1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Trồng quế hữu cơ (Trình độ: Sơ cấp nghề) - Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai

59 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 572,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Trồng quế hữu cơ (Trình độ: Sơ cấp nghề) - Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai gồm có 4 bài như sau: Bài 1: Giới thiệu chung về cây Quế; Bài 2: kỹ thuật trồng Quế hữu cơ; Bài 3: Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh; Bài 4: Khai thác, chế biến và bảo quản sản phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI

GIÁO TRÌNH TRỒNG QUẾ HỮU CƠ

TRÌNH ĐỘ: SƠ CẤP NGHỀ

Lào Cai - Năm 2019

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI

NGHỀ: TRỒNG QUẾ HỮU CƠ

Trang 3

1.Giá trị kinh tế

Quế là loài cây đa tác dụng.Vỏ và quả Quế dùng làm thuốc, lá và vỏ khô cho tinh dầu vàlàm gia vị, gỗ dùng trong xây dựng và làm đồ dùng gia đình Đây là loài cây cho hiệu quả kinh

tế cao và được trồng ở nhiều nơi

Theo tài liệu thống kê cho thấy: Nếu 1ha Quế sau chu kỳ 15-20 năm thu được 1,5-2 tấn

vỏ trị giá 15-20 triệu đồng tương ứng với 10 tấn thóc Để thu đượ 10 tấn thóc phải canh tác trên10ha lúa nương (sản lượng lúa nương 1tấn/ha/năm) hoặc 20 ha sắn hoặc ngô

Tuy nhiên trồng cây trên đất dốc không tiến hành liên tục trong 10 năm được vì sau 3-5năm lại bỏ hoang rồi mới trở lại canh tác Như sau trong 10 năm 1ha lúa nương chỉ canh tácđược 3-5 năm và cho sản lượng 3-5 tấn thóc

Ngoài ra trồng cây lương thực trên đất dốc liên tục còn làm tăng xói mònđất, giảm độ phì đất, trong khi đó rừng Quế thuần loài ở 5 - 6 tuổi đã khép tán, dưới tán rừngQuế cây bụi thảm tươi phát triển, đất được bảo vệ và lượng lá rơi rụng có tác dụng cải tạo đất

Trong những năm 2000-2001 tại Yên Bái trồng Quế với mật độ ban đầu là 3300 cây/ha

- Chi phí cho 4 năm đầu là 7-8 triệu đồng/ha

- Lợi nhuận bình quân : 20- 22 triệu đồng/ha Xác định hiệu quả trồng Quế tại Na Mèo,Thanh Hóa cho thấy: Sau 15 năm lợi nhuận thu được từ 1ha quế là > 21 triệu đồng

Như vậy trồng Quế ở các địa phương đều mang lại hiệu quả kinh tế cao

2 Công dụng của quế

2.1 Trong y học

- Theo nghiên cứu của hội hóa học Hoa Kỳ “Mùi hương của tinh dầu Quế giúp cải thiệntrí tuệ con người” Khi ngửi mùi hương này giúp nâng cao sức tập trung, ghi nhớ và xử lý cáchình ảnh nhanh và chính xác khi đang làm việc với máy tính

- Có tác dụng kích thích tuần hoàn máu, hô hấp tăng lên, kích thích tăng bài tiết, tăngcường co bóp tử cung, tăng nhu động ruột

- Tinh dầu quế dùng để xoa bóp vùng đau bầm tím do chấn thương, đánh gió khi cảm

- Tinh dầu quế có tác dụng làm ấm toàn thân, khử mùi hôi, trừ cảm cúm, cảm lạnh, tiêuchảy, có tác dụng kích dục, giảm buồn phiền, chống đau cơ

- Quế được coi là một trong bốn vị thuốc rất có giá trị (Sâm, Nhung, Quế, Phụ) Quế có

vị ngọt cay, tính nóng, thông huyệt mạch làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúnghàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, yếu (trụy mạch, huyết áp hạ) và dịch tả nguy cấp

- Tinh dầu quế có tính sát trùng mạnh làm ức chế nhiều loại vi khuẩn đặc biệt là vi khuẩn

tả Ở các nước Châu Âu quế được sử dụng là thuốc chữa các bệnh đau bụng tiêu chảy, sốt rét,

ho và một số bệnh khác

2.2 Trong công nghiệp, thực phẩm

- Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì quế có vị thơm, cay và ngọt cóthể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích đượctiêu hoá

Trang 4

- Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh quế, kẹo quế, rượu quếđược sản xuất và bán rất rộng rãi Bột quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn giasúc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm.

- Quế được sử dụng làm hương vị, bột quế được trộn với các vật liệu khác để làm hươngkhi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiềunước châu á nhất là các nước có đạo phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi

- Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ quế, vỏ quế để làm ra các sản phẩm thủ công

mỹ nghệ như bộ khay, ấm, chén bằng vỏ quế, đĩa quế, đế lót dầy có quế

- Một số dân tộc Châu Á dùng quả chín và nụ hoa quế lấy hương thơm làm bánh và ướpchè hay thay nước hoa

- Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màuxám, hơi nứt rạn theo chiều dọc

- Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệttrong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%

- Cây quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa

tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng

- Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau Quả quế khi chưa chín cómàu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2

cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt quế có khoảng 2500 – 3000 hạt

- Hạt quế có dầu nên khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao hạt sẽ bị chảy dầu mất sứcnảy mầm

- Bộ rễ quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéonhau vì vậy quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc

4 Đặc điểm sinh thái

Cây sinh trưởng trong rừng nhiệt đới, ẩm thường xanh, ở độ cao dưới 800m Quế là cây

gỗ ưa sáng, nhưng ở giai đoạn còn non cây cần được che bóng Khi trưởng thành 3-4 năm câycần được chiếu sáng đầy đủ Ánh sáng càng nhiều, cây sinh trưởng càng nhanh và chất lượngtinh dầu càng cao

Quế có hệ rễ phát triển mạnh, rễ trụ ăn sâu vào đất và cây có tốc độ tăng trưởng tươngđối nhanh Tại vùng đồi núi A Lưới (Quảng Trị), cây trồng từ hạt đến giai đoạn 3,5 năm tuổi đãđạt chiều cao trung bình 2,2m (tối đa 2,7m) Cây 9 năm tuổi có chiều cao trung bình 6,9-7,0mvới đường kính thân trung bình 20- 21cm Quế có khả năng tái sinh chồi từ gốc khá mạnh

Trong sản xuất, sau khi chặt cây thu vỏ, từ gốc sẽ sinh nhiều chồi non Có thể để lại mộtchồi và tiếp tục chăm sóc để sau này lại cho thu hoạch vỏ

5 Yêu cầu ngoại cảnh

Trang 5

5.1.Khí hậu

Quế là loài cây thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, vì vậy các vùng

có quế mọc tự nhiên ở nước ta là vùng có:

- Lượng mưa cao từ 4000 mm/năm; lượng mưa thích hợp nhất 3000mm/năm Lượng mưa hàng năm ở các địa phương trồng quế ở nước ta thường vào khoảng1.600-2.500mm

2000 Quế ưa khí hậu nóng ẩm Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của quế là20- 250 C

- Tuy nhiên quế vẫn có thể chịu được điều kiện nhiệt độ thấp (lạnh tới 10C hoặc 00 C)hoặc nhiệt độ cao tối đa tới 37-380C

- Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 20 – 290 C

- Độ ẩm không khí trên 85%;

5.2 Đất đai

Quế có thể mọc được trên nhiều loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau (sa thạch, phiếnthạch…), đất ẩm nhiều mùn, tơi xốp; đất đỏ, vàng, đất cát pha; đất đồi núi, chua (pH 4-6),nghèo dinh dưỡng, nhưng thoát nước tốt (trừ đất đá vôi, đất cát, đất ngập úng)

Tốt nhất nên trồng Quế những nơi còn tính chất đất rừng, đất có tầng trung bình đến dày,đất rừng mới phục hồi sau nương rẫy, rừng còn cây bụi mọc rải rác Quế thường trồng ở nhữngnơi có độ cao so với mặt nước biển:

6 Giới thiệu các giống Quế ở Việt Nam

6.1 Quế Thanh Hóa

6.1.1 Đặc điểm hình thái

Cây gỗ thường xanh, cao 10-20m, vỏ thân màu nâu xám hay nâu sẫm, rất thơm

Cành non có dạng 4 cạnh theo lát cắt ngang, nhẵn Lá mọc gần như đối hoặc mọccách;phiến hình bầu dục thuôn đến hình mác thuôn, đầu có mũi nhọn, mềm, gốc hìnhnêm;thường dài 12-15cm, rộng 5 cm màu xanh đậm; mặt dưới có phủ vẩy nhỏ, gân chính 3;cuống lá có rãnh, dài 1,2-1,5cm

Cụm hoa dạng chuỳ mọc ở kẽ lá hay đầu cành Hoa nhỏ, lưỡng tính, màu trắng hay trắngvàng nhạt

Quả hình trứng, dài khoảng 1cm, khi chín có màu đen hay tím, nhẵn, đài tồn tại Mỗi quả

1 hạt

6.1.2 Đặc điểm sinh học:

Trang 6

Cây mọc trong rừng nhiệt đới lá rộng, ẩm trên dãy Trường Sơn từ bắc Thanh Hóa đếNghệ An, Hà Tĩnh, Quảng nam, Quảng Ngãi ở độ cao trung bình, đôi khi có thể lên tới độ cao2.000m.

