1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lạm phát ở Việt Nam hiện nay Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

27 1,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Khắc Phục
Tác giả Hoàng Thị Ánh Tuyết
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề án chuyên ngành
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 244 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phágiá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.. Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ở nước ta hiện nay, chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển nền kinh tế xã hội, nâng caođời sống nhân dân Tuy nhiên, lạm phát và tăng trưởng kinh tế luôn là bài toán khóđối với tất cả các quốc gia Việt Nam đã gia nhập WTO nên thị trường trong nướcdiễn biến theo sát thị trường quốc tế Thời gian qua thị trường thế giới tiếp tục cónhững biến động phức tạp khó lường trước Vì vậy Việt Nam cần tôn trọng quy luậtkhách quan của nền kinh tế thị trường, Chính phủ không nên làm thay thị trường Đặcbiệt là không nên sử dụng các biện pháp có tính bao cấp từ nguồn ngân sách nhà nướcnhư: cấp bù lỗ, cấp bù lãi suất, khoanh nợ, Cơ chế bao cấp qua giá một số mặt hàng

có tính theo sát thị trường thế giới sẽ làm méo mó giá cả trong nước, tạo điều kiệncho tình trạng xuất lậu qua biên giới, tác động tiêu cực đến ngân sách quốc gia, gâytiềm ẩn nguy cơ lạm phát Năm 2008 vừa qua đã chứng minh điều đó Lạm phát như

là một hiện tượng của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòihỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt kết quả khả quan.Lạm phát ảnh hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến mọi mặt của đời sống xãhội, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động Nhìn lại lịch sử lạm phát, từcuối thế kỷ 19 đến nay, ở nước ta lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài Lạm phát

đã phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan hệtrọng nền kinh tế xã hội Và đặc biệt là thời gian gần đây, từ cuối năm 2007, nhất lànăm 2008 lạm phát đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta một cách sâu sắc

Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, đặc biệt thấy được tầm

quan trọng của lạm phát, em tìm hiểu và viết đề tài : “ Lạm phát ở Việt Nam hiện nay: Nguyên nhân và giải pháp khắc phục”

Trang 2

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT

1 Khái niệm và phân loại lạm phát:

1.1 Khái niệm về lạm phát:

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chungcủa nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảmsức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phágiá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩađầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế củamột quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệtrong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn làmột chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát làgiảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người tagọi là sự "ổn định giá cả"

Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khicác quy luật về hàng hoá không được tôn trọng, nhất là các quy luật lưu thông tiền tệ

Ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn

ẩn náu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thôngtiền tệ bị vi phạm

Trong bộ “ Tư bản” nổi tiếng của mình C.Mác viết: “ Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình” Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhà nước

phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị tiền giấygiảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện

Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó

được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: “ Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian”.

Trang 3

Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát Nó chính là GNP danh nghĩa/GNP thực tế Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá

bán buôn Ip = ∑ ip.d

Ip: chỉ số giá cả của từng nhóm hàngd: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng

1.2 Phân loại lạm phát:

- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới

10%/1 năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kỳnày, nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của lao động ổn định Sự ổn định

đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra vớitình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn…

Có thể nói lạm phát vừa phải tạo nên tâm lý an tâm cho người lao động chỉtrông chờ vào thu nhập Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu nhập

ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh

- Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với cả tỷ lệ

2 hoặc 3 con số một năm ở mức phi mã Lạm phát làm cho giá cả chung tăng lênnhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc nàyngười dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ởmức lãi suất bình thường Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biếndạng kinh tế nghiêm trọng

- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa

lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăngnhanh, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mấtgiá nhanh chóng thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng vàhoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khixảy ra

Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng: Lạm phát ở các nước đang phát triển thườngdiễn ra trong một thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó thường phức tạp và trầm trọnghơn Các nhà kinh tế học đã chia lạm phát thành 03 loại

Trang 4

Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50%/năm; lạmphát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%/năm; siêulạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%/năm.

2 Nguyên nhân gây ra lạm phát:

2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ:

Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá…có nhiều nguyên nhân như: thờitiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá lương thực tăng cao Giánguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng cũng tăng lên Khi tiền lươngtăng, chi phí sản xuất cũng tăng dẫn theo các mặt hàng thiết yếu cũng tăng Tóm lại,lạm phát là hiện tượng tăng liên tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách:

- Theo lý thuyết tiền tệ: lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cungtiền

- Theo học thuyết Kêyns: lạm phát xẩy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụtrong nền kinh tế (do cầu kéo)

- Theo học thuyết chi phí đẩy: lạm phát sinh ra do tăng về chi phí sản xuất (chiphí đẩy)

Trên thực tế, lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi nguyênnhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau

Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong hằng đẳng thức tỷ lệ lạm phát,

mà dựa vào đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp Trong việcchống lạm phát, các ngân hàng Trung ương luôn luôn giảm sức cung tiền

Tăng cung tiền có thể đạt được bằng 2 cách:

* Ngân hàng Trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện kinhdoanh tốt)

* Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng

Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí Vềtrung và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng Nếu cung khôngtăng tương ứng với cầu thì việc dư cầu sẽ bù đắp bằng việc tăng giá Tuy nhiên, giá

Trang 5

cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2- 3 năm In tiền để trợ cấp cho chitiêu công cộng sẽ dẫn tới lạm phát nghiêm trọng

Ví dụ:

Năm 1966 – 1967 Chính phủ Mỹ đã sử dụng tăng tiền để trả cho những chi phíleo thang trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam Lạm phát tăng từ 3% (năm 1967) đến6% (năm 1970)

Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cân bằng,nghĩa là (i) và (y) ổn định Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi.Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên một tỷ lệ tươngứng Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ Đây là lý do tại sao ngân hàng Trungương rất chú trọng đến nguyên nhân này

2.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát do cầu kéo):

Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về hànghoá, dịch vụ Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phitiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm Nếu cầu vềhàng hoá vượt mức cung xong sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dụngmáy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng đượcgia tăng của cầu Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy Lạm phát do cẩu tăng lênhay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suất máymóc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ Sử dụng công suấtmáy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng

2.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy:

Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm thấtnghiệp nên còn gọi là lạm phát “đình trệ” Hình thức của lạm phát này phát sinh ra từphía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điềunày chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàngtrả giá cao hơn

Ví dụ:

Trang 6

Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ Nếutiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên.Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán

sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước để phùhợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo vòng xoáy lượng giá

Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầu thô Trong giaiđoạn 1972 -1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ 4,6%đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới

Ngoài ra, sự suy sụp của giá dầu năm 1980 cũng làm cho lạm phát giảm xuốngmức thấp chưa từng thấy

Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn đượcchuyển cho người tiêu dùng nội địa Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội tệyếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác Ngoài ra yếu tố tâm lý dân chúng, sự thayđổi về chính trị, an ninh quốc phòng… Song yếu tố trực tiếp vẫn là số lượng tiền tệtrong lưu thông vượt quá số lượng hàng hoá sản xuất ra Việc tăng đột ngột của thuế(VAT) cũng làm tăng chỉ số giá

2.4 Lạm phát dự kiến:

Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vùa phải có xuhướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó Giá cả trong trượng hợp này tăng đều mộtcách ổn định Mọi người có thể dự kiến được trước nên gọi là lạm phát dự kiến

2.5 Các nguyên nhân khác:

Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa tăngtheo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ tiền nhiều càng thiệt Điều nàyđặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất gía càng nhanh, tăng mức độ gửitiền vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi loại hànghoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá tiếp tụcđẩy giá lên cao

Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có thể inthêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây lên

Trang 7

lạm phát Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải inthêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt Kiểu lạm phát xoáy ốc nàythường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát Tuy nhiên, Chính phủ có thể tài trợ thâmhụt ngân sách bằng cách vay tiền của nhân dân thông qua hình thức bán tín phiếu, tráiphiếu Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nếuthâm hụt ngân sách tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc và lãi) sẽ lớn đếnmức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn.

Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế,chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí đầuvào, nguyên nhân do nước ngoài

3 Những tác động của lạm phát:

Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhauđối với nền kinh tế Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế mà lạm phátđược coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác động của nó

* Đối với lĩnh vực sản xuất:

Đối với lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu rabiến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giácủa đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh Hiệu quả kinh doanh-sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra xáo động về kinh tế Nếu mộtdoanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sảnlớn

* Đối với lĩnh vực lưu thông:

Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá Cácdoanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao

Do có nhiều người tham gia vào lĩnh vực này trở nên hỗn loạn Tiền ở trong taynhững người vừa mới bán xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độlưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng

Trang 8

* Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:

Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp Sốngười gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều Về phía hệ thống ngân hàng, dolượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người

đi vay, cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửikhông làm an tâm những người hiện đang có tiền nhàn rỗi trong tay Về phía người đivay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá của đồng tiền một cách nhanhchóng Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa Chứcnăng kinh doanh tiền bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởikhi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải bằng tiền mặt

* Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước:

Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạmphát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm chothị trường bị rối loạn Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt vàkém Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủsức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm….Các ngành,các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không

có gì Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng caođời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được

CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

1 Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam:

Giai đoạn thứ nhất: từ năm 1890 trở về trước, lạm phát được biểu hiện giốnghoàn toàn định nghĩa của Marx, cho nên chống lạm phát là tìm tòi mọi cách hạn chếviệc phát hành tiền vào lưu thông

Thời kỳ 1938 – 1945: Ngân hàng Đông Dương cấu kết với chính quyền thực

dân Pháp đã lạm phát đồng tiền Đông Dương để vở vét của cải của nhân dân ViệtNam đem về Pháp đóng góp cho cuộc chiến tranh chống Phát xít Đức và sau đó để

Trang 9

nuôi mấy chục vạn quân nhân, bán Đông Dương làm chiếc cầu an toàn đánh ĐôngNam Á Hậu quả nặng nề của lạm phát nhân dân Việt Nam phải chịu giá sinh hoạt từ1939-1945 bình quân cao hơn 25 lần.

Thời kỳ 1946 – 1954: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch Hồ

Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay đồng Đông Dương

và sau đó là đồng ngân hàng để huy động sức người, sức của toàn dân tiến hành cuộckháng chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lược Pháp

Thời kỳ 1955 – 1965: Chính phủ tay sai Mỹ kế tiếp nhau ở Miền Nam Việt

Nam liên tục lạm phát đồng tiền Miền Nam để bù đắp lại cuộc chiến tranh chống lạiphong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam Mặc dù được Chính phủ Mỹ đổ tiền củavào với khối lượng viện trợ khổng lồ, giá trị hàng trăm tỷ USD cũng không thể bùđắp nổi chi phí Thời kỳ Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đã lạm phát lên gấp 5 lần vớihàng trăm tỷ đồng tiền lưu thông ở Miền Nam năm 1975 Năm 1969 lên tới 600 triệuđồng, giá sinh hoạt tăng hàng trăm lần so với năm 1965

Thời kỳ 1965 – 1975:

Ở miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải tiến hànhmột cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Chống chiến tranh phá hoại của Mỹ tạimiền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đã phát hành số tiền lớn gấp 3lần tiền lưu thông của năm 1965 ở miền Bắc) Nhưng nhờ có sự viện trợ to lớn và cóhiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em đã hạn chế được lạmphát trong thời gian này

Thời kỳ 1976 đến nay:

Sau khi thống nhất đất nước, chúng ta thiếu kinh nghiệm trong thời bình nênduy trù quá lâu cơ chế thời chiến tập trung quan liêu bao cấp toàn diện, không mởrộng sản xuất kinh doanh nên đã tự gây cho mình nhiều khó khăn, sản xuất không đủtiêu dùng, ngân sách không đủ chỉ tiêu, lạm phát tiền giấy liên tục và bùng nổ dữ dộitới 3 con số Nhưng mấy năm gần đây, mức độ lạm phát chỉ ở mức trên dưới 10%, cóthể nói đây cũng là một thành công không nhỏ của nhà nước ta

2 Nhận dạng lạm phát ở Việt Nam hiện nay:

Trang 10

Thực tế hiện nay ở Việt Nam, lạm phát đang là vấn đề trọng tâm của các chínhsách và điều hành kinh tế vĩ mô Năm 2007 vừa qua, mặc dù với mức tăng trưởngkinh tế GDP 8,5% đã đạt mức tăng kỷ lục kể từ năm 1992 đến nay vì chỉ số giá tiêudùng CPI (lạm phát) cũng đã lên đến hai con số, với mức 12,63% Từ đầu năm 2008đến nay, “ cơn bão giá” vẫn tiếp tục tăng mạnh ở hầu hết các mặt hàng từ các hànghoá chiến lược cho CNH, HĐH đất nước như xăng dầu, vật liệu xây dựng, các hànghoá có giá trị lớn và vàng Cho đến các nhu cầu yếu phẩm đời thường cho người dânnhư thịt cá, rau củ Vượt qua mọi dự đoán chỉ số CPI tháng 2/2008 vừa qua đã cómức tăng kỷ lục 3,56% so với tháng 1 Đây là mức tăng cao nhất kể từ khi Việt Namhội nhập vào WTO Như vậy, nếu tính chung cả 2 tháng đầu năm 2008 thì mức tăngcủa CPI đã lên tới 6,02% so với tháng 2/2007 khiến cho chỉ số CPI của nước ta đã lêntới 14,89% so với cùng kỳ năm ngoái, và 6 tháng đầu năm 2008 là 18,44% Chỉ số giátiêu dùng (CPI) 2008 dừng chân ở mức 22,97% Sau đợt tăng mạnh trong ba thángđầu năm (trong đó “nóng” nhất là tháng năm tăng tới 3,91%), đến tháng sáu chỉ sốCPI đã tăng chậm lại do các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ Đến tháng 10-

2008, CPI quay ngược, tăng âm liền trong ba tháng, kéo chỉ số CPI cả năm xuống trái với các dự báo đầu năm cho rằng CPI 2008 có thể lên đến 25-30%

-Chính phủ đã có nhận định kịp thời: “ Chúng ta chưa có chính sách cơ bản vềtài chính gắn liền với chính sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng Các khoản chingân sách mang nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt qua nguồn thu và việc sửdụng vốn vay và viện trợ kém hiệu quả Tất cả những yếu tố đó gây ra thâm hụt ngânsách là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát Trong điều hành vĩ mô phát triển nềnkinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới chính sách tài chính tiền tệ, chốnglạm phát Đối với nước ta hiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là mộtvấn đề lớn đặt ra trong điều hành của Chính phủ, của các cấp, các ngành vì sự pháttriển và ổn định Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực Châu Á vì GDPcủa Việt Nam là 70 tỷ USD chỉ tương đương với 1% GDP của khu vực này trừ NhậtBản Vì vậy, Chính phủ đã đưa ra tám giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế lạm phát,trong đó quan trọng nhất là đình hoãn các công trình chưa thật cần thiết, cắt giảm

Trang 11

10% chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước, thắt chặt chính sách tiền tệ… Kếtquả, trên 3.100 công trình dự án với khoảng 37.000 tỉ đồng được đình hoãn, giãn tiến

độ 2.700 tỉ đồng chi thường xuyên của các cơ quan đơn vị được cắt giảm

Tháng 12-2008, Chính phủ đưa ra năm nhóm giải pháp chống suy giảm kinh tế,đồng thời dự tính chi 1 tỉ USD kích cầu, hỗ trợ doanh nghiệp, làm sống động nềnkinh tế Bên cạnh gói giải pháp này sẽ có một loạt biện pháp khác như giảm, giãn nộpthuế, tổng trị giá gói giải pháp có thể lên tới trên 6 tỉ USD

Lạm phát ở Việt Nam cũng có những biểu hiện chung giống với lạm phát ởcác quốc gia khác như: chỉ số giá cả nói chung tăng phổ biến do vậy giá trị của đồngtiền giảm Song lạm phát ở Việt Nam có đặc trưng riêng do điều kiện kinh tế - xã hội

cụ thể:

Lạm phát của một nền kinh tế kém phát triển trong đó khu vực kinh tế nhànước có địa vị thống trị Nền kinh tế Việt Nam thuộc loại kém phát triển nhất thếgiới, các chỉ tiêu bình quân đầu người rất thấp Khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Namchiếm một tỷ trọng lớn hiếm có trên thế giới Mặc dù khu vực kinh tế nhà nước chiếmphần lớn số vốn đầu tư và chất xám trong cả nước nhưng lại chỉ có thể làm ra từ 30-37% tổng sản phẩm xã hội Các xí nghiệp quốc doanh nhìn chung đã nộp cho ngânsách nhà nước một số tiền thấp rất xa so với tiền nhà nước cung cấp cho nó qua bù lỗ,

bù giá, cấp phát tín dụng, lãi suất thấp Đúng ra khu vực kinh tế nhà nước phải đemlại nguồn thu chủ yếu cho xã hội thì ở đây ngược lại Khu vực kinh tế tư nhân làm ăn

có hiệu quả hơn và đóng góp một phần quan trọng trong ngân sách của nhà nước.Chính hoạt động của các hãng kinh tế nhà nước với lãi giả, lỗ thật đã đẩy nền kinh tếlạm phát, thị trượng rối loạn, lỗ lãi khó kiểm tra Sự giảm sút hiệu quả trong sản xuấtkinh doanh đã dẫn đến vòng tròn luẩn quẩn Hiệu quả giảm dẫn đến thu không đủ bùchi và lạm phát, và lạm phát làm cho hiệu quả kinh doanh giảm sút và cứ như vậy nólàm cho nền kinh tế Việt Nam càng lún sâu vào đói nghèo và lạc hậu

Lạm phát của một nền kinh tế độc quyền mà nhà nước có địa vị thống trị trênmọi lĩnh vực, cơ chế quan liêu bao cấp Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh ắtphải sinh ra một đế chế chiếm vị trí độc quyền Để đạt được điều đó, phải tiến hành

Trang 12

cải tiến máy móc, trang thiết bị, tổ chức lao động tập trung nguồn vốn….Nhưng khi ở

vị trí độc quyền công ty sẽ bóp chết các địch thủ khác và cũng ít chú ý hơn đến việc

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật dẫn đến sự suy thoái trong kinh doanh Nếu công

ty này nhỏ thì ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế sẽ không có nhiều tác động tiêu cực.Nhưng nếu đó là một công ty lớn thì sự suy thoái này sẽ kéo theo cả nền kinh tế lâmvào tình trạng khủng hoảng.Trên thực tế, độc quyền ở Việt Nam cũng như ở các nướcXHCN khác sự ảnh hưởng của nó dã khống chế toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xãhội Chế độ độc quyền nhà nước và cơ chế hoạch định quan liêu, mệnh lệnh đã triệttiêu mất các quan hệ thị trường ở Việt Nam làm cho nền kinh tế Việt Nam xa lạ vớithị trường Đây cũng là nguyên nhân đáng chú ý trong việc góp phần làm tăng lạmphát

Lạm phát của một nền kinh tế đóng phụ thuộc một chiều vào các nguồn tài trợ

từ bên ngoài Việt Nam đóng cửa nền kinh tế, không quan hệ với các nước tư bản chủnghĩa Chính sách này ra đời do sự thù địch, cấm vận của Mỹ Nguyên nhân nữa dẫnđến sự đóng góp của nền kinh tế là do sự đối đầu đông tây mà Việt Nam và một sốnước XHCN là một cực Sự bó hẹp nền kinh tế này đã dẫn đến những khó khăn đáng

kể cho nền sản xuất kinh doanh

Ngoài những đặc điểm trên thì lạm phát ở Việt Nam có cơ cấu tổ chức của nóbao gồm những ngành kém hiệu quả có được do sự ưu tiên phát triển Mọi người đềuthấy mất cân đối khi ưu tiên phát triển công nghiệp nặng

Lạm phát ở một nước chịu sự ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiến tranh kéodài do đó chi phí cho lĩnh vực quốc phòng lớn, tiền trợ cấp gia đình chính sách….Những khoản này làm tăng thêm thâm hụt ngân sách và thúc đẩy gia tăng lạm phát

Việt Nam là một nước nông nghiệp mà luôn chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịchhoạ do đó ngân sách cũng phải trang trải

3 Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam:

Lạm phát hiện tại ở Việt Nam là sự tích hợp của lạm phát tiền tệ, lạm phát cầukéo và lạm phát chi phí đẩy, ba loại này tác động lẫn nhau làm cho lạm phát càng trởnên phức tạp

Trang 13

*Lạm phát tiền tệ:

Do việc thực thi chính sách chính sách tiền tệ không nghiêm, có thể chưa phùhợp nên việc phát huy tác dụng của chính sách không được như mong muốn Quản lýyếu kém dẫn tới lượng cung tiền trong lưu thông đã vượt quá lượng tiền cần có trênthị trường nhiều lần do đó dẫn tới lạm phát

Có thể kể ra các nguyên nhân trực tiếp làm lượng cung tiền tăng lên như sau:

Thứ nhất, chi tiêu ngân sách ngày càng lớn Chi tiêu ngân sách năm sau cao

hơn năm trước do yêu cầu phát triển tế xã hội đòi hỏi các điều kiện hạ tầng nhưđường xá, cầu cống, bến cảng, các khu đô thị, khắc phục hậu quả của thiên tai Trong đó có nhiều các vụ việc tiêu cực, hiệu quả chi tiêu ngân sách thấp, nhiều côngtrình kéo dài, tốn kém, hiệu quả thấp Những khoản chi tiêu ngân sách này đã đưamột lượng tiền mặt lớn ra thị trường

Thứ hai, quản lý tiền mặt kém hiệu quả Hiện nay ở Việt Nam có nhiều đơn vị

như Ngân hàng Nhà nước, hệ thống các Ngân hàng thương mại, các Tổ chức tín dụngphi ngân hàng, Công ty bảo hiểm, liên quan tới công tác lưu hành tiền tệ Lượngtiền cần có (D) để cân đối với hàng hoá không đồng nhất với lượng tiền mặt thực tếđang có trên thị trường Lượng tiền này không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền mặt thực

tế (T) mà còn phụ thuộc vào vòng quay đồng tiền (V), chúng tỷ lệ thuận với nhautheo công thức: D = T V

Lượng tiền D cân đối với hàng cần phải được kiểm soát chặt và thường ổn địnhtrong một thời gian thích hợp có lợi cho sự phát triển kinh tế Khi có nhu cầu tăng D,các nhà quản lý thường tăng vòng quay của đồng tiền (V), hạn chế tăng T Vấn đềnày rất quan trọng cả đối với quản lý vĩ mô và quản lý vi mô

Song việc có nhiều thành viên tham gia vào cơ chế lưu hành tiền tệ như trên đãkhiến cho công tác quản lý trở nên phức tạp và kém hiệu quả Nhiều cơ sở ngân hàng,phi ngân hàng tham gia kinh doanh tiền tệ thường chỉ quan tâm tới lợi nhuận, tới vốn

Do vậy vòng quay tiền mặt ít được chú ý, khiến cho việc quản lý V càng khó khănphức tạp hơn Khi có nhu cầu tăng D, thay vì việc tìm giải pháp tăng vòng quay đồngtiền (V) lại tăng lượng cung tiền mặt vào lưu thông, làm cho lượng tiền mặt có trong

Ngày đăng: 07/12/2012, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w