1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu chiến lược phát triển và đưa ra điểm yếu, điểm mạnh của công ty cổ phần tập đoàn hoa sen

64 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tổng quanngànhthép tạiViệtNam (4)
  • 1.2. Phântíchngànhthépdựatrênmôhình5áplực (5)
  • 2.1. Lịchsửhìnhthành (8)
  • 2.2. Cơcấu tổchức (9)
  • 3.1. Môitrườngvĩmô (14)
  • 3.2. Môitrườngvimô (21)
  • 4.1. Quátrìnhthựchiệnchiếnlược (24)
  • 4.2. Phântíchđiểmmạnh,điểmyếucủa CôngtycổphẩnTậpđoànHoa Sen (55)

Nội dung

Trong khuôn khổthựchiện bài tập nhóm môn Quản trị Chiếnlược,nhómBDTlớpB212QT2A trường Đại học Mở TP.HCM theo đuổi đề tài “Tìm hiểu chiến lược và đưara điểmmạnh, điểm yếu của Công ty cổ p

Tổng quanngànhthép tạiViệtNam

Từnăm1990đếnnayngànhthépViệtNamcónhiềuđổimớivàtăngtrưởngmạnh.Sựra đời của Tổng Công ty thép Việt Nam năm 1990 đã góp phần quan trọng vào sự bình ổn và pháttriểncủangành.

Trong những năm qua, ngành thép Việt Nam đã thu hút đầu tư đáng kể và ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và công suất, với tốc độ tăng trưởng khá cao và khả năng mở rộng gấp nhiều lần so với năm 1990, đạt sản lượng trên 1 triệu tấn/năm Tuy nhiên, ngành vẫn còn nhiều hạn chế về trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực và thế giới Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, ngành thép Việt Nam vẫn còn ở mức phát triển chưa tương xứng, cần tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng để khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

Trang thiết bị chủ yếu là các thiết bị nhỏ, phổ biến từ thế hệ cũ, lạc hậu, có trình độ công nghệ và mức độ tự động hóa thấp Chất lượng sản phẩm vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong khu vực tư nhân, chỉ đáp ứng được các nhu cầu liên kết trực tiếp phù hợp với khả năng và quy mô của doanh nghiệp.

 Cơ cấu mặt hàng sản xuất hẹp, đơn điệu (mới cán được các sản phẩm dài, cỡ nhỏ vàvừavớimác thépphổbiếnlàcácbonthấp).

 Nănglực sản xuất phôi thép quánhỏ bé, cácn h à m á y v à c ơ s ở c á n t h é p c ò n p h ụ thuộc nhiều vào phôi thép nhập khẩu Toàn bộ sản phẩm cán dẹt trong nước chưa sản xuất được,phảinhậpkhẩu.

Chi phí sản xuất còn cao do năng suất lao động thấp và số lượng lao động quá đông, dẫn đến hiệu quả sản xuất chưa tối ưu Giá thành sản phẩm thép không ổn định vì phụ thuộc vào nguồn phôi thép nhập khẩu, gây khó khăn trong việc duy trì giá cạnh tranh Ngoài ra, khả năng xuất khẩu sản phẩm thép còn rất hạn chế do những yếu tố này ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Ngành thép Việt Nam hiện vẫn còn trong tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và chủ yếu tập trung vào gia công chế biến từ phôi và bán thành phẩm nhập khẩu Trình độ công nghệ còn thấp, chưa có nhiều thiết bị tự động hóa cao và hiện đại, do đó cần phải đầu tư cải tạo và phát triển công nghệ mới để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới.

Phântíchngànhthépdựatrênmôhình5áplực

Các nhà cung cấp thép và nguyên liệu cho ngành thép phân bố rộng rãi trên nhiều quốc gia, với mức độ tập trung thấp và không có doanh nghiệp nào nắm độc quyền, hạn chế tình trạng độc quyền bán Thép và nguyên liệu ngành thép không phải là mặt hàng đặc biệt, giúp người mua dễ dàng lựa chọn nhà cung cấp phù hợp Tuy nhiên, với tỷ lệ phụ thuộc lên tới 50%, khả năng định giá của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp và chịu ảnh hưởng lớn từ biến động giá thị trường thế giới Như vậy, áp lực từ phía nhà cung cấp đối với doanh nghiệp thép Việt Nam vẫn còn ở mức cân bằng.

Khách hàng tiêu thụ thép chủ yếu là các cá nhân, doanh nghiệp xây dựng và doanh nghiệp sản xuất máy móc công nghiệp Trong đó, áp lực từ khách hàng cá nhân không lớn do họ ít có thông tin về chất lượng sản phẩm, giá cả cũng như khả năng đàm phán giá thấp Ngược lại, khách hàng doanh nghiệp tạo áp lực lớn dựa trên các yếu tố như khả năng thương lượng về giá, yêu cầu về chất lượng sản phẩm, và khối lượng đơn hàng lớn.

Thép xây dựng hiện nay đang dư thừa trên thị trường so với nhu cầu tiêu thụ, dẫn đến tình trạng cung vượt cầu Trong khi đó, thép dẹt vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, nhưng từ năm 2013 trở đi, dự kiến nguồn cung thép dẹt sẽ vượt qua nhu cầu tiêu thụ.

- Khách hàng doanh nghiệp thường có nhiều thông tin về giá cả, chất lượng sản phẩm,do đókhảnăng đàmphángiácao,cũng nhưviệclựachọnvàthayđổinhàcung cấp dễdàng.

- Khối lượng đặt mua lớn và việc ký được hợp đồng cung cấp dài hạn với khách hàngmanglạinhiềulợiíchvớidoanhnghiệp.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Các doanh nghiệp gia nhập về sau có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp cũ về giá vàchấtlượngdocólợithế vềvốnlớnvàcôngnghệ.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

1.2.5 Cạnh tranh nội bộ ngành giữa các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng ngàycànggaygắt

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Số lượng công ty ngày càng tăng, đặc biệt các công ty có quy mô công suất lớn sắpđược thànhlập.

Ngành thép có chi phí cố định cao, khiến các doanh nghiệp cần mở rộng quy mô để tối ưu hóa lợi nhuận Do đó, doanh nghiệp lớn hơn sẽ giảm chi phí cố định trên mỗi sản phẩm, từ đó giảm giá bán và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường Việc tăng quy mô sản xuất giúp doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các khoản chi phí cố định, tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ nhỏ hơn trong ngành thép.

Rào cản rời khỏi ngành cao do việc thanh lý máy móc của các doanh nghiệp không mang lại nhiều giá trị kinh tế, khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải duy trì hoạt động dù không còn hiệu quả Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh trong ngành, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp trong thị trường.

Hiện nay, ngành thép dài đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ nhiều doanh nghiệp nhưng chưa có công ty nào đủ sức chi phối toàn bộ thị trường Các doanh nghiệp có quy mô công suất trên 200.000 tấn/năm, đặc biệt là những thành lập sau năm 2002 hoặc liên doanh tận dụng lợi thế về vốn, công nghệ và quản lý như Pomina, Vinakyoei, Hoa Sen, Việt Úc, Hòa Phát, thường có khả năng cạnh tranh vượt trội Trong khi đó, các doanh nghiệp thép cổ phần như Thép Đà Nẵng (1992), Thép miền Trung (1998), Nasteel (1996) và các xưởng cán thép mini của tư nhân đang dần mất thị phần và gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh.

Ngành thép đang đối mặt với cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp sản xuất trong ngành, đặc biệt tập trung vào các công ty mới thành lập trong những năm gần đây Sự cạnh tranh này thúc đẩy các doanh nghiệp luôn cải tiến công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm để có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệp mới nổi hiện đang đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự đổi mới và tăng trưởng ngành thép tại Việt Nam.

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN VÀ

Lịchsửhìnhthành

 Năm 2001: thành lập công ty cổ phần Hoa Sen, tiền nhân của Công ty cổ phần

Năm 2004 đánh dấu sự kiện khai trương dây chuyền sản xuất tôn mạ màu với công suất 45.000 tấn/năm sử dụng công nghệ tiên tiến của Nhật Bản Cũng trong năm này, công ty khánh thành tòa nhà trụ sở văn phòng tại Khu công nghiệp Sóng Thần 2, Dĩ An, Bình Dương, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng quy mô hoạt động.

- Khánhthànhnhàmáythép cánnguộiHoaSen,công suất180.000tấn/năm.

- Khaitrươngdâychuyềnsảnxuất tôn mạkẽmII,côngsuất50.000tấn/năm.

- Thành lập công tycổphầncơkhívà xâydựng Hoa Sen.

- Sáp nhập các công ty cổ phần tôn Hoa Sen, công ty cổ phần vật liệu xây dựng

HoaSen, công ty cổ phần cơ khí và xây dựng Hoa Sen vào Hoa Sen Group, nâng vốn điều lệ lên 570tỷđồng.

- Thành lập côngtytiếp nhậncảngbiểnHoaSen–Gemadept.

Cơcấu tổchức

- Sảnxuấttônlạnh(tônmạhợpkimnhômkẽm),tônmạkẽm,tônlạnhphủsơn,tôn kẽmphủ sơn.

- Sảnxuấtxàgồthép,ốngthépmạkẽm,ống thépmạcácloạihợp kimkhác.

- Xâydựng công trình hạtầngkỹthuật,sảnxuấtcấukiệnthéptrong xâydựng.

2.4 Tầmnhìn,sứ mệnh,chiếnlượckinh doanh

Trở thành tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu xây dựng thông qua chiến lược phát triển bền vững Công ty tập trung vào các sản phẩm truyền thống như tôn, thép, nhựa, dựa trên nền tảng xây dựng chuỗi lợi thế cạnh tranh cốt lõi gồm quy trình sản xuất kinh doanh khép kín, hệ thống phân phối – bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng Đồng thời, phát triển các chuỗi thương hiệu mạnh mẽ, thân thiện và hướng đến cộng đồng, cùng với hệ thống quản trị và văn hóa doanh nghiệp đặc thù Công ty tiên phong đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho cổ đông, người lao động và xã hội.

Cungcấpnhữngs ả n phẩmmangthươngh i ệ u HoaSen,chất lượng quốc tế, giá hợpl ý , đ a d ạ n g n h ằ m t h o ả m ã n n h u c ầ u của người tiêu dùng, góp phần thay đổi diện mạo kiến trúc đấtnước vàpháttriểncộngđồng.

Giátrị cốt lõivà văn hóa Giátrị cốtlõi: ã Trungthực ã Cộngđồng ã Phỏttriển

Trungthực,trungthành,tậntụy,trítuệ,thânthiện

 Tậptrungnguồnlựcvàol ĩ n h vựckinhdoanh chủyếugồmtôn-thép,vậtl i ệ u xây dựng,cảng biển,logisticsvà bất độngsản.

 Pháttriểnnănglựccạnhtranhbềnvữngcủaquytrìnhsảnxuấtkinhdoanhkhépkínđể đảm bảo sản phẩm có chất lượng cao và giá thành thấp nhất trong lĩnh vực kinh doanh tôn –thép,vậtliệuxâydựng.

 Khaitháctốiđalợithếcạnhtranhvượttrộicủahệthốngchinhánhphânphối– bánlẻđểgiữvững vịthếdoanh nghiệp có thịphần lớn nhấtViệtNamtronglĩnh vựctôn–thép.

 Đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh, phấn đấu trở thành nhà sản xuấtv à p h â n p h ố i hàngđầucác sảnphẩmvậtliệuxâydựngcơbảntạiViệtNam.

 Phát triển hệ thống chi nhánh bán lẻ lên 200 chi nhánh trên cả nước và 10 trung tâmkinhdoanhvậtliệuxâydựngtổnghợp.

- Về phía sau: mở rộng quy trình sản xuất kinh doanh khép kín trong lĩnh vực tônmạ,thépcánnguội,thépcánnóng,luyệncánthép.

Phát triển theo chiều ngang tập trung vào đa dạng hóa sản phẩm vật liệu xây dựng và nâng cấp các chi nhánh trở thành trung tâm vật liệu xây dựng để mở rộng thị trường Đồng thời, công ty mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang các ngành khác như bất động sản, cảng biển và logistics nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập và tăng cường vị thế cạnh tranh trên thị trường.

 Phát triển thương hiệu mạnh và thân thiện Hợp tác với các ngân hàng cấp tín dụngchokháchhàngtạicác chinhánh. ã Chấtlượng sảnphẩmlà trọngtõm ã Lợiớchkhỏch hànglàthenchốt ã Thunhậpnhõnviờnlàtrỏchnhiệm ã Chiasẻcộngđồnglànghĩavụ

 Đầu tư dự án Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ nhằm đa dạngh ó a s ả n p h ẩ m , t ă n g cườngnănglực cạnhtranhvà đónđầucơ hộiphụchồikinhtế saukhủnghoảng.

 Tiếptụcđầutưthêmdâychuyềnthépcánnguội,nângtổngsốlên 6dâychuyềnđể bảođảmnguồnnguyênliệu chocácdâychuyềnmạvàốngthép.

 Đầu tư xây dựng mới nâng tổng số chi nhánh trên toàn quốc lên con số 150; chú trọngmởrộngkênhbánhàngcôngtrìnhvà xuấtkhẩu.

 Tiếp tục đầu tư Dự án Liên doanh Khu tiếp vận và Cảng quốc tế Hoa Sen -

Tăng vốn điều lệ bằng lợi nhuận giữ lại thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức giúp doanh nghiệp từng bước tái cấu trúc nguồn vốn một cách bền vững Động thái này hướng tới giảm tỷ lệ vốn vay tín dụng, đồng thời tập trung vào việc phục vụ các hoạt động đầu tư phát triển Mục tiêu của chiến lược này là đảm bảo khả năng thu nhập của cổ đông, duy trì mức lợi nhuận trên mỗi cổ phần ở mức cao, góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh.

 Thựch iệ n cácchươngtrình marketingsáng tạo,đadạng,h i ệ u quảđểx â y dựngh ệ thốngt h ư ơ n g h i ệ u H o a S e n n g à y càngv ữ n g m ạ n h , t ạ o u y tín,t h â n thiện v ớ i ngườitiêu d ù n g tronglĩnhvực tôn, thép,vậtliệuxâydựng.

 TiếptụcthựchiệntáicấutrúcbộmáyquảnlýtheohướngTậpđoàn;thànhlậpmớimộts ốcôngtycondoTậpđoànHoaSensở hữu100%vốn.

 Xâydựnghệ thống quảntrịtiêntiến,hiệnđạitheo môhình Tậpđoàn.

 Triểnkhaiápdụng hệthống hoạchđịnh nguồnlựcdoanhnghiệp -ERP.

 HoànthiệnHệthống Quản lýchấtlượng ISOtrongtoànTập đoàn.

CHƯƠNG3 Ả N H HƯỞNGC Ủ A M Ô I T R Ư Ờ N G BÊNNGOÀIĐ Ế N V I Ệ C X Â Y D Ự N GCHIẾNLƯ ỢC C Ủ A C Ô N G T Y C Ổ P H Ầ N T Ậ P ĐOÀNH O A SEN

Môitrườngvĩmô

Trước khi Công ty Hoa Sen được thành lập, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình ấn tượng qua các giai đoạn phát triển Trong giai đoạn 1991 – 1995, đất nước dần thoát khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái kinh tế, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 8,2% mỗi năm và giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,3% hàng năm Những thành tựu này đã tạo nền tảng vững chắc cho bước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Từ năm 1996 đến 2000, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển quan trọng của nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mặc dù bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (1997-1999) và thiên tai nghiêm trọng liên tiếp, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7% trong giai đoạn này, với ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 10,5% Trong giai đoạn 1991-2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%, gấp hơn hai lần so với năm 1990, thể hiện sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ mới.

(nguồn:http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/

2013/21694/Nhung-thanh-tuu-co-ban-ve-phat-trien-kinh-te-xa.aspx).

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có sự tăng trưởng ổn định, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, công ty Hoa Sen đã định hướng chiến lược kinh doanh nhằm trở thành tập đoàn hàng đầu trong ngành vật liệu xây dựng cả ở Việt Nam và khu vực Công ty tập trung vào phát triển bền vững và ưu tiên các sản phẩm truyền thống như tôn, thép và nhựa, phù hợp với xu hướng phát triển của ngành và nhu cầu thị trường.

- Cơ hội thành công trong kinh doanh khi chọn sản phẩm sản xuất, kinh doanh làtôn, thép, thuộc nhóm sản phẩm nằm trongl ĩ n h v ự c c ó t ố c đ ộ t ă n g t r ư ở n g c a o n h ấ t t r o n g n ề n kinhtế.

- Cơhộigiatăngdoanhthu,giatănglãikhinềnkinhtếcósựtăngtrưởngtốt,các lĩnh vựckhác cầnđếnsảnphẩmxâydựng.

- Cơ hội thành công trong kinh doanh khi chọn sản phẩm sản xuất, kinh doanh làtôn, thép, thuộc nhóm sản phẩm nằm tronglĩnhvựccótốc độ tăng trưởng caonhấtt r o n g n ề n kinhtế.

- Cơhộigiatăngdoanhthu,giatănglãikhinềnkinhtếcósựtăngtrưởngtốt,các lĩnh vựckhác cầnđếnsảnphẩmxâydựng.

- Nềnkinhtếvừathoátrakhủnghoảng,suythoái,viễncảnhphíatrướcchưacócơ sởđểkhẳng định hồiphụckinhtếhoàntoàn,vẫnẩnchứamộtsốnguycơ.

Năm 1986, đất nước bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, mở đầu cho giai đoạn đổi mới từ 1986 đến 1990 Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp nền kinh tế dần khắc phục các yếu kém, bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Giai đoạn này là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế mới, tạo đà cho quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mạnh mẽ Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, góp phần tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi hơn và thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của các thành phần kinh tế quốc dân.

Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị, dựa trên chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế Việt Nam đã tích cực tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thể hiện cam kết hướng tới xây dựng khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế và ổn định chính trị trong khu vực.

- Mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới nhờ chính sách ngoại giao tích cực, chủđộngcủa ĐảngvàNhànước

- Hệ thống phápluậtchưahoàn toàn đồng bộvà hoàn thiện nên cók h ả n ă n g p h ả i đốidiệnrủirokhigiảiquyếtcáctìnhhuốngphápluậttrongkinhdoanh.

- Phải chịu cạnh tranh với sản phẩm của các nước trong khu vực khi nước ta đã kýkếtcác hiệpđịnhthươngmạivớicácnước vàkhuvực.

Kinh tế tăng trưởng đã thúc đẩy xã hội phát triển với tỷ lệ người có việc làm tăng và nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của người dân ngày càng tăng Người tiêu dùng hiện nay yêu cầu sản phẩm chất lượng cao hơn và quan tâm đến hình ảnh cũng như văn hóa doanh nghiệp Trong tầm nhìn của mình, Hoa Sen hướng đến xây dựng chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện, hướng đến cộng đồng, đồng thời đầu tư đổi mới công nghệ để mang lại giá trị cao nhất cho cổ đông, người lao động và xã hội.

Một nét đẹp trong văn hóa Việt Nam là “đền ơn đáp nghĩa” và “lá lành đùm lá rách”, thể hiện sự đoàn kết và sẻ chia trong cộng đồng Chính sách xây dựng nhà tình nghĩa cho thương binh, liệt sĩ và người khó khăn minh chứng cho truyền thống cao đẹp này Công ty Hoa Sen, đặc biệt với sản phẩm tôn Hoa Sen, đã tích cực đóng góp vào việc xây dựng nhiều căn nhà tình nghĩa và nhà tình thương, góp phần phát triển cộng đồng bền vững Giá trị cốt lõi của công ty là “Trung thực, cộng đồng, phát triển”, phản ánh tôn chỉ hướng tới cộng đồng và trách nhiệm xã hội.

- Xây dựng được hình ảnh tốt đẹp về doanh nghiệp và thương hiệu trong tâm tríngườitiêudùngkhipháttriểndựatrênnhữnggiátrịtruyềnthốngcủadântộc.

- Mở rộng thị trường trong nước đến những vùng còn khó khăn của đất nước, làmchosảnphẩmtrở nêngầngũivàquenthuộcvớingườitiêudùng.

- Phảibảov ệ h ì n h ảnhdoanhnghiệpv à thương h i ệ u thôngqua việcduytrìđược những giá trịcốtlõiđãđặtra.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, nền kinh tế thế giới hội nhập không chỉ về sản phẩm và thị trường mà còn về công nghệ sản xuất và quản lý Kiến thức về khoa học kỹ thuật, kinh tế và quản lý nhanh chóng trở thành kiến thức chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển chung Công ty Hòa Sen đã xây dựng tầm nhìn và sứ mệnh hướng ra khu vực và toàn cầu, trở thành tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu xây dựng bằng chiến lược phát triển bền vững Công ty tập trung vào các sản phẩm truyền thống như tôn, thép, nhựa, dựa trên các yếu tố cốt lõi như quy trình sản xuất và kinh doanh hợp lý, hệ thống phân phối hiệu quả nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.

Chúng tôi cam kết bán lẻ trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện và hướng đến cộng đồng, xây dựng hệ thống quản trị và văn hoá doanh nghiệp đặc thù, tiên phong đầu tư đổi mới công nghệ để mang lại giá trị gia tăng cao nhất cho cổ đông, người lao động và xã hội Các sản phẩm mang thương hiệu HoaSen của chúng tôi đảm bảo chất lượng quốc tế với giá cả hợp lý và đa dạng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần thay đổi diện mạo kiến trúc đất nước và thúc đẩy phát triển cộng đồng Trong bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006 và trở thành thành viên chính thức năm 2007, đã mở rộng thị trường quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam đồng thời tạo điều kiện cho thị trường nội địa mở cửa đón nhận các sản phẩm ngoại nhập, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành thép, góp phần nâng cao vị thế và phát triển kinh tế đất nước.

- Tiềm lực tài chính và con người phải đủ mạnh để đầu tư đổi mới công nghệvà đểđưa sảnphẩmvươnrathịtrườngthế giới.

Đội ngũ lãnh đạo và nhân viên của công ty cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để thích nghi với xu hướng toàn cầu hóa Họ phải có ý thức học hỏi liên tục để nâng cao năng lực, đồng thời biết bảo vệ giá trị và bản sắc riêng của công ty trong bối cảnh hội nhập quốc tế Sự chuẩn bị kỹ lưỡng này giúp doanh nghiệp duy trì vị thế cạnh tranh và phát triển bền vững trong thị trường toàn cầu.

- Chịu sựnộibộngànhvà cạnhtranh mang tầmquốctế.

Sự phát triển của công nghệ kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng ngày càng tiên tiến, kết hợp với kinh nghiệm về cơ khí và sự chăm chỉ, khéo léo của người thợ Việt Nam Điều này giúp Công ty Hoa Sen tự tin khẳng định sứ mệnh của mình là “Cung cấp những sản phẩm mang thương hiệu Hoa Sen, chất lượng quốc tế, giá hợp lý, đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.” Ngoài ra, kiến thức về công nghệ phân phối sản phẩm và xây dựng thị trường đã giúp công ty hình thành tầm nhìn về việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng qua quy trình sản xuất kinh doanh khép kín và hệ thống phân phối – bán lẻ toàn diện Hoa Sen chú trọng xây dựng chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện và hướng đến cộng đồng, đồng thời tiên phong đổi mới công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng, tạo việc làm và góp phần phát triển xã hội.

Thông tin và truyền thông ngày càng đóng vai trò then chốt trong việc giúp doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả với người tiêu dùng, quảng bá sản phẩm và thương hiệu một cách rộng rãi Mạng lưới các phương tiện truyền thông như internet, truyền thanh, truyền hình, báo chí và tạp chí tạo ra môi trường mở để mọi người dễ dàng tìm kiếm, theo dõi và tiếp nhận thông tin Công ty Hoa Sen tận dụng tối đa các kênh truyền thông này bằng cách xây dựng trang tin điện tử, tài trợ các chương trình phát thanh, truyền hình để quảng bá thương hiệu và nâng cao hình ảnh doanh nghiệp Lãnh đạo công ty còn tích cực trả lời phỏng vấn trên báo chí và đài báo để xây dựng hình ảnh uy tín và gần gũi Những hoạt động này giúp thương hiệu “tôn Hoa Sen” trở nên thân thiết, dễ nhận biết, tạo thiện cảm và gắn kết sâu sắc hơn với người tiêu dùng.

- Tiềmlựctàichínhphảiđủmạnhđểphụcvụchocôngtácnghiêncứu,pháttriển công nghệ sảnxuất.

- Tiềmlựctàichínhvàyếutốconngườiphảiđủmạnhđểlàmchủquátrìnhthôngtin, truyềnthông.Mộtmặtđưaranhiềuthôngtin,mặtkhácđồngthờiphảikiểmsoát thôngtin.

Vị trí địa lý của nước ta rất thuận lợi cho giao thương quốc tế nhờ đường bờ biển dài và hệ thống đường bộ tiếp giáp nhiều nước neighbors Địa hình đa dạng trải dài theo chiều dài đất nước, gồm đồi núi, rừng, cao nguyên, đồng bằng, châu thổ, và duyên hải, cùng hệ thống sông ngòi phong phú Các vùng tự nhiên phân chia thành 3 miền rõ rệt, phản ánh sự đa dạng về cảnh quan và địa hình của Việt Nam.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam, với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, phù hợp với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Miền Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu cận nhiệt đới với nhiệt độ trung bình cao và mùa đông lạnh, trong khi miền Trung mang đặc điểm khí hậu khô hạn và chịu tác động của những gió mùa khác nhau.

Do nằm dọc theobờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khíhậubiểnvớiđộẩmcao,mưa nhiều,cóbãovàlũlụt.

Các yếu tố môi trường tự nhiên của Việt Nam ảnh hưởng lớn đến nhu cầu sử dụng sản phẩm tôn thép và vật liệu xây dựng của công ty Hoa Sen trong xây dựng và gia cố công trình chống thiên tai như bão và lũ lụt Đặc điểm tự nhiên còn định hướng chiến lược của công ty thực hiện quy trình sản xuất kinh doanh khép kín và hệ thống phân phối – bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng ở các vùng miền khác nhau Điều này giúp sản phẩm của Hoa Sen tiếp cận hiệu quả người dân sống trên các khu vực đồi núi và khí hậu khắc nghiệt, hạn chế khó khăn về địa hình và khí hậu trong việc cung cấp vật liệu xây dựng.

- Nhờ vị trí địa lý thuận lợi của đất nước, công ty có cơ hội đưa sản phẩm ra thịtrườngcácnướclánggiềngvàthế giới.

- Hệthốngphânphốisảnphẩmtrựctiếpđếnngườitiêudùnggiúpcôngtychủđộng trong việcxâydựngthịtrường,kênhphânphối,dễthuthậpýkiếnngườitiêu dùngvềsảnphẩm.

- Sự đadạngcủathờitiết,khíhậu củamỗivùngmiềnđấtnướccóthểlàmxuấtphát cácnhucầusảnphẩmkhácnhauchocáccôngtrìnhxây dựng.Côngty phảicókhảnăngnghiên cứunhucầukháchhàngvànghiêncứusảnphẩmđểchoracácsảnphẩmphùhợpnhấtvớinhu cầukháchhàngở mỗivùngmiền.

Môitrườngvimô

Trong nhiều năm liền, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, với tốc độ tăng giá trị tăng thêm cao Tỷ trọng của khu vực này trong GDP luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng tăng dần theo thời gian Thể hiện rõ qua các số liệu từ năm 2000 đến năm 2005, tỷ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng liên tục tăng trong cơ cấu kinh tế, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của nền kinh tế trong giai đoạn này.

Riêng trong khốingànhthép,có thể hìnhdung quátrìnhpháttriểnnhư sau:

Trong giai đoạn từ năm 1976 đến 1989, ngành thép gặp nhiều khó khăn do nền kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của ngành thép Trong thời kỳ này, ngành thép chỉ duy trì mức sản lượng từ 40.000 đến 85.000 tấn thép mỗi năm, phản ánh sự trì trệ và yếu kém của ngành trong bối cảnh kinh tế chung của đất nước.

Từ năm 1989 đến 1995, ngành thép Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển vượt bậc nhờ thực hiện chủ trương đổi mới và chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Trong giai đoạn này, ngành thép ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, với sản lượng thép trong nước năm 1990 vượt mốc trên 100 nghìn tấn/năm, thể hiện sự phục hồi và phát triển của ngành ngành thép Việt Nam.

Năm 1990, Tổng Công ty Thép Việt Nam chính thức được thành lập nhằm thống nhất quản lý ngành sản xuất thép quốc doanh trên toàn quốc Đây là giai đoạn phát triển sôi động với nhiều dự án đầu tư chiều sâu và liên doanh quốc tế được triển khai, góp phần thúc đẩy ngành thép Việt Nam phát triển mạnh mẽ Các ngành cơ khí, xây dựng, quốc phòng và các lĩnh vực kinh tế khác cạnh tranh khốc liệt để sản xuất thép mini, tạo đà cho sự chuyển mình của ngành thép Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Tháng 04 năm 1995, Tổng Công ty Thép Việt Nam chính thức được thành lập theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước (Tổng Công ty 91) Sự kiện này diễn ra trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng Công ty Thép Việt Nam và Tổng Công ty Kim khí thuộc Bộ Thương mại, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của ngành thép quốc gia.

- Thời kỳ 1996 - 2000: Ngành thép có mức độ tăng trưởng tốt, tiếp tục được đầu tưmạnh(pháttriểnmạnhsangkhuvựctưnhân):đãđưavàohoạtđộng13liêndoanh,trongđócó12li êndoanhcánthépvà giacông,chế biếnsaucán.

- Sảnlượngthépcáncủacảnướcđãđạt1,57 triệutấnvàonăm2000,gấp3lầnso vớinăm1995và gấp 14lầnsovớinăm1990.Đâylàgiaiđoạncó tốc độtăng trưởngcao nhất.

Hiện nay, ngành sản xuất và gia công thép tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đa dạng như tổng công ty thép nhà nước, các doanh nghiệp địa phương, liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân Sau năm 2000, thị phần của Tổng Công ty Thép Việt Nam đã giảm còn khoảng 40% so với mức gần như độc quyền trước đó, và hiện tại chỉ còn khoảng dưới 30%, thể hiện sự phân cấp rõ rệt trong ngành thép Việt Nam.

Tính đến năm 2002, Việt Nam sở hữu khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng lớn, chủ yếu các cơ sở có công suất trên 5.000 tấn mỗi năm Trong số đó, có 12 dây chuyền cán thép hoạt động với công suất từ 100.000 đến 300.000 tấn/năm, góp phần quan trọng vào ngành công nghiệp thép của đất nước.

Thời điểm thành lập công ty Hoa Sen năm 2001 phản ánh triển vọng đầy hứa hẹn của ngành thép Việt Nam Trước đó, giai đoạn 1996–2000, ngành thép đã có mức tăng trưởng ấn tượng, được đầu tư mạnh mẽ và phát triển vượt bậc sang khu vực tư nhân Trong giai đoạn này, ngành thép đã liên tục mở rộng hoạt động, với 13 liên đoàn hoạt động, trong đó có 12 liên đoàn doanh nghiệp thép và gia công sau cán Sản lượng thép cả nước đã đạt 1,57 triệu tấn vào năm 2000, gấp 3 lần năm 1995 và tăng 14 lần so với năm 1990, thể hiện tốc độ tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn này.

Ngành thép Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh gay gắt từ thép nhập khẩu, bao gồm cả thép nhập lậu, làm giảm thị phần và ảnh hưởng đến ngành sản xuất trong nước Nhu cầu xây dựng giảm sút do nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn sau suy thoái, gây áp lực lớn lên các doanh nghiệp thép Bên cạnh đó, giá điện tăng cao cùng với chi phí nhiên liệu tăng đã làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thép Mặc dù các vấn đề này gây khó khăn chung, Công ty Hoa Sen vẫn được xem là doanh nghiệp đáng chú ý trong ngành thép tư nhân tại Việt Nam, nhờ khả năng thích nghi và vị thế vững chắc trên thị trường.

- Cùng với quá trình công nghiệp hóa của đất nước, khối ngành công nghiệp – xâydựngcótriểnvọngtăngtrưởngcao,phục vụnhucầuxâydựng,kiếnthiết.

Ngành công nghiệp xây dựng, đặc biệt là ngành thép, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và công nghệ tiên tiến, khiến cho các đơn vị kinh tế tư nhân khó lòng tham gia nhiều vào lĩnh vực này.

M YẾUCỦA CÔNGTYCỔPHẦN TẬPĐOÀN HOA SEN

Quátrìnhthựchiệnchiếnlược

Tập đoàn Hoa Sen bắt đầu với những bước phát triển vượt trội nhằm trở thành một tập đoàn kinh tế năng động và bền vững, tập trung vào các lĩnh vực chính như tôn – thép, vật liệu xây dựng, bất động sản, đầu tư tài chính, cảng biển và logistics Công ty cổ phần Tôn Hoa Sen đã tiến hành thành lập công ty con đầu tiên mang tên Công ty cổ phần Tôn Hoa Sen vào tháng 11 năm 2007, với vốn điều lệ 320 tỷ đồng và hệ thống phân phối trực tiếp đến hơn 70 chi nhánh trải dài từ Bắc – Trung – Nam, là lợi thế lớn khi Việt Nam gia nhập WTO Trong tương lai, Hoa Sen dự định mở rộng và nâng cấp hệ thống này thành các “Trung tâm thép hoặc siêu thị vật liệu xây dựng” để đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng tăng của khách hàng, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu để giữ vững vị trí thương hiệu Hoa Sen trên thị trường quốc tế.

Hoa Sen Group là doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tiên tại Việt Nam đầu tư xây dựng Nhà máy thép cán nguội với công suất 180.000 tấn/năm, đáp ứng nhanh nhu cầu từng khách hàng về độ dày sản phẩm Công ty còn sở hữu nhà máy tôn mạ hợp kim nhôm kẽm công nghệ NOF với công suất 150.000 tấn/năm, cùng hai dây chuyền tôn mạ màu với tổng công suất 90.000 tấn/năm và hai dây chuyền tôn mạ kẽm với công suất 100.000 tấn/năm, giúp đáp ứng đa dạng các sản phẩm thép xây dựng và trang trí theo yêu cầu thị trường.

Hoa Sen đã đạt được nhiều giải thưởng cao quý như Sao Vàng Đất Việt năm 2005, Cúp Vàng về sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững năm 2006, và Cúp Vàng ISO năm 2006, khẳng định vị thế của thương hiệu trong ngành xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và trang trí Những thành tích này là động lực để Hoa Sen tiếp tục phát triển mạnh mẽ, trở thành tập đoàn kinh tế vững mạnh với năng lực cạnh tranh cao, sẵn sàng tiến bước và hội nhập quốc tế Công ty còn nhận danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2006 - 2007, góp phần nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế.

TheotintừCTCPTậpđoànHoaSen(HSG),lợinhuậnsauthuếquýIVnăm2009ướcđạt154t ỷđồng, trongđótháng12/2009ướcđạt48tỷđồng.

Trong quý IV năm 2008, nền kinh tế suy thoái đã gây ra nhiều khó khăn cho Hoa Sen, khi thị trường thu hẹp, nhu cầu giảm mạnh khiến doanh nghiệp phải giảm giá bán, thậm chí chấp nhận bán dưới giá thành, dẫn đến cạnh tranh quyết liệt Nhiều dự án còn dang dở do thiếu vốn hoặc không thể tiếp tục triển khai, trong khi vay vốn ngân hàng gặp nhiều trở ngại do lãi suất cao và ngân hàng thận trọng kiểm soát rủi ro Thị trường thép trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 sụt giảm mạnh về tiêu thụ, khiến Hoa Sen cũng không nằm ngoài xu hướng đó, và quý IV đã ghi nhận lỗ hơn 116 tỷ đồng.

Năm 2009, ngành thép Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn năm 2008, đặc biệt là Hoa Sen phải đối mặt với tồn kho lớn nguyên liệu như phôi thép, thép phế và cuộn cán nóng Giá nguyên liệu lúc đó cao gấp 3 lần so với giá trị năm 2009, khiến việc duy trì sản xuất buộc doanh nghiệp phải bán dưới giá thành và chịu lỗ lớn Giá thé xây dựng đã giảm từ mức khoảng 20 triệu đồng/tấn vào cuối năm 2008 xuống còn 7–9 triệu đồng/tấn trong những tháng đầu năm 2009, phản ánh rõ tình trạng thị trường gặp khó khăn nghiêm trọng.

Trong giai đoạn khó khăn nhất, chính sách hỗ trợ lãi suất đã giúp các doanh nghiệp ngành thép tiếp cận nguồn vốn rẻ để duy trì sản xuất và triển khai các dự án đầu tư, góp phần ổn định phát triển ngành Chính sách miễn giảm 50% thuế VAT (từ 10% xuống còn 5%) có hiệu lực từ 1/2/2009 đến hết 31/12/2009 đã giúp doanh nghiệp giảm giá bán sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Ngoài ra, gói kích cầu trị giá khoảng 6 tỷ USD đã thúc đẩy mạnh mẽ tiêu thụ sản phẩm thép, mở rộng thị trường trong nước Các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở, nhà ở nông thôn, nhà ở công nhân khu công nghiệp, nhà ở cho người thu nhập thấp và sinh viên đã được đầu tư vốn, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành thép.

Trong bối cảnh giá thép giảm, ban giám đốc Hoa Sen đã quyết định nhập về lượng lớn phôi thép dự trữ, tận dụng thời cơ để chuẩn bị cho giai đoạn thị trường phục hồi Nhờ chính sách hỗ trợ của chính phủ phát huy hiệu quả, giá thép và sản lượng tiêu thụ liên tục tăng, đem lại lợi nhuận lớn cho tập đoàn Sự quyết đoán trong chiến lược kinh doanh của Ban lãnh đạo đã giúp Hoa Sen vượt qua khó khăn và đạt thành công vượt mong đợi năm 2009 Thành công năm này còn nhờ vào khả năng chuyển hướng linh hoạt, điều chỉnh kế hoạch phù hợp tình hình thực tế, như giãn tiến độ các dự án quan trọng như Cảng biển quốc tế Hoa Sen – Gemadept và mở rộng hệ thống phân phối Đồng thời, Hoa Sen đã tạm dừng triển khai các dự án lớn để tập trung nguồn lực vào lĩnh vực sản xuất các loại sản phẩm chính như tôn lạnh, tôn màu, ống thép, xà gồ, ống nhựa, theo phương châm “làm tốt những gì hiện có”.

Vào cuối tháng 3 năm 2008, Hoa Sen Group đã nâng cấp năng lực sản xuất của mình với công nghệ NOF công suất 150.000 tấn/năm và dây chuyền Tôn mạ màu II công suất 50.000 tấn/năm Những đầu tư này giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách giới thiệu các dòng sản phẩm mới, có tính năng vượt trội và giá thành hợp lý như tôn lạnh và tôn lạnh màu.

Trong bối cảnh giá nguyên vật liệu biến động, lãi suất vay ngân hàng tăng cao, và tỷ giá VND/USD có nhiều biến động, Ban Tổng Giám Đốc đã dự báo chính xác diễn biến giá thép nhập khẩu trên thị trường quốc tế cũng như xu hướng lãi suất và tỷ giá trong nước Nhờ đó, công ty đã có các chiến lược điều chỉnh hợp lý về dự trữ nguyên vật liệu, kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất kinh doanh, đồng thời linh hoạt trong việc vay trả nợ ngân hàng và điều chỉnh chính sách công nợ với khách hàng phù hợp với thị trường hàng tuần Những biện pháp này đã phát huy hiệu quả trong việc hướng đến chiến lược “khép kín quy trình sản xuất kinh doanh, làm chủ chuỗi giá trị gia tăng, tìm kiếm lợi nhuận từ gốc đến ngọn”.

Các hoạt động PR – Marketing đóng vai trò then chốt trong thành công của tập đoàn, với hàng loạt chương trình truyền thông và quảng cáo hiệu quả Những hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức về thương hiệu "Tôn Hoa Sen" và đưa thương hiệu đến gần hơn với người tiêu dùng trong mọi lĩnh vực.

Hệ thống phân phối trực tiếp với hơn 82 chi nhánh rộng khắp cả nước là lợi thế nổi bật giúp giới thiệu sản phẩm hiệu quả, mở rộng thị phần tiêu thụ và tăng cường khả năng tiếp cận khách hàng Đây còn là cầu nối quan trọng để truyền tải và phản hồi thông tin từ khách hàng đến Ban Tổng Giám Đốc một cách hiệu quả.

Tiêuthụtônmạ,tháng8và8tháng/2009 của5doanhnghiệpcóthịphầncaonhất(Nguồn: VSA)

Hoa Sen liên tục dẫn đầu thị phần và sản lượng tiêu thụ trong lĩnh vực tôn mạ nhiều năm liền, khẳng định vị thế vững chắc trên thị trường Thành tích này là nguồn động lực lớn thúc đẩy Hoa Sen không ngừng mở rộng quy mô, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và vượt qua các thử thách, khó khăn của ngành xây dựng hiện nay.

Thị trường tiêu thụ chính của Hoa Sen hiện nay chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa Việt Nam, với miền Nam chiếm đa số (62%), tiếp theo là miền Trung (26%) và miền Bắc (13%) Ngoài ra, Hoa Sen còn xuất khẩu sản phẩm sang các nước trong khu vực ASEAN, mở rộng thị trường quốc tế và tăng cường sự hiện diện thương hiệu.

Năm 2010, kinh tế trong và ngoài nước đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu 2008-2009 Trong nước, tình hình kinh tế còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ tháng trước, nhưng các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động ổn định và dần lấy lại đà tăng trưởng.

Năm 2010 tiếp tục là một năm khó khăn đối với các doanh nghiệp ngành thép tại Việt Nam, chủ yếu do thị trường thép biến động mạnh theo giá thép thế giới Đặc trưng này thể hiện rõ qua đợt sụt giảm mạnh của giá thép quốc tế vào các tháng 5, 6, 7, chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng nợ công tại Châu Âu Sự giảm sút này xảy ra đúng vào giai đoạn cao điểm tiêu thụ sản phẩm thép trong nước, khiến các doanh nghiệp ngành thép gặp nhiều khó khăn khi trước đó giá thép đã có dấu hiệu phục hồi và kỳ vọng hồi phục từ xu hướng tích cực của thị trường toàn cầu.

Ngày đăng: 03/11/2022, 22:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w