Cây ưa điều kiện nóng, ẩm; thường mọc ở các khu vực có tổng lượng mưa hàng năm cao(2.500-3.000mm), trên các loại đất feralit đỏ, vàng; đặc biệt là trên đất phong hoá từ nham thạchnúi lửa

Hệ rễ của cây phát triển nhanh, rễ trụ ăn sâu vào đất Cây tái sinh chồi khỏe Khi còn nonchịu bóng, nhưng cây trưởng thành lại ưa sáng Mùa hoa quả tháng 4 đến tháng 8

6.2 Quế Yên Bái

Quế Yên Bái hay còn gọi là quế đơn, quế rành, quế Trung Quốc, quế bì, nhục quế Loàinày phân bố chủ yếu ở Bắc bộ và một số vùng của Việt Nam

Hoa lưỡng tính; bao hoa 6 mảnh, màu trắng xanh hoặc xanh vàng nhạt; nhị 9, xếp thành

3 vòng, chỉ nhị ngắn, gốc của vòng nhị thứ 3 có 2 tuyến mật; bầu thượng, nhỏ

Quả hình trứng hay gần hình cầu; khi chín có màu nâu vàng, đài tồn tại

6.2.2 Đặc điểm sinh học

Cây mọc rải rác trong rừng nhiệt đới, thường xanh, có tán che thưa thớt; rất ít gặp trongrừng rậm Cây chịu bóng ở mức độ trung bình, ưa ẩm; song cũng chịu hạn

Quế rành cho vỏ dày, với chất lượng cao khi sinh trưởng ở những nơi có đầy đủ ánh sáng

và đất đai giàu dinh dưỡng

Ở điều kiện tự nhiên, quế rành tái sinh bằng hạt kém, tỷ lệ nẩy mầm của hạt thấp Cây cótốc độ tăng trưởng trung bình Trong quá trình sinh trưởng, đến giai đoạn 20-30 năm tuổi cây cótốc độ tăng trưởng theo đường kính thân mạnh nhất Mùa hoa tháng 5-8

6.3 Quế quan

6.3.1 Đặc điểm hình thái

Cây gỗ thường xanh, cao 10-18m, đường kính thân có thể đạt 50-60cm Cây thường phâncành từ gần gốc, tạo thành tán rậm, hình bán cầu Vỏ ngoài ở cành non có màu nâu nhạt, nhẵn;nhưng ở cành và thân già lại có màu nâu xám hay nâu đậm Các tế bào chứa tinh dầu thường cótrong vỏ hoặc ở lớp gỗ dác trên thân

Lá đơn, mọc đối; phiến lá hình trứng hay hình trái xoan, kích thước 5-25x3- 10cm; đầunhọn, gốc gần như tròn; mặt trên xanh đậm, bóng; mặt dưới xanh nhạt, có mùi thơm mạnh; gânchính 3 hoặc 5;cuống lá dài 1-2cm

Cụm hoa thường dạng chùm, mọc ở nách lá hay ở đầu cành, dài khoảng10cm, cuống cólông mềm, màu trắng kem Hoa nhỏ, màu vàng nhạt; đài hợp ở phía dưới, dạng hình chuông

Trang 7

ngắn; nhị hữu thụ 9, xếp thành 3 vòng, chỉ nhị có lông mượt; vòi nhuỵ ngắn Quả hình trứng hayhình trái xoan, dài 1,3-1,7cm, có đài tồn tại, to, khi chín có màu đen.

6.3.2 Đặc điểm sinh học

Cây sinh trưởng thuận lợi ở những khu vực có khí hậu ẩm, ấm áp với nhiệt độ trung bìnhnăm đạt 270C, tổng lượng mưa hàng năm 2000-2500mm và phân bố đều trong các tháng Cây

ưa sáng, sinh trưởng tốt ở những khu vực đất thấp, quang đãng

Điều kiện đất đai có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng vỏ

Quế có hệ rễ phát triển mạnh và tương đối sâu Cây phân cành nhiều ngay từ đoạn thângần gốc, tạo thành bộ tán rậm, nhiều cành Ngọn và lá non thường có màu đỏ nhạt, sau đóchuyển dần sang màu xanh đậm Cây thụ phấn chéo nhờ côn trùng Mùa quả tháng 4-9

7 Phân bố

7.1 Vùng Hoàng Liên Sơn (Trung tâm Bắc bộ cũ)

- Vùng này Quế được trồng ở hầu hết các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, TuyênQuang…tuy nhiên chủ yếu tập trung ở Yên Bái, đây là vùng trồng Quế lớn nhất nước ta

- Vùng quế Yên Bái tập trung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn và Trấn Yêntỉnh Yên Bái Các khu vực có quế nhiều như Đại Sơn, Viễn Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, XuânTầm… có diện tích trồng quế và sản lượng vỏ quế chiếm khoảng 70% của cả vùng

- Đặc điểm của vùng quế Yên Bái là vùng rừng núi chia cắt, hiểm trở, nằm phía Đông vàĐông Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn

+ Độ cao tuyệt đối khoảng 300 – 700 m;

+ Nhiệt độ trung bình năm là 22,70 C,

+ Lượng mưa bình quân năm trên 2000 mm, có nơi như Phong Dụ lượng mưa bình quânnăm đạt đến trên 3000 mm;

+ Độ ẩm bình quân là 84%

+ Đất đai phát triển trên đá sa thạch, phiến thạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn vàthoát nước

7.2 Vùng quế Quảng Ninh (nay là vùng Đông Bắc)

+ Lượng mưa trong vùng rất cao khoảng trên 2300 mm/năm,

+ Nhiệt độ bình quân năm là 230 C

+ Quế được gây trồng trên đai cao khoảng 200 – 400 m

- Quế Quảng Ninh là nguồn lợi đáng kể của đồng bào Thanh Y, Thanh Phán sinh sốngtrong vùng

7.3 Vùng quế Thanh Hóa- Nghệ An (nay là vùng Bắc trung bộ)

- Tại Thanh Hóa quế được trồng tập trung ở các huyện Thường Xuân, Quan Sơn, NgọcLặc Ngoài ra quế còn được trồng rải rác ở nhiều huyện khác trong tỉnh (hầu hết là những diệntích mới trồng) Quế Thanh Hóa có đặc điểm về hình thái giống quế Yên bái, cây thân thẳng, vỏnhẵn, tán lá dày, lá xanh tuy nhiên cây thường nhỏ hơn quế Yên bái

- Ở Nghệ An quế được trồng tập trung ở hai huyện Quỳ Châu và Quế Phong

- Quế Quỳ là tên gọi một giống Quế bản địa tại phủ Quỳ Châu trước đây bao gồm cáchuyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu và Quế Phong hiện nay Quế quỳ nổi tiếng về chất

Trang 8

lượng, được các thày lang và thương lái mua để bán ra các địa phương trong nước và nướcngoài Trước đây quế quỳ đã nổi tiếng với thương hiệu: “ Nhất quế Quỳ nhì quế Quảng”

- Quế Thanh và quế Quỳ là quế tốt vì hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao nổi tiếngtrong cả nước Ở đây được xác định là còn các diện tích quế tự nhiên, đó là nguồn gen rất quíhiếm cần được bảo tồn và phát

7.4 Vùng Quảng Nam- Quảng Ngãi (nay là Duyên hải Nam trung bộ)

- Cây quế ở vùng này có đặc điểm: Thân không thẳng, vỏ xù xì, phân cành thấp, tỷ lệbênh tua mực cao đạc biệt là những nơi ẩm thấp

+ Vùng quế Trà Mi, Trà Bồng có độ cao khoảng 400 – 500 m;

+ Nhiệt độ bình quân năm 220 C;

+ Lượng mưa bình quân là 2300mm/năm;

+ Ẩm độ bình quân 85%;

+ Đất đai phát triển trên các loại đá mẹ, sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng đất dày ẩm,thoát nước, thành phần cơ giới trung bình

8 Xác định giống quế đem trồng

Để tăng sản lượng vỏ quế, hàm lượng và chất lượng tinh dầu cần phải chọn nguồn giốngquế đem trồng

Thực tiễn việc đưa giống Quế có ở các tỉnh phía Bắc vào trồng tại các tỉnh Quảng Nam,Quảng Ngãi đã cho thấy rõ tầm quan trọng của nguồn giống Các vườn quế có nguồn giống từcác tỉnh phía Bắc trồng ở các tỉnh phía Nam thường cho vỏ mỏng, hàm lượng tinh dầu thấp nêngiá trị không cao bằng quế địa phượng

Kết quả khảo nghiệm cho thấy quế ở vùng nào sinh trưởng tốt ở vùng đó Vì vậy có thểlấy:

- Giống Quế ở Yên Bái trồng cho các tỉnh phía Bắc

- Giống Quế ở Thanh Hóa, Nghệ An trồng cho các tỉnh miền Trung cũ từ Thanh Hóa đếnQuảng Bình, Quảng Trị

- Giống ở Quảng Nam, Quảng Ngãi trồng cho các tỉnh phía Nam và Nam Trung bộ

Trang 9

Bài 2: Xây dựng vườn ươm 2.1 Xây dựng vườn ươm

2.1.1 Khái niệm vườn ươm

- Vườn ươm là nơi tập trung sản xuất và bồi dưỡng cây con đảm bảo chất lượng phục vụ

kế hoạch trồng rừng

2.1.1.1 Phân loại vườn ươm

Căn cứ vào quy mô sản xuất, tính chất sản xuất và thời gian sử dụng người ta có nhiềucách phân loại vườn ươm:

a Căn cứ vào quy mô sản xuất

* Vườn ươm lớn

- Đầu tư xây dựng nhiều tiền, quy mô sản xuất lớn, sản xuất mang tính công nghiệp

- Vườn ươm có diện tích khoảng 0,5 - 2,0ha hoặc công suất lớn hơn 1.000.000 cây/năm

- Áp dụng cho những cơ sở sản xuất lớn có nhiệm vụ sản xuất cây con phục vụ yêu cầutrồng rừng theo vùng chủ yếu ươm cây con phục vụ yêu cầu trồng rừng theo vùng chủ yếu vườnươm cây con, chọn bầu từ hạt, giâm hom và cấy mô

* Vườn ươm trung bình

Vườn ươm có tính nửa cố định Là loại vườn ươm được dùng ở các đội trồng rừng củacác lâm trường áp dụng phương pháp giâm hom, nuôi cấy mô, ươm cây trong bầu dện tíchkhoảng 500 - 5000 m2 hoặc công suất từ 500.000 – 1.000.000 cây/năm sản xuất cây con phục vụ

kế hoạch trồng rừng của các lâm trường Áp dụng các phương pháp gieo ươm hạt, giâm hom,nuôi cấy mô diện tích khoảng 500 - 5000m2 sản xuất cây con phục vụ trồng rừng

* Vườn ươm nhỏ

Vườn ươm nhỏ có tính chất thời vụ, diện tích khoảng 50 - 500m2 hoặc công suất dưới500.000 cây/năm ở các hộ gia đình, sản xuất cây con có bầu và rễ trần phục vụ yêu cầu trồngrừng cụ thể

b Căn cứ theo nguồn vật liệu giống

* Vườn ươm hữu tính: Vườn ươm hữu tính là vườn ươm tạo cây con từ hạt giống

* Vườn ươm vô tính

Vườn ươm vô tính là vườn ươm tạo cây con bằng biện pháp giâm hom, nuôi cấy mô,chiết ghép… từ các vật liệu giống vô tính

c Căn cứ vào thời gian sử dụng

* Vườn ươm cố định

- Vườn ươm cố định là vườn ươm có thời gian sử dụng lâu dài, thực hiện cả hai nhiệm vụ

cơ bản của vườn ươm là chọn lọc, bồi dưỡng giống tốt và nhân nhanh, cung cấp số lượng nhiều

có chất lượng cao cho sản xuất Sản xuất cây con trong thời gian dài, cung cấp cho nhiều nơi

Vườn ươm cố định dùng để ươm cây trong thời gian dài, trên diện tích lớn, ươm nhiềuloài cây với cường độ kinh doanh cao, có đủ các hạng mục xây dựng cơ bản và thiết bị chuyên

Trang 10

dùng, thuận lợi cho việc cơ giới hóa, tự động hóa, có thể khống chế được những điều kiện hoàncảnh bất lợi, không ngừng nâng cao sản lượng và chất lượng cây con.

+) Ưu điểm

- Sản lượng lớn, ổn định

- Biện pháp kỹ thuật tập trung, hạ được giá thành cây con

- Cán bộ kỹ thuật ổn định, có điều kiện chăm sóc với cường độ cao

+) Nhược điểm:

- Xa nơi trồng rừng nên vận chuyển gặp nhiều khó khăn

- Khi đem trồng ở rừng thì điều kiện thích nghi không tốt với môi trường sống mới

- Trong quá trình vận chuyển thường gây tổn thương hoặc khô héo cây con

- Sâu bệnh dễ phát sinh (do sản xuất lâu năm nên sâu bệnh có khả năng kháng thuốc

* Vườn ươm tạm thời

- Vườn ươm tạm thời dùng để gieo ươm cây con phục vụ cho một khu vực trồng rừng códiện tích nhỏ, trong một thời gian ngắn, thường được bố trí ở gần nơi trồng rừng, sử dụng cácloại vật liệu tại chỗ, rẻ tiền để xây dựng như tre gai làm hàng rào, khung gỗ be xung quanhluống,vv…cây con sản xuất ra có thể thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh nơi trồng, không phảivận chuyển xa, tận dụng được mọi diện tích gieo ươm để phục vụ kịp thời cho yêu cầu củatrồng rừng

+) Ưu điểm:

- Dễ chọn

- Gần nơi trồng rừng nên không phải bảo quản và vận chuyển xa

+) Nhược điểm:

- Sản lượng, chất lượng không cao

- Không đảm bảo sự đồng đều về chất lượng Sản xuất phân tán, cán bộ kỹ thuật không

* Vườn ươm nền cứng (nền không thấm nước)

Đây là loại vườn ươm cố định Nền luống xây dựng hoặc láng xi măng, hoặc trải bạt,nilon Hệ thống tưới nước tự động, cây con tạo từ hạt hoặc từ hom ươm trong bầu Loại vườnươm này chi phí đầu tư lớn, chỉ áp dụng cơ sở lớn có điều kiện đầu tư

+) Ưu điểm:

-Tạo được cây con đồng đều ít sâu bệnh

-Chủ động nước tưới, hạn chế xói mòn và rửa trôi

-Hạn chế cỏ dại

Trang 11

+) Nhược điểm:

-Đầu tư tốn kém

-Sản xuất cố định không di chuyển được

2.1.2 Chọn địa điểm lập vườn ươm

Vị trí vườn ươm ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, phẩm chất và giá thành cây con, ảnhhưởng đến điều kiện làm việc và đời sống của công nhân vườn ươm Muốn chọn vị trí vườnươm thích hợp cần phải nắm vững các điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh doanh

2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

- Khí hậu: Khu vực vườn ươm có điều kiện khí hậu (nhiệt độ, ẩm độ, chế độ mưa ) phù

hợp với đặc tính sinh thái của các loài cây sẽ gieo ươm Cần tránh xây dựng vườn ươm ở nơithấp, ẩm ướt, không khí tù úng vì đó là môi trường thuận lợi cho dịch bệnh phát triển, ảnhhưởng xấu đến cây con Nơi đặt vườn ươm phải thông thoáng nhưng cũng phải có khả năng hạnchế được ảnh hưởng của gió to và bão

- Địa hình: Nên xây dựng vườm ươm nơi tương đối bằng, thoát nước, độ dốc dưới 50 đểtiện cho việc áp dụng cơ giới, chăm sóc cây con và tránh được hiện tượng xói mòn, thoái hoáđất Ở vùng núi, nếu độ dốc quá lớn, cần làm thành bậc thang để tạo mặt bằng gieo ươm Khôngnên chọn những nơi thung lũng hẹp, ít ánh sáng, nơi đất bồi ven sông thường ngập nước Nếu ởgần rừng, nên chọn vị trí cách xa rừng từ 20m trở lên Đối với vườn ươm thông, không nên chọndưới chân đồi có nước

- Hướng dốc: Khi chọn hướng cho vườn ươm, cần căn cứ vào điều kiện khí hậu từng nơi,

khả năng cung cấp nước và đặc tính loài cây để xác định Nên chọn sườn nam, có giờ chiếusáng dài, ấm áp về mùa đông, thông thoáng trong mùa hạ Cần tránh xây dựng vườn ươm ở nơi

bị che bóng mặt trời trực tiếp từ hướng đông và hướng tây (cây cối, núi non, nhà cao tầng…)

- Đất: Đất vườn ươm tốt nhất là đất cát pha đến thịt trung bình Đất tốt, sâu, mát, kết cấu

tơi xốp, thoáng khí, lượng nước chứa thích hợp và thoát nước Đất thịt có đầy đủ các đặc điểmtrên, thuận lợi cho cây con sinh trưởng tốt Ngoài ra đất thịt còn thuận tiện cho việc cày bừa, hạtsau khi gieo xuống dễ nhú mầm, đồng thời khi bứng cây ít gây tổn thương cho bộ rễ

- Độ pH trong đất vườn ươm cần phù hợp với đặc tính của từng loài cây Nên chọn đất từ

hơi chua đến gần trung tính sẽ thích hợp cho nhiều loài (pH = 5 - 6,5) Đối với các loài cây gieoươm trong bầu thì vườn ươm phải gần nơi có thể dễ dàng lấy đất đóng bầu

- Tình hình sâu bệnh hại: Trước khi xây dựng vườn ươm, cần tiến hành điều tra tình hình

sâu bệnh hại trong khu vực dự kiến sử dụng để có biện pháp phòng trừ Nếu có mầm mống sâubệnh, phải tiến hành diệt trừ ngay để tránh dịch bệnh lây lan trong quá trình gieo ươm sau này

2.1.2.2 Điều kiện kinh doanh

- Vị trí vườn ươm: Vườn ươm xây dựng ở trung tâm khu trồng rừng để tiện cho việc vậnchuyển và cây con dễ thích nghi với điều kiện hoàn cảnh Ngoài ra nên xây dựng vườn ươm ởgần khu vực dân cư để thuần lợi cho sinh hoạt hàng ngày, mua sắm vật tư và sử dụng được nhânlực tại chỗ

Trang 12

Hình dạng vườn ươm nên là hình chữ nhật hoặc hình vuông để dễ quy hoạch và sử dụng

cơ giới Diện tích vườn cần đủ rộng, thỏa mãn được nhu cầu sản xuất và cung ứng cây con trongvùng trồng rừng

- Nguồn nước: Phải chọn nơi có nguồn nước sạch, đảm bảo đủ cung cấp trong năm chovườn ươm Nguồn nước tốt nhất là nước sông, suối hoặc nước hồ không bị ô nhiễm Nếu nguồnnước tự nhiên khó tìm thì phải chọn nơi có điều kiện đào giếng dễ dàng, đủ nước tưới cho câycon Không nên lập vườn ở nơi ven sông hay sát bên hồ nước, vì về mùa mưa dễ bị nước ngậphoặc mạch nước ngầm quá cao, không có lợi cho sinh trưởng của cây con

- Giao thông: Vườn ươm nên gần đường giao thông để tiện cho việc vận chuyển vật tư(hạt giống, túi bầu, đất, phân bón, thuốc trừ sâu ), trang thiết bị, cây con

Bảng: Tiêu chuẩn điều kiện vườn ươm

Chỉ tiêu Thích hợp Chấp nhận được Đối tượng áp

Tất cả các loạivườn ươm

2 Chất lượng

nước tưới

Nước ngọt, độ pH 7,0, hàm lượng muốiNaCl < 0,2%

6,5-Nước ngọt, độ pH 7,5, hàm lượng muốiNaCl <0,3%

6,0-Tất cả các loạivườn ươm

Vườn ươm trungbình, lớn, lâu dài

4 Giao thông

Cách trục giao thông <

50m, xe tải có thể vàovườn, không phải đầu tưxây dựng đường

Cách trục giao thông <

100m, xe tải 2,5 tấn cóthể vào vườn, phải đầu

tư ít để sửa đường

Vườn ươm lớn,trung bình

Có mầm mông sâu bệnhhại nhẹ Phải xử lý đấtbằng biện pháp thông

Tất cả các loạivườn ươm

Trang 13

thường, ít tốn kém,không ô nhiễm môitrường

2.1.3 Quy hoạch vườn ươm

Qui hoạch vườn ươm là phân chia đất vườn ươm thành nhiều khu và đề xuất phươnghướng sử dụng một cách hợp lý nhằm lợi dụng triệt để đất và các điều kiện khác của vườn

Qui hoạch vườn ươm phải dựa vào bản đồ địa hình tỉ lệ 1/500, bản đồ đất, đặc tính sinhvật học của các loài cây gieo ươm, điều kiện quản lý kinh doanh và công tác kiến thiết cơ bản…

vv để bố trí đất sản xuất và không sản xuất, sao cho tận dụng được mọi điều kiện tự nhiên vàkinh doanh của vườn

Nguyên tắc bố trí: đảm bảo cho mỗi khu có đủ diện tích và điều kiện cần thiết để hoànchỉnh từng khâu công việc trong 1 dây truyền khép kín Đồng thời đảm bảo tính hợp lý của từngloại công việc, tiết kiệm được thời gian và sức lao động trong quá trình sản xuất

- Để quy hoạch được vườn ươm đầu tiên phải dự trù diện tích vườn ươm bao gồm: đấtsản xuất và đất không sản xuất

+ Đất sản xuất là đất trực tiếp gieo hạt, cấy cây và đất luân canh

+ Đất không sản xuất là đất làm rãnh luống, hệ thống tưới tiêu, đường đi, đất làm nhà ở,nhà kho, bờ rào, các dải rừng phòng hộ…

- Thông thường diện tích chia làm 03 loại:

+ Vườn ươm nhỏ: diện tích đất phục vụ không sản xuất: 40 - 45% diện tích đất sản xuất.+ Vườn ươm trung bình: diện tích đất phục vụ sản xuất: 30 - 40% diện tích đất sản xuất.+ Vườn ươm lớn: diện tích đất phục vụ sản xuất: 30% diện tích đất sản xuất

- Ngoài ra khi quy hoạch mặt bằng vườn ươm cần chú ý các vấn đề:

+ Khu vực dành cho gieo ươm cây mạ chiếm khoảng 10% diện tích toàn vườn ươm+ Khu vực dành cho cấy cây, huấn luyện cây con chiếm ≥ 70% diện tích vườn ươm+ Đường đi, hàng rào và cổng chiếm 1 - 3% diện tích vườn ươm

+ Nhà để phân, đóng bầu, kho chứa và văn phòng làm việc chiếm 10% vườn ươm

+ Nguồn nước tưới, hệ thống tưới

2.1.3.1 Bố trí các khu ươm hạt, ươm cây mạ, giâm hom cây

a Khu gieo ươm hạt

- Khi thiết kế vườn ươm, nên dành một diện tích nhất định để xây dựng luống ươm hạt,luống ươm hạt nên bố trí gần văn phòng để tiện theo dõi

- Luống gieo hạt và luống cây bố trí theo hướng đông tây, nhằm tạo điều kiện cho câycon có khả năng tiếp cận ánh sáng mặt trời được nhiều nhất

Trang 14

Hình 01: Luống ươm hạt trong vườn ươm

b Khu ươm cây mạ

- Khu gieo hạt ươm mạ: Chọn nơi đất tốt nhất, bằng phẳng, ít gió, quản lý và tưới nướcthuận lợi để gieo hạt Khi cây mạ đủ tiêu chuẩn được đánh đi cấy (ra ngôi) trên luống cấy hoặcvào bầu

c Khu giâm hom cây

- Khu trộn đất ruột bầu: Là nơi dự trữ và trộn đất ruột bầu nên cần có mái che mưa, nắngđồng thời cũng là nơi để đóng bầu sau đó xếp bầu vào luống

Trang 15

- Khu vực luống cây nền cứng: Làluống nền láng bê tông và được xây gờ baoquanh, có lỗ thoát nước đóng mở được, nềnluống phải được láng phẳng và hơi sốc vềphía lỗ thoát nước, tháo được kiệt nước Gờluống nên xây bằng gạch cao 10-12cm và trátvữa xi măng cẩn thận Tùy theo địa hình cụthể của nơi đặt vườn ươm mà xây luống dàingắn khác nhau Một luống bình thường cókích thước 10m dài x 1 mét rộng có thể xếpđược.500 bầu cây với đường kính bầu 4,5cm.Luống cây nên xây thành từng cụm 4-5

luống, các cụm cách nhau 1,5m và giữa

các luống các nhau khoảng 50cm là phù hợp trong quá trình sản xuất cây con

- Khu vực luống cây nền mềm: Được xây dựng theo kích thước như nền cứng, dài 10m,

rộng 1m Gờ bao quanh luống có thể làm bằng khung gỗ, đan bằng tre nứa thậm chí bằng đá,gạch để giữ cho bầu cấy cây không bị đổ hoặc nền luống làm thấp hơn mặt vườn khoảng 5-7cm

- Tiêu chuẩn kỹ thuật hệ thống luống và giàn che gieo ươm cây thực hiện theo quy định

ở biểu sau:

Hình 02 : Luống nền cứng trong vườn ươm.

Hình 03: Luống nền mềm trong vườn

Trang 16

2.1.3.2 Khu vực cấy cây, huấn luyện cây con

- Khu cấy cây và khu huấn luyện cây con: là khu chính có diện tích lớn nhất trong vườnươm nhằm nuôi dưỡng cây con trong thời gian dài trước khi đem trồng

+ Khu xếp bầu theo các luống

+ Khu sản xuất cây rễ trần và khu dự trữ

+ Khu giâm hom

Hình 04: Khu vực dành cho cấy cây, huấn luyện cây con

2.1.3.3 Hệ thống tưới tiêu

a Hệ thống tưới

- Hệ thống tưới phải đảm bảo nước được dẫn đến khắp nơi trong vườn ươm Cần phảixây dựng hệ thống cung cấp nước cố định và hệ thống cung cấp nước linh hoạt phục vụ tưới câytrong vườn ươm

- Hệ thống tưới nước trong vườn ươm chia làm các bộ phận sau:

+ Nguồn cung cấp nước: song, suối, giếng khoan, đào…

+ Bể chứa: thường được bố trí ở vị trí cao nhất trong vườn ươm để có thể sử dụng áp lực dẫn nước đến mọi nơi trong vườn ươm, loài cây định sản xuất…

- Hệ thống ống dẫn nước đến các luống sản xuất cây con, nhà giâm hom: hệ thống ống dẫn nướcnày cần được lắp đặt sao cho nước đến đầu luống sản xuất Hệ thống dẫn nước có 2 loại:

+ Hệ thống dẫn nước cố định làm bằng ống thép hoặc nhựa

Trang 17

2.1.3.4 Khu nhà kho, đường đi

a Khu nhà kho

- Nhà kho nên đặt về hướng không che khuất ánh sáng mặt trời tới luống gieo hoặc luốngcây con

- Nhà kho nên có cửa khóa để chứa phân bón, thuốc trừ sâu, túi bầu và những loại dụng

cụ khác như: bình phun, cuốc, xẻng, xô, chậu của vườn ươm

- Tùy thuộc vào điều kiện sản xuất chúng ta tiến hành xây dựng nhà kho tạm thời hay lâudài

Bảng : Tiêu chuẩn kỹ thuật nhà kho trong vườn ươm

Hạng mục Yêu cầu kỹ thuật Đối tượng áp dụng

Không lâu bền

- Nền nhà bằng gạch hoặc xi măng bằng phẳng

- Khung nhà bằng gỗ, cao 2 - 2,5m

- Tường, vách ngăn xây gạch

- Mái lợp bằng tấm hợp phi brô xi măng (nhàcấp 4)

Vườn ươm từ hạt, từhom, nhỏ, tạm thời

Lâu bền

- Nền nhà xây gạch, bằng phẳng

- Nhà kiên cố (mái bằng, bê tông) cao

2 - 2,5m Có máy điều hòa nhiệt độ, độ ẩm

Vườn ươm từ hạt, từhom trung bình, lớn,lâu dài

Tiêu chuẩn kỹ thuật hệ thống đường đi trong vườn ươm được thực hiện theo quy định ởbảng :

2.1.3.5 Hàng rào

- Xung quanh vườn phải bố trí hàng rào, đào rãnh sâu thoát nước Nhằm bảo vệ ngănchặn sự xâm nhập của động vật, côn trùng, nguồn bệnh từ bên ngoài vào vườn ươm phá hoạicây con

Trang 18

- Hàng rào bảo vệ: được xây dựng bảo vệ xung quanh vườn ươm Hàng rào phải chắcchắn để có thể ngăn chặn để có thể ngăn chặn được gia súc, gia cầm, thú rừng phá hoại, có thểdùng gỗ, tre gai, cây găng hoặc xây tường rào.

* Chú ý: Ở nơi có gió hại cần trồng các đai rừng phòng hộ cho vườn ươm Cây phòng hộ

nên chọn nhiều cây mọc nhanh như: bạch đàn, muồng, keo

- Cổng ra vào: đủ rộng để xe tải ra vào vận chuyển vật tư và cây con

Bài 3: Thu hái, chế biến, bảo quản hạt giống Quế

1.1 Thu hái hạt giống

1.1.1 Chọn cây lấy giống

Tại mỗi địa phương cần có rừng giống hoặc vườn giống chuyên doanh để phục vụ côngtác trồng rừng ở nơi đó Nhưng trong thực tế sản xuất hiện nay thường phải lấy hạt giống ởnhững khu rừng tự nhiên hay rừng trồng kinh tế sẵn có để phục vụ trồng rừng Muốn hạt giống

có chất lượng cao thì khi tiến hành lấy giống ở những khu rừng này cần phải biết cách chọn câylấy giống Nguyên tắc và các bước làm như sau:

- Nên lấy giống trong vùng phân bố của loài cây đó vì ở đó cây sinh trưởng tốt, có sảnlượng cao Nếu cây giống của địa phương không đủ phải đưa từ nơi khác đến, nên lấy ở vùngxung quanh gần nhất, gần giống nhau về biên độ sinh thái, khí hậu, đất đai

- Chọn những khu rừng có sức sinh sản cao, chưa bị dịch sâu bệnh hoặc lửa rừng pháhoại lần nào Tuổi của rừng lấy giống nên ở giai đoạn thành thục, không nên ở giai đoạn già cỗi

- Trong những khu rừng đó tiến hành lấy giống ở những cây tuổi còn trẻ, gần thành thục

và đầu thời kỳ thành thục có đường kính, chiều cao từ trung bình trở lên, thân cây thẳng, trònđều, tán lá cân đối, không bị sâu bệnh, tỉa cành tự nhiên tốt Không được lấy giống ở những câysinh trưởng kém, cong queo, sâu bệnh hoặc bị chèn ép, lệch tán, bị trích nhựa

1.1.2 Nhận biết độ chín của quả và hạt giống

Nhận biết hạt chín để thu hái đúng lúc Nếu thu hoạch hạt còn non, chất dự trữ chưa tíchluỹ được đầy đủ, lượng nước trong hạt còn nhiều, hạt sẽ khó bảo quản, chóng mất sức nảy mầm.Nếu thu hoạch quá muộn hạt có thể rơi rụng hoặc bị gió đưa đi xa, hoặc chim thú ăn hại Trênthực tế thu hoạch hạt giống bắt đầu từ việc thu hái quả, cho nên trước hết cần phải nhận biết quảchín

* Nhận biết quả chín

Thông thường người ta căn cứ vào hình thái, màu sắc vỏ quả để nhận biết độ chín của nó

- Loại quả khô: Khi chín vỏ quả thường chuyển màu như chuyển từ màu xanh sang màuvàng (quả phi lao) hoặc sang màu canh dán (quả thông) hoặc sang màu xám có mốc trắng (quả

xà cừ), vỏ quả nhăn hoặc có vết nứt thường các loại quả khô này khi quả chín nếu không thuhái kịp thời hạt sẽ rơi rụng và bị gió đưa đi như thông, phi lao, bạch đàn

Trang 19

- Loại quả thịt, quả mọng: Căn cứ vào màu sắc và độ cứng của vỏ quả Khi chín vỏ quảchuyển sang màu đỏ, màu đen hoặc màu vàng sẫm, phần vỏ thịt mềm Các loại quả này khi chínthường bị chim thú ăn hại.

* Nhận biết hạt chín

Đa số các loài cây hạt chín có liên hệ với quả chín Thông thường là khi quả chín thì hạtcũng chín Nhưng để xác định chắc chắn và loại trừ những ngoại lệ thì chúng ta có thể nhận biếthạt chín bằng cách:

- Căn cứ vào màu sắc, mùi vị và hình thái của vỏ hạt, nhân: Mỗi loại hạt khi chín vỏ hạt,nhân của nó có màu sắc, mùi vị, hình thái đặc trưng riêng

- Xác định tỷ trọng: thường khi chín tỷ trọng của hạt thay đổi, do vậy phải biết tỷ trọngtiêu chuẩn của mỗi loại hạt khi chín

- Thí nghiệm nảy mầm: Khi tỷ lệ nảy mầm cao nhất là lúc hạt chín đều Cách này chỉ cógiá trị trong công tác nghiên cứu

- Phải theo dõi sát tình hình thực tế của từng nơi và từng loài cây để kịp thời tổ chức thuhái hạt giống

Bảng 01: Thời vụ thu hoạch hạt giống một số loại cây.

Loài cây Mùa ra hoa (tháng) Mùa quả chín (tháng)

1.1.3 Các phương pháp thu hái quả và hạt

1.1.3.1 Xác định thời điểm thu hái

- Xác định thời điểm thu hoạch khi hạt chín vì nếu thu hoạch sớm ảnh hưởng đến năngsuất, chất lượng hạt giống, thu hoạch muộn tổn thất hạt lớn do hạt chín quả vỡ mất hạt hoặc hưhỏng hạt ngay trên cây Cần đảm bảo nguyên lý chung sau:

+ Chất lượng hạt giống, đặc biệt sức sống và khả năng nảy mầm của hạt

+ Năng suất hạt giống

+ Thuận tiện cho phơi sấy, chế biến (trời nắng, khô)

Trang 20

- Một số loài cây thu hoạch muộn dẫn đến tổn thất hạt như: Hạt thông, hạt Sa mộc thukhi quả mầu xanh chuyển dần sang màu vàng nếu không quả sẽ tách ra và rơi hết

Độ ẩm hạt khi thu hoạch cũng là một yêu cầu đối với hạt giống, nó phụ thuộc vào loàicây trồng, thời tiết và môi trường thu hoạch Những căn cứ chủ yếu là: Màu sắc vỏ quả, màu sắchạt, độ tàn của cây

* Nguyên tắc khi thu hái.

Để đảm bảo chất lượng hạt giống và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình chế biến, bảoquản, đồng thời bảo vệ cây giống phục vụ sản xuất lâu dài và sản lượng vụ sau, khi thu hái cầnphải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Chỉ thu hái những quả đã già, mẩy, không sâu bệnh

- Quả non, xanh và hoa quả của vụ sau cần được bảo vệ

- Không bẻ cành, chặt ngọn cây giống Chỉ hái từng quả (quả to), hoặc chùm quả trênnhững nhánh nhỏ

Việc áp dụng các phương pháp thu hái giống và sử dụng các công cụ thích hợp phụ thuộcvào một số yếu tố sau:

- Đặc điểm của quả: Kích thước, số lượng, vị trí, sự phân bố của quả, độ dẻo dai củacuống quả, thời gian từ khi quả chín đến lúc vỏ quả nứt ra (hạt phát tán)

- Đặc điểm cây giống: Đường kính, chiều cao, độ thon thân cây, độ dày vỏ, đường kính

và độ dày tán lá, số lượng cành, góc phân cành và sức chịu đựng của cành

- Đặc điểm của quần thụ: Mật độ, sự phân bố của cây rừng và lớp thảm tươi, thảm mụcrừng

- Điều kiện địa hình trong khu vực: Độ dốc, độ cao

1.1.3.2 Phương pháp thu hái trên cây

- Thường áp dụng đối với những loài cây khi chín hạt rơi rụng ngay hoặc dẽ bị gió đưa đi

xa như phi lao, bạch đàn, thông

- Một số loài cây sau khi chín quả còn treo trên cây tương đối lâu (xoan) cũng áp dụngphương pháp thu hái trên cây nhưng không cần thu hoạch gấp

- Cách tiến hành: Có thể trèo lên cây để hái quả, đứng dưới đất dùng dụng cụ để thu háihoặc có thể kết hợp khi khai thác chặt cây lấy quả Loại quả to thì thu hái từng quả, loại quả nhỏthu hái từng chùm quả Chú ý hạn chế bẻ cành nhất là cây lá kim, vì mầm hoa ở đầu cành hìnhthành ngay trong năm thu quả Trên cùng một cây quả có thể chín sớm muộn khác nhau nhưngkhông chênh lệch nhiều lắm, cần thu hái cây nào hết cây ấy, thu hái từ trên xuống dưới, từ tráisang phải hoặc ngược lại để tránh leo trèo nhiều lần, lẵng phí sức lao động năng suất thấp

Hạt thu hái về cần để nguyên từng lô theo nguồn gốc khác nhau và phải vào sổ đăng ký.Một lô hạt giống gồm những hạt giống cùng một loài, thu hái cùng một thời gian trên những cây

mẹ sinh trưởng trong cùng một điều kiện lập địa (hay trong các điều kiện lập địa tương tự), tuổicây mẹ chênh lệch không quá hai cấp tuổi và cùng một điều kiện bảo quản

1.1.3.3 Phương pháp thu nhặt trên mặt đất

Trang 21

Thường áp dụng với những cây có hạt to, nặng, khi chín rơi rụng xuống đất như: lim, trẩu, dẻ Cần thu hoạch nhiều lần kịp thời để đảm bảo chất lượng hạt và tránh chim, sóc ăn hại

- Cách tiến hành: Trước thời gian quả rụng một đến hai tuần phát xung quanh gốc, quét sạch cành khô lá rụng, có thể rải vải bạt hoặc nilon xung quanh gốc cây rồi rung cành, cây cho quả hạt chín rụng xuống để thu nhặt Khi nhặt hạt chú ý phân biệt quả, hạt chín của những vụ trước, hạt mọt, sâu bệnh Tuyệt đối không được chặt cành, làm cây mẹ bị chết ảnh hưởng đến mùa ra hoa quả năm sau

- Sau khi thu hái quả cần được đóng gói để vận chuyển về nơi chế biến bảo quản, kèm theo phiếu ghi chép nội dung sau:

- Loài cây Địa điểm lấy giống

- Ngày lấy Người thu hái

- Phẩm chất cây mẹ

- Hướng dốc Độ dốc

- Cách bảo quản quả

- Đơn vị lấy giống

- Số bao đựng Ký hiệu bao

- Người đóng bao gói

* Loại bao bì để đựng quả.

- Các loại bao bì đựng quả nên thông thoáng, không khí dễ lưu thông Không nên xếp quả quá dày và chồng thành đống quá cao tránh sự bí ngạt và nhiệt độ tăng cao do hoạt động của quá trình hô hấp yếm khí làm quả lên men, thối rữa và nấm bệnh xâm nhập

- Đối với quả nang, hạt nhỏ như hạt bạch đàn, cây họ đậu, nên sử dụng các loại bao vải

để giữ được hạt rơi rụng khi vỏ quả tách ra trong quá trình vận chuyển

- Trường hợp quãng đường vận chuyển ngắn, thời tiết thuận lợi thì có thể để quả trực tiếp lên sàn xe, nhưng phải tránh chồng đống quá dày và làm dập nát quả

- Đối với loại quả mà hạt nhanh mất sức nảy mầm như: Sao đen, dầu nước cần duy trì một độ ẩm nhất định tránh ánh sáng mặt trời trực xạ chiếu vào, giữ độ thông thoáng cần thiết, tránh nhiệt độ tăng cao Trong thời gian vận chuyển, nên đựng quả trong túi Polyethylene, không đựng quá đầy, miệng túi phải được mở ra và xung quanh đục lỗ cho không khí dễ lưu thông

* An toàn lao động khi thu hái quả và hạt giống

Trước khi thu hái quả và hạt giống phải điều tra tình hình của quả và hạt

Bồi dưỡng nghiệp vụ an toàn lao động và phương pháp sử lý quả hạt sau thu hái cho người trực tiếp thu hái

- Kiểm tra dụng cụ trước khi thu hái

- Không uống rượu bia trước khi trèo cây

- Thắt dây an toàn

Trang 22

- Không trèo những cành khô, nhỏ mục và khi mưa to.

- Trang bị đầy đủ đồ dùng bảo hộ lao động dụng cụ y tế, thuốc men để sơ cứu ban đầukhi xảy ra mất an toàn lao động

- Quả hạt thu hái về được nghiệm thu và để riêng từng lô

1.2 Chế biến quả lấy hạt

1.2.1 Mục đích

- Nhằm lấy hạt chắc, loại trừ tạp vật, hạt lép, giảm bớt trọng lượng trong bảo quản, kéodài sức sống của hạt

1.2.2 Các phương pháp chế biến

* Nguyên tắc chung của việc chế biến hạt giống là:

- Tách hạt ra khỏi quả một cách nguyên vẹn

- Quả được ủ thành từng đống (cao từ 30 – 40cm) trên nền nhà thông thoáng và có máiche, tránh nhiệt độ cao Hàng ngày đảo trộn đều và chọn dần qảu chín để chế biến Nhiệt độtrong phòng duy trì khoảng 25 - 350c, thấp hơn hoặc vượt quá giới hạn đó đều bất lợi cho quátrình chín của hạt

1.2.2.2 Tách hạt khỏi quả: Tuỳ theo từng loại quả mà áp dụng các phương pháp khác

nhau để tách hạt ra khỏi quả

* Đối với loại quả khô như thông, bạch đàn, cây họ đậu

+) Phơi nắng: Là phương pháp phổ biến nhất để tách hạt khỏi quả Trải quả thành lớp

mỏng trên sân (tốt nhất là trên vải, cót, nong, nia ) tuỳ theo kích thước từng loại hạt Dưới tácdụng nhiệt của mặt trời và gió, quả mất dần nước, vỏ quả khô nẻ cho hạt rơi ra Phương phápnày áp dụng cho hầu hết các loài cây có quả khô

Để đảm bảo chất lượng hạt giống và việc phơi tách hạt nhanh chóng, hiệu quả cao, cầnchú ý một số điểm sau:

- Hàng ngày đảo trộn nhiều lần cho các lớp quả khô đều và không khí dễ lưu thông

- Đối với loại hạt có dầu, tránh phơi khi nắng gắt và tránh trải quả trực tiếp trên sàn ximăng hấp thụ nhiệt quá cao

- Khi lượng nước trong quả còn cao thì nên hong quả dưới sàn che hoặc nắng nhẹ

Trang 23

- Hạt đã tách khỏi quả nên thu ngay để tránh ảnh hưởng của nhiệt độ cao Những hạt tách

ra trong một, hai nắng đầu hầu hết là hạt tốt, còn lại tách ra trong những nắng sau, phẩm chấtkém hơn thường có nhiều hạt lép

- Cần bố trí đủ nhân lực và dụng cụ để khi cần thiết có thể che đậy được hoặc đưa hạt vào khokịp thời, tránh mưa gió bất thường

+) Dùng lò sấy: dùng lò sấy có ưu điểm là có thể điều chỉnh được nhiệt độ, trên cơ sở đó

rút ngắn được thời gian, bảo đảm an toàn cho việc chế biến, không phụ thuộc vào thiên nhiên,song tốn kém và khó sử dụng

Nguyên tắc chung của lò sấy là dẫn luồng không khí đã được sấy khô đến một nhiệt độthích hợp, chi tiếp xúc với quả trong một thời gian cần thiết Khi quả khô, nẻ, hạt tách ra thì đưa

ra ngoài để tránh tiếp xúc quá lâu với luồng không khí nóng

- Tách lấy hạt bằng tay: Có một số quả, vì hạt không chịu đựng được nhiệt độ cao hoặcphơi nắng không tách thì sau khi hong hạt dưới bóng râm, dùng dao hoặc tay tách quả để lấyhạt Phương pháp này thường sử dụng với quả bồ đề hoặc có thể áp dụng để tách lấy hạt Xà cừ,Giáng hương

Bằng các biện pháp tác động trên, sau khi quả tách, một số hạt rơi ra, còn một số khácvẫn nằm lại trong vỏ quả Vì vậy phải vò, chà xát hoặc đập nhẹ vào vỏ quả cho hạt rơi ra hết

* Đối với quả thịt (quả mọng và quả hạch)

Cần nhanh chóng chế biến ngay sau khi quả chín để chống hiện tượng lên men, thối rữalàm hỏng hạt

- Dùng nước sạch ngâm cho lớp thịt quả mềm rữa ra, chà xát, rửa sạch, đãi lấy hạt Sau

đó hong hạt nơi râm mát, thoáng gió, đảo hạt thường xuyên rồi đem đi bảo quản hoặc gieo ươm.Tuỳ theo độ dai, cứng của lớp vỏ quả và thịt mà thời gian ngâm khác nhau

- Đối với loại quả kép (như hạt Mỡ), cần tách riêng quả đơn rồi mới ngâm, chà sát sạchlớp thịt khỏi hạt

Tuỳ theo đặc tính của từng loại hạt, cũng như của các loại tạp chất lẫn trong đó, kíchthước, hình dạng, trọng lượng riêng mà áp dụng một số phương pháp sau để làm sạch hạt

- Vò xát cho cánh hạt và các tạp vật vỡ ra, có thể cho hạt vào túi vải hoặc bao gai rồi chàxát hoặc đập nhẹ

- Dùng rổ, giần, sàng để lọc

- Sẩy hạt bằng tay, dùng quạt hoặc gió tự nhiên

Trang 24

- Ngâm hạt trong chất lỏng (thường là nước sạch), hạt tốt thường chìm xuống dưới, hạtlép và tạp vật nhẹ thường nổi lên trên Sau khi vớt hạt ra cần phải hong khô ngay Phương phápnày thường áp dụng cho các loại quả thịt

1.2.2.4 Hàm lượng nước của hạt

- Hàm lượng nước của hạt (độ ẩm của hạt ) là tỷ số phần trăm giữa trọng lượng nướcchứa trong hạt và trọng lượng của hạt (khi chưa sấy)

- Mỗi một loại hạt giống có một trị số hàm lượng nước thích hợp mà với trị số đó có thểduy trì được sức sống của hạt trong một thời gian dài nhất dưới dạng tiềm sinh (trong điều kiệnnhiệt độ bảo quản thích hợp)

- Đối với đa số các loại hạt, trị số đó trong khoảng 4-8% Đối với các loại hạt ưa ẩm cầnmột độ ẩm cao hơn, trị số đó từ 20-50%

- Sau khi làm sạch, hạt được kiểm nghiệm hàm lượng nước Nếu trị số đó cao hơn hoặcthấp hơn mức cần thiết thì phải điều chỉnh cho phù hợp Nếu cao thì phải làm khô, thông thườnghạt được phơi dưới nắng, với nhiệt độ khoảng 35-400c hoặc hong hạt nơi thoáng gió, hoặc dùngchất hút ẩm, sẽ làm cho hàm lượng nước giảm đi Ngược lại, nếu hạt quá khô, hàm lượng nướcthấp hơn mức cần thiết thì phải làm ẩm hạt bằng cách phun sương, đảo hạt rồi hong nơi thoángmát cho hạt hút ẩm đến giới hạn cần thiết

1.3 Kiểm tra phẩm chất hạt giống

- Hạt giống có phẩm chất tốt là hạt có phẩm chất di truyền và phẩm chất gieo ươm tốt.

- Phẩm chất di truyền là cơ bản, quyết định chiều hướng phát triển của cá thể thực vật saunày, nhưng lúc đầu phải thông qua phẩm chất gieo ươm thì mới thể hiện được

- Phẩm chất gieo ươm tốt mới cho sản lượng và chất lượng cây con cao Chỉ tiêu quantrọng bậc nhất của phẩm chất gieo ươm là năng lực nảy mầm của hạt Xác định được tỉ lệ nảymầm chính xác chúng ta có thể định được mật độ gieo hợp lý và tạo điều kiện để nâng cao sảnlượng và chất lượng cây con Từ kết quả phân tích độ ẩm trong hạt, độ thuần của hạt, giúp taxác định những biện pháp đúng đắn trong chuyên chở, cất trữ hoặc gieo ươm

Tóm lại, qua kiểm tra phẩm chất hạt giống giúp ta sử dụng hạt được hợp lý, chăm sóc ởvườn ươm được tốt hơn, cải tiến thu nhặt, cất trữ, xử lý và vận chuyển…vv Góp ý kiến thiếtthực cho đơn vị kinh doanh, sử dụng, tạo cơ sở vật chất tốt cho việc tăng sản lượng hạt giốngcây rừng

1.3.1 Mục đích: Nhằm đánh giá chất lượng lô hạt, để có phương pháp bảo quản và sử

Trang 25

- Mùi vị: Mỗi loại hạt có mùi vị đặc trưng, khi chất lượng hạt thay đổi thì mùi đặc trưngcũng thay đổi.

- Độ cứng, mềm: Đa số các loại hạt khi còn tốt thì có vỏ cứng nhưng khi mất phẩm chấtthì vỏ mềm nhũn

1.3.2.2 Phương pháp kiểm tra độ thuần của hạt (độ tinh sạch)

- Độ thuần của hạt là tỷ lệ phần trăm giữa trọng lượng hạt thuần khiết so với trọng lượngmẫu kiểm tra

* Các bước tiến hành như sau:

- Cân trọng lượng của mẫu kiểm nghiệm chính xác tới phần trăm gam

- Trải hạt lên kính, dùng panh phân chia mẫu kiểm nghiệm ra các phần sau:

+ Hạt tốt: Hạt phát dục bình thường, hoàn chỉnh, không bị tổn thương

+ Hạt bỏ đi: Hạt vỡ nát, hạt bị sâu bệnh, hạt quá nhỏ, hạt lép

+ Tạp vật: Sỏi, cát, mảnh vụn, hạt cây khác

- Các phần trên được cân riêng từng loại rồi tính độ thuần theo công thức trên

Độ thuần là chỉ tiêu được phân tích trước tiên, và các chỉ tiêu được kiểm nghiệm sau đóđều sử dụng những hạt thuần khiết

1.3.2.3 Kiểm tra tỷ lệ nảy mầm của hạt

Tỷ lệ nảy mầm là tỷ lệ phần trăm giữa số hạt nảy mầm so với số hạt kiểm nghiệm

- Lấy mẫu kiểm nghiệm: Lấy 400 hạt thuần chia ra làm 4 tổ, mỗi tổ 100 hạt Sau khi xử

lý, hạt của từng tổ được gieo riêng trên các loại giá thể có độ ẩm thích hợp như bông, cát, giấythấm đặt trong điều kiện thuận lợi nhất cho hạt nảy mầm

+ Ẩm độ của môi trường nảy mầm: 5-60%

+ Nhiệt độ trong phòng: 25-300C

+ Thông thoáng

+ Vô trùng

Hàng ngày kiểm tra, đếm số hạt đã nảy mầm ghi vào sổ

- Tiêu chuẩn hạt nảy mầm: Hạt được coi là nảy mầm khi rễ mầm dài bằng 2 lần chiều dài

hạt trở lên

- Kỳ hạn nảy mầm: Là số ngày kể từ khi gieo hạt đến khi kết thúc nảy mầm Ngày kết

thúc nảy mầm là ngày mà sau đó 5 ngày số hạt nảy mầm thêm không quá 5%

1.4 Bảo quản hạt giống

1.4.1 Mục đích

Bảo quản hạt giống nhằm duy trì sức sống của hạt, xử lý mầm mống sâu bệnh có tronghạt đảm bảo phẩm chất và số lượng hạt giống, chủ động cung cấp giống phục vụ kế hoạch trồngrừng

* Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sống của hạt giống trong quá trình bảo quản.

Trang 26

Bảo quản hạt giống là việc duy trì sức sống của hạt từ khi thu hoạch đến lúc gieo ươm.

Hạt giống là một loại cơ thể sống Giữa hạt và môi trường bên ngoài luôn luôn có hiệntượng trao đổi chất, thể hiện qua các hoạt động sinh lý Hoạt động sinh lý của hạt phụ thuộc vàobản chất cấu tạo của từng loại hạt và chịu ảnh hưởng của môi trường bảo quản Sự sống củaphôi trong hạt biểu hiện rõ nhất vào quá trình hô hấp, tiêu hao chất dự trữ bên trong Vì vậy, saumột thời gian bảo quản, trong lượng khô của hạt giảm dần, sức sống của hạt cũng giảm dần theothời gian

Các loại hạt khác nhau có thành phần các chất dự trữ khác nhau, nên thời gian duy trìđược khả năng sống cũng không giống nhau Muốn duy trì sức sống hạt giống được lâu dài thìđiều cơ bản phải khống chế được các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, saocho hạt tiêu hao chất dự trữ ít nhất trong thời gian dài nhất, nghĩa là tạo ra một môi trường buộchạt phải kéo dài thời gian ngủ cưỡng bức với cường độ hô hấp giảm tới mức tối thiểu

Ba nhân tố sinh tồn: Nhiệt độ, ẩm độ và điều kiện thoáng khí là những yếu tố có ảnhhưởng nhiều nhất đến sức sống của hạt giống trong quá trình bảo quản

1.4.1.1 Nhiệt độ

Hoạt động hô hấp của hạt được thể hiện bằng phản ứng hóa học với sản phẩm tạo thành

là khí Cacbonic (C02) và hơi nước Khi nhiệt độ tăng thì cường độ hô hấp của hạt cũng tăng lên.Nhiệt độ làm tăng cường sự hoạt động của các men, đẩy mạnh quá trình chuyển hóa các chất dựtrữ ở trong phôi Do đó, nhiệt độ càng cao, hạt hô hấp càng mạnh, cho đến một giới hạn nhấtđịnh thì tế bào bị phân giải và hạt chết Ngược lại, nếu nhiệt độ quá thấp thì các mô và tế bàotrong hạt bị đông cứng lại, hạt cũng không hô hấp được nữa Vì vậy, phải tìm ra giới hạn nhiệt

độ nhất định, có lợi nhất đối với sức sống của hạt, sao cho trong phạm vi đó hạt vẫn hô hấpđược với cường độ tối thiểu để duy trì sự sống lâu dài Đối với đa số các loại hạt giống ( thông,bạch đàn, xà cừ, lát hoa, các loài keo vv ), giới hạn nhiệt độ thích hợp để bảo quản lâu dài là 0

- 50c

1.4.1.2 Ẩm độ

- Ẩm độ của môi trường bảo quản có ảnh hưởng đến hàm lượng nước của hạt Hạt giống

có khả năng hấp thụ nước, khả năng này một mặt phụ thuộc vào bề mặt và sự cấu tạo bên trongcủa hạt, mặt khác phụ thuộc vào ẩm độ của môi trường xung quanh Như vậy, ẩm độ của môitrường bảo quản tăng hạy giảm thì sẽ có một áp lực hơi nước cao hay thấp khiến cho nước cóthể xâm nhập vào hạt hay từ hạt thoát ra ngoài, do đó làm cho hàm lượng nước của hạt tăng lênhay giảm đi Nước làm cho các tế bào, các loại men hoạt động mạnh, tăng cường các quá trìnhphân giải các hợp chất hữu cơ thành các chất đơn giản, vì vậy làm giảm sức sống của hạt

- Do đó, sau khi chế biến, điều chỉnh hàm lượng nước của hạt tới một giới hạn thích hợp,trong quá trình bảo quản cần giữ hạt không tiếp xúc với không khí xung quanh Đựng hạt trongchum, vại, bình gắn kín, tránh mở nắp khi chưa thật cần thiết

1.4.1.3 Điều kiện thoáng khí

- Điều kiện thoáng khí ảnh hưởng đến phương thức hô hấp của hạt giống Sản phẩm củaquá trình hô hấp là C02 và hơi nước (hảo khí), còn khi hạt hô hấp yếm khí sẽ tạo ra rượu và axít

Trang 27

- Nếu nhiệt độ, ẩm độ của môi trường bảo quản cao, đặt hạt trong tình trạng yếm khí sẽnhanh chóng làm giảm sức nảy mầm Ngược lại, khi nhiệt độ, ẩm độ của môi trường bảo quản

hạ thấp đến một giới hạn nhất định, đặt hạt trong tình trạng yếm khí sẽ có lợi cho sức sống củahạt

- Đối với các loại hạt bảo quản khô, sau khi điều chỉnh hàm lượng nước đến mức thíchhợp, hạt được đựng trong chum, vại gắn kín (bên trong chứa một tỷ lệ C02, Nitơ thích hợp, hạnchế đến mức tối thiểu tỷ lệ Oxy, phía trên phủ một lớp Silicagel, tro bếp hoặc vôi bột hút ẩm) đểtrong kho có nhiệt độ 0 - 50c

- Ngoài ra, để hạn chế tỷ lệ Oxy trong bảo quản kín, người ta thường đổ đầy hạt giốngvào chum, vại rồi gắn kín miệng lại

- Đối với loại hạt giống bảo quản ẩm, việc khống chế nhiệt độ và ẩm độ của môi trườngxung quanh khó thực hiện được một cách tốt nhất thì nên giữ hạt ở môi trường ẩm, mát thôngthoáng

* Một số phương pháp bảo quản

Có 2 phương pháp bảo quản chính, đó là bảo quản khô và bảo quản ẩm Tùy theo mụcđích, thời gian bảo quản, đặc tính từng loại hạt và điều kiện cụ thể từng nơi mà áp dụng phươngpháp bảo quản khác nhau

- Bảo quản khô, mát

- Bảo quản khô lạnh

- Bảo quản ẩm mát

- Bảo quản ẩm lạnh

Trong mỗi phương pháp, có loại để hạt hở, tiếp xúc với môi trường bảo quản, có loạiđược bịt kín, cách ly với không khí của môi trường bảo quản

1.4.2 Các phương pháp bảo quản

1.4.2.1 Bảo quản khô

- Hạt giống được phơi khô, tinh sạch, có hàm lượng nước từ 4 - 8%, cho vào túiPolyethylene, đựng trong chum, vại, bình, lọ, bên trên trải một lớp tro bếp, vôi bột để hút ẩm,gắn kín, đặt trong kho

Có 2 loại kho, tương ứng với 2 phương pháp bảo quản

+ Kho thông thường (bảo quản khô mát): Xây dựng ở nơi cao ráo, mát, thông thoáng.Các dụng cụ chứa hạt được xếp trên giá hoặc kê cao theo từng dãy Trong kho có nhiều quạt, cónhiều cửa sổ để thông gió khi cần thiết

Việc bảo quản trong kho thông thường, áp dụng cho các loại hạt có tuổi thọ cao, thờigian bảo quản ngắn, hạt được mang đi sử dụng trong thời gian vài tháng đến dưới 1 năm, tính từkhi thu hoạch

+ Kho lạnh (bảo quản khô lạnh): Nhiệt độ trong kho được duy trì đều đặn, hạ thấp đếnmột giới hạn cần thiết, thường từ 0 - 50c Các dụng cụ chứa hạt được xếp trên giá thành từngdãy Hạn chế mở cửa kho để tránh nhiệt độ thay đổi

Trang 28

+ Bảo quản trong kho lạnh (bảo quản ẩm lạnh): Hạt giống được đựng trong các thùng sắt,thùng gỗ, đặt trong kho lạnh Chú ý tạo điều kiện thông thoáng cần thiết cho hạt nhưng tránhlàm hàm lượng nước trong hạt giảm sút do hạt quá khô.

1.5 Nhận biết hạt giống cây rừng

1.5.1 Trong phòng thí nghiệm

- Theo dõi sự thay đổi trọng lượng khô của hạt: Hạt giống phát triển đến một thời điểmnhất định thì các quá trình biến đổi sinh hoá hoàn chỉnh, lúc đó, trọng lượng khô của hạt đạtmức tối đa Đó là giai đoạn chín sinh lý của hạt

Dựa vào quá trình này, người ta tiến hành theo dõi quá trình biến đổi trọng lượng khôcủa hạt theo định kỳ, từ đó có thể xác định được thời vụ thu hái

- Phân tích hoá học: Căn cứ vào sự biến đổi của các hợp chất hữu cơ chứa trong hạt đểxác định thời điểm chín

- Phân tích lượng nước chứa trong quả, hạt: Hàm lượng nước của quả, hạt giảm đến mộtgiới hạn nào đó thì quả chín Dựa vào đặc tính này, bằng kết quả phân tích có hệ thống, ta có thểlập được tương quan giữa hàm lượng nước của quả, hạt với thời gian chín của chúng

- Kiểm tra sự phát triển của phôi và nội nhũ của hạt bằng tia X quang

1.5.2 Phương pháp xác định tại rừng

- Kiểm tra trọng lượng riêng của quả: Khi chín trọng lượng riêng của quả giảm đi Người

ta sử dụng các loại dung dịch khác nhau cho từng loài cây riêng biệt, thả quả vào trong dungdịch, quả chín sẽ nổi lên trên bề mặt, còn quả xanh chìm xuống đáy Phương pháp này thường

áp dụng cho các loài cây có quả nón ngay tại rừng khi quả nón vừa được hái từ trên cây xuống

- Bổ hạt quan sát phôi và nội nhũ

- Dựa vào hình thái, màu sắc của quả: Quả chưa chín thường cứng, có màu xanh, nặngcân, khi quả chín thì đổi màu sẫm lại (vàng, nâu hoặc xám ), quả mềm hơn

1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ hạt giống

+) Các yếu tố nội tại

- Độ chín của quả và hạt: hạt chín hoàn toàn sẽ có tuổi thọ dài hơn hạt chưa chín hoàntoàn

- Chất dự trữ trong hạt: Tinh bột, Protein, Đường, Lipit, Xellulo có ảnh hưởng đến tuổithọ của hạt

Trang 29

- Những hạt có chứa nhiều nước, tinh dầu dễ bị phân huỷ nên có tuổi thọ ngắn hơn cácloại hạt khác.

- Hạt của nhóm quả hạch có tuổi thọ bền nhất

+) Các yếu tố ngoại cảnh:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ thấp giúp cho hạt giống kéo dài tuổi thọ và ngược lại

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí thấp, tuổi thọ lâu bền hơn.Ví dụ: lúa, ngô yêu cầu độ ẩm không khínhỏ hơn hoặc bằng 75%; độ ẩm hạt < 13% để duy trì tuổi thọ của hạt

- Sâu bệnh hại: kéo dài hoặc rút ngắn tuổi thọ của hạt

Bài 4: Nhân giống Quế bằng phương pháp gieo hạt

4.1 Nhân giống Quế bằng phương pháp gieo hạt

4.1.1 Chọn vườn ươm

- Gần nơi trồng, thuận tiện cho việc vận chuyển cây con

- Phải đào hào và có hàng rào bảo vệ

- Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, thoát nước tốt

- Đối với vườn ươm mới, cần phải dọn sạch cỏ, đánh gốc cây còn lại, càybừa kỹ và làm nhỏ đất trước khi lên luống

4.1.2 Tạo luống gieo hạt

a Yêu cầu kỹ thuật của 1 luống gieo hạt:

+ Luống thẳng, mặt luống phẳng, luống rộng 1m, cao 15  20 cm, đất trênmặt luống nhỏ (đường kính 2  5mm)

+ Gờ thẳng, phẳng, cao 3  5cm, rộng 3  5cm

+ Rãnh luống rộng 40  50cm

b Trình tự các bước lên luống

- Định hình luống: Căng dây, kéo cự để xác định hướng và khoảng cách luống

- Tạo hình luống:

+ Dùng cuốc bàn lấy hết 1/2 đất ở rãnh kéo lên mặt luống

+ Luống thẳng, mặt luống rộng 1m, cao 15  20cm,

+ Rãnh rộng 40  50cm

- San mặt luống :

+ Dùng bàn trang kéo đất ở rìa luống vào giữa luống

+ Yêu cầu: Mặt luống phẳng, đất trên mặt luống nhỏ 2  5mm

- Tạo gờ luống:

+ Dùng bàn trang gạt đất từ giữa luống ra rìa luống để tạo gờ

+ Yêu cầu: Gờ thẳng, cao 3  5cm, rộng 3  5 cm

- Đập má luống, mép gờ :

Ngày đăng: 03/11/2022, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm