LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THÔNG QUA HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN KB VIỆT NAM MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5 DANH MỤC BẢNG 6 DANH MỤC SƠ ĐỒ.
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THÔNG QUA HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN CHỨNG KHOÁN KB VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTST
10 UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
11 TTGDCK Thị trường giao dịch chứng khoán
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Trang 51CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THÔNG QUA HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN
TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái quát về Công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán (CTCK) là doanh nghiệp kinh doanh chứng khoánvới tư cách là thành viên của sở giao dịch chứng khoán, là tổ chức kinh tế có tưcách pháp nhân, được thành lập, hoạt động theo Luật Chứng khoán và các quyđịnh khác của pháp luật để thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh doanhchứng khoán theo giấy phép do UBCKNN cấp, bao gồm một, một số hoặc toàn
bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh pháthành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tư vấn tài chính, lưu ký chứngkhoán
1.1.2 Vai trò của Công ty chứng khoán
1.1.2.1 Đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường nhằm hướng đến huyđộng vốn thông qua kênh chứng khoán Để có thể phát hành thành công, doanhnghiệp sẽ được CTCK tư vấn, bao lãnh phát hành Các CTCK đóng vai trò trunggian huy động vốn cho các doanh nghiệp nhằm đảm bảo các giao dịch mua bándiễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn
1.1.2.2 Đối với Công ty chứng khoán
Trên thị trường sơ cấp, CTCK sẽ hỗ trợ tổ chức phát hành định giá cổ
phiếu trước khi phát hành lần đầu ra công chúng (Initial Public Offering - IPO).Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia địnhgiá của các CTCK, góp phần tạo lập giá trị của thị trường
Trên thị trường thứ cấp, CTCK đóng vai trò điều tiết thị trường thông qua
hoạt động tự doanh, là nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đượcphát hành ở thị trường sơ cấp, bao gồm cả việc tăng thêm thu nhập cho chínhcông ty bên cạnh tạo thanh khoản, điều chỉnh nền giá cổ phiếu
1.1.2.3 Đối với nhà đầu tư
Các CTCK tạo ra sân chơi mới cho các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư cóthêm một kênh đầu tư mới hiệu quả hơn với đa dạng và linh hoạt các lĩnh vực,giúp giảm thiểu thời gian và chi phí giao dịch thông qua các hoạt động môi giới,
tư vấn đầu tư
Trang 6Các CTCK đóng vai trò là cầu nối, cung cấp nguồn thông tin hữu ích baogồm báo cáo phân tích thị trường, phân tích ngành, phân tích doanh nghiệp… hỗtrợ nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan, chính xác hơn trong quá trình đầu tư.
1.1.2.4 Đối với cơ quan quản lý
Cơ quan trực tiếp vận hành TTCK là UBCKNN, thông qua việc quản lýcác SGDCK, TTLKCK, các công ty thành viên và các tổ chức phụ trợ
CTCK có thể được xem là một tổ chức quan trọng trên thị trường chứngkhoán, đóng vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thịtrường Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin vềcác giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổchức phát hành, dữ liệu về ngành và doanh nghiệp, thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chốngcác hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường do những cá nhân hoặc
tổ chức có thể gây ra
1.1.3 Đặc điểm của Công ty chứng khoán
• Công ty chứng khoán là tổ chức trung gian trên thị trường tài chính
Tổ chức tài chính trung gian là khái niệm để chỉ những tổ chức thực hiệnchức năng dẫn nguồn vốn từ người có tới người cần, hay nói cách khác là cầu nốigiữa các doanh nghiệp cần vốn và nhà đầu tư có sẵn vốn
Với đặc điểm này, các CTCK sẽ có nhiệm vụ thu xếp các giao dịch trêncho khách hàng, cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm các dịch vụ môigiới, tư vấn danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư, quản lý danh mục đầu tưthực hiện các giao dịch mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ của thịtrường tiền tệ
• Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện
Để tiến hành kinh doanh, CTCK phải là một thành viên của SGDCKvàkhi tiến hành kinh doanh công ty đó phải hội tụ đủ hết những điều kiện, quy định
và điều kiện tiên quyết là phải đăng ký kinh doanh chứng khoán tại SGDCK
Một số quy định để một công ty chứng khoán được cấp phép, bao gồm:
- Phương án kinh doanh của công ty phải phù hợp với từng mục tiêuphát triển ngành chứng khoán;
- Về cơ sở vật chất, công ty phải trang bị hết những trang thiết bị cầnthiết phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán;
- Mức vốn pháp lý tối thiểu theo quy định của từng ngành nghề kinhdoanh;
Trang 7- Ban lãnh đạo của công ty chứng khoán và những nhân viên kinhdoanh phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được Uỷ ban chứngkhoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề.
Các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính có tầm ảnh hưởng rất lớnđến sự sống còn của doanh nghiệp, vì thế việc ban hành những quy định chặt chẽ
là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế
1.1.4 Phân loại Công ty chứng khoán
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, CTCK chỉ được tổ chức dưới hình thứcCTCP và Công ty TNHH do đây là hai loại hình doanh nghiệp có tính phổ biếntrong nền kinh tế thị trường, có quy chế pháp lý về tổ chức, hoạt động chặt chẽ,
và có quy định khá giống nhau ở nhiều quốc gia Do quy định hình thức pháp lýcủa CTCK như vậy, đòi hỏi đặc thù của hoạt động kinh doanh chứng khoán làđảm bảo độ tin cậy cao, hạn chế rủi ro và đáp ứng yêu cầu của TTCK là thịtrường mang tính quốc tế cao
• Công ty Cổ phần chứng khoán:
CTCP Chứng khoán thỏa mãn các đặc điểm:
- Vốn điều lệ được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 người, tối đa không giới hạn sốlượng Cổ đông có thể là các cá nhân, tổ chức…;
- Các cổ đông có quyền được tự do, linh hoạt trong việc chuyểnnhượng cổ phần sang cho người khác;
- Các cổ đông tham gia chịu trách nhiệm về những khoản nợ, nghĩa vụtài sản trong phạm vi số vốn đã góp;
- Công ty có quyền phát hành thêm cổ phần để huy động vốn từ thịtrường
• Công ty Trách nhiệm hữu hạn:
Công ty TNHH Chứng khoán thỏa mãn các đặc điểm:
- Thành viên của công ty sẽ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ,nghĩa vụ tài sản Tất cả cần đảm bảo nằm trong phạm vi số vốn đãcam kết góp vào doanh nghiệp;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phép phát hành cổ phiếu
1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của Công ty Chứng khoán
• Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức:
- CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
Trang 8- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh củacông ty.
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằngvăn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước
- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tưvấn phải cung cấp thông tin đầy
đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng định
về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tưvấn
- CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tưvấn của mình
- Ở nhiều nước, các CTCK phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường CTCK mất khả năng thanh toán
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng
- Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng
• Nhóm nguyên tắc mang tính tài chính
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của UBCK Nhà nước Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng
- CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính
để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng
- CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoáncủa khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản
1.1.6 Các nghiệp vụ trong Công ty Chứng khoán
1.1.6.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua, bán chứng khoán chokhách hàng để hưởng hoa hồng Trong đó, CTCK đại diện cho khách hàng tiếnhành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC màchính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với những hậu quả kinh tế của việcgiao dịch đó
Trang 91.1.6.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán là việc CTCK mua hoặc bán chứng khoán chochính mính Với nghiệp vụ này, CTCK sẽ tham gia mua bán chứng khoán nhưmột tổ chức độc lập bằng chính nguồn vốn của công ty
1.1.6.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là quá trình CTCK giúp tổ chức phát hành thực hiệncác thủ tục trước và sau khi chào bán chứng khoán như định giá chứng khoán,chuẩn bị hồ sơ xem xét phát hành chứng khoán, phân phối chứng khoán và bình
ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Đây cũng là nghiệp
vụ chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng doanh thu của CTCK
1.1.6.4 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn chứng khoán là quá trình cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phântích, công bố báo cáo phân tích và đưa ra lời khuyên, khuyến nghị liên quan đếnchứng khoán cho các khách hàng của mình, nhằm đem lại lợi nhuận và hiệu quảđầu tư cho khách hàng
Trong quá trình hoạt động tư vấn, CTCK phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc
cơ bản sau:
Thứ nhất, CTCK không được đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán
vì giá trị chứng khoán không phải là một số cố định mà nó luôn thay đổi theo cácyếu tố kinh tế, tâm lý và diễn biến hàng ngày của thị trường
Thứ hai, CTCK luôn phải nhắc nhở khách hàng rằng tư vấn của mình chỉ
dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết, kỹ thuật và những diễn biến trongquá khứ, cho nên không mang tính chính xác hoàn toàn và khách hàng là người
ra quyết định cuối cùng trong việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư,nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời khuyênđưa ra
Thứ ba, CTCK không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một
loại chứng khoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sởkhách quan là quá trình phân tích, tổng hợp các vấn đề nghiên cứu và khách hànghoàn toàn làm chủ quyết định của mình
1.1.6.5 Nghiệp vụ tư vấn tài chính
Các nghiệp vụ tư vấn tài chính của CTCK bao gồm:
- Tư vấn tái cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại, mua bán doanh nghiệp;
- Tư vấn quản trị, tư vấn chiến lược doanh nghiệp;
Trang 10- Tư vấn chào bán, niêm yết chứng khoán, tư vấn cổ phần hóa, xác định giátrị doanh nghiệp;
- Tư vấn tài chính khác phù hợp quy định của pháp luật
- Thực hiện nghiệp vụ này sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp
và tạo ra hàng hóa có chất lượng cao trên thị trường
1.1.6.6 Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán
CTCK được cấp giấy chứng nhận hoạt động lưu ký, có thể cung cấp cácdịch vụ sau:
- Dịch vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán cho khách hàng
- Thực hiện thanh toán các giao dịch chứng khoán trên SGDCK cho kháchhàng
- Dịch vụ quản lý cổ đông, đại lý chuyển nhượng khi yêu cầu của tổ chứcphát hành không phải công ty đại chúng
1.2 Đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh của công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm về đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh
Theo Khoản 30, Điều 4, Luật Chứng khoán 2019: "Tự doanh chứng khoán
là việc công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán cho chính mình" Do đó, tựdoanh chứng khoán là một nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán,hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán Các công ty chứng khoán hiệnnay đều lấy hoạt động tự doanh là nòng cốt và quan trọng Tuy nhiên do hoạtđộng tự doanh và môi giới thường xuyên xảy ra xung đột lợi ích nên nhà nướcquy định các công ty phải thực hiện những chức năng đó ở những bộ phận riêngbiệt Tại một số nước trên thế giới, hoạt động tự doanh của các CTCK còn đượcthực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường Trong hoạt động này, CTCKđóng vai trò nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng nhất định của một sốloại chứng khoán và thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm hưởng phí giaodịch và hưởng chênh lệch giá
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện và kiểm soátthông qua các cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trườngOTC Tại SGDCK, hoạt động mua bán này được tiến hành giao dịch qua hệthống và thực hiện như hoạt động của nhà đầu tư thông thường Trên thị trườngOTC, hoạt động tự doanh có thể được thực hiện trực tuyến giữa công ty với cácđối tác, hoặc thông qua hoạt động tạo thị trường hoặc thông qua hệ thống giaodịch tự động
Trang 111.2.2 Đặc điểm của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh
Thứ nhất, đầu tư theo hình thức tự doanh của CTCK mang tính
chuyên nghiệp cao
Tính chuyên nghiệp được biểu hiện đầu tiên ở trình độ và khả năng củanhững người thực hiện hoạt động tự doanh Họ phải là những người có kiến thứcchuyên môn và kinh nghiệm sâu rộng, có khả năng phân tích nổi trội, có khảnăng đưa ra được các quyết định nhanh và chính xác trong hoạt động tự doanh vàphải thích nghi được dưới những áp lực lớn Bên cạnh đó, tính năng động và tựchủ của họ luôn được đề cao trong các quyết định đầu tư và kinh doanh chứngkhoán Hơn nữa quá trình đầu tư và kinh doanh chứng khoán này đều phải tuântheo những quy trình đầu tư chặt chẽ, nhằm bảo đảm tính hiệu quả và an toàntrong đầu tư Quy trình đầu tư đưa ra các bước cần thiết để thực hiện một phương
án đầu tư, đồng thời nó cũng quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các đốitượng tham gia hoạt động tự doanh của công ty
Ngoài ra, hoạt động tự doanh của CTCK luôn phải mang tính chiến lược
rõ ràng, có định hướng cụ thể, đồng thời dựa vào các phân tích thị trường và mụctiêu trong từng giai đoạn hoạt động mà CTCK có thể đưa ra các chiến lược đầu
tư và chính sách quản trị danh mục đầu tư một cách phù hợp và hiệu quả nhất
Thứ hai, quy mô đầu tư của CTCK lớn và danh mục đầu tư đa dạng
Hoạt động tự doanh của CTCK mang đặc điểm này do CTCK có tiềm lựctài chính mạnh và hoạt động có tính chuyên nghiệp cao Hoạt động tự doanh củaCTCK không chỉ tập trung vào một thị trường, một ngành nghề hay một công ty
mà CTCK đầu tư trên nhiều thị trường, từ thị trường tập trung đến thị trường phitập trung cả trong và ngoài nước, với nhiều ngành nghề khác nhau Dựa vàonhững lợi thế có được của một tổ chức tài chính trung gian, các CTCK có khảnăng tìm kiếm những cơ hội đầu tư với mức chi phí tối thiểu nhằm đa dạng hoádanh mục đầu tư, giúp giảm thiểu được rủi ro
Thứ ba, các CTCK có thể sử dụng thêm các công cụ phòng vệ
Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng hoạt động tự doanh của CTCK vẫn luônchứa đựng rất nhiều rủi ro, tương tự như những rủi ro các nhà đầu tư gặp phải.Thậm chí với quy mô khoản đầu tư lớn, nếu gặp phải rủi ro, hậu quả sẽ nghiêmtrọng hơn bình thường, bởi vậy trong hoạt động đầu tư và kinh doanh chứngkhoán của mình các CTCK đều sử dụng các công cụ phòng vệ như Hợp đồngtương lai (Future Contract) hay Hợp đồng quyền chọn (Option Contract) để
Trang 12phòng tránh rủi ro Việc sử dụng các công cụ phòng vệ này có hiệu quả haykhông sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, cả yếu tố khách quan và chủquan.Yếu tố khách quan thể hiện ở việc sử dụng rộng rãi của các công cụ phòng
vệ trong hoạt động đầu tư với sự phát triển của thị trường Yếu tố chủ quan phụthuộc vào yếu tố về nhân lực, chiến lược phát triển, chính sách quản lý danh mụcđầu tư của công ty
1.2.3 Mục đích của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh
• Thu lợi tức và chênh lệch giá cho chính mình
Về bản chất, mục đích hoạt động kinh doanh chứng khoán của các CTCK
là nhằm thu lợi tức và kinh doanh chênh lệch giá thông qua việc mua chứngkhoán ở một mức giá thấp và bán chúng ở một mức giá cao hơn hoặc mua chứngkhoán ở một nơi có mức giá thấp và bán chúng ở một nơi có mức giá cao hơn,phần lợi nhuận thu về là phần chênh lệch giá CTCK là tổ chức kinh doanh chứngkhoán chuyên nghiệp, có lợi thế về thông tin và khả năng phân tích, định giáchứng khoán ngoài mục đích tích lũy chứng khoán phục vụ khách hàng, cho nênkhi triển khai nghiệp vụ tự doanh, khả năng sinh lời của họ sẽ cao hơn các nhàđầu tư khác
Tuy nhiên, theo luật định về chức năng và quyền hạn của CTCK phải đápđược các điều kiện cơ bản để hành nghề, đó là điều kiện về vốn hoạt động, ngườiquản lý và nhân viên tác nghiệp, cơ sở vật chất phục vụ cho nghiệp vụ tự doanh
• Dự trữ nhằm đảm bảo khả năng cung ứng
Các CTCK sẽ có trách nhiệm trong việc đảm bảo tính thanh khoản của thịtrường, do đó họ phải tính toán để xác định khối lượng các chứng khoán cần mua
để dự trữ, nhằm đảm bảo khả năng cung ứng trong những trường hợp cần thiết.Ngoài ra còn đảm bảo khả năng sinh lời phù hợp với thị trường và các nhà đầutư
• Can thiệp bảo vệ giá
Khi giá chứng khoán có sự biến động, gây bất lợi cho các hoạt động cungcủa thị trường do tình hình hoạt động chung của thị trường, các CTCK sẽ thựchiện các giao dịch mua bán nhằm ổn định lại thị trường theo yêu cầu can thiệpcủa cơ quan quản lý và tự bảo vệ mình hay khách hàng của mình khi thực hiệncác đợt phát hành hay bảo lãnh phát hành
Trang 13Tuy nhiên, để làm được việc này, các CTCK phải liên kết với nhau để tựphát hành dưới hình thức “tổ chức bảo trợ thị giá” tức là lập một tập đoàn tàichính (consortium).
• Kinh doanh góp vốn
Bằng việc mua cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi hay kèm quyền chuyển đổi,các CTCK đầu tư vào các CTCP và trở thành cổ đông Vì vậy, các CTCK phảituân thủ các quy định pháp lý đối với các cổ đông lớn và hạn mức được phép đầu
tư hùn vốn vào một CTCP Tuy vậy, để mở rộng phạm vi kinh doanh cho cácCTCK, pháp luật có thể quy định về thời hạn tối thiểu đối với người sở hữu cổphiếu được quyền là cổ đông (từ 6 tháng trở lên)
1.2.4 Vai trò của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh
1.2.4.1 Đối với Công ty Chứng khoán
Hoạt động tự doanh mang lại nguồn lợi nhuận cho CTCK Đây là một
vai trò rất quan trọng của hoạt động tự doanh đối với CTCK, chiếm một tỷ trọnglớn trong tổng lợi nhuận của một CTCK Các công ty có khả năng chuyên môn,thông tin và đặc biệt là nguồn vốn lớn hầu hết đều triển khai hoạt động tự doanh.Mặc dù không được ổn định như nghiệp vụ môi giới chứng khoán và tiêu tốnnhiều nhân lực cũng như nguồn tài chính, đồng thời cũng chứa rất nhiều rủi ronhưng hoạt động tự doanh sẽ mang lại những khoản lợi nhuận khổng lồ
Hoạt động tự doanh hỗ trợ phát triển các nghiệp vụ khác Tự doanh là
hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ tư vấn,môi giới, hỗ trợ về thông tin, nhận định hay quan hệ khách hàng Triển khai hoạtđộng tự doanh cũng góp phần đa dạng hóa hoạt động, giảm thiểu rủi ro tổng thểcho các công ty chứng khoán
Hoạt động tự doanh giúp phát triển khách hàng Trong quá trình hoạt
động tự doanh, mối quan hệ giữa công ty và các khách hàng được củng cố, tạolập nên nhiều mối quan hệ tốt đẹp từ đó tạo điều kiện phát triển cơ sở khách hàngchung cho cả CTCK
Hoạt động tự doanh giúp các công ty chứng khoán nắm bắt tình hình
thị trường Để thực hiện được hoạt động tự doanh, các công ty phải theo sát sự
biến động của thị trường Từ các thông tin này cùng với sự nhìn nhận, đánh giáchủ quan mà các công ty chứng khoán có thể đưa ra được chiến lược kinh doanhphù hợp cho từng giai đoạn hoạt động
Trang 141.2.4.2 Đối với Thị trường Chứng khoán
Hoạt động tự doanh làm tăng quy mô đầu tư trên thị trường Tùy
thuộc vào quy mô và chiến lược đầu tư, mỗi CTCK sẽ có một hạn mức giao dịch
cổ phiếu, trái phiếu nhất định trên Do vậy, dù ít hay nhiều thì lượng vốn mà cáccông ty này đổ vào thị trường cũng là những con số không hề nhỏ so với các nhàđầu tư cá nhân riêng lẻ và điều này sẽ góp phần tăng quy mô giao dịch trên thịtrường
Hoạt động tự doanh góp phần nâng cao chất lượng đầu tư trên thị
trường Công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực
chứng khoán, đầu tư theo quy trình và phân tích bài bản Khi có càng nhiều công
ty thực hiện hoạt động tự doanh cổ phiếu thì phong cách đầu tư theo số đông sẽdần bị thay thế bởi một cách thức đầu tư mới có suy tính và phân tích Điều nàygiúp TTCK phát triển ổn định và bền vững
Hoạt động tự doanh giúp bình ổn giá cả thị trường Các CTCK hoạt
động nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạt động
tự doanh được tiến hành dựa theo luật định Luật các nước đều quy định các công
ty phải dành một tỷ lệ % nhất định trong các giao dịch của mình cho hoạt độngbình ổn thị trường Do đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán
bị giảm và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm giữ cho thị trường chứng khoánluôn ổn định
1.2.5 Các loại hình đầu tư theo hình thức tự doanh chứng khoán
1.2.5.1 Hoạt động đầu tư ngân quỹ
Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng và dự trữ, cácCTCK thường phải nắm giữ một lượng tiền lớn Tuy nhiên, tiền không phải là tàisản sinh lời nên các CTCK sẽ ưu tiên thực hiện nắm giữ các chứng khoán theodanh mục đầu tư Hoạt động này vừa đáp ứng được nhu cầu thanh toán, vừa cómức sinh lời nhất định Nhưng việc này cũng tiềm ẩn khả năng rủi ro do khảnăng thanh toán kém Để khắc phục điều này, nhà quản trị tài chính thường đầu
tư vào các chứng khoán ngắn hạn có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền nhưtín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng
1.2.5.2 Hoạt động đầu tư hưởng lợi
Khác với đầu tư ngân quỹ nhằm đáp ứng khả năng thanh toán, hoạt độngđầu tư hưởng lợi nhằm mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư có
Trang 15được từ lợi tức của tài sản đầu tư như cổ tức hàng năm, hay từ lợi tức của tráiphiếu.
Bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể thu được chênh lệch giá chứng khoán vàcác quyền lợi khác Đầu tư chênh lệch giá là việc nhà đầu tư mua chứng khoánvới giá thấp và bán với giá cao hơn, phần lợi nhuận thu về chính là phần chênhlệch giá Việc đầu tư này có mục đích là nhằm vào phần chênh lệch giá trên thịtrường để tạo ra lợi nhuận Tuy nhiên không chịu rủi ro trên cơ sở khai thác sựkhông nhất quán về giá chứng khoán ở các thời điểm khác nhau ở các thị trườngkhác nhau CTCK thực hiện hoạt động tự doanh theo loại hình này, chứng tỏchính sách đầu tư của công ty thiên về đầu tư ngắn hạn Công ty sẽ bán ngay khigiá cổ phiếu tăng hơn giá mua để thu lợi nhuận từ mức chênh lệch giá
1.2.5.3 Hoạt động đầu cơ
Đây là loại hình đầu tư mà CTCK kiếm lợi nhuận thông qua hành vi chấpnhận rủi ro về giá chứng khoán Đầu cơ là việc mua bán, nắm giữ, bán khống cácloại chứng khoán để thu được lợi nhuận từ sự biến động giá mạnh của nó Hoạtđộng đầu cơ khác kinh doanh chênh lệch giá chủ yếu ở yếu tố thời gian CTCK sẽmua tại thời điểm giá thấp để bán với giá cao hơn trong tương lai để đạt đượcnhững khoản lợi khủng và họ sẵn sàng chấp nhận thua lỗ cao nếu gặp rủi ro
Hoạt động đầu cơ được thực hiện trong ngắn hạn và chỉ phù hợp vớinhững công ty nhiều vốn, đặt lợi nhuận lên hàng đầu và có chính sách đầu tưmạo hiểm
1.2.5.4 Hoạt động đầu tư phòng vệ
Hoạt động đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận lớn nhưng cũng hàmchứa rủi ro cao Vì vậy, đầu tư phòng vệ được thực hiện để làm giảm hoặc loạitrừ rủi ro xảy ra với một loạt đầu tư khác, trong khi đó vẫn đảm bảo một mức lợinhuận khi thực hiện thương vụ Các công cụ phòng vệ xuất hiện ngày càng nhiềunhằm giúp nhà đầu tư phòng tránh rủi ro như Hợp đồng tương lai, Hợp đồng kỳhạn, Hợp đồng quyền chọn
1.2.5.5 Hoạt động tạo lập thị trường
CTCK sẽ chấp nhận rủi ro nắm giữ một loại chứng khoán nhất định nhằmmục đích tạo tính thanh khoản cho thị trường thông qua việc nắm giữ một khốilượng chứng khoán nhất định Theo đó, CTCK sẽ hỗ trợ và thúc đẩy giao dịchloại chứng khoán đó
Trang 161.2.5.6 Hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát
Đầu tư nắm quyền kiểm soát được công ty chứng khoán thực hiện nhằmthao túng, nắm quyền kiểm soát các tổ chức phát hành, thông qua quyền nhậnthông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội cổ đông Họ sẵn sàng chấpnhận một chi phí lớn nhưng hợp lý để nắm được quyền kiểm soát Và kỳ vọngtrong tương lai họ có thể thao túng những tổ chức đó và thu về nguồn lợi nhuậncao
Ngoài ra, với những doanh nghiệp mới phát hành hoặc làm ăn không hiệuquả, công ty chứng khoán có thể mua lại một phần hoặc toàn bộ với mục đích chiphối hoặc tham gia quản lý công ty, thực hiện tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp
đó nhằm đưa doanh nghiệp đó niêm yết trên thị trường chứng khoán, hoặc bán lạicho các đối tác với giá trị cao hơn
1.2.6 Quy trình đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại các công ty chứng khoán
Quy trình thực hiện đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh của CTCK là một quy trình trong đó phân bổ công việc, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng nhân viên thực hiện kinh doanh, đầu tư chứng khoán và nhiều đối tượng khác có liên quan, đồng thời cũng quy định chính sách giám sát, kiểm tra hoạt động đầu tư của công ty Chỉ khi công ty xây dựng được một quy trình chặt chẽ
và khoa học thì từng cán bộ tự doanh cũng như các cấp ra quyết định ở trên mới nhận thức rõ được trách nhiệm của mình, từ đó hiệu quả của hoạt động tự doanh mới có thể được nâng cao Thật vậy, nếu quy trình tự doanh không logic, không chặt chẽ, bị trùng lặp thì không chỉ dẫn đến sự lãng phí nhân lực, thời gian và tiền bạc mà còn làm cho hoạt động kém hiệu quả, thậm chí dẫn đến rủi ro Thôngthường quy trình hoạt động tự doanh có thể được chia thành một số bước sau:
Trang 17Bước 1: Xác định mục tiêu đầu tư
Bước 2: Phân tích, lựa chọn cơ hội đầu tư
Bước 3: Thực hiện phân bổ tài sản và xây dựng danh mục đầu tư
Bước 4: Quản lý và đánh giá danh mục đầu tư
Bước 5: Điều chỉnh danh mục đầu tư
Sơ đồ 1.1: Quy trình đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh của
Công ty chứng khoán
1.2.6.1 Xác định mục tiêu đầu tư
CTCK phải xác định rõ chiến lược trong hoạt động tự doanh của mình là chủ động, thụ động hay bán chủ động, đầu tư vào những ngành nghề hay lĩnh vựcnào Chiến lược của một công ty thường phụ thuộc vào:
- Thực trạng nền kinh tế
- Khả năng nắm bắt và xử lý thông tin
- Trình độ và khả năng phân tích
- Khả năng quản trị điều hành của ban lãnh đạo công ty
Ngoài ra, trong hoạt động đầu tư chứng khoán thì cũng cần phải xác định
rõ mục tiêu đầu tư chứng khoán là gì Vì vậy mới có sự cố gắng để đạt được mục tiêu đề ra Sau đây là một số mục tiêu đầu tư:
- Bảo toàn số vốn so với số lượng vốn ban đầu và sức mua của nó không thay đổi nếu thị trường có biến động;
- Có lợi tức dù trong hoàn cảnh nào của nền kinh tế;
- Thời gian đầu tư: Không có nguy cơ rủi ro, biểu hiện là chứng khoán sẽ không bao giờ bị đáo hạn khi người đầu tư vẫn còn muốn giữ nó;
Trang 18- Dễ bán ngay khi được giá hoặc khi người đầu tư không muốn giữ nó nữa;
- Công ty phát hành chứng khoán đang là một công ty lớn mạnh, đang tăng trưởng, có cơ sở vững chắc, không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh.Theo mục tiêu đã được xác định, các CTCK có thể chủ động tìm kiếm mặthàng, nguồn lực, khách hàng, cơ hội đầu tư ở cả thị trường phát hành và thị trường lưu thông, thị trường chứng khoán đã niêm yết và chưa niêm yết
Công việc này đòi hỏi mỗi cán bộ tự doanh phải mất công sức khá lớn để tìm kiếm và phát hiện cơ hội đầu tư tốt nhất
1.2.6.2 Phân tích, lựa chọn cơ hội đầu tư
Phòng tự doanh phải triển khai và kết hợp với phòng phân tích để thẩm định, phân tích các khoản đầu tư, đưa ra được kết luận cụ thể về các cơ hội đầu tưnhư số lượng, giá cả, thị trường…Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận
cụ thể về việc công ty có nên đầu tư hay không và đầu tư với số lượng, giá cá baonhiêu thì hợp lý
Cụ thể có các bước phân tích sau:
Phân tích cơ bản
Phân tích cơ bản là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích chứng khoán Cách tiếp cận này hướng nhà đầu tư quan tâm nhiều tới các thông
số cơ bản của công ty như tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, qua đó đưa
ra những nhận định về giá trị thực tế của cổ phiếu Sau đó, nhà đầu sẽ quyết định việc có nên mua cổ phiếu hay không bằng cách so sánh thị giá cổ phiếu với giá trị thực tế của cổ phiếu đó
Phân tích nền kinh tế vĩ mô: Bao gồm phân tích các khía cạnh sau:
- Phân tích tình hình kinh tế- chính trị- xã hội trong nước và quốc tế;
- Mức tăng trưởng kinh tế của các nước nắm quyền chi phối nền kinh tế thế giới;
- Mức tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực;
- Mức tăng trưởng của các nước có tỉ trọng giao dịch thương mại lớn đối với quốc gia và trực tiếp là đối với doanh nghiệp Như đối với Việt Nam thì thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi;
- Môi trường kinh tế chính trị của Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư của tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư nước ngoài;
- Chính sách tiền tệ và các chính sách tài khóa có tác động rất lớn tới quyết định đầu tư;
- Chính sách pháp luật như tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính khả thicủa hệ thống pháp luật, tính hiệu quả của hệ thống pháp luật Hiện tại ở Việt Nam, sự ra đời của Luật chứng khoán 2006, sửa đổi bổ sung năm
2019, là một điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư yên tâm đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán Nó cũng tạo điều kiện quan trọng cho các nhà đầu tư cá
Trang 19nhân, nhà đầu tư tổ chức, các quỹ đầu tư nước tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam;
- Phân tích yếu tố văn hóa xã hội và môi trường, tự nhiên
Phân tích ngành: Bao gồm các vấn đề sau:
- Thực trạng của ngành trong nền kinh tế;
- Trình độ công nghệ của một ngành: Công nghệ của công ty sản xuất đóng vai trò khá quan trọng vì nó là phương tiện trực tiếp tạo ra sản phẩm cung cấp ra thị trường giúp cho doanh nghiệp tồn tại;
- Chiến lược phát triển của ngành: Nó cho biết sự phát triển trong tương lai của ngành như thế nào Nhờ vậy, dự toán được tốc độ tăng trưởng của công ty trong ngành đấy Qua đó phân tích được triển vọng của ngành để
có thể dự đoán được tương lai;
- Quy mô thị trường và thị phần của những đối tượng lớn trên thị trường;
- Tính cạnh tranh trong ngành trên thị trường;
- Triển vọng phát triển của ngành Điều này thể hiện thông qua các chính sách vĩ mô của chính phủ trong việc phát triển ngành này như thế nào? Và
cơ hội của ngành này trong giai đoạn mở cửa và hội nhập
Phân tích doanh nghiệp:
- Lịch sử của các doanh nghiệp đang nghiên cứu;
- Nguồn nhân lực của doanh nghiệp;
- HĐQT, Ban giám đốc, Ban kiểm soát của doanh nghiệp;
- Lĩnh vực kinh danh của doanh nghiệp;
- Vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp;
- Sản phẩm, thương hiệu và hệ thống phân phối dịch vụ của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
- EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
- P/E: Mức giá mà bạn sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lợi nhuận thu được
từ cổ phiếu
So sánh chỉ số P/E giữa các công ty cùng ngành để đánh giá giá trị của cổ phiếu mà mình quan tâm
- ROE: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROE được dùng để đo lường xem công ty tận dụng vốn của nhà đầu tư tốt đến mức nào Hay nói cách khác, ROE phản ánh mức độ sinh lời của một công
ty, tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn mà nhà đầu tư đã đóng góp
- ROA: Lợi nhuận trên tài sản
Trang 20Nhìn chung, nên tìm các công ty có ROA cao hơn bình quân của ngành hay bình quân của toàn thị trường.
- Chỉ số Lợi nhuận/ Doanh thu
Mức lợi nhuận của công ty phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển thị trường, khả năng tiết kiệm chi phí và sức mạnh cạnh tranh của công ty Nhìn chung thì một công ty tốt thưởng làm ăn có lãi nhiều hơn các công ty cùng
ngành
- Cổ tức
Cổ tức là khoản tiền mà cổ đông được chia khi công ty làm ăn có lãi, cổ tức cao có nghĩa rằng cổ đông bỏ túi đều đặn nhiều tiền Tuy nhiên nhiều công ty trả cổ tức thấp và giữ lại phần lớn để tái đầu tư hiệu quả Bởi vậy ta cũng không nên quá chú ý tới chỉ số này
- Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF)
Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên mộtnguyên lý cơ bản là “tiền có giá trị theo thời gian, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong
DN này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác, do đó, giá trị của DN được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được
Trang 21trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của DN đó.
Do vậy, trong phương pháp DCF có ba thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đỏ và thời hạn tồn tại dự tính của DN Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở những nước mà TTCK phát triển, nơi thường có đầy đủ thông tin về lịch sử cũng như thông tin hiện tại và dự báo hợp lý về tình hình tài chính và rủi ro của doanh nghiệp Hiện nay, việc áp dụng công thức này ở Việt Nam cũng được nhiều người chấp nhận với giá CP tính theo phương pháp này phản ánh được tương đối đầy đủ mọi mặt bản chất hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty so với các phương pháp khác và đứng trên quan điểm của nhà đầu tư thì ngoài việc tính toán theo phương pháp này rất đơn giản, nó còn đáp ứng đúng suy nghĩ, nguyện vọng của họ khi đầu tư vào một DN
Công thức được điều chỉnh sẽ là:
P = P0 + E1/(1+r) +E2/(1+r)2 + E3/(1+r)3 + E4/(1+r)4 + E5/(1+r)5
- Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp hệ số P/E
Đây là phương pháp cũng được áp dụng phổ biến ở các TTCK đã phát triển Hệ số P/E là hệ số giữa giá CP (tỉ giá) và thu nhập hàng năm của một CP đem lại cho người nắm giữ Thông thường, để dự tính giá của một loại CP, người
ta thường dùng thu nhập trên mỗi CP của công ty nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tương tự về quy mô, ngành nghề và đã được giao dịch trên thị trường Việc áp dụng hệ số P/E để tính giá CP tại Việt Nam còn gặp phải nhiều khó khăn đó số liệu và TTCK chưa phát triển Tại các thị trường đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì công ty đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư trông đợi trong tương lai, mức thu nhập trên một CP của công ty sẽ tăng nhanh
Trường hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trường không đánh giá cao công ty đó hoặc chưa hiểu biết nhiều về công ty Khi tất cả các CP trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của nó thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây khủng hoảng thị trường như đã từng thấy ở các nước phát triển
1.2.6.3 Thực hiện phân bổ tài sản và xây dựng danh mục đầu tư của công
Trang 22Khi chia số tiền vào từng loại tài sản khác nhau, người quản lý danh mục
có thể tính toán cân đối giá trị của danh mục đầu tư và mức độ sinh lời của từng loại chứng khoán cấu thành Sau khi đã đánh giá, phân tích các cơ hội đầu tư cũng như quá trình phân bổ tài sản đầu tư, bộ phận tự doanh sẽ triển khai hoạt động tự doanh động giao dịch mua, bán chứng khoán Cơ chế giao dịch sẽ tuân theo các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chung trong ngành
1.2.6.4 Quản lý danh mục đầu tư của công ty chứng khoán
Danh mục đầu tư rủi ro là danh mục chứa đựng tất cả các loại chứng khoán rủi ro (kể cả cổ phiếu và trái phiếu) Tuy nhiên, để đơn giản hoá về mặt lý thuyết, khi đề cập đến danh mục rủi ro người ta thường nói đến danh mục cổ phiếu Không giống như quản lý danh mục trái phiếu đơn thuần, ở đây chỉ có hai chiến lược quản lý chủ động và thụ động mà không có chiến lược kết hợp giữa thụ động và chủ động
• Chiến lược quản lý thụ động
Chiến lược mua cổ phiếu dựa theo một chỉ số chuẩn nào đó và nắm giữ lâu dài khoản đầu tư Tuy nhiên, điều này không có nghĩa chỉ đơn thuần mua và nắm giữ cổ phiếu lâu dài mà đôi khi danh mục cũng cần được cơ cấu lại khi phải tái đầu tư các khoản cổ tức nhận về và do có một số cổ phiếu bị hợp nhất hoặc trượt khỏi danh sách trong chỉ số chuẩn Về mặt kỹ thuật, có ba phương pháp chính xây dựng danh mục cổ phiếu thụ động như sau:
- Lặp lại hoàn toàn một chỉ số nào đó: Theo phương pháp này, tất cả các loại cổ phiếu nằm trong chỉ số được mua vào theo một tỉ lệ bằng tỉ trọng vốn mà cổ phiếu đó chiếm giữ trong chỉ số này Phương pháp này giúp nhà quản lý chắc chắn thu được kết quả đầu tư gần giống với kết quả của chỉ số, nhưng có hai nhược điểm: Vì phải mua nhiều cổ phiếu nên phải chi nhiều phí giao dịch (trong trường hợp phí giao dịch tính theo món), dẫn đến lợi suất đầu tư có thể giảm vì chi phí quá nhiều
- Phương pháp chọn nhóm mẫu: Với phương pháp này, nhà quản lý chỉ cần chọn một nhóm các chứng khoán đại diện cho chỉ số chuẩn theo tỉ
lệ tương ứng với tỉ trọng vốn của từng cổ phiếu đó trong chỉ số chuẩn Phương pháp này có ưu điểm giảm chi phí giao dịch vì số lượng chứng khoán mua vào ít, nhưng không bảo đảm chắc chắn lợi suất đầu tư đạt được sẽ tương đương với lợi suất thu nhập của chỉ số chuẩn Phương pháp lập trình bậc hai, phương pháp này khá phức tạp, thưởng chỉ có các nhà đầu tư chuyên nghiệp áp dụng Trong phương pháp này, các thông tin quá khứ về tình hình biến động giá cổ phiếu và mối tương quan giữa các loại giá cổ phiếu khác nhau được đưa vào chương trình máy tính để chọn lọc và xác định thành phần của danh mục sao cho giảm thiểu chênh lệch lợi suất của danh mục so với chỉ số chuẩn Tuy
Trang 23nhiên, phương pháp này cũng nảy sinh vấn đề là khi các dữ liệu đầu vào(thông tin quá khứ về giá cả và mối tương quan giữa chúng) có sự thay đổi thường xuyên thì lợi suất danh mục sẽ có chênh lệch lớn so với chỉ số.
• Chiến lược quản lý chủ động
Mục tiêu của chiến lược này là nhằm thu được lợi suất đầu tư cao hơn lợi suất của danh mục thụ động chuẩn hoặc thu được mức lợi nhuận trên trung bình ứng với một mức rủi ro nhất định
Quy trình quản lý danh mục đầu tư chủ động như sau:
- Xác định mục tiêu của khách hàng đặt ra: Khách hàng đầu tư có thể đưa
ra các yêu cầu cụ thể cho khoản đầu tư của mình, như đặt ra mục tiêu chí đầu tư vào loại cổ phiếu công ty nhỏ; với hệ số P/E thấp và ứng với một mức rủi ro nào đó, chẳng hạn cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mức rủi
ro của danh mục thị trường
- Lập ra một danh mục chuẩn (hay còn gọi danh mục “thông thường”) để làm căn cứ so sánh cho danh mục chủ động trên đây Chẳng hạn, ứng với các yêu cầu trên đây thì danh mục chuẩn bao gồm tất cả các loại cổ phiếu của công ty nhỏ (như trên thị trường Mỹ thì đó là những công ty
có vốn tính theo giá thị trường dưới 500 triệu USD), với hệ số P/E thấp (dưới 80% hệ số P/E của các công ty thuộc chỉ số S&P), với tỉ trọng vốn đều nhau
- Xây dựng một chiến lược và kết cấu danh mục đầu tư tối ưu thoả mãn nhu cầu người đầu tư theo quy trình sau:
+ Thực hiện phân tích những ngành và công ty riêng lẻ thoả mãn mụctiêu đặt ra, (ví dụ những công ty nhỏ thuộc ngành viễn thông), để tìm ra những cơ hội đầu tư tốt nhất
+ Tính toán xác định số lượng cổ phiếu trong danh mục sao cho đạt mức đa dạng hoá cao nhất trong phạm vi giới hạn của khoản tiền đầu tư
+ Sau khi xác định số lượng và chủng loại cổ phiếu cần mua, bước tiếp theo là phân bổ khoản đầu tư Số tiền đầu tư được phân bổ theonguyên tắc: những ngành nghề có xu hướng phát triển tốt thì được phân bổ một tỉ trọng lớn hơn, trong đó cần tập trung vào những cổ phiếu có tiềm năng hoặc cổ phiếu tạm thời bị định giá thấp
+ Theo dõi, đánh giá các biến động của cổ phiếu trong danh mục và tái cấu trúc danh mục
1.2.6.5 Đánh giá và điều chỉnh danh mục đầu tư của công ty chứng khoán.
Đánh giá danh mục đầu tư được tiến hành hàng tuần, hàng tháng, hàng năm nhằm mục đích kiểm tra, theo dõi danh mục đầu tư có hiệu quả hay không,
Trang 24qua đó đưa ra các giải pháp như điều chỉnh danh mục đầu tư, thay đổi cách thức đầu tư,… sao cho danh mục đầu tư đạt hiệu quả cao nhất
1.3 Các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại công ty chứng khoán
Dựa vào kết quả đánh giá chất lượng các nghiệp vụ của một CTCK, ta cóthể đánh giá được hiệu quả hoạt động của CTCK đó Các chỉ tiêu định lượng làcác tiêu chí để đánh gia hiệu quả của hoạt động tự chứng khoán Việc tính toán
và lựa chọn các chỉ tiêu phân tích theo từng thời kỳ là vô cùng cần thiết
1.3.1.1 Các tiêu chí đánh giá kết quả đầu tư chứng khoán theo hình thức
tự doanh tại công ty chứng khoán
Hiện nay, hiệu quả của đầu tư chứng khoán thông qua hoạt động tự doanhđược đo lường và đánh giá qua nhiều các chỉ tiêu khác nhau, bởi vì chỉ tiêu này
có thể ảnh hưởng đến chỉ tiêu khác Dưới đây là một vài chỉ tiêu cơ bản để đánhgiá hiệu quả hoạt động tự doanh chứng khoán:
• Vốn đầu tư thực hiện
Theo luật doanh nghiệp, các cổ đông và thành viên sáng lập CTCK phảigiữ ít nhất 20% vốn điều lệ thực góp ban đầu của công ty, phần vốn góp nàykhông được chuyển nhượng trong vòng 3 năm kể từ ngày cấp phép thành lập vàhoạt động
Đây chính là khoản vốn ban đầu mà CTCK bỏ ra để kinh doanh chứngkhoán Khoản vốn này có thể được điều chỉnh, thay đổi tăng giảm tuỳ thuộc vàomục tiêu của công ty, cũng như tuỳ vào sự thay đổi của thị trường chứng khoán.Khoản vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốn vay của CTCK
Khoản vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốn vay của công ty chứng khoán.Ngưỡng an toàn khoảng 50% so với vốn chủ sở hữu trở lại Đây là mứcphân bổ vốn an toàn giúp doanh nghiệp pháp triển hài hòa, không quá rủi ro vớinhững biến động thị trường
• Doanh thu từ hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
Doanh thu từ hoạt động tự doanh chứng khoán được tính là sự chênh lệchgiữa giá mua và giá bán của danh mục đầu tư tại CTCK Doanh thu phản ánh tìnhhình kinh doanh của CTCK và là chỉ tiêu đáng chú ý nhất, nó phản ánh hiệu quảcủa hoạt động đầu tư, liệu xem hoạt động này có mang lại nguồn tiền cho CTCKhay không
Trang 25• Tỉ trọng đóng góp lợi nhuận của hoạt động tự doanh trong tổng doanh thucủa công ty chứng khoán.
Tỉ trọng đóng góp lợi nhuận của hoạt động tự doanh trong tổng doanh thuphản ánh mức độ đóng góp lợi nhuận của hoạt động tự doanh đối với doanh thucủa toàn công ty Qua đó, có thể so sánh mức độ quan trọng của hoạt động tựdoanh chứng khoán đối với các hoạt động kinh doanh khác tại CTCK
Lợi nhuận đánh giá tỉ lệ chuyển doanh thu thành thu nhập Trên quan điểmcủa nhà đầu tư, nên tìm những công ty có sự tăng về tỉ lệ lợi nhuận doanh thu.Con số này càng lớn thì công ty có sự tốt lên về mặt quản lý và trong các hoạtđộng khác
Lợi nhuận là một chỉ tiêu để khối tự doanh của các CTCK tìm ra và lựachọn các cổ phiếu để mua, tuy nhiên có một lưu ý, đó là chỉ so sánh chỉ tiêu nàygiữa các công ty có chung ngành nghề kinh doanh Tiêu chí để xác định cho chỉtiêu này là lợi nhuận trước thuế ít nhất đạt 18% doanh thu và lợi nhuận sau thuếluôn đạt 10% trở lên
Dẫu vậy, cũng nên xem xét cả những chỉ tiêu cơ bản khác như tăng trưởngthu nhập Mức tăng về lợi nhuận sẽ ít đi nếu doanh thu giảm, ngoại trừ có sự thayđổi về chiến lược của công ty
• Tốc độ tăng trưởng của danh mục đầu tư
Tốc độ tăng trưởng của danh mục đầu tư phản ánh tỉ suất lợi nhuận củadanh mục đầu tư hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm Nó cho phép xemxét một cách rõ ràng liệu danh mục đầu tư đang đầu tư có hiệu quả hay không.Bằng cách so sánh tỉ suất lợi nhuận của danh mục với lãi suất của ngân hàng, lãisuất của trái phiếu, với tỉ suất của danh mục khác, từ đó đưa ra quyết định chodanh mục của công ty Tốc độ tăng trưởng của danh mục đầu tư tính bằng tổnglợi nhuận danh mục đầu tư đem lại chia cho tổng danh mục
1.3.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư chứng khoán thông qua hoạt động tự doanh tại công ty chứng khoán
• Lợi nhuận/Vốn đầu tư.
Lợi nhuận/Vốn đầu tư là một chỉ tiêu quan trọng dùng để phản ánh hiệuquả hoạt động tự doanh của CTCK Nếu Lợi nhuận sau thuế/Vốn đầu tư năm saucao hơn năm trước, tức là hoạt động đầu tư có lãi thì hoạt động tự doanh củaCTCK được coi là hiệu quả Nói cách khác, Lợi nhuận/Vốn đầu tư càng cao càngtốt Nó phản ánh chỉ cần bỏ ra một đồng vốn đầu tư sẽ cho tỉ suất lợi nhuận caohơn mức trung bình
Trang 26Chỉ tiêu lợi nhuận/vốn đầu tư càng cao càng phản ánh tốt khả năng đầu tưcủa CTCK đối với danh mục đầu tư Bên cạnh đó, ta phải kể đến các chỉ tiêuđánh giá kết quả của hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua hoạt động tựdoanh của CTCK Các chỉ tiêu đánh giá kết quả danh mục đầu tư chứng khoánthông qua hoạt động tự doanh chứng khoán Các chỉ tiêu này mang tính thờiđiểm cao giúp CTCK có thể đánh giá được các thời điểm kết quả đầu tư củamình đem lại kết quả tốt hoặc xấu.
tư Căn cứ trên lý thuyết thị trường vốn Treynor cho rằng những nhà đầu tư hợp
lý, ngại rủi ro (nói chung) sẽ luôn ưa thích những danh mục nào có mức bù đắprủi ro cao trong mối tương quan với mức độ rủi ro mà họ phải gánh chịu Từ lậpluận này, Treynor triển khai thành công thức đánh giá động thái của portfoliothông qua hệ số T như sau:
T =
Trong đó:
Ri: Tỉ suất lợi nhuận của danh mục i trong khoảng thời gian đánh giá.Rf: Tỉ suất lợi nhuận phi rủi ro bình quân (lợi suất tín phiếu kho bạc) trongcùng khoảng thời gian
Bj: Hệ số rủi ro hệ thống của danh mục
T càng lớn càng tốt
• Chỉ tiêu Sharpe
Tương tự như Treynor, Sharpe cũng đưa ra một phương pháp định lượng
để đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư Phương pháp đánh giá này triển khai
từ mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) cũng do chính ông ta lập nên, về mặt lýluận, tập trung xoay quanh đường tuyến tính biểu diễn thị trường vốn (CML)
Phương pháp Sharpe đánh giá hiệu quả của danh mục thông qua một hệ
số, ký hiệu là S, được tính bằng công thức:
T =
Trong đó:
Ri: Tỉ suất lợi nhuận của danh mục i trong khoảng thời gian đánh giá.Rf: Tỉ suất lợi nhuận phi rủi ro bình quân trong cùng khoảng thời gian
Trang 27: Độ lệch chuẩn của tỉ suất lợi nhuận (thực tết) của danh mục đó trongcùng khoảng thời gian
• Chỉ tiêu Jensen
Phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư của Jensen cũng đượckhai triển dựa trên mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) Mô hình CAPM cho tacông thức:
E(Rj) = Rf + Bj.[E(Rm) – Rf]
Trong đó:
E(Ri): Tỉ suất lợi nhuận ước tính của danh mục i
Rf: Lãi suất phi rủi ro trong một giai đoạn
Bj: Mức độ rủi ro hệ thống của chứng khoán hay một danh mục i
E(Rm): Lợi nhuận ước tính của danh mục thị trường
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư theo hình thức tự doanh của công ty chứng khoán
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Chính sách phát triển của công ty
Trong mọi nhân tố chủ quan, chính sách phát triển của CTCK có ảnhhưởng to lớn và quyết định nhất, thay đổi trong từng giai đoạn hoạt động, từ đóảnh hưởng đến hoạt động tự doanh chứng khoán Chính sách phát triển của công
ty sẽ đưa ra các chỉ tiêu cần đạt được trong giai đoạn tiếp theo với những chiếnlược đầu tư khác nhau, bao gồm nới lỏng hoặc thắt chặt, đồng thời cũng đưa ranhững thay đổi về tổng lượng vốn cho hoạt động đầu tư toàn công ty Bên cạnh
đó, việc đặt ra những mục tiêu khác nhau sẽ quyết định đến hoạch định chiếnlược đầu tư khác nhau, cách thức tổ chức bộ máy kinh doanh khác nhau và chínhsách quản lý danh mục đầu tư, dẫn đến kết quả hoạt động tự doanh cũng khácnhau Chính bởi vậy, chính sách phát triển sẽ là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đếnhoạt động tự doanh của CTCK
Mọi hoạt động tự doanh được thực hiện đều phải tuân thủ các chiến lượcđầu tư và các chính sách phát triển chung của công ty bởi hoạt động tự doanh cóthể mang lại cho CTCK những khoản lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể gây ranhững tổn thất không nhỏ Chính sách phát triển của công ty sẽ đưa ra các mụctiêu cần đạt được trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời cũng đưa ra những thay đổi
về nguồn vốn, nguồn nhân lực cho hoạt động đầu tư của công ty Ở các nước pháttriển có TTCK phát triển thì nghiệp cụ tự doanh là một nghiệp vụ đã và đang
Trang 28đem lại cho các CTCK những khoản lợi nhuận kếch xù và luôn được các CTCKrất chú trọng trong việc xây dựng và phát triển.
1.4.1.2 Khả năng về nguồn nhân lực
Yếu tố nhân lực luôn đóng vai trò to lớn trong hoạt động của mọi tổ chức.Cũng như vậy, CTCK là một định chế hoạt động trên TTCK, do đó con ngườichính là tâm điểm của mọi hoạt động Đối với hoạt động tự doanh chứng khoán,yếu tố nhân lực được đề cập ở đây bao gồm khả năng, trình độ chuyên môn củacác cán bộ tự doanh và cơ cấu tổ chức, phân bố công việc tại phòng tự doanh,hay còn gọi là phòng đầu tư của CTCK
Năng lực của người cán bộ thực hiện tự doanh không chỉ thể hiện việcngười đó có kiến thức về tài chính, có khả năng phân tích và có kinh nghiệm thực
tế trên thị trường mà còn đòi hỏi đó là những con người có khả năng làm việctrong áp lực và có đạo đức nghề nghiệp, và quan trọng hơn là sự nhạy cảm với tínhiệu thị trường – một khả năng mà không phải ai cũng có được Nếu một ngườicán bộ tự doanh không có khả năng tìm kiếm các cơ hội đầu tư, không quyết địnhthời điểm đầu tư hợp lý thì anh to khó có thể đem lại lợi nhuận cho công ty màtrái lại còn gây ra thua lỗ
Tuy nhiên nếu có khả năng song họ lại không chịu được một công việc áp
ực thì sẽ rất là khó khăn để những người cán bộ tự doanh đó hoàn thành tốt đượccông việc Và quan trọng hơn là đạo đức trong nghề nghiệp, nếu một cán bộ tựdoanh giỏi về chuyên môn nhưng lại có động cơ vụ lợi riêng cho cá nhân chứkhông phải toàn tâm ý vì lợi ích của công ty thì xung đột về lợi ích giữa hay bên
sẽ không tránh khỏi, và kết cục sẽ không ai có thể lường trước được
Bên cạnh yếu tố về năng lực cán bộ thực hiện hoạt động kinh doanh vàđầu tư chứng khoán của công ty, cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng khá lớn đến hoạtđộng tự doanh cổ phiếu – một cơ cấu tổ chức tốt, tính chuyên môn hóa cao với sựphân công công việc đúng người, đúng việc sẽ tạo ra động lực thúc đẩy nhân viênthực hiện hiệu quả công việc
1.4.1.3 Quy mô vốn đầu tư của CTCK
Quy mô vốn đầu tư là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư củatất cả các tổ chức và cá nhân trên TTCK Với các CTCK, quy mô nguồn vốn đầu
tư lại càng là một trong những nhân tố quyết định của hoạt động tự doanh chứngkhoán Chúng ta cần hiểu rằng tuy quy mô vốn đầu tư không tỷ lệ thuận với tỷsuất lợi nhuận đầu tư nhưng rõ ràng khi lượng vốn đầu tư càng lớn thì công tycàng có nhiều cơ hội để lựa chọn và tiến hành các phương án đầu tư
Trang 29Ngoài ra, với nguồn vốn lớn cũng sẽ là một lợi thế vô cùng to lớn củacông ty so với các đối thủ khác Đầu tư chứng khoán càng nhiều vốn, càngtrường vốn thì khả năng lợi nhuận và sự tồn tại sẽ cao hơn Việc đa dạng háodanh mục và có lượng vốn dồi dào đảm bảo cho công ty chủ động được tronghoạt động tự doanh của mình trước những thay đổi bất ngờ của thị trường chứngkhoán.
1.4.1.4 Quy trình tự doanh chứng khoán
Quy trình tự doanh chứng khoán là một quy trình trong đó phân bổ côngviệc, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng nhân viên hiện kinh doanh, đầu
tư chứng khoán và nhiều đối tượng khác có liên quan, đồng thời cũng quy địnhchính sách giám sát, kiểm tra hoạt động đầu tư của công ty Chỉ khi công ty xâydựng được một quy trình chặt chẽ và khoa học thì từng các bộ phận tự doanhcũng như các cấp ra quyết định ở trên mới nhận thức rõ được trách nhiệm củamình, từ đó hiệu quả của hoạt động tự doanh mới có thể nâng cao Thật vậy, nếuquy trình tự doanh không logic, không chặt chẽ, bị trùng lặp thì rất dễ dẫn đến sựlãng phí nhân lực, thời gian và tiền bạc Ví dụ như trong quy trình tự doanhkhông quy định rõ những loại chứng khoán nào thuộc thẩm quyền giao dịch củacán bộ tự doanh nào, thì rất có thể các quyết định của họ sẽ là xung đột nhau, mộtngười thực hiện mua và người kia lại thực hiện bán cùng loại chứng khoán đó
Quy trình phân tích thuộc quy trình tự doanh cũng là một yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh chứng khoán của CTCK Đó là cácbước thực hiện được sắp xếp một các logic giúp cho các cán bộ tự doanh đưa raquyết định đầu tư mua hay bán lợi chứng khoán nào đó một cách thích hợp nhất.Mặc dù nhiệm vụ chính của các cán bộ tự doanh là theo dõi thị trường, thu thậpthông tin để phân tích, đưa ra và thực hiện các phương án kinh doanh để thu vềlợi nhuận cho công ty chứ không phải là tập trung hoàn toàn vào công tác phântích Song thực tế cho thấy, dù như vậy nhưng vai trò của một quy trình phân tíchbài bản là không thể bỏ qua Nếu không có quy trình phân tích cụ thể mà chỉ dựavào ý chủ quan của các nhân viên tự doanh thì hoạt động tự doanh sẽ không đạthiệu quả, nghiêm trọng hơn là đem lại những tổn thất cho công ty
1.4.1.5 Công nghệ
Trong thời đại hiện nay, công nghệ trở thành một yếu tố không thể thiếutrong tiến trình phát triển của nhân loại Để kinh doanh thành công, các CTCKluôn phải chạy đua để nắm bắt được thông tin một cách nhân nhất, vì vậy màviệc áp dụng công nghệ thông tin đối với CTCK lại càng trở nên quan trọng
Trang 30Các phần mềm quản trị thông minh, tiên tiến không chỉ được sử dụng phorbiến tại các quốc gia có TTCK phát triển, mà ngay tại TTCK Việt Nam, đã cómột số CTCK áp dụng phần mềm này Nó cho phép người sử dụng kiểm tra giaodịch, kiểm tra số dư tài khoản, tính toán lãi lỗ từng ngày hay từng tháng quamạng, qua điện thoại di động Nhờ vậy việc giám sát giao dịch của CTCK vớicán bộ tự doanh đã được đơn giản hóa hơn rất nhiều.
1.4.1.6 Sự phát triển của các hoạt động khác
Các hoạt động của một CTCK có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau MộtCTCK với nghiệp vụ môi giới chuyên nghiệp được sự tín nhiệm của khách hàng
sẽ dễ dàng cho các cán bộ tự doanh chứng khoán thu thập thông tin và phân tích,đánh giá thị trường Hay một thống kê ở thị trường chứng khoán Việt Nam chothấy, các công ty đạt tỷ suất lợi nhuận tự doanh chứng khoán cao trên thị trường
là những công ty có hoạt động tư vấn cổ phần hóa phát triển Điều này là hoàntoàn đúng đắn, bởi lẽ khi thực hiện tư vấn cổ phần hóa cho các doanh nghiệp thìchính CTCK là những người đầu tiên đánh giá được tiềm năng phát triển cũngnhư những thách thức mà doanh nghiệp đó sẽ phải đối mặt, từ đó công ty sẽ tiếnhành đầu tư vào các doanh nghiệp mà họ thấy có tiềm năng và triển vọng
1.4.2 Các nhân tố khách quan
1.4.2.1 Môi trường kinh tế trong nước và quốc tế
TTCK là bộ phận cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, là kênhhuy động vốn quan trọng của nền kinh tế Thông qua TTCK, vốn được tích tụ,tập trung và phân phối hiệu quả Rõ ràng, TTCK có những tác động rất lớn đếntoàn bộ nền kinh tế Đây không chỉ đơn thuần là tác động một chiều mà là tươngtác hai chiều, có nghĩa là TTCK mỗi nước cũng chịu ảnh hưởng rất lớn không chỉ
từ nền kinh tế nước mình mà còn từ kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới.Mỗi biến động về tỷ giá ngoại tệ, lãi suất hay giá cả của một số hàng hóa cơ bản
sẽ trực tiếp hay gián tiếp tác động lên TTCK, qua đó ảnh hưởng tới giá trị danhmục đầu tư và cả các quyết định đầu tư của CTCK
Cụ thể, các yếu tố kinh tế có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâmnhập mở rộng thị trường, cơ hội phát triển hoạt động tự doanh chứng khoán Xuhướng đóng mở nền kinh tế mà có ảnh hưởng các cơ hội phát triển của CTCK,các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế quốc gia về công nghệ, nguồnvốn Ngoài ra, lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến hoạtđộng tự doanh của CTCK có thể là kích thích hoặc kìm hãm đầu tư Sự thay đổi
về cơ cấu kinh tế cũng ảnh hưởng đến chiến lược tự doanh của CTCK Thêm vào
Trang 31đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tếliên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô tự doanh của mỗi CTCK.
1.4.2.2 Môi trường chính trị – xã hội
Môi trường xã hội và chính trị luôn có những tác động nhất định đến hoạtđộng của TTCK nước đó, thậm chí có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động củaTTCK nước khác hoạt tác động tới TTCK toàn cầu Những sự kiện lớn như chiếntranh, biến động chính trị hay hệ thống pháp luật trong, ngoài nước có thể tạo ranhững thay đổi về môi trường kinh doanh, làm răng thêm sự bất ổn về thu nhậpmong đợi và làm cho người đầu tư thay đổi mức quan tâm đến khoản tiền bù đắprủi ro Tình hình chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK, thay đổi chính trị làmcho nhiều quy định và sự kiểm soát của Chính phủ trong một số ngành được thắtchặt và một số quy định trong các ngành khác lại được nới lỏng Chúng đều cótác động tới kết quả sản xuất kinh doanh của từng ngành, từng công ty
1.4.2.3 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tự doanh củacác CTCK Tùy theo luật quy định ở mỗi nước khác nhau mà CTCK có nhữngchiến lược khác nhau trong hoạt động tự doanh để đáp ứng các quy định về mứcvốn pháp định để triển khai hoạt động tự doanh, quy định về tỷ lệ vốn khả dụng,quy định về tỷ lệ giao dịch dành cho tạo lập thị trường… Các quy định của phápluật còn quyết định loại nghiệp vụ mà CTCK được thực hiện và quyết định quy
mô của những nghiệp vụ đó
Hơn thế nữa, môi trường pháp lý còn ảnh hưởng đến sự thành bại tronghoạt động tự doanh của các CTCK Sự thiếu chặt chẽ, thiếu nhất quán trong luật
sẽ tạo ra những rủi ro khiến cho hiệu quả hoạt động tự doanh của CTCK bị ảnhhưởng nghiêm trọng Vì vậy mà hoạt động tự doanh của CTCK phụ thuộc mộtphần lớn và yếu tố pháp lý do các cơ quan quản lý và giám sát thị trường banhành
1.4.2.4 Môi trường phát triển của thị trường chứng khoán
Sự phát triển của TTCK là nhân tố khách quan quan trọng nhất ảnh hưởngtới sự hoạt động tự doanh của các CTCK Đối với một TTCK phát triển thì hànghóa để giao dịch trên thị trường sẽ phong phú và đa dạng, do đó có nhiều sự lựachọn dành cho các công ty chứng khoán khi triển khai hoạt động tự doanh, mangđến cơ hội để các công ty lựa chọn và đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình,tránh được tình trạng dư cầu, thiếu cung trên thị trường Ngược lại, tại một thịtrường với lượng hàng hóa ít ỏi sẽ dễ dàng dẫn đến tình trạng không đáp ứng đủ
Trang 32cầu sẽ gây sự khó khăn cho các nhà đầu tư chứng khoán Khi lượng tiền đổ vàodồi dào và liên tục, cán cân cung cầu chênh lệch sẽ gây ra những cơn sốt chứngkhoán, xảy ra hiện tượng tăng giá cổ phiếu đồng loạt, không có sự phân biệt giữa
cổ phiếu tốt và xấu Và như vậy các CTCK cũng không tránh khỏi các tổn thấtnhất định khi tham gia thị trường nếu như không có chính sách đầu tư hợp lý
Không những thế, đặc trưng nổi bật nhất ở các TTCK phát triển là có rấtnhiều công cụ tài chính mà công ty chứng khoán có thể sử dụng như các công cụphòng vệ, bao gồm các chứng khoán phái sinh như Hợp đồng tương lai (Futures),Quyền chọn mua hoặc bán (Options) Các công cụ phòng vệ có chức năng giúpCTCK phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra cũng như sử dụng vốn một các hiệuquả nhất
Trang 332CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THÔNG QUA HÌNH THỨC TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN KBSV GIAI
ĐOẠN 2017-2021 2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần chứng khoán KBSV
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần chứng khoán KB (KBSV)
Công ty Cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), một thành viên của
KB Securities và Tập đoàn Tài chính KB (Hàn Quốc), là một công ty chứngkhoán chuyên nghiệp tại Việt Nam, có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm đadạng trong lĩnh vực chứng khoán Tiền thân là Công ty CP Chứng khoánStandard (“SSJ”), SSJ được thành lập tháng 6 năm 2008 KBSV chính thức trởthành thành viên của KB Securities và Tập đoàn Tài chính KB (Hàn Quốc) từ09/10/2017 và chính thức đổi tên từ CTCP Chứng khoán Maritime sang CTCPChứng khoán KB Việt Nam từ 17/01/2018
Một số dấu mốc phát triển của công ty Cổ phần Chứng khoán KB ViệtNam:
- Tháng 6/2008, Công ty CP Chứng khoán Standard - tiền thân của Cổ
phần Chứng khoán KB Việt Nam - được thành lập tháng 6 năm 2008
có vốn điều lệ 35 tỷ đồng
- Năm 2010, tăng vốn lên 300 tỷ đồng Nhận giấy phép bổ sung nghiệp
vụ kinh doanh bao gồm Tự doanh, Tư vấn tài chính và Bảo lãnh pháthành
- Năm 2014, thành lập Trung tâm Dịch vụ Ngân hàng Đầu tư (IBD) tạiThành phố Hồ Chí Minh Chì tính riêng năm 2014, MSI đã huy độngthành công trên 12 ngàn tỷ đồng vốn trái phiếu cho các doanh nghiệpthông qua tư vấn, dựng sổ, bảo lãnh phát hành
- Năm 2014, số lượng khách hàng đạt 32.000 tài khoản và thị phần môigiới đạt 2,5%, đứng vị trí 15 tính theo giá trị trên cà 2 SGD chứngkhoán HSX và HNX Được HSX vinh danh là Công ty chứng khoán
có số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư tăngtrưởng tốt nhất 2014
- Năm 2015, đổi tên thành Công ty cổ phần Chứng khoán Maritime
“MSI” theo quyết định điều chỉnh số 35/GPDC-ƯBCK vào ngày 7
Trang 34tháng 8 năm 2015 Lọt top 10 thị phần môi giới chứng khoán tại HNX
- Ngày 21/02/2019: KBSV chính thức tăng vốn điều lệ lên1.675.020.900.000 đồng Lọt Top 10 Công ty Chứng khoán có vốnđiều lệ lớn nhất Việt Nam
- Quý 4/2019: KBSV chính thức lọt Top 10 thị phần môi giới trên sàngiao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE
- Ngày 30/12/2021: KBSV chính thức tăng vốn điều lệ lên3.001.686.130.000 đồng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban.
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý KBSV
• Đại hội đồng cổ đông
Trang 35Đại hội đồng cổ đông (“ĐHĐCĐ”) là cơ quan có thẩm quyền quyết địnhcao nhất của Công ty theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ Công ty ĐHĐCĐthường niên được tổ chức mỗi năm một lần theo quy định của Luật doanhnghiệp.
• Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị (“HĐQT”) là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyềnnhân danh Công ty để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợicủa Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông HĐQTcủa Công ty hiện tại có sáu (06) thành viên
- Ban kiểm toán nội bộ
Bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị KBSV, thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình trên nguyên tắc độc lập, trung thực, khách quan
và bảo mật và có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Đánh giá một cách độc lập về sự phù hợp và tuân thủ các chínhsách pháp luật, Điều lệ công ty, các quyết định của Đại hội đồng cổđông, Hội đồng quản trị;
- Kiểm tra, xem xét và đánh giá sự đầy đủ, hiệu quả và hiệu lực của
hệ thống kiểm soát nội bộ trực thuộc Ban Tổng Giám đốc nhằmhoàn thiện hệ thống này;
- Tham mưu thiết lập các chính sách và quy trình nội bộ; Thực hiệnkiểm toán nội bộ Công ty
- Đánh giá việc tuân thủ các quy định pháp luật, kiểm soát các biệnpháp đảm bảo an toàn tài sản;
- Đánh giá, kiểm soát hoạt động của các phòng ban khác trong Công
ty Điều tra các vi phạm trong nội bộ Công ty
- Ban tổng giám đốc
Tổng giám đốc là người điều hành cao nhất mọi hoạt động của Công ty;
có toàn quyền quyết định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty theo quy địnhtrừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị
Phó tổng giám đốc là người giúp việc của Tổng giám đốc trong việc quản
lí điều hành một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công, ủy quyềncủa Tổng giám đốc
- Hội đồng thực thi chính sách quản trị rủi ro
Tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, Ban tổng giám đốc trong việcphát hiện, quản lý, kiểm soát, ngăn ngừa các loại rủi ro phát sinh trong hoặt độngkinh doanh của Công ty nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật
Trang 36Đề xuất chính sách quản trị rủi ro cho Tổng giám đốc Đảm bảo việcphòng ngừa, hạn chế hậu quả rủi ro, tham gia khắc phục rủi ro khi xảy ra rủi ro.
- Khối công nghệ thông tin
Tổ chức vận hành, quản lý, kiểm soát mọi hoạt động của hệ thống Côngnghệ thông tin toàn KBSV; Chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động về côngnghệ theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước, Trung tâm lưu ký, Sở giaodịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội
- Khối dịch vụ ngân hàng đầu tư
Tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn đấu giá doanh nghiệpchưa niêm yết, tư vấn đăng ký công ty đại chúng, đăng ký giao dịch, niêm yết, tưvấn phát hành, cổ phần hóa
- Khối S&T
Phân tích được tình hình kinh tế vĩ mô, lãi suất, tỷ giá cập nhật và cácyếu tố tác động đến lợi suất của Trái phiếu để lập chiến lược kinh doanh các loạigiấy tờ có giá
Nghiên cứu thị trường tìm kiếm và kết nối với các khách hàng tiềm năng
có nhu cầu giao dịch GTCG trên thị trường liên ngân hàng và các công ty chứngkhoán, quỹ, khách hàng tổ chức
- Khối phân tích
Xây dựng, kiểm soát, cải tiến quy trình, biểu mẫu cần thiết cho các nghiệp
vụ phân tích tài chính,định giá doanh nghiệp, dự báo tài chính, rà soát đặc biệt…
Quản lý và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu
- Khối hỗ trợ kinh doanh
Xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển sản phẩm
Thực hiện các chiến lược marketing giúp khách hàng tiếp cận và hiểu hơn
Trang 37Thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị các cơ chế, chính sách,quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảmphòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh chính của công ty cổ phần chứng khoán KB.
2.1.3.1 Môi giới chứng khoán
Là hoạt động mà công ty đứng ra làm trung gian giao dịch (mua, bán)chứng khoán cho nhà đầu tư Với mong muốn cung cấp các dịch vụ tài chínhmang lại sự hài lòng cho khách hàng và xã hội, KBSV không ngừng nghiên cứu,phát triển ứng dụng công nghệ từ hệ thống phần mềm lõi để cung cấp tới nhà đầu
tư hàng loạt các dịch vụ và giá trị gia tăng trực tuyến, giúp nhà đầu tư giao dịchmột cách thuận tiện và hiệu quả Ngoài khả năng hỗ trợ, bám sát và phân tích thịtrường để khách hàng có thể quản lý danh mục đầu tư hiệu quả, bộ sản phẩmgiao dịch trực tuyến của KBSV còn giúp khách hàng đầu tư linh hoạt thông quahàng loạt các công cụ được “trực tuyến hóa”
2.1.3.2 Nghiên cứu phân tích và tư vấn đầu tư
Am hiểu khách hàng, tối đa hóa giá trị đầu tư là phương châm cung cấpdịch vụ tư vấn đầu tư của KBSV Công ty thường xuyên tiến hành đánh giá chấtlượng dịch vụ thông qua chất lượng của đội ngũ nhân viên nhằm tối đa hóa lợiích của khách hàng
Để cung cấp cho nhà đầu tư đầy đủ thông tin và bức tranh toàn cảnh thịtrường, ngành và bản thân doanh nghiệp nhằm dễ dàng ra quyết định đầu tư hiệuquả Chuyên viên tư vấn đầu tư của KBSV bên cạnh việc liên tục cập nhật tìnhhình thị trường, còn thường xuyên tổ chức các chuyến khảo sát doanh nghiệp đểthực hiện nghiên cứu và phân tích chuyên sâu về các mã chứng khoán niêm yết
và chưa niêm yết mà nhà đầu tư quan tâm Nhờ đó, KBSV đã tạo dựng được mốiquan hệ chặt chẽ với khách hàng nhằm đưa ra những gói dịch vụ tư vấn đầu tư đadạng và ý kiến tư vấn phù hợp trên cơ sở thấu hiểu được khả năng tài chính, mức
độ chấp nhận rủi ro và mục tiêu của từng đối tượng nhà đầu tư cụ thể
2.1.3.3 Tư vấn tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp của KBSV bao gồm
- Dịch vụ ngân hàng đầu tư: Tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn đấugiá doanh nghiệp chưa niêm yết, tư vấn đăng ký công ty đại chúng, đăng ký giaodịch, niêm yết, tư vấn phát hành, cổ phần hóa
Trang 38- Tư vấn quản tri doanh nghiệp, tư vấn hoàn thiện doanh nghiệp.
2.1.3.4 Tự doanh chứng khoán
Để tối đa hóa khả năng phân tích và đầu tư với khách hàng cũng như giatăng lợi nhuận kinh doanh, KBSV trực tiếp đóng vai trò như một nhà đầu tư muabán chứng khoán cho chính mình thông qua cơ chế giao dịch khớp lệnh, thoảthuận trên các sàn chứng khoán hoặc thị trường phi tập trung
2.1.3.5 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Dịch vụ Bảo lãnh phát hành chứng khoán của KBSV giúp khách hàngphân phối chứng khoán phát hành được thành công và nhanh chóng Với nănglực tài chính vững vàng, đội ngũ chuyên viên tư vấn giàu kinh nghiệm, quy trình
tư vấn chặt chẽ, khoa học, được hoàn thiện liên tục và mối quan hệ sâu rộng vớinhiều nhà đầu tư cá nhân và tổ chức có uy tín trong và ngoài nước, KBSV là mộttrong số ít các công ty chứng khoán đủ khả năng thực hiện nghiệp vụ Bảo lãnhphát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công chúng hoặc cho nhà đầu
tư chiến lược, cho các doanh nghiệp có mô hình kinh doanh tốt và tiềm năng tăngtrưởng trong tương lai
2.1.3.6 Lưu ký và quản lý cổ đông
Với hệ thống phần mềm quản lý chứng khoán chuyên nghiệp, KBSV cóthể đáp ứng mọi yêu cầu về lưu ký và quản lý chứng khoán cho các nhà đầu tư cánhân, tổ chức và tổ chức phát hành KBSV nhận lưu ký và bảo quản chứng khoán
do nhà đầu tư gửi, giúp nhà đầu tư thực hiện các quyền liên quan đến chứngkhoán sở hữu Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản củanhà đầu tư Khi khách hàng thực hiện mua bán chứng khoán, tài khoản của nhàđầu tư sẽ được hệ thống tự động ghi tăng hoặc giảm chứng khoán giúp nhà đầu tưtiện theo dõi sự luân chuyển chứng khoán của mình
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần chứng khoán KB trong giai đoạn 2017-2021.
2.1.4.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
Năm 2021, KBSV tiếp tục tập trung vào tăng trưởng bền vững, phát triểnchất lượng tư vấn đầu tư cho khách hàng trong nước, phát triển các sản phẩmmới và mở rộng đầu tư nước ngoài, đặc biệt hướng tới khối khách hàng cá nhân
và tổ chức/quỹ đầu tư đến từ Hàn Quốc Kết quả ghi nhận:
- Thành viên tiêu biểu trong hoạt động thanh toán giao dịch chứng khoán cơ
sở do Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam công bố
Trang 39- Giải thưởng "Thành viên tiêu biểu HNX 2020” do Sở giao dịch chứngkhoán Hà Nội trao tăng
- Cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính với lãi suất ưu đãi hấp dẫn nhấtthị trường như KB – Amazing, KB 8.8, Cuộc thi KB-Challenge, Chươngtrình miễn lãi suất phải sinh KB Joy ;
- Số lượng tài khoản không ngừng gia tăng, đến cuối năm 2021 tài khoảnquản lý tại KBSV đạt gần 70.687 tài khoản
- Đặc biệt, quý 4/2019: KBSV chính thức lọt Top 10 thị phần môi giới trênsàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE)
Biều đồ 2.1 Số lượng tài khoản quản lý giai đoan 2017-2021
Nguồn: Báo cáo thường niên KBSV
Với nền tảng công nghệ tốt, KBSV kết nối giữa các doanh nghiệp và nhàđầu tư bằng các ứng dụng điện thoại với giao diện thân thiện như KB-Mobile,KB-able cho phép nhà đầu tư thực hiện giao dịch với tốc độ nhanh và thuậntiện Đáng chú ý, giai đoạn 2018-2020, tỷ trọng doanh thu môi giới luôn đạt trên50,00% Trong giai đoạn ảnh hưởng bởi đại dịch Covid (2020-2021), đây làkhoảng thời gian mà hoạt động đầu tư cá nhân tăng mạnh do các hoạt động kinhdoanh sản xuất truyền thống bị ảnh hưởng bởi các chính sách hạn chế tiếp xúccủa Chính phủ Tuy doanh hoạt động môi giới năm 2021 chỉ chiếm tỉ trọng41.83% nhưng so với 2020 thì doanh thu đã tăng trưởng 44,2%
Bảng 2.4 Doanh thu hoạt động môi giới của KBSV giai đoạn
Trang 40Nguồn: Báo cáo thường niên KBSV
2.1.4.2 Hoạt động tư vấn tài chính và bảo lãnh phát hành
Hoạt động hợp tác, tư vấn tài chính doanh nghiệp cũng đóng vai trò quantrọng trong việc nâng cao vị thế và mang lại doanh thu cho KBSV Trong giaiđoạn 5 năm kể từ 2017, KBSV là đối tác quan trọng với nhiều tập đoàn, tổ chứcvới hoạt động tư vấn quan hệ nhà đầu tư (IR) bao gồm xây dựng chiến lượctruyền thông cổ phiếu, soạn thảo kế hoạch IR định kỳ, cung cấp các báo cáo, tàiliệu truyền thông,
Bên cạnh đó, KBSV cũng là đối tác tin cậy của các doanh nghiệp trongviệc hỗ trợ tư vấn quản trị Giai đoạn 2017 – 2021, KBSV đã hỗ trợ nhiều doanhnghiệp trong hoạt động lưu ký và quản lý cổ đông tạo điều kiện cho việc tư vấn,đăng ký giao dịch trên các sàn chứng khoán Năm 2021, KBSV là đơn vị bảolãnh phát hành cho nhiều doanh nghiệp có thể kể đến như CTCP Tập đoàn DanhKhôi,…