LỜI CẢM ƠN Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, em đã nhận được sự giảng dạy và truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu một cách tận tình từ các giảng viên trường Đại h.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, em đã nhận được sựgiảng dạy và truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu một cách tận tình từ cácgiảng viên trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung và các giảng viên thuộc ViệnThương Mại và Kinh tế quốc tế nói riêng, cũng như sự hỗ trợ và quan tâm của các bạntrong lớp chuyên ngành Nghiên cứu khoa học này cũng được hoàn thành dựa trên sựtham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báochuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chứcchính trị…
Trang 2Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Nguyễn Thường Lạng –người đã trực tiếp hướng dẫn lớp chuyên ngành trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học Trong khoảng thời gian được làm việc cùngthầy, em đã không ngừng tích lũy nhiều kiến thức bổ ích cho mình và được học tập vớitinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất cần thiết cho em trong quátrình học tập và công tác sau này
Tuy em đã cố gắng nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quantâm đến đề tài sẽ có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài của em được hoàn thiệnhơn
Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế của Brunei vàgiải pháp thích nghi cho Việt Nam” là một thành quả của quá trình tìm hiểu và nghiên cứuđộc lập dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng trongthời gian qua
Các dữ liệu trong nghiên cứu hoàn toàn có cơ sở từ thực tế, đáng tin cậy và được phântích, xử lý khách quan và trung thực
Hà Nội, tháng 1 năm 2022
Trang 3MỤC LỤC
Trang 5Thạc sĩ quản trị kinh doanh
Partnership Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương
Trang 619 ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
Ủy ban Văn hóa Thông tin ASEAN
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài
- Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽtrên thế giới cùng với đó cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với quy môtoàn cầu và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội thì việc đề ra chủ trươnghợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật đối với các nước là một nhu cầu cấp thiết cho quátrình đổi mới của các quốc gia
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường để rút ngắn khoảng cách với các nước kháctrong khu vực và trên thế giới, phát huy những lợi thế và tìm cách khắc phục hạn chếthông qua việc học hỏi kinh nghiệm của các nước Một trong những loại hình cơ bản củagiao tiếp giữa các đại diện của các quốc gia khác nhau nhằm trao đổi ý kiến, quyết địnhcác vấn đề mà các bên cùng quan tâm, xử lí các vấn đề bất đồng, phát triển sự hợp táctrong lĩnh
vực khác nhau, soạn thảo và kí kết các điều ước quốc tế,… là đàm phán quốc tế
Am hiểu địa phương, những phong tục, tập quán, thói quen về văn hóa là mộttrong những yếu tố quan trọng và quyết định khi muốn hội nhập sâu vào nền kinh tế toàncầu và có các mối quan hệ ngoại giao, kết bạn với những quốc gia khác trên thế giới Đặcđiểm văn hóa dân tộc có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành phong cách đàm pháncủa các nước Hiểu được phong cách đàm phán của đối tác/đối phương chính là một trongnhững nhân tố tạo ra thắng lợi trong thương lượng quốc tế Mỗi quốc gia đều có một nềnvăn hóa khác nhau và đó chính là yếu tố quan trọng hình thành nên phong cách đàm phánkhác nhau Với những đặc điểm khác biệt về giao tiếp, phong tục tập quán, thói quen ứngxử việc lựa chọn cho mình chiến lược, bước đi trong quá trình đàm phán của mỗi đốitác nước ngoài cũng có đặc điểm riêng
Hơn nữa, với phương châm là bạn hoà bình với tất cả bạn bè trên thế giới, nước tađang nỗ lực mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia còn lại Qua những lý do trên, việclựa chọn đề tài: "Văn hóa trong đàm phán kinh tế quốc tế Brunei " nhằm tìm hiểu tácđộng của nền văn hóa Brunei trong đàm phán kinh tế quốc tế nói chung và đối với ViệtNam nói riêng để từ đó Việt Nam có những phương pháp đàm phán, đối thoại hợp lý sao
Trang 8cho vẫn giữ được hòa bình và mối quan hệ hợp tác vui vẻ với Brunei mà không làm ảnhhưởng đến lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, chủ quyền và xã hội của nước ta.
- Xuất phát từ góc độ lý thuyết
Dưới góc độ lý thuyết, các vấn đề về văn hóa, đặc biệt với xu thế hội nhập hiệnnay, văn hóa trong đàm phán kinh tế quốc tế là một mối quan tâm hàng đầu không chỉ củachính phủ, doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế, và mỗinghiên cứu đều có cách nhìn nhận khác nhau Từ đó, xuất hiện nhiều cách tiếp cận khácnhau cả về phương pháp, nội dung và tiêu chí đánh giá Do đó, cho đến nay vẫn chưa cómột khung lý thuyết tiếp cận toàn diện và thống nhất về vấn đề này Vì vậy, đây là mộtkhoảng trống trong nghiên cứu về lý luận văn hóa đàm phán nói chung và văn hóa đàmphán kinh tế quốc tế Brunei nói riêng Từ đó tìm ra một cách tiếp cận toàn diện, thốngnhất về văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế là một đòi hỏi hết sức cấp thiết, đặc biệt khiViệt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng và toàn diện hơn vào nền kinh tế toàn cầu
Thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1992, quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặtgiữa Việt Nam và Brunei đang phát triển tốt đẹp, hai bên thường xuyên trao đổi chuyếnthăm và tiếp xúc cấp cao Ngoài ra, hai nước Việt Nam - Brunei còn có mối quan hệ ngoạigiao và mậu dịch đang phát triển tốt đẹp Tuy nhiên, có thể do mục đích nghiên cứu hoặckhuôn khổ của các công trình nghiên cứu, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào
đề cập một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và đánh giá một cách đầy văn hóađàm phán kinh tế quốc tế Brunei Vì vậy, với những khoảng trống về lý luận và thực tiễnnhư trên, để góp phần hoàn thiện nền tảng lý thuyết với tầm quan trọng, tính cấp thiết và
sự đòi hỏi cao của thực tế về văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế Brunei, tác giả lựa chọnnghiên cứu đề tài: “Văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế Brunei”
Trang 92 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và đánh giá đặc điểm văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế Brunei
- Đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm nâng cao mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vàBrunei trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề ra ở trên nhóm tác giả sẽ đề xuất các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
1 Lý luận
2 Thực trạng: Phân tích, đánh giá thực trạng
3 Định hướng, giải pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến văn hóa trong đàm phán kinh tếquốc tế của Brunei
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bài viết được giới hạn ở phạm vi phân tích để làm rõ vai trò và tác động của vănhóa Brunei trong đàm phán kinh tế quốc tế từ đó đưa ra giải pháp giúp doanh nghiệp Việt
Trang 10Nam có thể chủ động đạt mục tiêu của mình khi đàm phán với doanh nghiệp Brunei
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng chủ yếu các phương pháp định tính như: phương pháp phântích tài liệu, mô tả, thống kê, luận giải, phân tích, đối chiếu, so sánh và tổng hợp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp thông tin thứ cấp
từ các tài liệu sẵn có trên hệ thống cơ sở dữ liệu để hình thành khung lý thuyết, mô hìnhnghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
Số liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu là số liệu thứ cấp thu thập từ các nguồnTổng cục thống kê, Tổng cục hải quan, Bộ NN&PTNT và số liệu sơ cấp do tác giả tựthực hiện thông qua khảo sát chuyên gia
5 Bố cục của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế
Chương 2: Đặc điểm văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế của Brunei
Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển văn hóa đàm phán Việt Brunei
Nam-Do thời gian nghiên cứu hạn chế và vốn kiến thức còn thiếu nhiều kinh nghiệmthực tế, bài viết không tránh khỏi nhiều sai sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, bổsung để có thể hoàn chỉnh bài viết
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA ĐÀM PHÁN KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm và vai trò của văn hóa
1.1.1 Khái niệm của văn hoá
Văn hoá là một khái niệm rộng và vì vậy có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Philip R Cateora và John L Graham, hiểu một cách đơn giản, văn hoá tạonên cách sống của một cộng đồng, quyết định cách thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên và
phương cách thoả mãn nhu cầu của con người
Trang 11Từ đó có thể hiểu: Văn hoá là bao gồm tổng thể kiến thức, đạo đức, đức tin, nghệ thuật, pháp luật, tập quán, thói quen được các thành viên trong một cộng đồng thừa nhận Nói một cách khác, văn hoá là tất cả những gì, mà các thành viên trong xã hội có, nghĩ và làm
Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trongquá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệthống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng củamỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồngngười gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thờigian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù củamỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc
Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài ngườimới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phươngthức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Những hoạt độngsống trải qua thực tiễn và thời gian, được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán,chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưutruyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộngđồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, bao gồm cả hai khíacạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnhvật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cáchnhìn nhận và đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là AlfredKroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về vănhóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vựcnghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học,
xã hội học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau
Trang 12Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phânloại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều Một trong những cách đó phân loại cácđịnh nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây:
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mànghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" vàCultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người".Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động dành cho đất gọi là sựgieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần"
Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm,
chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã địnhnghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học làmột tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục,
và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là mộtthành viên của xã hội
Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa
trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những định nghĩa đó là củaEdward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa chính
là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêubiểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồntheo truyền thống
Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn WilliamIsaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất
và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, )
Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường,
quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Một trong những cáchđịnh nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 - 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đạihọc Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thíchnghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn
Trang 13minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuậtnhư biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa
Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa, ví dụ
Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa:
- Thứ nhất, văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của
các thành viên xã hội;
- Thứ hai, văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các
thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa
Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví dụ
định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹgốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, vănhóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vôthức
của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được
đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin
Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa Trong tiếng việt, văn hóa được dùng theo nghĩathông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triểncủa một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sảnphẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống Theo Đại từ điển tiếngViệt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do NguyễnNhư Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là nhữnggiá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm
Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: “Văn hóa làtổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá
Trang 14trình lịch sử Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa conngười với môi trường tự nhiên xã hội Văn hóa là những hoạt động của con người nhằmthỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát); Văn hóa là tri thức, kiến thức khoahọc (nói khái quát); Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của vănminh; Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, đượcxác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Vănhóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn,…”
Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính
văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa vàđược tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Đặcbiệt văn hoá trong đàm phán kinh tế quốc tế đã bao trùm lên tất cả các vấn đề từ cách ănuống đến trang phục, từ các tập quán trong gia đình đến các công nghệ sử dụng trongcông nghiệp, từ cách ứng xử của mỗi con người trong xã hội đến nội dung và hình thứccủa các thông tin đại chúng, từ phong cách, cường độ làm việc đến các quan niệm về đạođức xã hội; từ đó có tác động lên các chủ thể khi đưa ra quyết định ở các lĩnh vực Mỗicộng đồng dân cư có những nền văn hoá riêng biệt Văn hoá giữa các nước khác nhau làkhác nhau Văn hoá của một quốc gia thuần khiết phương Đông như Việt Nam chắc chắn
sẽ khác một nền văn hoá dân chủ tự do kiểu Mỹ Ở phương Tây
❖ Đặc điểm của văn hóa:
Thứ nhất, văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không
do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá Từ đó, văn hoá là đặc trưng cơbản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sảnphẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hoá xuất hiện do sự thích nghi một cách chủđộng, và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hóa cũng là kết quả của sự thíchnghi ấy
Trang 15Thứ hai, sự thích nghi này là sự thích nghi có ý thức và chủ động nên nó không
phải là sự thích nghi máy móc mà thường là sự thích nghi có sáng tạo, phù hợp với giá trịchân - thiện - mỹ
Thứ ba, văn hoá bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần chứ không chỉ
riêng là sản phẩm tinh thần
Thứ tư, văn hoá không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường ta nói
Văn học nghệ thuật chỉ là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hoá
1.1.2 Vai trò của văn hóa trong đàm phán kinh tế quốc tế
Văn hóa đóng góp một phần nhỏ để đàm phán thành công Mỗi quốc gia, môidoanh nghiệp đều có văn hóa khác nhau và tạo nên điều riêng biệt trong cách ứng xử, suynghĩ của họ Hiểu rõ về văn hóa của đối tác cũng là một phần thông tin mà các doanhnghiệp phải tìm kiếm Một phần hiểu biết của bạn về đối tác sẽ cho họ cảm giác được tôntrọng, được coi trọng và vui vẻ hợp tác cùng doanh nghiệp là điều mà mỗi người kinhdoanh điều mong muốn Đó là một lợi thế trong đàm phán mà ít ai chú ý
Môi trường, văn hóa của mỗi đối tác có thể dấu mốc mọi khía cạnh và giai đoạncủa cuộc đàm phán Tác động của văn hóa có thể được tìm thấy trong trường hợp tiếp xúckinh doanh, trong thiết lập quan hệ thân thiện hoặc đại diện, trong các cuộc nói chuyệnkinh doanh với đặc tính kỹ thuật và thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu hoặc trong
trường hợp bán hàng trực tiếp Vì vậy văn hóa đóng vai trò nền tảng trong mọi giai đoạn bắt đầu từ việc chuẩn bị đàm phán, ảnh hưởng đến tầm nhìn và cách tiếp cận tình huống cũng như cách tiếp cận chiến lược và toàn bộ quá trình đàm phán, bao gồm sự cạnh tranh và hợp tác
Trang 16Tình huống của đàm phán Thành phần của đàm phán
- Thời gian và áp lực thời gian - Đào tạo chuyên nghiệp
- Quy mô đàm phán Văn hóa - Đào tạo tâm lý
- Không gian đàm phán - Phẩm chất cá nhân
- Thông tin - Cư xử, năng lực giao tiếp
- Năng lực dẫn dắt hội thoại
- Phong cách đàm phán
Quá trình đàm phán
Figure 1: Ảnh hưởng của văn hóa tới đàm phán
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
Xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện
trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con
người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng
thái nguyên sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn
minh Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng
đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của
toàn xã hội
- Là cơ sở xã hội hóa các cá nhân
Văn hóa được thể hiện là những nhận thức của mỗi người để đảm bảo sự hòa đồng
của các cá nhân vào xã hội chung và năng lực lao động của các cá nhân để đảm bảo
đời sống của chính họ Con người không thể tồn tại nếu tách rời tự nhiên cũng như
con người không thực sự là người nếu tách rời môi trường văn hóa R E Park: “ con
người không sinh ra là người ngay mà trở thành người trong quá trình giáo dục ”
Trang 17- Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế
Toàn bộ các yếu tố văn hóa (tài sản hữu hình và tài sản vô hình) được biểu hiệntrong lĩnh vực kinh tế là các cơ sở vật chất dùng cho sản xuất kinh doanh và năng lựclao động của con người, là cơ sở cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội Nền văn hóaphát triển cao đồng nghĩa với người lao động có năng lực cao Do vậy xây dựng, pháttriển nền văn hóa là nhiệm vụ của mỗi quốc gia
- Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
Bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của conngười, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làmcho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ convật phát triển thành con người Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vậtchất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hộiloài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao Đápứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều củacải vật chất cho con người và xã hội
- Văn hóa với vấn đề hội nhập quốc tế
Thông qua giao lưu văn hóa xã hội quốc tế, các nền văn hóa chắt lọc đc những tinh
tú văn hóa của nhau và ứng dụng vào nền văn hóa của mình Hội nhập quốc tế là cơhội tốt nhất cho nên văn hóa giao lưu và học hỏi lẫn nhau để đưa thế giới lên nên vănminh ngày càng cao
1.2 Nội dung của văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế
1.2.1 Giả định và giá trị văn hoá
1.2.1.1 Giá trị
Giá trị (value) là những gì mà qua đó thành viên của một nền văn hóa xác định
điều gì là đáng mong muốn và không đáng mong muốn, tốt hay không tốt, đẹp hayxấu Trong một xã hội, các thành viên đều xây dựng quan điểm riêng về bản thân mình
và về thế giới dựa trên những giá trị văn hóa Trong quá trình trưởng thành, con người
Trang 18học hỏi từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội và thông qua đó xác định nênsuy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trị của nền văn hóa, thậm chí có nhữnggiá trị mà đại đa số các thành viên trong nhiều nền văn hóa đều thừa nhận và có xu hướngtrường tồn như tự do , bình đẳng , bác ái , hạnh phúc
Trong đàm phán, quan niệm về bốn giá trị: khách quan, cạnh tranh, công bằng vàquan niệm về thời gian chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa, từ đó quyết định không nhỏđến kết quả đàm phán Khách quan ở đây được hiểu là nhận thức về vận động hay pháttriển không phụ thuộc con người, trên cơ sở tôn trọng thực tế
Cạnh tranh là một đặc điểm tất yếu trong đàm phán Quan niệm về giá trị cạnhtranh khác nhau giữa các nền văn hóa dẫn đến các thái độ đàm phán khác nhau Có haicách tiếp cận chủ yếu trong đàm phán là thắng - thắng và thắng - thua
Ở cách tiếp cận thứ nhất, những nhà kinh doanh đến từ nền văn hóa coi trọng lợi
ích có thái độ theo đuổi lợi ích đến cùng cho bản thân và doanh nghiệp của mình Họ ápđảo bên đối tác, ép buộc bên kia thực hiện theo những điều kiện, giải pháp của mình, bêncòn lại nếu không đủ khả năng phản kháng sẽ phải chịu thiệt (đàm phán thắng - thua), nếunhất định không thực hiện những yêu cầu của đối phương thì cuộc đàm phán không đạtđược kết quả nào (đàm phán thua - thua)
Cách tiếp cận thứ hai là các bên cùng thảo luận tìm phương án sao cho tất cả cùng
có lợi (thắng - thắng) Cả hai bên đàm phán trên tinh thần hữu nghị, hòa bình, hợp tác, tôntrọng quyền lợi của nhau, cùng trao đổi thuyết phục nhau để cả hai bên đều là người chiếnthắng
Kết quả của cuộc đàm phán (cũng chính là kết quả cạnh tranh) phản ánh quan niệm
về giá trị công bằng của nhà kinh doanh (xét về lợi ích) Đàm phán cho kết quả lợi ích chia đều cho hai bên chứng tỏ họ coi trọng sự công bằng lợi ích, ta thấy được điều này khi đàm phán với đối tác người Mỹ Ngược lại, người Nhật quan niệm khách hàng là thượng đế, họ luôn muốn mang đến giá trị cao nhất cho khách hàng nên lợi ích thường thuộc về bên mua của đối tác người Nhật nhiều hơn
Trang 191.2.1.2 Giả định
Giả định (assumption) hình thành nên các giá trị chung mà đã trở thành những
điều hiển nhiên theo thời gian và có tính dẫn dắt hành vi của con người Chúng chính lànhững giá trị và niềm tin gắn liền với chân lí mà chúng ta không mảy may nghi ngờ haythắc mắc Bởi vì các giả định là nền tảng của hệ thống niềm tin, chúng hiển nhiên và rất
rõ ràng, đồng thời chúng ta cũng mặc nhiên cho rằng mọi người cũng có hành vi tương tựnên rất ít khi nảy sinh thảo luận về những giả định này
1.2.2 Ngôn ngữ và tín ngưỡng
1.2.2.1 Ngôn ngữ
Triết học duy vật biện chứng quan niệm ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của ý thức Ýthức lại là sự phản ánh thực tại khách quan thông qua bộ óc của con người Trong khotàng chuyện cổ tích của nhân loại đã lưu truyền câu chuyện về một thời thịnh vượng màtất cả các dân tộc đều sống với nhau trong hòa bình, bác ái vì có chung một thứ ngôn ngữ
Để kỷ niệm cho sự thịnh vượng chung đó, các dân tộc đã quyết định xây một tòa tháp thậtcao, cao đến tận trời như là một dấu tích của nền văn minh xã hội cho thế hệ sau Khi tòatháp đã gần hoàn thành, trời vì sợ ảnh hưởng đến an nguy nơi tiên cảnh nên đã nghĩ ramột cách để các dân tộc không hoàn thành công trình vĩ đại đó: Cho mỗi dân tộc một thứngôn ngữ khác nhau Công trường xây dựng tháp đang trong những ngày sôi động cuốicùng thì trở nên náo loạn, người thợ phụ không thể hiểu được ý của người thợ cả, anh thợ
nè không hiểu anh thợ mộc nói gì tất cả đều hoảng hốt và bỏ lại toàn bộ công việc để lotìm những người có thể hiểu được tiếng của mình Tòa tháp chưa hoàn thiện nhanh chóngrơi vào cảnh hoang tàn và đổ vỡ Các dân tộc với những ngôn ngữ khác nhau cũng hìnhthành từ đó, họ trở về sinh sống trên những vùng lãnh thổ riêng và lập ra những quốc giađộc lập
Câu chuyện trên cho thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ như thế nào Nếu coi ngônngữ và hành vi là cái vỏ bên ngoài của văn hóa thì ngôn ngữ là yếu tố văn hóa cực kỳquan trọng Ngôn ngữ được coi là tấm gương để phản ánh văn hoá Chính nhờ ngôn ngữ
mà con người mới có thể xây dựng và duy trì văn hoá của mình Ngôn ngữ là phương tiệnquan trọng nhất để chuyển giao văn hóa, làm cho văn hóa có thể được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác Ngôn ngữ cũng là nền tảng cho trí tưởng tượng của con người do
nó được liên kết bởi các ký hiệu một cách gần như vô hạn Trong đàm phán kinh doanh
Trang 20cùng quốc tịch thì yếu tố ngôn ngữ không phải là khó khăn đáng kể nhưng đối với cáccuộc đàm phán quốc tế, ngôn ngữ đóng vai trò như một vũ khí hay là khó khăn đối vớicác đoàn đàm phán
Trong tất cả các thứ ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong đàm phán kinh doanh,các câu hỏi và những câu tự bộc lộ thông tin là những hành vi ngôn ngữ được sử dụngthường xuyên nhất Tuy nhiên, ngay cả đối với những hành vi ngôn ngữ xuất hiện thườngxuyên nhất này thì các nhà giao dịch, đàm phán có quốc tịch khác nhau cũng có tần suất
sử dụng khác nhau Bên cạnh câu hỏi và những câu tự bộc lộ, trong đàm phán kinh doanh,những câu mệnh lệnh, cam kết và hứa hẹn cũng thường xuyên được sử dụng trong cácngôn ngữ đàm phán thông dụng Đây là điều lưu ý quan trọng cho các đàm phán viên, họcần tìm hiểu rõ về đối tượng giao dịch, đàm phán của mình để biết cách ứng xử giúp lợithế đàm phán thuộc về phía mình Nếu tìm hiểu tốt cùng kiến thức rộng thì kết quả đàmphán sẽ có lợi nhiều cho người đó hơn – điều mà người đàm phán nào cũng muốn
1.2.2.2 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống như một phần cấp thấp của tôn giáo mà
con người tin vào để giải thích thế giới và vũ trụ mà để mang lại sự thịnh vương bình yên
và thanh cao hạnh phúc cho bản thân và mọi người Đây là nhóm nhân tố văn hóa cực kìphức tạp thể hiện qua hệ thống các đức tin, tín ngưỡng, mê tín dị đoan Những nhân tốtinh thần có ý nghĩa rất quan trọng trong hành vi, ứng xử của con người và cộng đồng xãhội
Phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức là những luật lệ xã hội để kiểm soát
hành động của người này với người kia Phong tục tập quán (folkways) là những quy ướcthông thường của cuộc sống hàng ngày Nói chung phong tục tập quán là những hànhđộng ít mang tính đạo đức Phong tục tập quán chỉ là những quy ước xã hội có liên quanđến các vấn đề như cách ăn mặc, đi đứng, cách cư xử với những người xung quanh…
Tục lệ, tập tục (mores) là những quy tắc được coi là trọng tâm trong việc thực
hiện các chức năng xã hội và của đời sống xã hội Những tập tục này có ý nghĩa lớn hơnnhiều so với tập quán Tập tục bao gồm các yếu tố như sự lên án các hành động trộm cắp,ngoại tình, loạn luân, giết người… Ở nhiều xã hội, một số tập tục đã được cụ thể hoá
Trang 21trong luật pháp Do đó, việc làm trái tập tục có thể gây nên hậu quả nghiêm trọng Ví dụtập tục ngủ chung của dân tộc Gia Rai sống lâu đời ở Gia Lai Con trai, con gái có lệ vàocác buổi tối trǎng thanh lại tụ tập quanh bếp lửa hồng trò chuyện, uống rượu, ca hát rồi
ôm nhau ngủ suốt đêm Ngủ như vậy nhưng giữa họ luôn giữ đúng giới hạn Vượt quagiới hạn đó kể như phạm luật làng, bị phạt nặng, có khi bị đuổi khỏi làng Cũng chính bởitục ngủ chung này mà người Gia Rai quan niệm vợ chồng cưới xong phải một nǎm saumới được động phòng, tránh việc người phụ nữ mang thai trước
1.2.3 Linh thiêng và cấm kỵ
1.2.3.1 Linh thiêng
Các giá trị linh thiêng (sacredness) được coi là các mệnh lệnh đạo đức có giá trị
nội tại của riêng chúng, khiến chúng không thể so sánh được và không thể thay thế đượcvới các giá trị thông thường Đây là những thứ cộng đồng tách biệt khỏi các khía cạnhkinh tế hoặc những hoạt động thông thường của cuộc sống thường ngày
1.2.3.2 Cấm kỵ
Cấm kỵ (taboo) là những điều bị cấm hoàn toàn hoặc bị ngăn cấm mạnh mẽ
(thường là những phát ngôn và hành vi) dựa trên những nhận thức văn hóa cho rằng điều
đó là ghê tởm, nguy hiểm hoặc, có thể là, quá thiêng liêng để người trần có thể làm Sựcấm đoán này xuất hiện ở gần như tất cả các nền văn hóa.Các điều cấm kỵ có tính chấttương đối, ví dụ như những điều liên quan đến đồ ăn, có thể được coi là không thể chấpnhận được ở nền văn hóa hay tôn giáo này lại có thể hoàn toàn chấp nhận được ở nền vănhóa hay tôn giáo khác
1.2.4 Tôn giáo
Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin
bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thểhiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạođức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâmlinh
Đứng trước sự thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùngbái và đó chính là cơ sở của tôn giáo
Trang 22Mối liên hệ giữa tôn giáo và đời sống xã hội rất tinh tế và sâu sắc Trên thế giớihiện nay tồn tại hàng nghìn tôn giáo khác nhau, nhưng có năm tôn giáo lớn nhất đó làĐạo Thiên Chúa, Đạo Hồi, Đạo Hindu, Đạo Phật và Đạo Khổng Tôn giáo ảnh hưởng đếnmọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, kể cả kinh doanh Ví dụ các nghi lễ đạo giáo có thểcấm sử dụng một số hàng hóa hay dịch vụ nào đó (như thịt lợn ở các nước hồi giáo) Do
đó, tôn giáo dĩ nhiên có sức ảnh hưởng quyết định đến hành vi và ứng xử của các nhàđàm phán Tôn giáo, tín ngưỡng được nhận thức như một yếu tố nhạy cảm nhất của vănhóa, như những giá trị tín ngưỡng của một cá nhân bình thường khác Đại đa số đều amhiểu về một loại hình văn hóa ỏ trong họ tồn tại mà không có hiểu biết đúng đắn về cácnền văn hóa khác Một điều đáng ngạc nhiên là trong thực tế, những gì là giá trị tinh thầncủa một cá nhân lại có thể là các câu chuyện vui của người khác Nếu không biết con bò
có giá trị như thế nào trong Đạo Hindu thì người nước ngoài sẽ cảm thấy nực cười khithấy trên đường phố thủ đô New Delhi đầy những con bò đi dạo phố
1.2.5 Chân lý
Chân lý chính là tính chính xác, rõ ràng của tư duy Có người thì cho rằng, chân lý
đó là những nguyên lý được nhiều người tán thành thừa nhận Hay theo quan điểm thựcdụng gắn ý nghĩa của chân lý với tính lợi ích thực tế của nó Hiểu đúng và sâu hơn, thìchân lý là sự phản ánh đúng đắn thế giới khách quan trong ý thức con người Chân lý làtri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tế kiểm nghiệm Ở khía cạnh xãhội học, chân lý là những quan niệm về cái thật và cái đúng Chính vì lẽ đó mà xã hội,mỗi nền văn hóa có những cái thật, cái đúng khác nhau Điều này có nghĩa có những cái
mà nền văn hóa này coi là chân lý, thì có thể ở nền văn hóa khác lại bị phủ nhận
Một cá nhân không thể xây dựng được chân lý Chân lý chỉ có thể được hình thànhthông qua nhóm người Cá nhân qua tiếp xúc, tương tác với nhóm nhỏ, nhóm lớn hìnhthành nên những ý kiến cho là đúng, là thật ngày càng có tính khách quan hơn, càng gầnhiện thực hơn Như vậy văn hóa là toàn bộ các chân lý Chân lý luôn là cụ thể vì cáikhách quan hiện thực là nguồn gốc của nó Những sự vật, những quá trình cụ thể của xãhội, con người luôn tồn tại không tách rời những điều kiện khách quan lịch sử cụ thể.Những điều kiện khách quan thay đổi thì chân lý khách quan thay đổi
Trang 231.2.6 Chuẩn mực
Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của xã hội
được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng, mà qua đó xã hội định
hướng hành vi của các thành viên Trên góc độ xã hội học, những chuẩn mực văn hóa
quan trọng được gọi là chuẩn mực đạo đức và những chuẩn mực văn hóa ít quan trọng
hơn được gọi là tập tục truyền thống Do tầm quan trọng của nó nên các chuẩn mực đạo
đức thường được luật pháp hỗ trợ để định hướng hành vi của các cá nhân (ví dụ: hành vi
ăn cắp là vi phạm chuẩn mực đạo đức, ngoài việc bị xã hội phản ứng một cách mạnh mẽ,
luật pháp còn quy định những hình phạt có tính chất cưỡng chế)
Chuẩn mực văn hóa khiến cho các cá nhân có tính tuân thủ và phản ứng tích cực(phần thưởng) hay tiêu cực (hình phạt) của xã hội thúc đẩy tính tuân thủ ấy Phản ứng tiêucực của xã hội trước những vi phạm chuẩn mực văn hóa chính là cơ sở của hệ thống kiểm
soát văn hóa hay kiểm soát xã hội mà qua đó bằng những biện pháp khác nhau, các thành
viên của xã hội tán đồng sự tuân thủ những chuẩn mực văn hóa Ngoài phản ứng của xãhội, phản ứng của chính bản thân cũng góp phần làm cho những chuẩn mực văn hóa đượctuân thủ
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa
1.3.1 Trình độ kinh tế và khoa học công nghệ
Yếu tố kinh tế bao gồm cách thức mà các cá nhân cống hiến khả năng lao động vàthu về những lợi ích Quan điểm và sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân là một ví
dụ tiêu biểu cho sự khác biệt về kinh tế ảnh hưởng đến phong cách đàm phán kinh doanh.Xương sống của nền kinh tế Hàn Quốc là các tập đoàn kinh tế tư nhân hùng mạnh Ngay
từ những năm đầu tiên của Chính quyền tướng Park Chung Hee, các tập đoàn kinh tế tưnhân như Deawoo, Huyndai đã nhận được sự hậu thuẫn của chính quyền Trong giaiđoạn phát triển thành kỳ của nền kinh tế, chính phủ luôn duy trì một cơ chế đối thoại cởi
mở giữa các nhà kinh doanh tư nhân và các quan chức lập chính sách Sự thừa nhận vàtạo điều kiện để các thành phần kinh tế tư nhân phát triển Ở Hàn Quốc tạo ra cho cácdoanh nhân một phong cách đàm phán rất độc lập trong mọi cuộc đàm phán kinh doanh Trong khi đó, với cơ cấu trong đó các doanh nhân Nhà nước nắm bắt vai trò chủ đạo nhưBắc Triều Tiên các nhà đàm phán trong các cuộc đàm phán của các doanh nghiệp sẽ phảicân nhắc đến rất nhiều yếu tố liên quan đến cơ chế quản lý khi đưa ra thông tin và quyết
Trang 24định đàm phán Họ chịu rất nhiều sức ép từ phía các cơ quan quản lý trong quá trình đàmphán và thường không có khả năng độc lập ra quyết định quan trọng
Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia ảnh hưởng, tác động đếnviệc hình thành, xây dựng các giá trị văn hóa, trong đó có văn hóa chất lượng Tăngtrưởng kinh tế tạo ra nền tảng vật chất để phát triển văn hóa, góp phần hình thành nênnhững giá trị mới cho cá nhân và cộng đồng trong quá trình thúc đẩy các quan hệ kinh tế.Văn hóa trở thành nền tảng tinh thần và tạo ra những động lực mới đóng góp trực tiếp chotăng trưởng kinh tế
Kinh tế phát triển hay đi xuống đều ảnh hưởng đến vấn đề xây dựng văn hóa chấtlượng từ việc xác định các giá trị chuẩn mực, xây dựng, hoạch định chính sách cho đếncác nguồn lực dành cho tổ chức văn minh, hiện đại, trang bị phương tiện, điều kiện làmviệc Những nơi có trình độ kinh tế - xã hội phát triển sẽ có điều kiện dành nhiều nguồnlực hơn cho việc xây dựng văn hóa chất lượng Việc đầu tư các nguồn lực cũng đặt ra yêucầu phải tăng cường công tác quản lý, thực hiện các biện pháp tổ chức, điều hành cơ sởlinh hoạt, thúc đẩy sự hòa hợp giữa mọi người trong tổ chức, nâng cao hiệu suất, chấtlượng hoạt động của các cơ quan hành chính góp phần đáp ứng tốt hơn những đòi hỏingày càng cao của xã hội và của nhân dân
Công nghệ là tất cả những kĩ thuật phần cứng (máy móc thiết bị) và phần mềm (bí
quyết kĩ thuật, kĩ năng quản lí) sử dụng để làm ra những của cải vật chất cho xã hội Trong các cuộc đàm phán quốc tế quan trọng, hình ảnh các nhà đàm phán sử dụng thành thạo các thiết bị có kết nối với bên ngoài để cập nhật tình hình quốc tế đã trở thành một biểu tượng quen thuộc của đàm phán kinh tế quốc tế
Các phát minh sáng chế khoa học là kết quả hoạt động sáng tạo của con ngườitrong các mối quan hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội.Đây là hoạt động “nhân hóa tự nhiên” bằng nhiều mức độ khác nhau của con người Hiệnnay, cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ với tốc độ chạyđua khủng khiếp trên phạm vi toàn cầu và đang hàng ngày hàng giờ làm thay đổi tư duynhân loại Các thành quả khoa học công nghệ đã làm cho loài người xích lại gần nhau hơn
để tiếp nhận những gì mới lạ đến từ ngoài lãnh thổ Khoa học công nghệ đã được áp dụngrộng rãi trên phạm vi toàn cầu, dĩ nhiên là trên “đôi vai” của khoa học công nghệ là cácgia trị văn hóa ngoại sinh thường xuyên cùng đến với các dân tộc trên thế giới
Trang 25“Hiểu biết cá nhân” là nói đến sự tự nhận biết về bản thân và người khác – ở khíacạnh về (xu hướng) tư duy, (xu hướng) cảm xúc, những cơ sở hình thành nên động lựctrong cuộc sống Những vấn đề này được bao hàm trong trí tuệ cảm xúc và trí tuệ tâmhồn, là khả năng thấu hiểu, làm chủ được cảm xúc, những thôi thúc và động lực của bảnthân; qua đó có thể thấu hiểu, đồng cảm, và trong trường hợp cần thiết ảnh hưởng đếncảm xúc, thôi thúc, động lực của người khác Khi năng lực và trình độ cá nhân được nângcao, cá nhân đó sẽ có xu hướng hành xử theo các chuẩn mực đạo đức, cải thiện hành vi,thái độ, cách ứng xử trong đời sống hàng ngày Bên cạnh đó, cá nhân còn có sức ảnhhưởng đến những người xung quanh, thể hiện tính lan tỏa của văn hóa, từ đó góp phầnxây dựng và làm giàu nền văn hóa
Năng lực nhận thức và trình độ của các cán bộ quản lý được biểu hiện qua mức độ như: nắm vững kiến thức nghiệp vụ, chuyên môn, chức trách, quyền và nghĩa vụ của bản thân và hệ thống các quy tắc xử sự với cấp trên, đồng nghiệp và với nhân dân… Năng lực nhận thức và trình độ còn biểu hiện thông qua mức độ tự giác thực hiện các quy chế, các quy định làm việc của cơ quan, các quy tắc, chuẩn mực ứng xử
Nếu cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên nhận thức rõ và có ý thức tuân thủ,bảo vệ và duy trì những quy định đó trong hoạt động thực thi công vụ thì văn hóa công sở
sẽ không ngừng được nâng cao Vì vậy, để góp phần xây dựng và phát triển văn hóa chấtlượng, có một biện pháp rất quan trọng là tăng cường công tác giáo dục cho cán bộ quản
lý về chức trách, quyền và nghĩa vụ của bản thân; chức năng, nhiệm vụ, định hướng hoạtđộng của cơ quan, tổ chức; hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện qua thái độ, hành vi ứngxử… để cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên nắm vững và tự giác thực hiện
Trang 261.3.3 Chính sách của chính phủ
Thể chế và chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước luôn luôn là những điềukiện cấp thiết có tính quyết định đối với việc giải quyết nhu cầu và năng lực của sáng tạovăn hóa Chính sách văn hóa cần trở thành công cụ cho sự phát triển, mở rộng mọi nguồnlực vào phát triển văn hóa của đất nước trong đó phát triển con người là nhiệm vụ hàngđầu và trung tâm Thể chế văn hóa và chính sách văn hóa đóng vai trò quan trọng có tínhquyết định tới sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH và chủ động hộinhập quốc tế hiện nay
1.3.4 Tổng thể xã hội
Yếu tố văn hóa tổng thể xã hội bao gồm tổ chức xã hội, giáo dục, cơ cấu chính trị,
là những yếu tố quy định cách thức mà mọi người có quan hệ với nhau, tổ chức các hoạtđộng của cá nhân và cộng đồng
Yếu tố tổ chức xã hội quy định vị trí của nam và nữ trong xã hội, cơ cấu giới tính,
quan niệm về gia đình, vai trò của gia đình trong giáo dục và phát triển thế hệ trẻ, cơ cấutầng lớp xã hội, hành vi của các nhóm và cơ cấu tuổi Trong đàm phán kinh doanh ở cácnước Phương Tây, phụ nữ có thể tham gia và thậm chí là nắm vai trò quyết định cuộc đàmphán Phụ nữ thường có ưu thế riêng trong thuyết phục và tiếp xúc cá nhân Tuy nhiên,nếu một chính phủ Mỹ cử một người đại diện là nữ sang Tiểu Vương Quốc Ả Rập thốngnhất để đàm phán một hợp đồng kinh tế với chính phủ nước này thì lại là một quyết địnhsai lầm vì ở đây vị trí của người phụ nữ trong xã hội vẫn là vị trí của công dân số hai vớicông việc chính là nội trợ trong gia đình và nuôi dạy con cái
Yếu tố giáo dục quyết định học vấn , là nền tảng quan trọng của hành vi Một nhà
doanh nghiệp được giáo dục tốt, có bằng MBA của trường đại học của Mỹ sẽ biết cúi gậpngười chào đối tác đàm phán là người Nhật Bản khi mới bắt đầu cuộc đàm phán, nhưngmột nhà doanh nghiệp không được giáo dục tốt về kinh doanh có thể sẽ mặc bộ đồngphục màu đen, đàm phán quan trọng với một doanh nghiệp Trung Quốc
Cơ cấu chính trị của một đất nước cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
hành vị của các nhà kinh doanh trong đàm phán, sự hậu thuẫn của chính phủ thông quacác chương trình đàm phán cấp Nhà nước về quan hệ kinh tế là một nguồn sức mạnh đểnhà doanh nghiệp có thể gây sức ép với đối tác đàm phán Hiệp định Thương mại Việt -
Trang 27Mỹ được ký kết ngày 13/7/2000 có thể là một nhân tố để các nhà kinh doanh Việt Namgây thêm những sức ép trong các cuộc đàm phán với các nhà đầu tư Hoa Kỳ vì theo Hiệpđịnh này, hai nước cam kết dành cho nhau những ưu đãi trong đầu tư, điều đó có nghĩa làcác nhà đầu tư Mỹ sẽ dành được những ưu đãi đầu tư hơn so với trước đây
1.3.5 Yếu tố văn hóa thẩm mỹ
Yếu tố văn hóa thẩm mỹ thể hiện qua nghệ thuật, văn học âm nhạc, kịch nghệ, cahát Nhóm yếu tố văn hóa thẩm mỹ quyết định cách nhìn nhận về cái đẹp, hướng tới thiện
- mỹ Các nhân tố này ít nhiều ảnh hưởng đến quan niệm của các nhà kinh tế về giá trịđạo đức, các chuẩn mực hành vi Thể hiện những người trẻ tuổi Việt Nam được nuôidưỡng bằng nguồn văn học cách mạng Việt Nam, bằng những tác phẩm nổi tiếng của LépTônxtôi, Ma-xim Gốc-ki sẽ có thể có cách nhìn nhận nhân văn hơn, có trách nhiệm đốivới cộng đồng, đối với xã hội khi ra các quyết định kinh doanh
1.3.6 Yếu tố khác
Các giá trị văn hóa truyền thống tác động đến văn hóa chất lượng theo cả haihướng tích cực và tiêu cực:
Theo hướng tích cực: là hình thành những giá trị, chuẩn mực chân chính ở các cơ
sở giáo dục như: tận tụy với nhân dân, trách nhiệm với công việc, chuyên nghiệp, có hành
vi, thái độ ứng xử đúng mực… tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một thế hệ trungthành với Tổ quốc Xây dựng nên những giá trị truyền thống tốt như: Tinh thần yêu nước,tinh thần đoàn kết, lòng tự hào dân tộc; Lòng thương yêu, quý trọng con người, ý thứccộng đồng; Lòng dũng cảm, bất khuất, đức tính cần, kiệm, khiêm tốn, giản dị, trung thực,
…
Theo hướng tiêu cực: là những giá trị truyền thống lạc hậu, bảo thủ, không phù hợp
với bối cảnh, tình hình hiện tại như tư tưởng cục bộ, tiểu nông, bình quân chủ nghĩa… sẽ tạo ra những lực cản trở cho cho việc xây dựng và phát triển một nền văn hóa chất lượng, văn minh, hiện đại
Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị thuộc về lối sống được cộng đồngthừa nhận và gìn giữ, duy trì qua các thế hệ như chuẩn mực thái độ, hành vi tư tưởng Giátrị văn hóa truyền thống luôn gắn với các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, họcsinh, học viên và một nhóm đối tượng cụ thể trong xã hội, là cộng đồng người, là những
Trang 28xã hội thu nhỏ, chịu ảnh hưởng chi phối của khái niệm rộng hơn là văn hóa quốc gia, dântộc Giá trị văn hóa truyền thống chính là nền tảng, cơ sở cho việc hình thành, lựa chọncác giá trị
về tổ chức, hoạt động, đạo đức và chuẩn mực trong lối sống, hành vi, …
Quá trình xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng cần phải tiếp thu, kế thừanhững giá trị truyền thống văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã hìnhthành qua nhiều thế hệ gắn với những hoàn cảnh, bối cảnh và những yêu cầu của tìnhhình mới, tiến đến mục tiêu xây dựng con người mới, bổ sung những giá trị mới nhằmhình thành một nền văn hóa truyền thống tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo tínhvăn minh, hiện đại