Tiếp tục theo định hướng của Chính phủ về phát triển chế biến và thương mại thủy sản thông qua tổ chức lại sản xuất, gắn kết chế biến, tiêu thụ với sản xuất nguyên liệu; ưu tiên phát tri
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DƯƠNG THỊ TUYẾT ANH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN
TẠI TỈNH TRÀ VINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng, Năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DƯƠNG THỊ TUYẾT ANH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN
TẠI TỈNH TRÀ VINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 62.31.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS Ninh Thị Thu Thủy
2 TS Lê Bảo
Đà Nẵng, Năm 2022
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận án là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu sử dụng trong phân tích có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định
Kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận án này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
án đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Dương Thị Tuyết Anh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Tổng quan nghiên cứu đề tài 5
5 Điểm mới của luận án 14
6 Kết cấu của luận án 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN 16
1.1 Những vấn đề chung về phát triển công nghiệp chế biến thủy sản 16
1.1.1 Khái quát về công nghiệp chế biến thủy sản 16
1.1.2 Khái niệm phát triển công nghiệp chế biến thủy sản 18
1.1.3 Vai trò của phát triển công nghiệp chế biến thủy sản 21
1.2 Các lý thuyết liên quan đến phát triển công nghiệp 22
1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển (Mô hình tăng trưởng kinh tế cổ điển của David Ricardo) 22
1.2.2 Lý thuyết về tăng trưởng tân cổ điển (Hàm sản xuất Cobb- Douglas) 23
1.2.3 Lý thuyết về tăng trưởng tân cổ điển (Mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow; Solow- Swan) 23
1.2.4 Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima 24
1.2.5 Một số lý thuyết phát triển khác 25
1.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển công nghiệp chế biến thủy sản 26
1.3.1 Tăng trưởng về quy mô công nghiệp chế biến thủy sản 27
Trang 51.3.2 Chuyển dịch cơ cấu trong chế biến thủy sản 29
1.3.3 Liên kết trong chế biến thủy sản 31
1.3.4 Nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường trong chế biến thủy sản 32
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp chế biến thủy sản 37
1.4.1 Nguồn cung ứng nguyên liệu 41
1.4.2 Thị trường tiêu thụ 43
1.4.3 Dịch vụ hỗ trợ và Hiệp hội 45
1.4.4 Sự cạnh tranh trong ngành 48
1.4.5 Các chính sách của Nhà nước 49
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Trà Vinh 53
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 53
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế 55
2.1.3 Đặc điểm về xã hội 60
2.2 Phương pháp nghiên cứu 61
2.2.1 Cách tiếp cận 61
2.2.2 Khung phân tích 63
2.2.3 Quy trình nghiên cứu 64
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 66
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 68
2.2.6 Phương pháp xây dựng và kiểm định thang đo 71
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TẠI TỈNH TRÀ VINH 76
3.1 Thực trạng tăng trưởng về quy mô của công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh 76
3.1.1 Thực trạng gia tăng số lượng cơ sở chế biến thủy sản 76
3.1.2 Thực trạng gia tăng quy mô cơ sở chế biến thủy sản 78
3.1.3 Thực trạng gia tăng kết quả chế biến thủy sản 83
3.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong chế biến thủy sản 85
3.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản phẩm thủy sản chế biến 85
Trang 63.2.2 Thực trạng chuyển dịch phương thức tổ chức sản xuất 90
3.2.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu thị trường 91
3.3 Thực trạng liên kết trong chế biến thủy sản 95
3.3.1 Liên kết giữa đầu vào – cơ sở chế biến 95
3.3.2 Liên kết giữa cơ sở chế biến - tiêu thụ 99
3.4 Thực trạng hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong chế biến
thủy sản 100
3.4.1 Hiệu quả kinh tế 100
3.4.2 Hiệu quả xã hội 104
3.4.3 Bảo vệ môi trường 107
3.5 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh 110
3.5.1 Kết quả đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha 110
3.5.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 113
3.5.3 Phân tích hồi quy đa biến 117
3.5.4 Bàn luận kết quả của mô hình hồi quy về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh 119
3.6 Đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh 125
3.6.1 Những thành công 125
3.6.2 Những tồn tại, hạn chế 126
3.6.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 127
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TẠI TỈNH TRÀ VINH 128
4.1 Căn cứ đề xuất các hàm ý 128
4.1.1 Nhu cầu tiêu thụ thủy sản ở một số nước và nhu cầu tiêu thụ nội địa 128
4.1.2 Cơ hội, thách thức đối với phát triển công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh Trà Vinh trong thời gian đến 130
4.1.3 Mục tiêu phát triển thủy sản tỉnh Trà Vinh đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 132
Trang 74.1.4 Định hướng phát triển công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh Trà Vinh
đến năm 2030 134
4.2 Một số hàm ý chính sách phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại Trà Vinh 136
4.2.1 Hoàn thiện quy hoạch chế biến và tiêu thụ thủy sản của tỉnh tầm nhìn đến năm 2030 137
4.2.2 Gia tăng quy mô của công nghiệp chế biến thủy sản 137
4.2.3 Chuyển dịch cơ cấu chế biến thủy sản 140
4.2.4 Mở rộng liên kết trong chế biến thủy sản 142
4.2.5 Nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường của ngành 143
4.2.6 Một số hàm ý khác 146
4.3 Một số kiến nghị 148
4.3.1 Đối với U ban nhân dân tỉnh Trà Vinh 148
4.3.2 Đối với các chủ thể chế biến thu sản trên địa bàn tỉnh 148
KẾT LUẬN 150
5.1 Kết quả đạt được của luận án 150
5.2 Hướng nghiên cứu mới 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC PL1
Trang 8EU Liên minh châu Âu hay Liên hiệp Châu Âu
EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- EU
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp tiêu chí đánh phát triển CNCB thủy sản 36
Bảng 2.1 Tổng sản phẩm nội địa của tỉnh (GRDP) giai đoạn 2016-2018 56
Bảng 2.2 Lực lượng lao động, lao động đang làm việc 61
Bảng 2.3 Phân bổ cỡ mẫu thu thập thông tin, đánh giá mức độ liên kết của cơ sở chế biến thủy sản 67
Bảng 2.4 Phân bổ cỡ mẫu khảo sát đánh giá các nhân tố ảnh hưởng 68
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp các Thang đo nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh 72
Bảng 3.1 Số lượng cơ sở chế biến thủy sản theo quy mô vốn (2014-2018) 79
Bảng 3.2 Sản lượng ngành thủy sản tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2014-2018 82
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến thủy sản (theo giá so sánh năm 2010) 84
Bảng 3.4 Tổng sản phẩm thủy sản chủ yếu của CNCBTS (2014-2018) 85
Bảng 3.5 Giá trị sản xuất của ngành CBTS phân theo khu vực 91
Bảng 3.6 Đánh giá mức độ hợp tác giữa các tác nhân với CSCB (%) 97
Bảng 3.7 Năng suất vốn và tốc độ tăng NSV CNCBTS Trà Vinh 103
Bảng 3.8 Số lao động tham gia ngành CNTS Trà Vinh và thu nhập bình quân 01 tháng của người lao động 104
Bảng 3.9 Giá trị hàng thủy sản xuất khẩu tỉnh Trà Vinh (2014-2018) 106
Bảng 3.10 Công tác bảo vệ môi trường của CNCB thủy sản 109
Bảng 3.11 Kết quả Cronbach’s Alpha các thang đo 111
Bảng 3.12 Kết quả kiểm định KMO, Bartlett’s và rút trích nhân tố độc lập 113
Bảng 3.13 Kết quả kiểm định KMO, Bartlett’s và rút trích nhân tố phụ thuộc 115
Bảng 3.14 Thang đo điều chỉnh qua kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá 116
Bảng 3.15 Phân tích phương sai ANOVAa 117
Bảng 3.16 Mô hình tổng thể (Model Summaryb ) 118
Trang 10Bảng 3.17 Tóm tắt mô hình hồi quy 119Bảng 4.1 Mục tiêu phát triển ngành thủy sản tầm nhìn đến 2030 134
Bảng 4.2 Sản lượng chế biến, thị trường tiêu thụ và nguồn nguyên liệu phục vụ
chế biến 135
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Nội dung đánh giá phát triển công nghiệp chế biến thủy sản 26
Hình 1.2 Mô hình nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản 40
Hình 2.1 Cơ cấu kinh tế phân theo khu vực (2016-2018) 57
Hình 2.2 Khung phân tích luận án 63
Hình 2.3 Quy trình nghiên cứu 65
Hình 3.1 Tốc độ gia tăng số lượng cơ sở CBTS tại Trà Vinh 77
Hình 3.2 Tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp CBTS tại Trà Vinh 77
Hình 3.3 Số cơ sở kinh tế cá thể hoạt động CBTS và tốc độ gia tăng 78
Hình 3.4 Số cơ sở chế biến thủy sản phân theo quy mô lao động (2014-2018) 80
Hình 3.5 Nguồn nhân lực quản lý tại các cơ sở CBTS tại Trà Vinh 81
Hình 3.6 Tốc độ gia tăng giá trị sản xuất ngành chế biến thủy sản 84
Hình 3.7 Tốc độ gia tăng sản phẩm chủ yếu của CNCBTS tại tỉnh Trà Vinh
(2014-2018) 86
Hình 3 8 Cơ cấu sản phẩm công nghiệp chế biến thủy sản (2014-2018) 87
Hình 3.9 Xu hướng của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu 88
Hình 3.10 Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu tỉnh Trà Vinh (2014-2018) 89
Hình 3.11 Cơ cấu các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu 89
Hình 3.12 Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo khu vực 91
Hình 3.13 Cơ cấu thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thủy sản Trà Vinh 91
Hình 3.14 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Trà Vinh (giá trị) 93
Hình 3.15 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam (giá trị) 94
Hình 3.16 Sơ đồ liên kết đầu vào- chế biến- đầu ra của ngành CBTS Trà Vinh 95
Hình 3.17 T trọng cơ sở liên kết với các tác nhân đầu vào 96
Hình 3.18 Mức độ hợp tác, liên kết giữa cơ sở chế biến với các tác nhân đầu vào 98 Hình 3.19 Năng suất lao động (NSLĐ) và tốc độ tăng NSLĐ ngành CNCBTS 101
Trang 12Hình 3.20 Tốc độ tăng NSLĐ, GRDP, GRDP/người (%) tỉnh Trà Vinh theo giá
thực tế 102
Hình 3.21 Thu nhập bình quân 1 tháng của lao động (2013- 2017) 105
Hình 3.22 Chỉ số phát triển kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản tại Trà Vinh 107
Hình 3.23 Đánh giá về công tác xử lý môi trường của CNCBTS 109
Hình 3.24 Đồ thị Scatter thể hiện mối liên hệ giữa biến phụ thuộc và phần dư 118
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chế biến thủy sản đã và đang không ngừng phát triển và cải tiến liên tục, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển [129], [204], [214] Ở Việt Nam, ngành thu sản nói chung và ngành công nghiệp chế biến thu sản nói riêng là ngành kinh tế quan trọng được chú trọng quy hoạch để phát triển từ trung ương đến địa phương Vì
thế, từ năm 2008 Việt Nam là nước sản xuất thủy sản lớn thứ ba trên thế giới (sau
Trung Quốc và Ấn Độ) [125] và là nước đứng vị trí thứ tư trên thế giới về xuất khẩu
thu sản vào năm 2018 Tiếp tục theo định hướng của Chính phủ về phát triển chế biến và thương mại thủy sản thông qua tổ chức lại sản xuất, gắn kết chế biến, tiêu thụ với sản xuất nguyên liệu; ưu tiên phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng; nâng cao chất lượng và bảo vệ môi trường [76], một lần nữa, trong chiến lược phát triển công nghiệp [77] được đề cập đến như ưu tiên nâng cao t lệ chế biến các sản phẩm thủy hải sản chủ lực, sản phẩm chế biến xuất khẩu có tính cạnh tranh cao, đồng thời, đảm bảo nguồn nguyên liệu đủ tiêu chuẩn để phục vụ cho công nghiệp chế biến Và trong quy hoạch phát triển ngành công nghiệp cũng đã thể hiện quan điểm tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản theo hướng hiện đại, tăng trưởng về giá trị
sản xuất công nghiệp, nâng cao t trọng cơ cấu ngành chế biến trong cơ cấu ngành công nghiệp và gia tăng t trọng sản phẩm giá trị gia tăng đáp ứng nhu cầu thị trường Trên cơ sở những định hướng lớn của chính phủ, địa phương tiến hành xây dựng định hướng, mục tiêu để phát triển ngành phù hợp
Theo Tổng cục Thống kê, ngành thủy sản đóng góp khoảng 3,4% GDP toàn quốc và 24,4% GDP ngành nông nghiệp, đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung toàn ngành nông nghiệp (năm 2018) Phát triển ngành công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng đang được xem là giải pháp then chốt để phát triển bền vững thủy sản, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngành Ngành công nghiệp chế biến có vai trò quan trọng trong ngành thủy sản Thật vậy, thủy sản sau khi được thu hoạch có đặc tính dễ hư hỏng, vì thế để giảm tổn thất sản phẩm sau thu hoạch đối với thủy sản bằng cách phát triển ngành chế biến Chế biến không những
Trang 14duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, chế biến sản phẩm giá trị gia tăng đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng Chế biến góp phần nâng cao hiệu quả kinh
tế trong sản xuất do khai thác và sử dụng triệt để giá trị nguyên liệu, tạo ra các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng, giá trị thương mại cao, giảm tổn thất chất lượng sản phẩm sau thu hoạch
Tại tỉnh Trà Vinh, ngành công nghiệp chế biến thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Sự phát triển của ngành góp phần gia tăng giá trị GRDP [88], [89] Theo số liệu Cục thống kê tỉnh giai đoạn (2014-2018) cho thấy ngành công nghiệp chế biến thủy sản đã tạo ra giá trị sản xuất với t trọng gần 50% giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đóng góp từ 16% đến 26 % kim ngạch xuất khẩu của địa phương [14] Sự đóng góp đó đã một phần thể hiện được vai trò, vị trí quan trọng của ngành trong cơ cấu ngành công nghiệp chế biến thực phẩm của tỉnh Tuy nhiên, trên địa bàn chỉ có 05 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
64 hộ tham gia lĩnh vực chế biến thủy sản; giá trị sản xuất của ngành chế biến thủy sản có xu hướng giảm liên tục qua các năm từ năm 2014 đến năm 2017 và mặc dù đến năm 2018 có sự chuyển biến tích cực với xu hướng tăng nhưng tốc độ bình quân cả giai đoạn vẫn còn giảm 0,87% Nguồn nguyên liệu tại địa phương lớn với tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng hằng năm từ 172.237 tấn- 200.613 tấn nhưng tổng sản phẩm chế biến chiếm từ 5,45%- 6,3% tổng sản lượng Cơ cấu sản phẩm chế biến kém đa dạng chỉ tập trung chủ yếu sản phẩm Tôm đông lạnh,
thủy sản (cá, tôm) đóng hộp Trình độ công nghệ còn hạn chế, đối với công nghệ cấp đông chủ yếu đông tiếp xúc, đông gió và đông siêu tốc ít Riêng các hộ chủ yếu
sử dụng phương pháp chế biến thủ công, không có thiết bị, máy móc hiện đại Mặt khác, ngành chế biến thủy sản cũng mới sử dụng 1.408 lao động bao gồm cả lao động phổ thông, kỹ thuật, chuyên môn và quản lý trực tiếp tham gia vào hoạt động tại các cơ sở chế biến, chiếm 0,28% lực lượng lao động Thị trường xuất khẩu chưa
đa dạng, chủ yếu thị trường EU, Mỹ và Nhật Với những hạn chế đó, trong các báo cáo, hội thảo của tỉnh cũng đã chỉ ra rằng sự phát triển của ngành công nghiệp chế
Trang 15biến chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của địa phương về nguồn nguyên liệu,
cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực Do vậy, yêu cầu cấp bách từ thực tiễn là cần có đánh giá toàn diện thực trạng phát triển và đề xuất những hàm ý chính sách, giải pháp để sớm khắc phục được các tồn tại nêu trên cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản Trà Vinh phát triển trong thời gian tới
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngành thủy sản như: Nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến phát triển bền vững ngành thu sản/ cá ngừ/ công nghiệp đánh cá; nghiên cứu phát triển chính sách, hiệu quả kinh tế của ngành; các tác động của ngành thủy sản đến chuỗi cung ứng toàn cầu; chất lượng sản phẩm và an toàn sản phẩm thủy sản; liên minh liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành chế biến thủy sản, cơ cấu lại ngành thủy sản để đạt được chi phí thấp hơn Tuy nhiên, những công trình đã nghiên cứu còn hạn chế về mặt nội dung phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản cũng như chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá từng nội dung phát triển, đồng thời, vận dụng hệ thống chỉ tiêu đó để đánh giá thực tiễn tại một địa phương cụ thể trên cả 03 phương diện: (1) Nghiên cứu lý luận để hình thành khung phân tích về phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, (2) Vận dụng lý luận để phân tích thực trạng phát triển ngành tại một địa phương cụ thể, và (3) Xây dựng, đề xuất nhóm hàm ý chính sách góp phần thúc đẩy phát triển ngành tại địa phương Đây cũng là khoảng trống lý
thuyết rất cần đầu tư nghiên cứu Vì thế, tác giả chọn đề tài luận án “Phát triển
công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh” để nghiên cứu Luận án này
nghiên cứu cả 03 phương diện trên một cách hệ thống, có luận cứ khoa học hoàn chỉnh nhằm đẩy mạnh sự phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản tại Trà Vinh trong điều kiện mới
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển của công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh, từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới
Trang 162.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa và góp phần bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phát
triển công nghiệp chế biến thủy sản
(2) Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
tại tỉnh Trà Vinh; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
(3) Xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp
chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh
(4) Đề xuất các hàm ý chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến
thủy sản tại tỉnh Trà Vinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận á n nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển công
nghiệp chế biến thủy sản và nghiên cứu những vấn đề thực tiễn liên quan đến phát
triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu phát triển công nghiệp chế
biến thủy sản theo cách tiếp cận các nội dung (tăng trưởng quy mô, chuyển dịch cơ
cấu sản xuất, liên kết trong chế biến, hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường)
và các nhân tố ảnh hưởng (nguồn cung ứng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, dịch vụ
hỗ trợ và hiệp hội, sự cạnh tranh trong ngành và các chính sách của nhà nước)
Trong đó, công nghiệp chế biến thủy sản được xác định bắt đầu từ giai đoạn sơ chế
đến chế biến thành sản phẩm và tiêu thụ
- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu các nội dung trên tại địa bàn
tỉnh Trà Vinh
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu chủ yếu
được lấy trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, số liệu sơ cấp sử dụng để phân
tích được khảo sát ở năm 2019, và khảo sát bổ sung năm 2021
Trang 174 Tổng quan nghiên cứu đề tài
4.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Kulapa (2009)[150] với mục tiêu là (1)kiểm tra sự phát triển của thị trường cá ngừ thế giới và vị trí của Thái Lan trên thị trường (2) Xem xét kết quả tổ chức- cấu trúc của ngành cá ngừ Thái Lan và điều tra tính cạnh tranh quốc tế giữa Thái Lan và các nước khác (3)Nghiên cứu các khía cạnh kinh tế, xã hội của lao động trong ngành cá ngừ Thái Lan cả ở nơi làm việc và nơi sinh sống và để đánh giá tác động có thể có của sự phát triển trong ngành cá ngừ sang lực lượng lao động
Ngoài việc sử dụng phương pháp liên tiến lũy thừa (Exponential Smoothing
Methods) và mô hình ARIMA để dự báo nhu cầu về cá ngừ, nghiên cứu còn sử dụng mô hình SCP để phân tích cấu trúc thị trường với nguồn dữ liệu chính được thu thập bằng cách phỏng vấn, phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản để thu thập dữ liệu và sử dụng thêm bộ dữ liệu thứ cấp, và mô hình kim cương kép để đánh giá khả năng cạnh tranh các ngành chế biến và chế biến thủy sản ở Thái Lan Hạn chế của nghiên cứu là báo cáo tài chính được cập nhật chính xác và hợp lệ từ các công ty chế biến cá ngừ không đủ để sử dụng khung hiệu suất thực hiện cấu trúc và
dữ liệu có sẵn năm 2005 và không thể kiểm tra sự phát triển của các công ty theo thời gian
Amaya Vega et al (2014) [211] đã nghiên cứu, xem xét tiềm năng kinh tế tác động đến chiến lược phát triển của ngành thủy sản ở Ireland Đánh giá này không những bao gồm hiệu quả trực tiếp tiềm năng mà còn cả hiệu quả ước tính sự gia tăng hoạt động kinh tế trong ngành thủy sản Nghiên cứu đã cho thấy rằng việc tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản 78% có thể tạo ra tới 828 việc làm Tương tự, sự gia tăng trong sản xuất, ngành chế biến thủy, hải sản có thể tạo ra tới 1.097 việc làm trong nền kinh tế và 874 việc làm tương ứng Một trong những phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp phân tích số nhân, phương pháp này rất hữu ích trong việc xem xét ý nghĩa của tăng trưởng (hoặc thu hẹp) trong một ngành kinh
tế cụ thể, tuy nhiên, cách tiếp cận có những hạn chế của nó và một cuộc thảo luận hợp lý về hiệu ứng số nhân phải luôn thừa nhận những hạn chế này
Trang 18Miret-Pastor et al (2014) [166] đã phân tích thực trạng thủy sản bền vững và các mối quan hệ để nâng cao hiệu suất kinh tế: Trường hợp ngành công nghiệp đánh
cá Tây Ban Nha bằng phương pháp phân tích định lượng đa biến để kiểm tra sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa các công ty có chứng nhận của Hội đồng quản lý hàng hải (MSC) Kết quả phân tích ANOVA cho thấy sự khác biệt đáng kể bị ảnh hưởng nhiều bởi quy mô của công ty, quy mô ảnh hưởng quan trọng đến tổng thu nhập, giúp cải thiện kết quả kinh tế Những hạn chế của nghiên cứu này bao gồm mẫu và dữ liệu
có sẵn, thông tin về lý do tại sao chứng nhận MSC không có sự khác biệt về các chỉ
số hiệu quả kinh tế chính Felicity C Denham et al (2015) [116] đã nghiên cứu tác động của môi trường lên chuỗi cung ứng trong ngành thủy sản dựa trên các phương pháp tiếp cận hiện tại và tương lai Trong đó, đề tài phân tích khá toàn diện tiến trình ngành công nghiệp thủy sản từ khâu nuôi trồng- đánh bắt- vận chuyển- xử lý- lưu trữ
và phân phối sản phẩm Từ đó, so sánh các mô hình trong quá khứ và hiện tại, và tiến hành dự báo tương lai để đề xuất mô hình quản lý cho toàn chuỗi cung ứng Đi sâu hơn vào tiến trình sản xuất, M I Montaner et al (1995) [224] với đề tài đánh giá chi phí đầu tư tại các nhà máy chế biến thủy sản, tác giả đã mô tả các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ, năng lực phát triển và vị trí bố trí các nhà máy tại các nước đang phát triển Thông qua đó, nghiên cứu đã đưa ra các đề xuất giảm thiểu chi phí đầu tư thiết
bị áp dụng cho các nhà máy qui mô nhỏ Cụ thể hơn trong nghiên cứu về công nghiệp chế biến thủy sản, Zugarramurdi (2002) [223], đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự đầu tư và giá trị sản phẩm cho việc sản xuất bột cá tại các quốc gia phát triển và đang phát triển Đề tài đã đánh giá các nhân tố như nguồn lao động, kỹ thuật, quản lý quy trình và địa điểm đầu tư nhằm đưa ra sự tối ưu về kinh tế cho sự phát triển của loại hình sản phẩm này để áp dụng tại các nước đang phát triển Về sản phẩm đông lạnh, Jonatansson (1986) [146] đã phát triển mô hình và mô phỏng tiến trình chế biến thủy sản tại nhà máy từ nguyên liệu đầu vào (nguyên liệu thô) đến sản phẩm đầu ra (đông lạnh và đóng gói) Đề tài đã miêu tả toàn bộ tiến trình chế biến sản phẩm, một khâu quan trọng trong ngành công nghiệp thủy sản, đồng thời, tác giả cũng đã nêu được vai
Trang 19trò, nhân tố cấu thành giá trị sản phẩm và các mối quan hệ tương tác của các nhân tố trong tiến trình sản xuất
Sam Siril Nicholas S et al (2015)[173] bằng phương pháp phân tích SWOT
đã chỉ ra rằng một trong những điểm mạnh của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Ấn Độ là chuỗi cung ứng xuất khẩu cũng được thành lập với lưu trữ tốt, cơ sở chế biến và vận tải, sự kiên trì của các nhà xuất khẩu; không kiểm soát được chất lượng sản xuất cơ sở là điểm yếu Sự thay thế nguồn nguyên liệu từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản phát triển cũng là cơ hội, tuy nhiên phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung cấp từ nuôi trồng thủy sản, và từ khai thác đang cạn dần cũng là một thách thức Một trong những nhân tố làm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thủy sản là phát triển các nhà máy chế biến thủy sản quá mức
so với nguồn nguyên liệu thô hiện có [140]
Nghiên cứu của Meysam Jafari Eskandari et al (2015) [121] đã sử dụng mô hình của Porter (1985) gồm 5 lực lượng để nghiên cứu khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp thực phẩm bằng bộ dữ liệu thứ cấp kết hợp các cuộc phỏng vấn
mở với các chuyên gia ngành thực phẩm Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi năm lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng cạnh tranh và với những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành nhưng sự cạnh tranh giữa các đối thủ được xác định là chỉ số quan trọng nhất cho ngành có thể sử dụng để tạo cơ hội cho công ty hoạt động hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong bối cảnh cạnh tranh Một nghiên cứu khác đã đề cập đến mức chi phí thấp là yếu tố đặc trưng của ngành thủy sản ở Trung Quốc, trong đó tiền lương lao động và sự tăng trưởng nhu cầu trong nước kéo theo sự tăng trưởng của ngành [156] Mô hình kim cương của Porter cũng được sử dụng trong nghiên cứu các yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh trong khu liên hợp thực phẩm và nông nghiệp của Nam Phi [122] Mô hình gồm sáu nội dung như (i) điều kiện các yếu tố sản xuất, (ii) điều kiện cầu, (iii) các ngành liên quan và hỗ trợ, (iv) chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc và sự cạnh tranh, và yếu tố ngoại sinh đó là (v) thái độ và chính sách của chính phủ và (vi) vai trò của các cơ hội Muốn ngành phát triển cần nâng cao năng lực chế biến sản phẩm
Trang 20thủy sản mà yếu tố số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng được cho là yếu tố đóng góp chính Bên cạnh đó, các yếu tố như chính sách thuận lợi từ trung ương đến địa phương, và lãi suất vay tín dụng thấp hơn đối với ngành chế biến thủy sản cũng góp phần quan trọng khuyến khích đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất của ngành; tổng sản lượng chế biến hoặc số lượng sản phẩm của các doanh nghiệp tăng góp phần phát triển công nghiệp chế biến thủy sản Hay nói cách khác, nếu mở rộng quy
mô doanh nghiệp trung bình sẽ đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngành [221]
Nghiên cứu về nước thải ngành thủy sản: Mối nguy môi trường, xử lý và phục hồi tài nguyên của VazhiyilVenugopal (2021) [213] Kết quả chỉ ra rằng ngành công nghiệp thủy sản bao gồm cả nuôi trồng thủy sản thường sử dụng một lượng lớn nước ngọt và thải ra một lượng lớn nước thải sau quá trình làm nước thải
Sự hiện diện của các chất trong nước thải gây ra các nguy cơ môi trường đáng kể
Do đó, việc xử lý nước thải thích hợp là cần thiết trước khi chúng được thải ra ngoài hoặc xử lý để giảm thiểu các vấn đề môi trường
Nghiên cứu về mô hình tiêu thụ thủy sản và các yếu tố ảnh hưởng ở các đô thị Trung Quốc: Khảo sát thực tế từ sáu thành phố [222] cho thấy sự lựa chọn các loại hải sản có liên quan đến nền kinh tế khu vực Dân số đáng kể ở đông bắc và miền tây Trung Quốc tiêu thụ nhiều cá hơn dân số các khu vực khác Những người sống ở các khu vực kinh tế phát triển, chẳng hạn như Bắc Kinh và Thượng Hải, tiêu thụ nhiều tôm hơn Trình độ học vấn và thu nhập cũng ảnh hưởng đến tần suất tiêu thụ thủy sản của hộ gia đình và t trọng chi tiêu trong tổng chi phí thực phẩm Vị trí địa lý có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiêu thụ thủy sản Động cơ sức khỏe là một yếu tố
dự báo đáng kể về việc tiêu thụ hải sản Xem xét tính sẵn có của dữ liệu liên quan đến lý do tiêu thụ hải sản, chúng tôi đưa ra sáu lựa chọn (tức là sức khỏe và dinh dưỡng, chất lượng và an toàn thực phẩm, thói quen ăn kiêng, chi phí thấp, địa vị xã hội và những lựa chọn khác) Như vậy, đổi mới sản phẩm phải theo hướng làm cho hải sản giàu dinh dưỡng hơn Các nhà tiếp thị cũng có thể sử dụng những phát hiện của nghiên cứu này để phát triển các chiến lược tiếp thị dựa trên các phân khúc thị
Trang 21trường đã được xác định, ví dụ: phân khúc khu vực (cư dân ven biển, ven hồ và nội địa), phân khúc khách hàng thân thiết (nhóm có học vấn và thu nhập cao).
Nghiên cứu về Quản lý những thay đổi và rủi ro trong chuỗi cung ứng thủy sản: Một nghiên cứu điển hình từ Thái Lan [185], tác giả đã sử dụng một số số liệu thống kê và hồ sơ của chính phủ, phân tích hồi cứu các sự kiện quan trọng và phỏng vấn sâu ban đầu với các cựu chiến binh trong ngành cho thấy: 1) những thay đổi quan trọng trong chuỗi cung ứng thủy sản của Thái Lan trong 30 năm qua, chẳng hạn như một số nội bộ và các vấn đề bên ngoài ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp, 2) những thay đổi hiện tại (các tiêu chuẩn, quy định và luật thực phẩm mới cập nhật ảnh hưởng đến cả xuất khẩu và nhập khẩu) tác động đến mọi lĩnh vực của chuỗi cung ứng (ví dụ, các nhà chế biến vừa và nhỏ bị buộc phải ngừng kinh doanh)
và 3) dự đoán về cách thức chuỗi cung ứng thủy sản vào những năm 2020 (ví dụ, sự gián đoạn vai trò và những thay đổi dự kiến của người nuôi, người chế biến và người môi giới)
Một số nghiên cứu khác liên quan đến phát triển ngành thủy sản cũng được phân tích về chất lượng và sự an toàn của các sản phẩm thủy sản Chất lượng sản phẩm và an toàn cần được chú ý từ khâu nguyên liệu, tiêu chuẩn hóa hệ thống quản
lý chất lượng về sản xuất, ứng dụng công nghệ chế biến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nhu cầu về các sản phẩm thu sản đặc trưng [194], [215] Liên minh liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến thủy sản, thủy sản truyền thống kết nối với sản phẩm mới, doanh nghiệp trong nước kết hợp với doanh nghiệp nước ngoài để các nguồn lực và kinh nghiệm tiên tiến được chia sẻ giữa các doanh nghiệp [154], và cơ cấu lại ngành thủy sản để đạt được chi phí hoạt động thấp hơn [191] Bên cạnh đó, gia tăng sản lượng sản xuất, thị phần, nguồn nguyên vật liệu góp phần
mở rộng ngành chế biến thủy sản [97]
4.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Quan Minh Nhựt (2010)[53] đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp chế biến thủy sản khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long bằng phương pháp thu thập số liệu thông qua bảng câu hỏi với 30 doanh
Trang 22nghiệp đại diện cho lĩnh vực chế biến thủy sản hoạt động trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long được phỏng vấn, phương pháp phân tích – sử dụng hàm Tobit để ước lượng sự tác động của các yếu tố sản xuất/yếu tố xã hội/yếu tố môi trường đến các bộ phận cấu thành của hiệu quả sản xuất (hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối nguồn lực và hiệu quả sử dụng chi phí) của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Kết quả ước lượng chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động sản xuất doanh nghiệp chế biến thủy sản bị tác động không nhỏ bởi các yếu tố như (1)độ tuổi của lãnh đạo, (2)khả năng tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp,
(3)trình độ văn hóa của lãnh đạo doanh nghiệp, (4)
quy mô và (5)tổng vốn hoạt động của doanh nghiệp
Nguyễn Hải Bắc (2010) nghiên cứu vấn đề “Phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” [3] trong giai đoạn 2001-2008 đã chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp cao nhưng không ổn định; công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới; năng lực cạnh tranh yếu; trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) còn hạn chế là những biểu hiện cơ bản Nghiên cứu đã sử dụng số liệu điều tra của Sở Khoa học công nghệ và Viện công nghệ môi trường, và Sở lao động; các phương pháp tổng hợp, so sánh, chuyên gia, kỹ thuật phân tích bằng ma trận SWOT để đánh giá về tình hình phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Công trình nghiên cứu xác định được 05 (năm) nội dung cơ bản của phát triển bền vững công nghiệp và 03 (ba) nhóm tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững công nghiệp
Tô Hiến Thà (2014) nghiên cứu về “Phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Việt Nam theo hướng bền vững” [66] đã sử dụng các phương pháp như tiếp cận hệ thống, so sánh, đối chứng và dự báo, kết hợp phương pháp phân tích định tính với phân tích định lượng để làm rõ bản chất của phát triển công nghiệp theo hướng bền vững và để kiểm chứng các nhận định đã được đưa ra Nghiên cứu cũng đã xác định những vấn đề cần giải quyết, đó là: cần nhanh chóng
có các giải pháp cũng như những chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho công nghiệp vùng này phát triển theo chiều sâu, hoàn thiện các chính sách và biện pháp
Trang 23hạn chế thất thoát tài nguyên, bảo vệ môi trường công nghiệp, và giải quyết các vấn
đề xã hội liên quan cũng như điều tiết hoạt động liên kết vùng
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiếu (2014) về “Phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre”[31] đã chỉ ra mối quan hệ, tác động qua lại giữa các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường trong từng công đoạn hoạt động của ngành (đầu vào- sản xuất- đầu ra) Nghiên cứu mô tả cấu trúc phát triển bền vững của khía cạnh kinh tế thể hiện qua hoạt động đầu vào, sản xuất - chế biến và đầu ra Tương tự, về khía cạnh xã hội cũng thể hiện qua 03 hoạt động Công trình nghiên cứu khám phá được các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững gắn với đặc trưng hoạt động của ngành chế biến thủy sản (đầu vào, sản xuất, đầu ra) trên các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường
và vai trò điều tiết của thể chế Một trong những hạn chế trong nghiên cứu này là
mô hình lý thuyết phát triển bền vững chỉ mới kiểm định tại tỉnh Bến Tre, nên chưa thể khẳng định được sự phù hợp đối với các địa phương khác trong cả nước
Nghiên cứu của Lâm Văn Mẫn (2015) về “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng Sông Cửu Long” [46] với mục đích đi sâu và làm rõ những mâu thuẫn cụ thể giữa phát triển kinh tế thủy sản với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái; nhận diện những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển nghề cá Đồng bằng Sông Cửu Long Về tình hình chế biến thủy sản, luận án đã nghiên cứu
và phân tích thực trạng phát triển bền vững ngành thủy sản trên ba khía cạnh là tài nguyên, môi trường và xã hội: về nguồn nguyên liệu, hệ thống các cơ sở chế biến thủy sản, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, lao động thực trạng chế biến và tình hình tiêu thụ thủy sản (kim ngạch xuất khẩu, hàm lượng khoa học- công nghệ trong sản phẩm, cơ cấu thị trường, cơ cấu mặt hàng) Phân tích toàn diện tình hình sản xuất và tiêu thụ cho thấy kết quả đạt được về mặt kinh tế là rất lớn, nhưng thủy sản phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng chưa vững chắc, chủ yếu khai thác tiềm năng sẵn có, việc đầu tư tiến bộ khoa học – công nghệ còn hạn chế
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Trúc (2015) [83] về “Phát triển công nghiệp chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” đã được phân tích nội dung phát triển của ngành bằng sự kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và chiều sâu thể hiện qua
Trang 24bốn nội dung như Tăng trưởng về quy mô, chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả xã hội và bảo hệ môi trường Mô hình kim cương của Porter trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia [82] đã được vận dụng để nghiên cứu và xác định 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp chế biến cà phê Với 56 biến quan sát trong đó có 51 biến độc lập và 5 biến phụ thuộc Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra rằng có 06 trong 09 nhân tố có ý nghĩa thống kê và có ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp chế biến Tương tự, nghiên cứu về phát triển ngành chế biến gỗ cũng được Nguyễn Văn Hùng (2016) [35] đánh giá theo 05 tiêu chí được kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu như Tăng trưởng quy mô, chuyển dịch cơ cấu sản xuất của ngành, nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Trước đó, Trương Đắc Lực (2006) [44] nghiên cứu đánh giá sự phát triển ngành công nghiệp chế biến rau củ thông qua 05 tiêu chí như tốc
độ phát triển ngành, vị thế của ngành trên thị trường, t lệ ngành so với nguyên liệu tiềm năng, t trọng ngành so với GDP, t lệ VA/GO và trình độ tiến bộ khoa học công nghệ trong ngành Kế đến, Nguyễn Thị Thu Hương (2008) [36] sử dụng tiêu chí tốc độ tăng trưởng, quy mô phát triển sản xuất kinh doanh, cơ cấu mặt hàng chế biến xuất khẩu và trình độ phát triển công nghệ Nguyễn Thị Kim Anh (2002) [1] sử dụng tiêu chí tốc độ tăng trưởng, quy mô phát triển sản xuất kinh doanh, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, trình độ phát triển công nghệ và hiệu quả kinh tế- xã hội Quy mô
và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, t trọng giá trị gia tăng /giá trị sản xuất, trình độ phát triển công nghệ
và hiệu quả kinh tế- xã hội được Tô Hiến Thà (2014) [66] sử dụng để đánh giá tốc
độ và chất lượng tăng trưởng công nghiệp
Đinh Trần Ngọc Huy và cộng sự (2021) [141] đã đánh giá và phân tích sâu hơn về chế biến thủy sản và sự phát triển của cá tra từ góc độ ngành công nghiệp thực phẩm Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính, tổng hợp và quy nạp, với dữ liệu thống kê, nghiên cứu này xem xét các lý thuyết về quan điểm cụm hoặc nhóm liên ngành được áp dụng trong ngành chế biến nông sản và thủy sản, đặc biệt trong một nghiên cứu điển hình về cá tra (Pangasius hypophthalmus) ở Đồng
Trang 25bằng Sông Cửu Long- Việt Nam Kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng chế
biến thủy sản từ cá tra theo quy trình 3 bước Quy trình làm cá tra phi lê (cá tra) cần
có đủ kinh nghiệm, kỹ năng và diễn ra trong những điều kiện nhất định
Nguyễn Vân và cộng sự (2021) [210] đã nghiên cứu phân tích năng suất tại
các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam: Phương pháp tiếp cận kiểm soát
chức năng (FC) trong ước tính TFP và mô hình hồi quy bình phương tối thiểu tổng
quát khả thi (FGLS) trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TFP Kết quả ước
tính từ các mô hình cho thấy rằng: Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam
hiện nay chủ yếu sử dụng nhiều lao động Các yếu tố như tuổi của công ty, quy mô
của công ty và quyền sở hữu của công ty ảnh hưởng đến năng suất Trong đó, các
doanh nghiệp có số năm hoạt động ít, doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp tư
nhân có năng suất thấp Chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh của tỉnh có
tác động tích cực đến năng suất các yếu tố tổng hợp của các doanh nghiệp chế biến
thủy sản Việt Nam
Về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Khánh Hòa được Mai Thị Linh (2012) [41] xác định thông qua phân tích SWOT, kết
quả có các yếu tố ảnh hưởng tốt như giá cả, chất lượng sản phẩm, uy tín của doanh
nghiệp ngày càng tăng Sản phẩm chưa đa dạng, tính bất ổn của nguồn nguyên liệu cả
về số lượng và chất lượng sẽ là những bất lợi của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh
tranh Vốn và công nghệ chế biến, năng suất lao động thấp ảnh hưởng đến sản phẩm
xuất khẩu
Trần Hữu Ái (2020) [92] nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp thủy sản: nghiên cứu điển hình của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Việt Nam
Nghiên cứu tiếp cận năng lực cạnh tranh dựa trên lý thuyết năng lực, khác với các
nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận năng lực cạnh tranh dựa trên lý
thuyết cạnh tranh truyền thống và lý thuyết chuỗi giá trị Mô hình nghiên cứu bao
gồm 9 yếu tố Nghiên cứu được thực hiện với 356 mẫu khảo sát tại 76 doanh nghiệp
chế biến thủy sản đông lạnh, khảo sát thông qua bảng câu hỏi, phân tích dữ liệu
thông qua SPSS 24.0 Kết quả kiểm định có 8 giả thuyết được chấp nhận, yếu tố tác
Trang 26động cao nhất là khả năng tiếp cận và đổi mới công nghệ và thấp nhất là yếu tố cơ
sở hạ tầng địa phương và yếu tố chính sách và pháp luật không có ý nghĩa thống kê nên không được chấp nhận
4.3 Kết luận và những khoảng trống rút ra từ các nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở ngoài nước tập trung đánh giá xu hướng tiêu thụ sản phẩm, động cơ tiêu thụ thực phẩm, đặc biệt là thủy sản, tác động của môi trường lên chuỗi cung ứng thủy sản, xây dựng tiến trình sản xuất sản phẩm,
và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Còn các nghiên cứu trong nước được trình bày ở trên đã đóng góp những vấn đề lý luận về phát triển bền vững công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến thủy sản theo hướng bền vững, theo định hướng xuất khẩu Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng ngành công nghiệp chế biến thủy sản của một số địa phương theo hướng bền vững hay theo định hướng xuất khẩu đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu nhiều lĩnh vực về phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển công nghiệp chế biến thủy sản trong bối cảnh nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dù, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến sự phát triển của ngành thủy sản nhưng đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp chế biến thủy sản được tiến hành trên phạm vi tỉnh Trà Vinh nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay với phạm vi và quy mô nghiên cứu tương ứng với
đề tài luận án này trên cả 03 phương diện: (1) nghiên cứu về lý luận liên quan đến phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, (2) vận dụng lý luận để phân tích thực tế tình hình phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại Trà Vinh trong thời gian qua và (3) xây dựng các giải pháp một cách có hệ thống, có luận cứ khoa học hoàn chỉnh nhằm đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản tại Trà Vinh trong điều kiện mới
5 Điểm mới của luận án
Xác định và làm rõ nội dung phát triển ngành CNCBTS tập trung ở các khía cạnh: tăng trưởng về quy mô công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu, liên kết trong chế
Trang 27biến và nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường Xây dựng được hệ thống tiêu chí phù hợp để đánh giá từng nội dung
Xác định được các nhân tố chủ yếu chi phối, tác động đến sự phát triển CNCBTS tại tỉnh Trà Vinh gồm các chính sách của nhà nước, sự cạnh tranh trong ngành, nguồn cung ứng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và dịch vụ hỗ trợ và hiệp hội Trong đó, có một số chỉ báo được đề xuất bổ sung phù hợp với từng thang đo
Đề xuất một số hàm ý chính sách chủ yếu để phát triển CNCBTS Trà Vinh
Cụ thể: Gia tăng quy mô công nghiệp chế biến (như gia tăng số lượng cơ sở chế
biến, quy mô vốn, lao động, kết quả chế biến); chuyển dịch cơ cấu chế biến (như chuyển dịch phương thức sản xuất từ giản đơn, truyền thống sang công nghệ hiện đại, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chế biến đáp ứng đa dạng nhu cầu thị trường, phát triển thị trường tiêu thụ); mở rộng liên kết trong chế biến (như: mở rộng liên kết, hợp tác giữa các tác nhân cung ứng đầu vào với cơ sở chế biến, giữa cơ sở chế biến với các tác nhân thuộc khâu tiêu thụ sản phẩm); nâng cao hiệu quả kinh tế- xã
hội, nâng cao trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường; tăng cường quản lý nhà nước và hỗ trợ của chính quyền, hiệp hội
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận án gồm có 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh
- Chương 4: Hàm ý chính sách phát triển công nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Trà Vinh
Trang 28CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
CHẾ BIẾN THỦY SẢN 1.1 Những vấn đề chung về phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
1.1.1 Khái quát về công nghiệp chế biến thủy sản
1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp chế biến thủy sản
Công nghiệp chế biến thực phẩm nói chung và công nghiệp chế biến thủy sản nói riêng là ngành dùng nguyên liệu nông nghiệp (nông sản, thủy sản) để tạo ra sản phẩm mới phục vụ cho nhu cầu ăn uống của con người [50] Ngành công nghiệp chế biến thủy sản được Tổng cục thống kê (1996) [61] mô tả bao gồm tất cả các xí nghiệp công nghiệp, các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp chuyên chế biến những sản phẩm của công nghiệp khai thác và sản phẩm của nông nghiệp mà cụ thể là sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản Đó là ngành cấp năm và là một trong những ngành thuộc nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm đã được Thủ tướng chính phủ ban hành tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg với tên gọi “Chế biến, bảo quản thu sản
và các sản phẩm từ thu sản” [74] Sản phẩm của ngành được chế biến thành các loại sản phẩm khác nhau nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội [54]
Theo Gardner Pinfold et al (2007) [181], các cơ sở, công ty tham gia vào ngành công nghiệp chế biến thủy sản ngoài việc được cơ quan quản lý nhà nước cấp phép hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản thì còn phải tuân thủ các quy định
về kiểm tra an toàn thực phẩm Tương tự, Hoàng Thị Thu Hiền (2014)[29] cho rằng sản phẩm chế biến phải đạt được những yêu cầu nhất định (theo các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với mỗi quốc gia) trước khi đưa ra thị trường, duy trì nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng và ổn định, nâng cao năng lực công nghệ chế biến tôm, cá
da trơn để nâng cao chất lượng sản phẩm
Như vậy, công nghiệp chế biến thủy sản là ngành công nghiệp bao gồm tất
cả các doanh nghiệp, công ty, cơ sở được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản; sử dụng nguyên liệu chính từ sản phẩm của quá trình khai thác
Trang 29và nuôi trồng thủy sản để chế biến thành nhiều loại sản phẩm khác nhau trong điều kiện môi trường, cơ sở vật chất và tiêu chuẩn chất lượng nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ
1.1.1.2 Đặc điểm của công nghiệp chế biến thủy sản
Mỗi ngành công nghiệp đều có chu trình sống và phải trải qua bốn giai đoạn rất khác nhau đó là sự ra đời, tăng trưởng, trưởng thành và suy giảm [183] Sản xuất công nghiệp là nói đến khả năng tập trung với mật độ cao và có thể bố trí trong các nhà xưởng với các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng nhân tạo Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp chế biến được thực hiện thông qua hệ thống máy móc thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao [33] Công nghiệp chế biến có sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất- từ một nguồn nguyên liệu sau mỗi chu kỳ sản xuất với những công nghệ khác nhau có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có nhiều công dụng khác nhau, và cùng một loại sản phẩm có thể tạo ra nhiều kiểu dáng mẫu mã khác nhau [33], [39]
Ngành chế biến thủy sản được chia thành nhiều ngành nhỏ như chế biến và đóng hộp thủy sản, chế biến và bảo quản nước mắm, chế biến và bảo quản thủy sản khô, thủy sản đông lạnh và thủy sản khác [74], mỗi ngành có chu kỳ sản xuất khác nhau Ví dụ, đối với sản xuất đông lạnh, chu kỳ sản xuất thường trải qua các giai đoạn như tiếp nhận phân loại nguyên liệu, sơ chế, chế biến, xử lý, lên hàng, rà kim loại, đóng gói và bảo quản; đối với sản xuất nước mắm cũng trải qua các giai đoạn như tiếp nhận và phân loại nguyên liệu, sơ chế, chế biến chượp, chế biến nước mắm đóng chai và bảo quản Cơ cấu mặt hàng của ngành chế biến thủy sản cũng rất đa dạng, một số mặt hàng có cùng nguyên liệu đầu vào có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau [19], [126] như sản phẩm tươi, ướp lạnh, đông lạnh và giá trị gia tăng [181] Sản phẩm của công nghiệp chế biến thủy sản dễ hư hỏng và ươn thối [18], phương pháp bảo quản là một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm [20], [126] Để các sản phẩm có giá trị này khỏi bị lãng phí, các phương pháp chế biến đã được áp dụng, và một ngành công nghiệp chế biến thủy sản tiên tiến đã được thiết lập ở các nước phát triển [113], [103] Thủy sản
Trang 30thường dễ hỏng, với tốc độ suy thoái tăng nhanh khi nhiệt độ tăng [220], [155] vì thế thông qua chế biến thực phẩm làm gia tăng giá trị gia tăng của thủy sản hoặc bằng cách sử dụng các kỹ thuật khác nhau bao gồm phân loại, xử lý, đóng gói, v.v.,
áp dụng các kỹ thuật bảo quản để giữ chất lượng và tăng thời hạn sử dụng
Ngành này còn có đặc điểm là tiêu thụ nhiều nước và thải ra nhiều vật chất hữu cơ Năng lực môi trường hạn chế đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với ngành công nghiệp chế biến thủy sản và thực hiện các quy trình công nghệ mới để cung cấp ít tiêu thụ nước hơn và sử dụng tốt hơn chất thải và phụ phẩm
Công nghiệp chế biến thủy sản phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu [52] Thật vậy, nếu các doanh nghiệp chế biến gặp khó khăn trong vấn đề nguồn nguyên liệu được cung cấp thì các cơ sở chế biến sẽ không hoạt động hết công suất thiết kế Trong khi đó, nguồn nguyên liệu bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, đối với khai thác thì chịu ảnh hưởng của bão lụt, tính đa dạng về chủng loại, khả năng phục hồi
tự nhiên của đối tượng khai thác [18], đối với nuôi trồng hạn chế bởi kỹ thuật nuôi, ảnh hưởng bởi thời tiết [62], diễn biến thời tiết không thuận lợi sẽ dẫn đến dịch bệnh, nhiễm mặn và còn phụ thuộc vào mùa vụ [18] Giống như các ngành khác của ngành công nghiệp thực phẩm, chế biến và cung cấp sản phẩm thủy sản nói chung,
cá nói riêng phụ thuộc vào việc cung cấp các sản phẩm vừa an toàn vừa đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng về chất lượng [100]
1.1.2 Khái niệm phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
Phát triển là một quá trình vận động đi lên, là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và thay đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện [24] Trên cơ sở lý thuyết của Solow- Swan (1956), Gordon C Bjork (1999) [96] đã đề cập đến phát triển theo chiều rộng chủ yếu dựa vào tăng lao động, vốn và mở rộng sản xuất, trong khi đó yếu tố công nghệ và cải tiến kỹ thuật thì ít được chú trọng; còn phát triển theo chiều sâu chủ yếu dựa vào đổi mới thiết bị, công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất cũng như sử dụng hợp lí, hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực hiện có để làm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, hay nói cách khác là làm tăng hiệu quả kinh tế
Trang 31Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi nền kinh tế đạt ở mức độ cao hơn về
cơ cấu, chủng loại cả lượng và chất, bao hàm các mặt như kinh tế, xã hội, thể chế và môi trường Nền kinh tế phát triển không những có nhiều hơn về đầu ra, đa dạng hơn về chủng loại và phù hợp hơn về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế
mà còn thoả mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về sản phẩm và dịch vụ Quá trình thay đổi của nền kinh tế ở một địa phương chịu sự tác động của quy luật thị trường, chính sách can thiệp của chính phủ, nhận thức và ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra [190] Theo Jan (2010) [180], trong lý thuyết phụ thuộc, ý nghĩa cốt lõi của phát triển là tăng trưởng kinh tế hoặc tích lũy vốn Mặt khác, Hirschman (1962) cho rằng phát triển không cân đối sẽ tạo
ra kích thích đầu tư, cần tập trung nguồn lực cho một ngành để tạo ra cú hích theo cấp số nhân, đồng thời để tạo lực kéo cho các ngành khác phát triển [101]
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/ người) qua một thời gian nhất định [4]
Phân biệt giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế [60]:
+ Đối với tăng trưởng kinh tế thì sự gia tăng thể hiện ở hai mặt là quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít; tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ
+ Đối với phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Tăng trưởng kinh tế thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống của một quốc gia và thực hiện các mục tiêu khác nhau của phát triển; sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển; sự tiến bộ xã hội
Như vậy, phát triển kinh tế có nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế nhấn mạnh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Phát triển kinh tế không những đề cập đến những thay đổi mà còn bao hàm những thay đổi về chất (chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiến bộ xã hội) Nếu tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề
Trang 32cập đến lĩnh vực kinh tế thì phát triển còn đề cập đến các lĩnh vực khác của đời sống
xã hội
Tăng trưởng và phát triển kinh tế có quan hệ với nhau Tăng trưởng là điều kiện cho sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, cần thấy rằng do chiến lược phát triển kinh tế chưa hợp lý, ở một quốc gia, một vùng có tăng trưởng nhưng không có phát triển kinh tế Giai đoạn cất cánh trong lý thuyết phát triển của Rostow chỉ có được nếu có đủ 3 điều kiện, trong đó có đề cập liên quan đến tăng đầu tư trong nước, hoặc đầu tư nước ngoài và quốc gia đó có được ít nhất một ngành công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh [109]
Phát triển ngành là một quá trình vận động đi lên của ngành, không những bao gồm tăng trưởng kinh tế của ngành mà còn đề cập đến sự thay đổi cơ cấu kinh
tế, khía cạnh xã hội và môi trường [35] Phát triển công nghiệp là mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế qua tăng trưởng đa dạng sản xuất hàng hóa như là một phần tổng thể phát triển kinh tế xã hội Học sản xuất cái mới, chứ không phải là tập trung vào những gì đã làm là trình tự đầu tiên của phát triển công nghiệp [207] Phát triển công nghiệp là cơ sở quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, mở rộng đầu ra liên quan đến xúc tiến xuất khẩu, mở cửa thương mại, tự do hoá kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh [148] Phát triển công nghiệp còn được hiểu là công nghiệp hóa Công nghiệp hóa mang đến sự tăng trưởng trong bản thân các ngành công nghiệp, đồng thời làm tăng và mở rộng đối với các khu vực kinh tế khác bao gồm cả nông nghiệp và dịch vụ Khi công nghiệp phát triển sẽ làm thay đổi và cải tiến dây chuyền sản xuất trong nông nghiệp, đồng thời giải phóng lao động trong nông nghiệp, lao động trong nông nghiệp chuyển dần sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế Phát triển công nghiệp thực phẩm theo hướng hiện đại và đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu Phải chú trọng đến phát triển nông nghiệp một cách tương ứng trên tất cả các mặt quy mô, sản lượng, cơ cấu, mặt hàng và phân bố Từ đó lựa chọn kỹ thuật, công nghệ cũng như chủng loại mặt hàng thích hợp cho ngành, nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của việc phát triển ngành [50]
Trang 33Dựa trên cơ sở lý thuyết về phát triển, về công nghiệp chế biến được tổng
hợp từ các tài liệu nghiên cứu và xuất phát từ nội hàm để mô phỏng rằng: Phát triển
công nghiệp chế biến thủy sản là mở rộng khả năng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu trong chế biến, phù hợp với nhu cầu của xã hội, tăng cường liên kết sản xuất làm cơ
sở mở rộng đầu ra, đồng thời, phát triển phải mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường
1.1.3 Vai trò của phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
Ngành công nghiệp chế biến thủy sản giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Sự phát triển của ngành không chỉ đóng góp làm tăng GDP mà còn góp phần giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho một bộ phận dân cư, ổn định an ninh lương thực và thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển
Thứ nhất, sự phát triển của công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với tốc độ
tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, góp phần gia tăng giá trị GDP của địa phương [88] bởi công nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cao làm tăng giá trị của các loại nguyên liệu đưa vào chế biến [33] Ngành công nghiệp chế biến thu sản thuộc ngành công nghiệp chế biến thực phẩm- một trong mười ba ngành công nghiệp lớn của Việt Nam [61] Ở Ailen, ngành thủy sản là một ngành công nghiệp bản địa phức tạp và phân tán, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc gia về sản lượng, việc làm và kim ngạch xuất khẩu [211] Ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến thủy sản nói riêng không những là ngành kinh tế chủ đạo [33] mà còn được xem ngành kinh tế mũi nhọn có tính đột phá trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Thật vậy, thủy sản có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở tất cả các địa phương tại Đồng bằng Sông Cửu Long [89]
Thứ hai, ngành phát triển sẽ tạo thêm việc làm cho lao động địa phương bởi
ngành thủy sản chiếm t trọng lớn về thu nhập và việc làm cho người dân trong vùng và vùng ven, các dịch vụ và kinh doanh bán lẻ cũng phụ thuộc nhiều vào chi tiêu trực tiếp từ ngành chế biến thủy sản [211] Ngoài ra, mối liên kết giữa người đánh bắt, nuôi trồng thủy sản với nhà buôn có thể đem lại an ninh sinh kế, có sự
Trang 34trao đổi cộng sinh hiệu quả hơn trong một hệ thống thương mại và xã hội rộng lớn hơn [177]
Thứ ba, công nghiệp chế biến thủy sản phát triển có vai trò quan trọng trong
điều tiết cơ cấu thực phẩm và bình ổn giá thực phẩm trong nước Quan trọng hơn,
nó cũng sẽ thúc đẩy sâu sắc việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên toàn cầu thông qua thương mại quốc tế [221] Một mặt, nó cung cấp nguồn thực phẩm dinh dưỡng cho con người Sản phẩm thủy sản được thị trường tiêu thụ quan tâm như nguồn thực phẩm an toàn và có giá trị dinh dưỡng cao; đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm; xóa đói giảm nghèo; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn; và là nguồn xuất khẩu quan trọng
Thứ tư, phát triển ngành không những tạo động lực phát triển cho các lĩnh
vực như khai thác, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần trong ngành mà còn gắn với phát triển vùng nguyên liệu sản xuất [7], góp phần thúc đẩy nuôi trồng thủy sản phát triển bởi vì nuôi trồng thủy sản có thể là nguồn cung cấp chính cho các sản phẩm thủy sản xuất khẩu cao cấp [58] Hay nói cách khác, sự phát triển của ngành có mối liên hệ tương đối chặt chẽ với sự phát triển của các ngành công nghiệp thượng nguồn như nông nghiệp cung cấp nguyên liệu thô [130]
1.2 Các lý thuyết liên quan đến phát triển công nghiệp
1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển (Mô hình tăng trưởng kinh tế cổ điển
của David Ricardo)
Lý thuyết về tăng trưởng của trường phái kinh tế cổ điển được ra đời năm
1817 thể hiện qua tác phẩm “Các lý thuyết của chính trị kinh tế học và thuế khóa” của David Ricardo [187] Trong lý thuyết này đề cập đến các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Các yếu tố sản xuất trong nông nghiệp có hao phí khác với công nghiệp Cụ thể, trong nông nghiệp khi nhu cầu sản xuất gia tăng kéo theo chi phí sản xuất tăng lên và lợi nhuận giảm đi, còn trong công nghiệp khi sản xuất gia tăng theo quy mô thì lợi nhuận cũng tăng lên Trong mô hình tăng trưởng của David Ricardo đã chỉ ra các mặt có ý nghĩa tích cực Trong đó đề cập đến (1) công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành kinh tế quan trọng, có quan hệ
Trang 35chặt chẽ và tác động qua lại trong cơ cấu kinh tế Nông nghiệp chỉ có thể phát triển nhanh hiệu quả khi có nền công nghiệp phát triển Và (2) ngoại thương có vai trò quan trọng bởi thông qua hoạt động ngoại thương có những hình thức liên doanh, liên kết, giao lưu kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh mặt tích cực, mô hình của D Ricardo chưa thấy được vai trò của khoa học công nghệ
1.2.2 Lý thuyết về tăng trưởng tân cổ điển (Hàm sản xuất Cobb- Douglas)
Knut Wicksell (1851- 1926) đã đề xuất mô hình hàm sản xuất để thể hiện quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với yếu tố đầu vào Mô hình này sau đó được kiểm chứng và hoàn thiện vào năm 1928 bởi hai nhà khoa học Charles Cobb và Paul Douglas, gọi là hàm Cobb-Doubglas Trong kinh tế học, hàm sản xuất Cobb- Douglas được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong việc phân tích tăng trưởng và năng suất Trong kinh tế học vĩ mô, hàm sản xuất biểu thị giá trị tổng sản phẩm nội địa một nền kinh tế, ngành hoặc khu vực Hàm sản xuất Cobb- Douglas có dạng: Trong đó, A là hệ số tăng trưởng tự định hay còn gọi là năng suất tổng yếu tố như khoa học công nghệ, quản lý; α và β là các hệ số co giãn đầu ra lần lượt của vốn và lao động [56] Tổng hệ số α và β có ý nghĩa kinh tế quan trọng, nó cho biết sức sinh lợi không đổi hay tăng hoặc giảm theo quy mô [72] Mô hình tăng trưởng này ngoài yếu tố vốn và lao động thì có xuất hiện yếu tố liên quan đến công nghệ
1.2.3 Lý thuyết về tăng trưởng tân cổ điển (Mô hình tăng trưởng kinh tế
của Solow; Solow- Swan)
Xét nền kinh tế với hàm tổng sản xuất có dạng:
Giả thuyết hàm Y(t) là hàm thuần bậc 1 Đặt là lượng vốn trên một đơn vị năng suất lao động; là sản lượng trên một đơn vị năng suất lao động Khi đó, hàm tổng sản xuất có dạng Đây là hàm sản xuất trong mô hình Solow, hàm biểu hiện rằng t lệ vốn trên mỗi lao động tăng thì sản lượng trên đầu mỗi lao động cũng tăng Song vì sản phẩm cận biên của tư bản giảm dần theo vốn
Trang 36nên mức sản lượng ngày càng giảm khi có sự gia tăng của vốn trên mỗi lao động Hàm này chỉ ra rằng sản lượng bình quân trên mỗi lao động phụ thuộc vào tích lũy
vốn trên mỗi lao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình Solow là đầu
tư làm thay đổi trữ lượng vốn và trạng thái dừng Sự thay đổi tỉ lệ tiết kiệm ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế; sự thay đổi hay gia tăng dân số ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoa học tác động đến tăng trưởng kinh tế
Mô hình Solow-Swan [196] là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, một mô hình kinh tế về tăng trưởng kinh tế dài hạn được thiết lập dựa trên nền tảng và khuôn khổ của kinh tế học tân cổ điển Mô hình này được đưa ra để giải thích sự tăng trưởng kinh tế dài hạn bằng cách nghiên cứu quá trình tích lũy vốn, lao động hoặc tăng trưởng dân số, và sự gia tăng năng suất, thường được gọi là tiến bộ công nghệ Mô hình có đặc trưng là suất sinh lợi giảm dần theo vốn trong một nền kinh tế đóng, trong đó tiến bộ công nghệ được xem là yếu tố ngoại sinh Những gợi ý chính sách của mô hình này là việc tăng t lệ tiết kiệm sẽ nâng cao tăng trưởng của thu nhập đầu người chỉ trong ngắn hạn nhưng không đạt được tăng trưởng trong dài hạn và sẽ tăng thu nhập đầu người lên thường xuyên; giảm t lệ tăng dân số sẽ nâng cao tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trong ngắn hạn nhưng không đạt được như thế trong dài hạn và sẽ nâng thu nhập trên đầu người thường xuyên; những cải cách chính sách có thể nâng cao hiệu quả kinh tế chẳng hạn như tự do hóa thương mại và phát triển tài chính sẽ nâng cao được tăng trưởng thu nhập
Nếu Q đại diện cho đầu ra và K và L đại diện cho vốn và lao động đầu vào thì hàm sản xuất tổng hợp có thể được viết là: Q = F (K, L; t) Biến t cho thời gian xuất hiện trong F để cho phép thay đổi kỹ thuật [197]
1.2.4 Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima
Nghiên cứu mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp, ông Oshima đã đưa ra những quan điểm mới về mô hình phát triển và mối quan hệ công nghiệp- nông nghiệp Theo ông, bắt đầu của quá trình tăng trưởng là tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư và phát triển nông nghiệp Bởi vì khi
Trang 37nông sản được sản xuất càng ngày càng nhiều sẽ xuất hiện yêu cầu chế biến có quy
mô lớn nhằm tăng cường tính chất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp, từ đó, đặt
ra vấn đề phát triển công nghiệp và thương mại dịch vụ
Sang giai đoạn thứ hai, hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp Giai đoạn này, đầu tư phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng, cụ thể là tiếp tục đa dạng hóa sản xuất và thực hiện sản xuất theo quy mô lớn để tạo khối lượng hàng hóa lớn; phát triển ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm để tạo việc làm và nâng cao tính chất hàng hóa Để đạt được hiệu quả cần hoạt động một cách đồng bộ
từ khâu sản xuất đến vận chuyển, bán hàng đến dịch vụ tài chính, tín dụng cũng như
tổ chức sản xuất liên kết công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ
Cuối cùng là giai đoạn thực hiện đầu tư phát triển trên toàn bộ các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm cầu về lao động Đối với khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và hướng đến xuất khẩu với sự chuyển dịch dần về cơ cấu sản xuất sản phẩm, thâm dụng lao động chuyển dần sang thâm dụng công nghệ Điều đó sẽ làm hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp ngày càng cao Quan điểm của Oshima trong mô hình này là quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế phải dựa trên động lực tích lũy và đầu tư đồng thời cả hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp [4], [33]
1.2.5 Một số lý thuyết phát triển khác
Lý thuyết phát triển theo mô hình đàn sếu bay của Kaname Akamatsu (1962) [93]: Nước đang phát triển cần nhập khẩu sản phẩm công nghiệp rồi xuất khẩu sản phẩm thủ công, nông nghiệp; tiếp nhận đầu tư để tích lũy tư bản, thay thế sản phẩm công nghiệp nhập khẩu, trình độ công nghiệp ngang bằng với các nước phát triển
Các nguyên lý của kinh tế học của Marshall (1890) [161]: Vốn có thể thay thế lao động, tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế Để phát triển kinh tế theo chiều sâu cần tăng vốn trên một đơn vị lao động, phát triển kinh tế theo chiều rộng cần tăng vốn phù hợp với tăng lao động
Trang 38Chất lượng tăng trưởng của Lucas (1995) [188]: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
ổn định trong dài hạn và tránh được những biến động từ bên ngoài, tăng trưởng kinh
tế theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển môi trường bền vững, đổi mới thể chế và cải thiện phúc lợi xã hội Chất lượng phát triển của Thomas (2000) [206]: Cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn; tăng trưởng đồng thời nâng cao phúc lợi xã hội và tăng trưởng không làm giảm chất lượng môi trường
Dựa trên các lý thuyết về phát triển cùng với đặc điểm, vai trò của công nghiệp chế biến thủy sản và phát triển ngành, luận án tiếp tục nghiên cứu các nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển công nghiệp chế biến thủy sản của địa phương
1.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
Trên cơ sở lý thuyết về phát triển và các nghiên cứu, định hướng của nhà nước liên quan đến phát triển thủy sản thì nội dung phát triển công nghiệp chế biến thủy sản được xác định là sự kết hợp phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Và tùy vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương trong từng giai đoạn xác định các nội dung để đánh giá sự phát triển phù hợp với kế hoạch phát triển của toàn ngành, đặc điểm của địa phương là rất cần thiết Trong luận án này, tác giả xác định nội dung phát triển công nghiệp chế biến thủy sản theo định hướng có sự kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu để tập trung giải quyết được các vấn đề cơ bản như (1) Tăng trưởng về quy mô, (2) Chuyển dịch cơ cấu trong chế biến, (3) Liên kết trong chế biến (4) Nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường trong phát triển công nghiệp chế biến thủy sản (Hình 1.1)
Nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường trong chế biến
Hình 1.1 Nội dung đánh giá phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
Trang 39Để đánh giá được từng nội dung liên quan đến sự phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, tác giả tiến hành xác định tiêu chí phù hợp dựa trên cơ sở của các công trình đã được nghiên cứu
1.3.1 Tăng trưởng về quy mô công nghiệp chế biến thủy sản
Sự tăng trưởng quy mô của ngành công nghiệp chế biến thủy sản là sự gia
tăng giá trị (sản lượng) thủy sản trong một thời kỳ nhất định, là kết quả của tất cả
các hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ do toàn hoạt động tạo ra Tăng trưởng thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng [4] Tăng trưởng
về quy mô được phản ánh qua các chỉ tiêu như gia tăng về số lượng doanh nghiệp [83], [35], [36], [221], gia tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp [11], [83] và tốc độ tăng trưởng về sản lượng hay giá trị sản xuất công nghiệp của ngành [35], tốc
độ tăng trưởng về giá trị thủy sản xuất khẩu [36], [1] hoặc là quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp [66] Tốc độ tăng trưởng quy mô của ngành là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về lượng, phản ánh sự gia tăng về quy mô ngành của năm sau so với năm trước và giữa các thời kỳ của ngành công nghiệp chế biến thủy sản; các tiêu thức như sự gia tăng tổng sản phẩm của công nghiệp chế biến thủy sản,
t lệ giữa sản lượng chế biến thủy sản và sản phẩm thủy sản [221]
Ngoài ra, quy mô công nghiệp còn được xem xét ở khía cạnh quy mô theo vốn và quy mô theo lao động bởi lao động cũng là đầu vào chính trong ngành chế biến thủy sản Tình trạng thiếu công nhân thủy sản có thể ảnh hưởng đáng kể đến chế biến thủy sản và dẫn đến các vấn đề tài chính nghiêm trọng, chi phí lao động tác động đến chi phí đầu vào làm ảnh hưởng đến đầu ra của ngành [167] Bên cạnh việc xem xét quy mô lao động về mặt số lượng thì còn xem xét thêm về chất lượng nguồn nhân lực tham gia quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các cơ sở chế biến thông qua trình độ chuyên môn, kiến thức, kinh nghiệm bởi kiến thức là nguồn gốc của sự xuất sắc, là nền tảng cho văn hóa doanh nghiệp, hướng đến việc trở nên nổi bật trong việc so sánh tiêu chuẩn với cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm độc đáo
và giá trị gia tăng, cải thiện giá trị thị trường và tạo nên danh tiếng của tổ chức Thực tế hơn, nó cho phép doanh nghiệp giải quyết hiệu quả các tuyên bố Điều này
Trang 40rất có liên quan trong ngành công nghiệp thực phