Khái niệm về quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN Có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lựctheo một quy trình với những nguyên t
Trang 1ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH
PHỦ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giaolưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc Phú Thọ có 12 đơn vịhành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà,Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn vàYên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xãmiền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn
Những năm qua, cùng với xu thế đổi mới và mở cửa của cả nước, công cuộc pháttriển KT-XH của Phú Thọ đã đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực:quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng tiến bộ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, các lĩnh vực văn hóa xã hội
và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao Mặc dùvậy, Phú Thọ vẫn còn là một tỉnh nghèo, đời sống của một số bộ phận nhân dânnhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiềukhó khăn Trong bối cảnh đó, để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vậtchất, văn hóa tinh thần của nhân dân, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt làcác nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩyphát triển KT-XH địa phương
Phú Thọ là một tỉnh có sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phi chính phủnước ngoài Từ tổ chức phi chính phủ Pháp ban đầu vào giúp tỉnh xây dựng hệthống y tế tại xã Phù Ninh, đến thời điểm hiện tại Phú Thọ có trên 40 tổ chức phichính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong đó có 15 văn phòng dự án(PTVN, SODI, RENEW, MAG, CPI, PLAN, MCNV, GCSF, ROP, WVI Thanh Sơn,WVI Thanh Thủy, WVI Đoan Hùng, Dự án DBU, Dự án ICCO ở Tam Nông vàMedipeace/Canada)
Chương 1
Trang 3CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
Trang 41.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
Trang 51.1.1 Khái quát chung về các tổ chức phi chính phủ
1.1.1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ trên thế giới và tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam
a Khái niệm tổ chức phi chính phủ theo các nước trên thế giới
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non GovernmentalOrganization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation NonGouvernementale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Châu Âuvào đầu thế kỷ XX Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến hơn từ khi tổchức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ Một số nước coi tất cảcác tổ chức không thuộc về chính phủ là tổ chức PCP; trong khi đó ở một số nướckhác các tổ chức PCP là những chủ thể có tư cách pháp nhân, các tổ chức khôngthuộc chính phủ như các viện, các tổ chức tư nhân, công cộng hoặc các quỹ Dưới đây là một số định nghĩa về tổ chức PCP được quan tâm và sử dụng trongthực tiễn nhiều nhất:
- Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức PCP được xác định
là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúcđẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội
cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng Với cách sử dụng rộng rãi hơn thìthuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận màhoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với chính phủ Giá trị củacác tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụtình nguyện Cho dù trong hai thập kỷ
trở lại đây hoạt động PCP ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn nhưng cácnguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là đặc điểm chủ yếu của tổ chức phi chínhphủ [4]
Trang 6- Còn theo định nghĩa đưa ra trong Hiến chương của Liên hiệp quốc, là cách địnhnghĩa được nhiều quốc gia áp dụng hơn cả, thì “tổ chức phi chính phủ là thuật ngữdùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ VHXH, quỹ hội từ thiện, tập đoàn phi lợinhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước
và không hoạt động vì lợi nhuận Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phânchia theo kiểu chia lợi nhuận Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảngphái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa” [3]
Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ theo cách hiểu một cách phổ quát chungnhất là các tổ chức hội, quỹ VHXH, hội từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi, phi lợinhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nướctham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận.Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không được và không thể phân phối theokiểu chia lợi nhuận
Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống nhất vớinhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi chính phủ.Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác nhau lại sửdụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phi chính phủ Chẳng hạn ởPháp, đó là tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); ở Mỹ thì gọi là tổ chức philợi nhuận hay tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary Organizations); Đối vớiAnh, đó là hội từ thiện công (Public Charities); Đối với Đức, chỉ đơn giản gọi là hiệphội (Verbände); trong khi đó Trung tâm nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham giacủa công dân (The Center for Study of Global Governance) lại thường sử dụngthuật
ngữ tổ chức xã hội dân sự (Civil Society Organization)
b Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy, tận dụng cácnguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Trong đó nguồn lực
Trang 7phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hóa, và tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡcủa bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập,thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chính sách đốingoại rộng mở, Nhà nước đã thu hút ngày càng nhiều tổ chức phi chính phủ nướcngoài đến Việt Nam Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh trung du, miềnnúi, các vùng dân tộc ít người đều có các dự án của các tổ chức phi chính phủnước ngoài như: Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chương trình nước sạch nôngthôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng trường tiểu học, trườngmẫu giáo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực, cảnh báo và ứng phóthiên tai… Mặc dù kết quả của những trợ giúp này còn khiêm tốn, nhưng nó đã gópmột phần với chính phủ và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh với nghèo đói, bệnhtật và cũng giúp chúng ta có nhận thức đúng hơn về các tổ chức phi chính phủ.Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” mới du nhập vào Việt Nam, lần đầu tiên đượcdùng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, song cho đến nay chưa có khái niệmchính thống về “tổ chức phi chính phủ” Tuy nhiên, trong các cuộc hội thảo khoahọc, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đưa ra khái niệm theo những góc độ tiếp cậnkhác nhau, nhưng có nhiều ý kiến tập trung vào nội dung sau:
Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đốivới chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp
luật dưới sự quản lý của nhà nước [7]
1.1.1.2 Đặc điểm của các tổ chức phi chính phủ
Tổ chức phi chính phủ đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới dưới nhiều dạng khácnhau Nguồn gốc xa xưa của các tổ chức PCP vốn là những nhóm nhỏ làm từthiện Tiêu chí hoạt động của các tổ chức này là cứu trợ nhân đạo đối với nạn nhânchiến tranh, thiên tai và nghèo đói, không phân biệt chính kiến và địa dư Có thể nói
Trang 8rằng loại hình tổ chức này là được thành lập một cách tự nguyện và hợp pháp,không thuộc bộ máy hành chính nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận Tùytheo tên gọi khác nhau các tổ chức phi chính phủ cũng có những đặc trưng và tínhchất riêng của mình Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy hầu hết các tổ chức PCP đều
có một số đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất là một tổ chức mang tính xã hội, tổ chức phi chính phủ chỉ xuất hiện từ khi
con người có ý thức được về sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhaugiữa các nhóm người, giữa các cộng đồng người Khi xã hội càng phát triển, dânchủ trong xã hội càng được nâng cao thì tính năng động, tích cực của con ngườicàng được nâng cao, thúc đẩy nhu cầu gắn bó với nhau trong một tổ chức hòa hợptâm lý, hòa hợp lợi ích Những tác động đó khiến tính xã hội của các tổ chức phichính phủ càng đậm nét hơn
Thứ hai là hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, hầu hết các tổ chức phi chính phủ
được lập ra từ sự tự nguyện của các thành viên và hoạt động theo nguyên tắc tựnguyện Tính tự nguyện được thể hiện qua việc các thành viên tự giác thực hiệncác nhiệm vụ của tổ chức mà thường không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào Sự tựnguyện có thể là hình thức đóng góp về thời gian, công sức hay về của cải vật chất.Tính tự nguyện của các tổ chức phi chính phủ bền vững tới mức nó trở thành mộttrong những nguyên tắc hoạt động nội bộ và quan hệ đối ngoại của các tổ chứcPCP
Thứ ba là một tổ chức độc lập, các tổ chức PCP thường được hình thành và hoạt
động mang tính độc lập tương đối với chính phủ Chúng tuy được cơ quan có thẩmquyền cho phép thành lập hoặc công nhận, nhưng lại không lệ thuộc vào các cơquan đó và hoạt động theo sự quản lý điều hành của những người sáng lập; tựtrang trải về kinh phí trên nguyên tắc độc lập với chính phủ và nằm trong trongkhuôn khổ chung của xã hội
Thứ tư là hoạt động phi lợi nhuận, mục đích của hoạt động của các tổ chức PCP
thường không phải vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đây cũng là một đặc điểm nổi
Trang 9bật của các tổ chức PCP so với các tổ chức khác Mặc dù để tồn tại có một số tổchức PCP thực hiện các hoạt động kinh doanh có thu lợi nhuận, nhưng cần hiểu đó
là khoản lợi nhuận để duy trì và phát triển tổ chức theo mục đích tôn chỉ khi thànhlập và khoản lợi nhuận đó được dùng để thực hiện các mục tiêu tổ chức đã đề rachứ không phải để chia cho các thành viên hay để phục vụ cho tổ chức
1.1.1.3 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các tổ chức PCP nước ngoài cũng ngày càng nhận được sự quantâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam Vai trò đóng góp của các tổ chứcPCPNN trong quá trình phát triển KTXH của Việt Nam ngày càng được khẳng định
Cụ thể như sau:
Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội Muốn phát triển xã
hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động được mọi nguồn lực trong xã hội Đặcbiệt trong hoàn cảnh nền kinh tế chưa phát triển, nhà nước chưa có đủ điều kiện vềmọi mặt, nhất là về tài chính thì vai trò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nênquan trọng Giá trị nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu
so với các nguồn khác, nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam giải quyết một sốvấn đề khó khăn như chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức,chăm sóc sức khỏe, nâng cao thu nhập của người dân…Nhiều dự án viện trợ củacác tổ chức PCPNN không
chỉ giúp giải quyết các vấn đề khó khăn chung mà còn góp phần quan trọng vàoquá trình phát triển bền vững của địa phương Ngoài ra, do hình thức viện trợ củacác tổ chức PCPNN thường là đưa trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng nên đã thực
sự giúp được đối tượng cần sự hỗ trợ là những người nghèo, thiệt thòi trong xã hội
Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành viên Bên
cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNN cùng các tìnhnguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo vàchuyển giao kinh nghiệm Từ việc tham gia quản lý và thực hiện các dự án các đốitác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồn vốn, kỹ thuật mà còn học hỏi
Trang 10được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động và quản lý của các tổ chức phichính phủ nước ngoài, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độ hiểu biết và phươngpháp làm việc của mình.
Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tính năng động,tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân Có thể nói, việc thamgia các dự án và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một môitrường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân
Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Các tổ chức PCPNN qua các hoạt
động của mình cũng đã tạo điều kiện để người dân phản ánh được những nhu cầu,tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó giúp nhà nước có những chủ trương, chínhsách và biện pháp quản lý đúng và phù hợp với thực tiễn xã hội
Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức phi chính phủ đã có hỗ trợ tích cựctrong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản quản lý nhà nướccủa Việt Nam trên lĩnh vực đó Nhất là các chương trình dự án liên quan đến vấn
đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em
Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác và tham gia hội nhập khu vực và thế giới Các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài do đặc điểm, tính chất và mục tiêu hoạt động đã tạo
ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mở rộnggiao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, nhiều hội nghị quan trọngcủa Liên hiệp quốc, hội nghị khu vực hoặc liên khu vực hay các diễn đàn quốc tếkhi được tổ chức thì đều có các diễn đàn song hành của các tổ chức phi chính phủ.Trong quá trình xây dựng chính sách, chính phủ các nước phát triển đã hình thành
cơ chế tham vấn và lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức phi chính phủ Do đó, nếubiết cách tranh thủ tốt thì thông qua các hoạt động của mình, các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài sẽ góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng quan hệ hữu nghịcủa nhân dân các nước với Việt Nam, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, ápđặt chống Việt Nam Đồng thời, giúp chúng ta tuyên truyền một cách hiệu quả, làm
Trang 11cho nước ngoài hiểu đúng hơn và khuyến khích, mời gọi thêm nhiều tổ chứcPCPNN khác có các chương trình dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển KTXH.
1.1.1.4 Phân loại các tổ chức phi chính phủ
Trang 12Phân loại theo phạm vi hoạt động
Theo phạm vi hoạt động, chúng ta có ba loại hình PCPNN hoạt động tại Việt Namlà:
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các thành viênđều mang một quốc tịch Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm Phạm vihoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm vi mộtnước Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chiếm số lượng đa số tuyệt đối Ví dụnhư các tổ chức USAID, NPA, Oxfam Anh Quốc
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thành viêncủa nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra Về số lượng, các tổ chức dạngnày ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm vi hoạt độngcủa họ rộng khắp trên thế giới, và họ phải
tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác Tính chất hoạt động của các tổchức dạng này thường rất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế bộ máy, độingũ nhân viên đông đảo và làm việc rất chuyên nghiệp Ví dụ các tổ chức HandicapQuốc tế, OXFAM quốc tế, Plan International, Save the Children, World Vision…
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất chính phủ là các tổ chức do chính phủlập ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sáchcủa chính phủ Ví dụ các tổ chức Viện Giáo dục Quốc tế (IIE); cơ quan phát triểnQuốc tế Thụy Điển (SIDA) …
Trang 13Phân loại theo hình thức tổ chức
Nếu phân loại theo hình thức tổ chức thì chúng ta có các dạng phi chính phủ nướcngoài chính sau:
- Các Quỹ văn hóa - xã hội: Các tổ chức dạng này thường không trực tiếptriển khai các dự án viện trợ nhân đạo hoặc dự án phát triển mà chủ yếu hoạt độngtrong các lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng như văn hóa, giáo dục, cải cách vềthể chế, đào tạo phát triển con người … hoặc tài trợ cho các tổ chức phi chính phủnước ngoài khác tiến hành các dự án phù hợp với tôn chỉ, mục đích của họ Cácquỹ VHXH nói chung có ngân sách lớn, hoạt động ở nhiều nước và có ảnh hưởngkhá lớn đối với chính phủ nước họ Tại Việt Nam số lượng các tổ chức dạng nàychiếm tỷ lệ không nhiều như Ford Foundation, Clinton Foudation
- Các tổ chức phi chính phủ có nguồn gốc tôn giáo Các tổ chức này do các tổchức tôn giáo lập ra hoặc phần lớn nguồn viện trợ của các tổ chức này do các tổchức tôn giáo, các giáo dân đóng góp Tại Việt Nam số lượng các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài có nguồn gốc tôn giáo cũng chiếm tỷ lệ khá cao Ví dụ như các tổchức Tầm nhìn thế giới (WVI), tổ chức Dịch vụ cứu trợ công giáo (CRS)…
- Các tổ chức PCPNN không trực tiếp viện trợ Các tổ chức dạng này thườngđứng ra thực hiện dự án nhưng nguồn ngân sách hoạt động không phải của tổchức mà do tổ chức đó vận động, quyên góp từ chính phủ hoặc các tổ chức phichính phủ nước ngoài khác Các tổ chức dạng này thường có bộ máy làm việcchuyên nghiệp, có kinh nghiệm điều hành dự án hoặc có đội ngũ tình nguyện viênlớn Ví dụ tổ chức Hỗ trợ nạn nhân bom mìn Tromsoe, Na Uy, tổ chức USAID, tổchức VAP, Hoa Kỳ (Vietnam Assistance Project)…
- Phần còn lại và chiếm đa số là các tổ chức dạng nhỏ hoặc trung bình Các tổchức dạng này thường có bộ máy nhỏ gọn, ít nhân viên chuyên nghiệp mà đa phần
là tình nguyện viên Đây là lực lượng chủ yếu đang hoạt động trên thế giới cũngnhư tại Việt Nam Tuy không có nguồn ngân sách và tầm ảnh hưởng lớn nhưng cáchiệu quả đem lại của các tổ chức PCPNN dạng này là khá thiết thực
Trang 14Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
Phân loại theo lĩnh vực hoạt động thì các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Namgồm các nhóm chính sau:
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực y tế: Các tổ chức này thường thực hiệncác hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho một số đốitượng cụ thể; khuyến khích các hành vi có lợi cho sức khỏe; hỗ trợ nghiên cứu cácbệnh, phương pháp phòng ngừa, chữa trị bệnh; hỗ trợ giúp nâng cao năng lực,điều kiện kỹ thuật, trang thiết bị y tế của các đối tác thụ hưởng…Ví dụ các tổ chứcPhẫu thuật nụ cười (OS), Orbis
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực HIV/AIDS thường là hỗ trợ chăm sócngười nhiễm HIV/AIDS, các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và các lĩnh vựcliên quan đến HIVAIDS Ngày càng có nhiều tổ chức hoạt động trên lĩnh vực nàynhư Quỹ Clinton, Handicap International
- Nhóm tổ chức hoạt động trên lĩnh vực trẻ em: Các tổ chức này thường thựchiện các hoạt động hỗ trợ, chăm sóc trẻ em (nhất là trẻ em khuyết tật, trẻ
mồ côi, trẻ em đường phố và trẻ có hoàn cảnh khó khăn) bằng nhiều hình thức như
hỗ trợ kinh phí nuôi dạy trẻ, giúp trẻ có điều kiện học văn hóa; tổ chức dạy nghềcho trẻ giúp trẻ hội nhập cộng đồng; tuyên truyền, vận động chính sách và hỗ trợthành lập dịch vụ xã hội nhằm giúp các nhóm trẻ cần sự bảo vệ Ví dụ các tổ PlanInternational, tổ chức Bảo vệ trẻ em (Save the Children), tổ chức Tầm nhìn thế giới(World Vision)
- Nhóm tổ chức hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, dạy nghề: Các tổ chức dạngnày thường tài trợ các hoạt động đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ trang bị kiến thức vềmột nghề nghiệp nhất định nào đó như sửa chữa xe máy, sửa chữa điện tử, nghềmay, nghề mộc, nấu ăn…nhằm giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, ngườikhuyết tật và thất nghiệp có điều kiện học nghề, tìm việc làm để tăng thu nhập Hiện
có một số tổ chức hoạt động trên lĩnh vực này như tổ chức Quỹ phúc lợi xã hội
Trang 15Eden, Hội hỗ trợ người tàn tật (VNAH), các dự án hỗ trợ nạn nhân bom mìn như dự
án CPI, Dự án RENEW
- Nhóm các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực tín dụng hỗ trợ vốn: Hình thứcchính thường là tổ chức tập huấn cách sử dụng và quản lý nguồn vốn, cho vay vốnnhằm tạo điều kiện cho các hộ gia đình nghèo tăng thu nhập Nguyên tắc chung làcác tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ không thu hồi lại vốn mà chuyển nó chođối tác Việt Nam sau khi kết thúc dự án để tiếp tục cho các đối tượng khác vayhoặc dùng vốn đó để thực hiện một hoạt động khác trong địa phương Như tổ chứcDOVE Fund, tổ chức VVMF
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực hỗ trợ nâng cao năng lực: Đây là lĩnhvực hoạt động khá mới mẻ bên cạnh việc viện trợ về vật chất Các tổ chức phichính phủ nước ngoài sẽ giúp các cơ quan, tổ chức của Việt Nam tăng cường khảnăng tổ chức, quản lý hoạt động Hình thức hoạt động chính của dạng này làchuyển giao kỹ thuật, tổ chức tập huấn, tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm qua
đó giúp nâng cao năng lực của đối tác
- Các tổ chức hoạt động trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, bảo vệ vàquản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển cộng đồng, phụ nữ…
Ngoài ra còn có một số hình thức phân loại khác như phân loại theo quốc tịch, theotính chất và quy mô nguồn vốn hay theo khu vực hoạt động cũng thường được sửdụng khi sắp xếp, phân loại các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Trang 161.1.2 Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
1.1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
Có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lựctheo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật vàcác công cụ của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổchức trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định [1]
Tuy nhiên, đến nay vẫn có nhiều cách hiểu về quản lý nhà nước với những cáchtiếp cận khác nhau:
Tiếp cận từ sự ra đời của nhà nước và quá trình lao động, khái niệm quản lý đượchiểu “là một phạm trù xuất hiện trước khi có nhà nước với tính chất là một loại laođộng xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phátsinh từ lao động, không tách rời lao động và bản thân quản lý cũng là một loại laođộng”
Từ cách tiếp cận hệ thống thì quản lý nhà nước: “ là hoạt động của toàn bộ bộmáy nhà nước từ cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dâncác cấp, các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban hành chính nhànước, cơ quan kiểm soát: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhândân các cấp” Theo đó, quan niệm này cho rằng quản lý nhà nước đã bao hàm cả
bộ máy lập pháp, bộ máy hành pháp cũng như cơ quan tư pháp Một cách tiếp cậnkhác cho rằng, quản lý nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hànhchính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ, Ủy ban nhân dân các cấp,
các sở, phòng ban chuyên môn Từ việc tìm hiểu trên đây, luận văn cho rằng:
"Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước,bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu các chủ thểquản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc quản lý nhànước trên cơ sở pháp luật Quản lý nhà nước phải luôn luôn gắn với những mục
Trang 17tiêu, chức năng, nhiệm vụ cụ thể".
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền củaNhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lựckinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu pháttriển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.Quản lý nhà nước về kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nóphải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba loại
cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lýNhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằmđiều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ ở Trungương và UBND tỉnh ở cấp tỉnh)
Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng các công cụ quản lý Hiện nay công cụ quản lýnhà nước về kinh tế được hiểu theo 2 nghĩa: Dụng cụ và phương tiện, là tất cảnhững gì giúp nhà nước thực hiện được hành vi quản lý của mình
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước về kinh tế
đối với các tổ chức Phi Chính phủ như sau: Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đến các hoạt động kinh tế của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài nhằm bảo đảm hoạt động của các tổ chức này theo đúng mục đích nhân đạo từ thiện, phù hợp với luật pháp và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, mặt khác, bảo vệ lợi ích chính đáng
của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài trong quá trình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm cho mối quan hệ giữa các tổ chức này với các bên đối tác Việt Nam được hài hòa [10].
1.1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
Trang 18Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một
bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước của nước ta nói chung Chính
vì vậy, lĩnh vực quản lý này cũng phải tuân thủ những nguyên tắc quản lý nhà nước
xã hội chủ nghĩa, là những nguyên tắc cho thấy bản chất của xã hội chủ nghĩa củahoạt động quản lý nhà nước Cụ thể có những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Nguyên tắc nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo
Đảng đã xác định đây là vừa nguyên tắc cơ bản vừa là cơ chế chung trong quản lýtoàn bộ xã hội trong đó có quản lý công tác phi chính phủ nước ngoài Nguyên tắcnày đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước phải coi trọng vai trò là chủ của nhân dân,đồng thời khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, cũng là khẳng định định hướng xã hộichủ nghĩa Cụ thể nguyên tắc này yêu cầu: Quản lý các tổ chức phi chính phủ nướcngoài trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đốingoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thốngnhất ở tầm vĩ mô và chiến lược của nhà nước; phải đảm bảo sao cho tất cả vìnguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, phải tăng cường sự tham gia của nhândân vào công tác quản lý, để người dân không chỉ đơn thuần là đối tượng nhậnviện trợ mà trở thành một bên đối tác trong cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền -nhân dân - các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ
và phong cách làm việc Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất, không đối lập,không hạn chế nhau, theo đó Nhà nước giữ quyền thống
nhất quản lý những vấn đề lớn, mang tính chiến lược, cơ bản trao cho trung ương,đồng thời giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết các vấn đề cụ thể cho các bộ,ngành và địa phương để phát huy tính sang tạo, chủ động và linh hoạt của các cấp,các ngành, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Tập trung là để tránhbuông lỏng, thả nổi, lơ là quản lý dẫn đến các hiện tượng tự do chủ nghĩa, vô chínhphủ, mất kiểm soát; dân chủ là để tránh thâu tóm quyền lực dẫn đến độc quyền,độc tài
Trang 19Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ
Nguyên tắc này đòi hỏi các lĩnh vực có sự tham dự của các tổ chức phi chính phủnước ngoài thì quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ phải phối hợp gắn bóvới nhau Các bộ ngành và các địa phương có trách nhiệm chung trong việc hoànthành nhiệm vụ quản lý mà nhà nước giao cho từng bộ, ngành cũng như cho từngđịa phương để đạt được mục đích quản lý chung Giữ vững nguyên tắc này là đảmbảo tính hệ thống thứ bậc trên dưới của bộ máy nhà nước, đảm bảo được sựthống nhất giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ
Nguyên tắc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý về kinh tế đối với các phi chính phủ nước ngoàiphải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước, không cho phép các cơ quan quản lýcủa nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính, theo ý muốnchủ quan Để thực hiện tốt nguyên tắc này phải đảm bảo ba điều kiện: Thứ nhất,phải xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về phichính phủ nước ngoài nói riêng; Thứ hai, phải giáo dục pháp luật, tăng cường nhậnthức và ý thức thuân thủ pháp luật cho cả các tổ chức phi chính phủ nước ngoài vàngười dân; Thứ ba, xử lý nghiêm minh mọi
vi phạm dù là phía Việt Nam hay phía nước ngoài theo đúng những quy định củapháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế
Nguyên tắc công khai
Tổ chức hoạt động của nhà nước phải công khai, minh bạch Các chính sách, quyđịnh của Nhà nước phải được công khai cho dân biết cũng như cho các tổ chức phichính phủ nước ngoài biết Nguyên tắc này lại càng đặc biệt quan trọng bởi quản lýcác tổ chức phi chính phủ có liên quan rất nhiều đến quản lý tiền, hàng viện trợ và
Trang 20một số quyền lợi kinh tế.
1.1.2.4 Đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN là một bộ phận trong tổngthể hoạt động quản lý nhà nước về đối ngoại nhân dân, vì vậy nó cũng mangnhững đặc điểm chung của hoạt động QLNN về đối ngoại và đối ngoại nhân dân
Có thể thấy quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nướcngoài có một số đặc điểm chính như:
Trang 21Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị.
Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN trước hết phải đảm bảo đúngđường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhândân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thống nhất, tăng cường sự tham gia củanhân dân trong công tác quản lý, phát huy cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền-nhân dân vùng hưởng lợi - tổ chức phi chính phủ nước ngoài Do vậy, QLNN đốivới các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phải luôn song hành với hệ thống chínhtrị, phù hợp với các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước
Trang 22Tính pháp quyền.
Mọi hoạt động quản lý nhà nước phải đảm bảo nằm trong khuôn khổ quy định củapháp luật Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN phải dựa trên cơ sởpháp luật của Nhà nước và pháp luật được sử dụng làm công cụ chủ yếu để quản
lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Trang 23Tính thống nhất và linh hoạt
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN phải dựa trên cơ sở quyđịnh chung của pháp luật; không cho phép các cơ quan quản lý của Nhà nước thựchiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính hay theo ý muốn chủ quan Bêncạnh đó, trong quá trình quản lý cũng cần có sự linh hoạt, giao một số quyền hạn
và trách nhiệm qua đó tạo điều kiện cho các bộ, ngành và địa phương có thể chủđộng, linh hoạt giải quyết một số vấn đề cụ thể nào đó Qua đó, phát huy tính sángtạo, chủ động và quyền làm chủ của các cấp, các ngành
Trang 24Tính công khai, minh bạch
Các chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý về kinh tế liên quan đến hoạtđộng của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cần phải được công khai, minhbạch Đây cũng là một đặc điểm quan trọng bởi quản lý nhà nước về hoạt động củacác tổ chức phi chính phủ nước ngoài có liên quan rất nhiều đến quản lý nguồntiền, hàng viện trợ và một số quyền lợi kinh tế
1.1.2.5 Vai trò của quản lý nhà nước đối về kinh tế với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN đóng vai trò rất quan trọngtrong quá trình phát triển KTXH của đất nước, vai trò đó thể hiện ở các điểm sau:
Trang 25Một là, quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoàihoạt động theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.
Cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương và đa dạng hóacác mối quan hệ số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng lên Có thể thấy quan hệ với cộng đồngPCPNN đang trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối ngoạicủa Việt Nam Các tổ chức PCPNN đã và đang góp phần không nhỏ cùng nhànước khắc phục các tác động tiêu cực của quá trình phát triển Chính vì lẽ đó, cũngnhư các lĩnh vực khác, nó tất yếu cần có sự quản lý của nhà nước Có thể nói quản
lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là điềuhết sức cần thiết, hướng hoạt động của các tổ chức này vào mục tiêu phát triển củađất nước
Mục đích của QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là nhằmhướng dẫn các tổ chức này hoạt động phù hợp với định hướng của Việt Nam, phùhợp với những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KTXH của công cuộc đổi mới và phùhợp với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam QLNN về kinh tế cũng là đểđảm bảo cho các tổ chức PCPNN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và nhữngchính sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời không trái với pháp luật quốc tế
Trang 26Hai là, quản lý nhà nước về kinh tế để phát huy mặt tích cực của các tổ chức phichính phủ nước ngoài.
Không chỉ nhằm mục đích quản lý, quản lý nhà nước còn nhằm mục đích tạo điềukiện thuận lợi cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động và phát huynhững tác dụng tích cực của mình và qua đó thu hút tối đa mọi nguồn lực đóng gópcho sự phát triển KTXH của Việt Nam
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm bị chiến tranh tàn phá,thường xuyên bị thiên tai đe doạ, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khănthiếu thốn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đổi mới, thực hiệncông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đạt được mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Trong sự nghiệp to lớn và nặng nềnày, chúng ta luôn cần huy động và tranh thủ sự
giúp đỡ quí báu, có hiệu quả của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế trong
đó có cả các tổ chức PCPNN
QLNN còn nhằm mục đích khai thác có hiệu quả nguồn viện trợ của các tổ chức phichính phủ nước ngoài Sự hỗ trợ của các tổ chức PCPNN tuy không lớn so với cácnguồn viện trợ khác như viện trợ ODA, song cũng là một nguồn lực quan trọng giúpnhà nước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn khôi phục, xây dựng kinh tế, xóa đóigiảm nghèo Nhìn chung nguồn viện trợ này có tác dụng thiết thực đối với nhiềungành, địa phương và cơ sở, nhất là những cơ sở nghèo và là một nguồn bổ sungđáng kể cho ngân sách quốc gia Do đó nó có một ý nghĩa nhất định đối với nềnkinh tế của Việt Nam, đặc biệt là khi nguồn viện trợ này được tập trung cho cácvùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai
Bên cạnh đó, ngoài hình thức viện trợ hàng hóa và trang thiết bị trực tiếp (thường
là trong những trường hợp cứu trợ khẩn cấp) các tổ chức PCPNN còn hỗ trợ ViệtNam thực hiện các dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giúp đỡ người khuyếttật, giải quyết các vấn đề xã hội, giáo dục đào tạo, viện trợ y tế; phát triển nông
Trang 27thôn, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường Không chỉ viện trợ về vật chất màcác tổ chức phi chính phủ nước ngoài còn tài trợ qua nhiều hình thức khác như hỗtrợ kỹ thuật, chuyển giao kinh nghiệm, công nghệ, nâng cao dân trí, chăm sóc y tế,phổ cập giáo dục… Do đó cần phải quản lý hoạt động của các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài để đảm bảo nguồn viện trợ đó tới được những nơi, những đốitượng cần nhất và đạt hiệu quả cao nhất.
Quản lý nhà nước còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức PCPNN trongcông tác đối ngoại nhân dân Trên thế giới hiện nay các tổ chức phi chính phủ ngàycàng có vị trí và vai trò quan trọng Các tổ chức PCP được xem như cầu nối trongquan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Chính phủ nhiềunước trong số các quốc gia tài trợ ngày càng quan tâm, sử
dụng các cơ chế tham vấn, lấy ý kiến của các tổ chức phi chính phủ trong việc xâydựng, hoạch định chính sách, tăng cường sử dụng tổ chức phi chính phủ nướcngoài vào việc triển khai viện trợ cũng như trong thực hiện chính sách đối ngoạicủa mình Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tổ chức PCPNN, trong đó có nhiều tổchức PCP quốc tế có sức mạnh kinh tế và tầm ảnh hưởng lớn, vào hoạt động tạiViệt Nam thì lại càng cần phải có sự QLNN để từ đó tranh thủ, tác động để các tổchức phi chính phủ nước ngoài này sẽ có đóng góp tích cực trong việc làm chonhân dân thế giới hiểu biết hơn về Việt Nam; ủng hộ Việt Nam nhiều hơn cả về kinh
tế, chính trị lẫn đối ngoại và chống lại những luận điệu sai lệch bên ngoài về cácvấn đề như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng Qua đó, ngày càngnâng cao vị trí của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế
Trang 28Ba là, quản lý nhà nước về kinh tế để hạn chế mặt tiêu cực của các tổ chức phichính phủ nước ngoài.
Do những đặc thù riêng, hoạt động của các tổ chức PCPNN cũng rất cần có sựquan tâm đặc biệt và quản lý sâu sát của nhà nước và chính quyền các cấp bởi đây
là một lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan nhiều đến ổn định chính trị, an ninh, quốcphòng của quốc gia Nếu không có sự quản lý chặt chẽ sẽ không loại trừ những tácđộng xấu cũng như không thể phát huy được hiệu quả của hoạt động này
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN nhằm bảo
vệ lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa rò rỉ thông tin vàngăn ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu tố độc hại từ bên ngoài
Quản lý nhà nước về kinh tế còn nhằm ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cựctrong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Đó là:
- Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo, có một số tổchức phi chính phủ nước ngoài lại chú trọng đến các hoạt động nhằm
các mục đích khác như: Tuyên truyền lối sống, tư tưởng phương Tây; tìm cách tácđộng đến quá trình cải cách hành chính, cải cách thể chế, xây dựng pháp luật,chính sách của Việt Nam; thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các tổ chức phichính phủ Việt Nam hay các tổ chức xã hội dân sự hoạt động độc lập tách khỏi sựquản lý của nhà nước…Các hoạt động đó đã gây ra ảnh hưởng phức tạp tại địaphương Nhất là ở những nơi thiếu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địaphương hoặc ở những nơi chính quyền chưa đủ mạnh
- Nhiều tổ chức PCPNN đang mất dần tính chất phi chính phủ thực sự của mình.Trên đà phát triển ngày càng có nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài lệ thuộc vềtài chính vào các cơ quan của chính phủ nên các tổ chức này thường bị tác độngbởi ý đồ của cơ quan tài trợ Hoạt động của tổ chức PCPNN thường nhằm vào cácđối tượng và mục đích nhất định chứ không còn đơn thuần mang tính chất từ thiện
Trang 29như ban đầu Chẳng hạn như có một số tổ chức lợi dụng việc thực hiện các hoạtđộng dự án của mình để khảo sát lấy thông tin của Việt Nam qua đó có nhữngthông tin sai lệch một chiều bất lợi cho Việt Nam Có thể thấy đây là thủ đoạn quenthuộc mà các nước tư bản đã áp dụng với nhiều nước trên thế giới.
- Ngày càng có nhiều tổ chức có gắn bó với các hệ phái tôn giáo lớn, có nguồngốc tôn giáo hoặc nhận nguồn tài trợ từ các tổ chức tôn giáo đến hoạt động tại ViệtNam Trong quá trình hoạt động nhiều tổ chức trong số này luôn quan tâm và có ýđịnh gây ảnh hưởng về tôn giáo, thậm chí có cả những hành động kích động tưtưởng dân tộc hẹp hòi hay tư tưởng tự do tôn giáo theo kiểu phương tây
Tóm lại, tổ chức PCPNN đang là lĩnh vực có những bước tiến nhanh, do đó càngcần có sự quan tâm chú ý và quản lý của nhà nước QLNN sẽ tạo điều kiện thuậnlợi hướng dẫn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đi đúng hướng, phù hợp vớihoàn cảnh của Việt Nam; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họ trong quá trình thựchiện những nhiệm vụ phát triển KTXH của nước
ta Bên cạnh đó, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Namrất phức tạp và ẩn chứa những yếu tố có thể gây ra tác động tiêu cực đến an ninh,chính trị, văn hóa, tư tưởng Vì vậy, việc QLNN là điều tất yếu và ngày càng trở nêncần thiết đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Namhiện nay Thông qua việc quản lý giúp Việt Nam khuyến khích phát huy những ưuđiểm và kịp thời ngăn chặn nhắc nhở những sai phạm của các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài
Trang 301.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN là một lĩnh vực công tác bao gồmtrong đó rất nhiều nội dung Đó chính là những nhiệm vụ mà các chủ thể QLNN đốivới các tổ chức PCPNN tại Việt Nam phải đảm trách thực hiện Dưới đây là một sốnội dung chủ yếu của việc QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
1.1.3.1 Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật quản lý nhà nước về kinh
tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Để thực hiện tốt việc QLNN của mình, nhà nước cần phải sử dụng rất nhiều công
cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy, tài sản công…Có thể thấy các nộidung đầu tiên của việc QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNNchính là xây dựng và ban hành các chính sách và các văn bản pháp luật về QLNNđối với các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
Xây dựng và ban hành chính sách là một nội dung quan trọng và phức tạp trongQLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Các chính sách QLNN đối vớicác tổ chức PCPNN chính là tổng thể các giải pháp công cụ mà nhà nước sử dụng
để tác động lên các tổ chức này để thực hiện những mục tiêu nhất định theo địnhhướng của nhà nước
Để đảm bảo sự quản lý ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần phải xây dựng các chính sách,chiến lược lâu dài và quy hoạch tổng thể cho công tác QLNN về kinh tế đối với hoạtđộng của các tổ chức PCPNN; định hướng và xác định
triển vọng hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức PCPNN trong tương lai Yêu cầu
đề ra khi xây dựng các chính sách QLNN trên lĩnh vực này là phải tạo ra được một
hệ thống các chính sách đồng bộ với nhau và thống nhất chung với chính sáchQLNN trên các lĩnh vực khác Có như vậy mới có thể tạo ra được một sự phát triểnđồng bộ Nhiệm vụ của nhà nước là xây dựng được hệ thống chính sách, quy định,phù hợp với tình hình thực tế và với nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ nhất định.Bằng việc xây dựng và ban hành các chính sách, Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích,động viên, tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức PCPNN hoạt động trên cơ sở
Trang 31đảm bảo quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với công tác đối ngoạinói chung và PCPNN nói riêng.
Bên cạnh đó, QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN còn phảidựa trên cơ sở pháp luật Pháp luật chính là yếu tố phân biệt QLNN với nhữngdạng quản lý khác Điều đó có nghĩa tất cả các tổ chức PCPNN, không phân biệthình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực hoạt động hay quốc gia gốc đều phải tổ chức
và hoạt động trên cơ sở pháp luật của Việt Nam
Cụ thể nội dung này là xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật có liên quan đếnhoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam để làm cơ sở cho công tác QLNN
về kinh tế; sử dụng pháp luật điều chỉnh có tính cưỡng chế trong QLNN về kinh tếđối với hoạt động của các tổ chức PCPNN
Đối với phía Việt Nam, sử dụng pháp luật nhằm tranh thủ tận dụng những tác độngtích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của các tổ chức PCPNN đối với sựphát triển KTXH; đối với phía các tổ chức PCPNN pháp luật tạo lập cho họ một môitrường hoạt động chính thức, và cho thấy quyền lợi của họ cũng được nhà nướcViệt Nam bảo đảm
Pháp luật QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN không chỉ gồm các quy định
về quan hệ đối ngoại mà còn bao gồm cả các chế định về ngoại
thương, tài chính…Toàn bộ hệ thống này cần phải phù hợp với điều kiện cụ thể, vớiđịnh hướng phát triển của đất nước ta và với luật pháp quốc tế
Trong thực tế có thể nói PCPNN cũng là một lĩnh vực khá mới mẻ, nên nước ta vẫnchưa có hệ thống pháp luật về quản lý hoạt động của các tổ chức PCP (nhất là các
tổ chức PCPNN) một cách hoàn chỉnh mà mới chỉ dừng lại ở mức độ là một số cácvăn bản quy phạm pháp luật riêng lẻ Trước năm 1989, khi chưa có nhiều hoạtđộng của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam thì không có một khuôn khổ pháp lý quyđịnh rõ ràng Từ năm 1989, nhất là từ năm 1995 trở lại đây số lượng các tổ chức
Trang 32PCPNN vào hoạt động ngày càng gia tăng, phương thức và tính chất cũng thay đổinhiều Do đó, để có đầy đủ cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức PCPNNThủ tướng Chính phủ đã thành lập Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN và banhành một số văn bản pháp quy liên quan.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, nội dung điều chỉnh của các văn bản này thực sự vẫnchưa theo kịp yêu cầu của sự phát triển Việc áp dụng phương thức QLNN theopháp luật, bằng pháp luật đối với các tổ chức PCPNN vẫn còn nhiều bất cập Để cóthể tiếp tục QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN và tranh thủ nguồnviện trợ một cách hiệu quả phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điềukiện đất nước còn khó khăn, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bảnpháp quy từ đó tạo môi truờng pháp lý thuận lợi cho việc QLNN đối với hoạt độngcủa các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
1.1.3.2 Tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
Việc tổ chức thực hiện thể chế QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chứcPCPNN ở nước ta trên phương diện lý luận phải tập trung vào một số hoạt độngchính sau:
Trang 33Một là, QLNN về sự hiện diện và hoạt động của các tổ chức PCPNN.
Nhiệm vụ đầu tiên trong QLNN đối với các tổ chức PCPNN là quyết định cho haykhông cho các tổ chức PCPNN vào Việt Nam, triển khai các
hoạt động của mình trên lãnh thổ Việt Nam, tại địa phương nào và trong thời gianbao lâu Nói cách khác, đây là việc quản lý sự hiện diện của các tổ chức PCPNNthông qua hình thức quản lý việc xét cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép củacác tổ chức PCPNN
Giấy phép chính là cơ sở đầu tiên giúp các cơ quan quản lý nắm được thông tin vềcác tổ chức PCPNN cũng như hoạt động của các tổ chức này tại Việt Nam
Theo Quy chế hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Namban hành kèm theo Quyết định 340/TTg, ngày 24/05/1996 thì các tổ chức PCPNN
để được tiến hành các hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo tại Việt Namkhông vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác, phải được phép của Chínhphủ Việt Nam dưới các hình thức: Giấy phép hoạt động, Giấy phép lập Văn phòng
dự án hoặc Giấy phép lập Văn phòng đại diện Việc QLNN thông qua giấy phépđược thực hiện bằng các hình thức chính sau:
- Quy định cơ quan có thẩm quyền xét cấp, gia hạn, sửa đổi và thu hồi các loạigiấy phép Theo Quy chế ban hành kèm Quyết định 340/TTg thì Ủy ban công tác vềcác tổ chức PCPNN là cơ quan có thẩm quyền xét cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung
và thu hồi các loại giấy phép Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam được chỉđịnh là cơ quan thường trực về công tác phi chính phủ nước ngoài chịu trách nhiệmphối hợp cùng các Cục - Vụ chức năng của các bộ, ngành trung ương cũng nhưcác địa phương để kiến nghị và đề xuất xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt độngcủa các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
- Quy định điều kiện để được xét cấp giấy phép và thủ tục xin cấp, gia hạn,sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép
Trang 34- Quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan QLNN với tổ chức PCPNNtrong việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép.
- Các quy định khác như Quy định về thời gian đối với từng loại giấy phép;Quy định về quy trình, thủ tục, thời hạn của việc gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thuhồi giấy phép
Có thể nói, giấy phép đã trở thành cơ sở pháp lý để quản lý và điều chỉnh hoạtđộng của các tổ chức PCPNN, tạo điều kiện thuận lợi cho những tổ chức hoạt động
có hiệu quả, đồng thời hạn chế hoặc chấm dứt hoạt động của các tổ chức có biểuhiện phức tạp, vi phạm pháp luật, viện trợ không có hiệu quả hay có những hoạtđộng không nhằm mục đích nhân đạo, từ thiện, phi lợi nhuận như hoạt động truyền
bá tôn giáo, môi giới con nuôi, thúc đẩy nhân quyền và các hoạt động tiêu cựckhác
Trang 35Hai là, QLNN về các chương trình, dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN và việc
sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN
Quản lý hoạt động viện trợ và sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN lànhiệm vụ rất quan trọng trong tổng thể các nội dung của QLNN đối với hoạt độngcủa các tổ chức PCPNN Nhà nước cần thống nhất quản lý về nguồn viện trợPCPNN, điều phối giám sát để đảm bảo sử dụng nguồn viện trợ đúng mục đích và
có hiệu quả Công tác quản lý này phải được lãnh đạo các bộ ngành, các địaphương quan tâm chỉ đạo Đặc biệt cần phải có sự tham gia của các cơ quan tàichính các cấp
Việc quản lý nguồn viện trợ trước đây được thực hiện theo Quyết định số64/2001/QĐ-TTg, ngày 26/04/2001 của Thủ tướng chính phủ Tuy nhiên, sau hơn 8năm thực hiện Quyết định này đã bộc lộ một số bất cập do hệ thống pháp lý liênquan của Việt Nam và thực tiễn hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN đã cónhiều thay đổi Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 22/10/2009 Thủ tướng chính phủ đãban hành Nghị định 93/NĐ-CP kèm Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phiPCPNN (thay thế cho Quyết định số 64/2001/QĐ- TTg) để làm cơ sở pháp lý choviệc QLNN về nguồn viện trợ PCPNN Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từngày 01/01/2010
Theo Quy chế này, nguồn viện trợ PCPNN được hiểu là viện trợ không hoàn lại,không vì mục đích lợi nhuận của bên tài trợ để thực hiện các mục tiêu phát triển vànhân đạo dành cho Việt Nam Bên tài trợ gồm các tổ chức PCPNN, các tổ chức và
cá nhân người nước ngoài khác, kể cả các tập đoàn, công ty có vốn nước ngoài,cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài tôn trọng và chấp hành luật phápViệt Nam, có thiện chí, cung cấp trực tiếp viện trợ không hoàn lại nhằm hỗ trợ chocác mục tiêu phát triển KTXH và nhân đạo của Việt Nam Các phương thức cungcấp viện trợ PCPNN được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông quacác chương trình, dự án, viện trợ phi dự án và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp
có thiên tai hoặc tai họa khác [9]
Trang 36Nguyên tắc cơ bản trong QLNN về viện trợ PCPNN và sử dụng nguồn viện trợ làchính phủ thống nhất quản lý viện trợ PCPNN trên cơ sở công khai, minh bạch, cóphân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp chặtchẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địaphương, tổ chức và các đơn vị thực hiện Mọi khoản viện trợ đều phải ghi vàonguồn thu ngân của nhà nước Các khoản viện trợ khi xây dựng và triển khai phảituân thủ theo quy định pháp luật của Việt Nam, không tiếp nhận những khoản việntrợ có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm hạiđến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp tác của tổ chức, cá nhân.
Nghị định này cũng đã đưa ra các quy định cụ thể về hoạt động QLNN đối vớinguồn viện trợ PCPNN như:
- Quy định rõ thẩm quyền phê duyệt và phân cấp thẩm quyền phê duyệt việntrợ PCPNN; việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt khoản viện trợ PCPNN được xemxét theo tính chất, phạm vi và mục đích viện trợ, không phụ thuộc vào quy môkhoản viện trợ
- Quy định chi tiết các nội dung liên quan đến việc chuẩn bị, thẩm định khoảnviện trợ PCPNN, hồ sơ của các khoản viện trợ PCPNN
- Quy định về việc xây dựng danh mục cụ thể các chủng loại hàng hóa, trangthiết bị có kết cấu đơn giản đã qua sử dụng phù hợp với nhu cầu và điều kiện sửdụng của Việt Nam trong từng thời kỳ, do Thủ trưởng các bộ, ngành xây dựng vàtrình Thủ tướng Chính phủ, để làm cơ sở cho việc phê duyệt việc tiếp nhận khoảnviện trợ Bên cạnh đó còn quy định trách nhiệm của các bên liên quan về xác nhậnhàng hóa đã qua sử dụng (có kết cấu đơn giản), còn hơn 80% so với giá trị sửdụng mới
- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quanquản lý nhà nước về viện trợ PCPNN và các cơ quan, tổ chức liên quan, trong đó
Trang 37quy định cơ quan đầu mối trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt việc tiếpnhận các khoản viện trợ PCPNN thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng chínhphủ; Cơ quan đầu mối về quản lý viện trợ PCPNN ở địa phương là Sở Kế hoạch vàĐầu tư; Cơ quan đầu mối trong quan hệ và vận động PCPNN sẽ do Ủy ban nhândân tỉnh tự quyết định trên cơ sở nhu cầu thực tế của địa phương.
- Quy định liên quan tới xử phạt vi phạm các quy định của quy chế
Trang 38Ba là, QLNN đối với cán bộ, nhân viên làm việc cho các tổ chức PCPNN và quản lýthông tin liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN
Nội dung QLNN đối với các tổ chức PCPNN còn được thực hiện thông qua cáchoạt động khác như quản lý về việc cư trú, đi lại, thuê nhà của các tổ chức PCPNN;việc thuê nhân viên người Việt Nam làm việc cho tổ chức PCPNN cũng như quản lýthông tin liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN
1.1.3.3 Giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Dù là ở dạng nào và ở cấp nào, quản lý cũng không thể tách rời kiểm tra, giám sát.Kiểm tra là một nội dung quan trọng của QLNN để đảm bảo hiệu quả của các hoạtđộng của nhà nước
QLNN bằng kiểm tra, giám sát là để đảm bảo các tổ chức PCPNN tôn trọng luậtpháp và quy định của Việt Nam, thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích từ thiện nhân đạo
vì mục tiêu phát triển mà họ đã đăng ký và giúp sớm phát hiện những sai phạm và
vi phạm pháp luật của các tổ chức PCPNN, để từ đó kịp thời có biện pháp xử lý,đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của họ Ở một cấp độ nhẹ hơn thì kiểm tra, giámsát còn là để đảm bảo cho các hoạt động của các tổ chức này phù hợp với truyềnthống văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam, tránh được những sai lầm đángtiếc có nguyên nhân từ sự khác biệt văn hóa
Đối với các cơ quan quản lý và đối tác Việt Nam thì hoạt động kiểm tra, giám sátnhằm mục đích đảm bảo bộ máy quản lý vận hành đúng khuôn khổ pháp luật, đúngcác quy định của nhà nước và tránh xảy ra các hiện tượng tiêu cực trong quản lýnhư: Sử dụng nguồn viện trợ không đúng mục đích, buông lỏng, nhũng nhiễu, quanliêu…đồng thời kịp thời phát hiện và ngăn chặn những sai phạm của cơ quan quản
lý và hạn chế tối đa những hậu quả phát sinh
Có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCP thì phải tiến hành kiểm tra,giám sát trên bấy nhiêu lĩnh vực bởi càng chia nhỏ lĩnh vực thì sự kiểm tra giám sátcàng được cụ thể Tuy nhiên, một cách tổng quát, thì hoạt động kiểm tra, giám sát
Trang 39được đề cập ở các khía cạnh chính là:
- Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà nước Cụ thể
là kiểm tra sự tuân thủ pháp luật của các tổ chức PCP trong việc đăng ký, xin cấpgiấy phép hoạt động
- Kiểm tra mục đích hoạt động của các tổ chức PCP có đúng mục tiêu tôn chỉ đã
đề ra khi đăng ký xin giấy phép hay không
- Kiểm tra, giám sát hiệu quả nguồn viện trợ của các tổ chức PCP và kiểm tra việcchấp hành các quy định của chính phủ về việc tiếp nhận nguồn viện trợ, kiểm tra tàichính…
Tuy nhiên trên thực tế việc quản lý bằng phương pháp kiểm tra, thanh tra cho tớinay vẫn còn mang nặng tính hình thức, qua loa và vẫn chưa được thực hiện mộtcách nghiêm túc mà vẫn còn mang tính chủ quan chủ yếu dựa trên các báo cáo gửicác cơ quan chủ quản khi có yêu cầu
1.1.3.4 Tổng kết và đánh giá hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Tổng kết, đánh giá cũng là một nội dung quan trọng trong QLNN Tổng kết, đánhgiá thường gắn liền với công tác thống kê, nghiên cứu và sẽ giúp Nhà nước và các
cơ quan quản lý có được cái nhìn tổng quát về thực trạng quản lý Trên cơ sở tổngkết, đánh giá có thể tìm ra nguyên nhân của các thành công cũng như các tồn tạitrong quá trình thực hiện quản lý, từ đó rút ra những kinh nghiệm, những bài họcquý báu giúp cho việc tiếp tục quản lý trong tương lai đạt hiệu quả cao hơn
QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN bằng tổng kết đánh giá là một phươngthức được nhà nước sử dụng như một công cụ quản lý để kiểm tra, đánh giá hoạtđộng của tổ chức PCPNN theo định kỳ Đây là biện pháp rất cần thiết để đúc rút rađược các bài học, các kinh nghiệm cần thiết cho công tác QLNN đối với hoạt độngcủa các tổ chức PCPNN sau này
Trang 40Ở một phương diện khác hoạt động tổng kết đánh giá còn nhằm mục đích xác địnhđược xu thế phát triển của các tổ chức PCP, nhu cầu thực tế của địa phương, cáckết quả, hiệu quả mà các tổ chức PCP đã làm được và hiệu quả tích cực của nóđối với cá nhân hay đối với toàn xã hội để từ đó vạch ra kế hoạch chiến lược cụthể.
Hàng năm, các cơ quan đều tiến hành đánh giá, tổng kết để kịp thời đúc kết kinhnghiệm Ở cấp độ chính phủ, cho đến nay Việt Nam đã tổ chức được
ba Hội nghị quốc tế lớn tại Hà Nội là Hội nghị Tổng kết 10 năm (1991-2001) côngtác phi chính phủ nước ngoài vào tháng 2/2002, Hội nghị quốc tế về Sự hợp tácgiữa Việt Nam và các tổ chức PCP (tháng 11/2003) và lần đây nhất là Hội nghịquốc tế lần thứ 3 về hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức PCPNN (tháng11/2013) Kết quả của ba hội nghị trên đã và đang đóng góp vào những nỗ lực vàcam kết của Nhà nước ta tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt là cải thiện hơnnữa môi trường pháp lý phù hợp và thuận lợi cho hoạt động viện trợ của các tổchức PCPNN
Tuy nhiên, trên thực tế các tổ chức PCP hoạt động nhiều ở nước ta chỉ từ năm
1980 đến nay, vì vậy so với nhiều lĩnh vực khác thì lĩnh vực PCP được coi là khámới mẻ ở nước ta Do đó, công tác tổng kết đánh giá lại càng trở nên cần thiết đểthực hiện tốt nội dung QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCP