE với 17,65% về SKM và 11,21% về GTSD, nhóm
CE với 36,41% về SKM và 3,85% về GTSD
Nhóm III gồm nhóm CN gồm 36 khoản mục và chiếm 0,51% về tổng chi phí sử dụng thuốc bệnh viện Trong các thuốc nhóm CN thì nhóm thuốc tẩy trùng, sát khuẩn chiếm tỉ lệ cao nhất về GTSD tương ứng là 19,24%, tiếp đến là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn Nhóm thuốc tẩy trùng, sát khuẩn bao gồm có natri clorid 0,9% dùng ngoài và povidon iod 10% dùng ngoài Các thuốc thuộc nhóm CN hầu hết có đường dùng là đặt hậu môn, nhỏ mắt, nhỏ mũi, đường dùng ngoài Đây là các thuốc được giám sát ở mức độ thấp nhất, là các thuốc có giá trị thấp và không cần thiết Bệnh viện có thể cân nhắc khi lựa chọn vào danh mục thuốc sử dụng của bệnh viện vào năm tiếp theo
So sánh với bệnh viện Bạch Mai năm 2016 và bệnh viện Hữu Nghị năm
Năm 2018, các thuốc phân nhóm AN được sử dụng tại các bệnh viện với mức GTSD khác nhau Tại Bệnh viện Bạch Mai, nhóm AN có 14 thuốc, chiếm 1,3% SKM và 6,7% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng Tại Bệnh viện Hữu Nghị, nhóm thuốc AN có lên tới 24 thuốc, chiếm 1,88% SKM và 4,08% GTSD.
Trong tổng số 48 thuốc được đánh giá, có 10 thuốc y học cổ truyền – thuốc dược liệu và 5 thuốc tác động lên tuần hoàn mạch não Tuy nhiên, nghiên cứu tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 cho thấy nhóm thuốc AN chỉ gồm 1 thuốc là Kyominotin [7] (Glycyrrhizin + Glycin + Cystein), có tác dụng hỗ trợ chức năng gan Nghiên cứu tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trong giai đoạn 2019–2020 cho thấy bệnh viện không sử dụng nhóm thuốc AN.
Phân tích ABC/VEN tại Bệnh viện E cho thấy việc sử dụng thuốc tương đối hợp lý, khi các nhóm AN, BN và CN chiếm tỉ lệ không cao về SKM và GTSD Tuy nhiên, nhóm thuốc N được xác định là nhóm không thiết yếu và cần cân nhắc hạn chế hoặc loại bỏ khỏi danh mục thuốc sử dụng của bệnh viện nhằm giảm chi phí và giảm gánh nặng cho ngân sách của bệnh viện và người bệnh.
Một số hạn chế của đề tài
Do diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, tại thời điểm tiến hành thu thập số liệu không thể cập nhật danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng trong năm 2021.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Kết luận
Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020:
- DMT sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 gồm 629 khoản mục thuốc, trong đó chi phí cho thuốc hóa dược chiếm 96,5% SKM và 97,72% GTSD
- Danh mục các thuốc hóa dược sử dụng tại Bệnh viện E năm 2020 bao gồm
26 nhóm TDDL được phân tích trong báo cáo Trong đó, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn là nhóm có GTSD cao nhất, chiếm 30,61% với 87 khoản mục, tương ứng 14,33% tổng số khoản mục thuốc Phân nhóm Beta-lactam chiếm tới 63,26% tổng chi phí sử dụng của nhóm.
- Thuốc sản xuất trong nước được bệnh viện ưu tiên sử dụng đạt tới 35,29% về SKM và 21,60% về GTSD
- Bệnh viện có tỉ lệ sử dụng thuốc đơn thành phần đạt tỉ lệ cao với 536 khoản mục chiếm 88,30% SKM và 79,69% GTSD
- Tỷ lệ thuốc generic được sử dụng tại bệnh viện chiếm tỷ lệ cao tới 81,70% tổng GTSD thuốc hóa dược của bệnh viện
Thuốc dùng đường tiêm và tiêm truyền là nhóm được sử dụng nhiều nhất, chiếm 46,90% SKM và 60,84% giá trị tiền thuốc sử dụng Thuốc dùng đường uống đứng thứ hai, gồm 279 khoản mục, chiếm 44,36% SKM và 34,49% GTSD tổng thuốc của bệnh viện.
Về phân tích DMT sử dụng phương pháp ABC/VEN
Phân tích cho thấy thuốc hạng A có GTSD chiếm 79,88%, gồm 149 khoản mục chiếm 23,69% tổng DMT Thuốc hạng B có GTSD chiếm 14,99% và SKM chiếm 23,21% Còn lại là thuốc hạng C có GTSD thấp 5,12% và SKM chiếm phần còn lại.
Nhóm V gồm 110 khoản mục, chiếm 17,49% SKM và tương ứng 15,18% tổng GTSD thuốc của bệnh viện Nhóm E có SKM và GTSD cao nhất trong bệnh viện, chiếm 73,45% SKM và 80,55% tổng GTSD thuốc Nhóm N gồm 57 khoản mục, chiếm 9,06% SKM thuốc và tương ứng 4,27% tổng chi phí sử dụng thuốc của bệnh viện.
- Nhóm thuốc AN bao gồm 7 khoản mục với kinh phí hơn 2,5 tỷ VND chiếm 2,11% về GTSD
Đề xuất 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Thường xuyên rà soát DMT sử dụng hàng năm tại bệnh viện, tiến hành phân tích để phát hiện các vấn đề kịp thời, dự trù mua sắm thuốc
- Lựa chọn thay thế sử dụng các thuốc cùng hoạt chất, hàm lượng, đường dùng có tác dụng điều trị tương đương để tiết kiệm chi phí.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Bộ Y Tế (2013), Thông tư số 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện, ban hành ngày
2 Lê Thị Thu Hằng (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Hữu Nghị năm 2018, Luận văn dược sỹ chuyên khoa cấp 1, Trường Đại học Dược Hà Nội
3 Vũ Thị Thu Hương (2012), Đánh giá hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa, Luận án tiến sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội
4 Lưu Thị Huyên (2019), Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2017, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội
5 Lê Thị Tuyết Mai (2018), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Bạch Mai năm 2016, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học
6 Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị Thanh Hương (2021), "Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện nội tiết trung ương giai đoạn 2019- 2020", Tạp chí Y học Việt Nam 501, tr 140-144
7 Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2019), Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện phổi trung ương năm 2017, , Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội
8 Huỳnh Hiền Trung (2012), Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng thuốc tại Bệnh viện nhân dân 115, Luận án tiến sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội
9 Hoàng Hải Yến (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện
Thanh Nhàn năm 2018, Luận văn Dược sĩ Chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội
10 Devnani M, Gupta AK, and Nigah R (2010), "ABC and VED Analysis of the Pharmacy Store of a Tertiary Care Teaching, Research and Referral Healthcare Institute of India", Journal of young pharmacists
11 Hacer GỹnerGửren and ệzge Dağdeviren (2017), "An Excel-Based
Inventory Control System Based on ABC and VED Analyses for Pharmacy: A Case Study", Galore International Journal of Health Sciences and Research 2(1)
12 Nitin Gupta and Pushpanjali Krishnappa (2016), "Inventory Analysis in a Private Dental Hospital in Bangalore, India", Journal of Clinical and
Diagnostic Research 10(11), tr IC10-IC12.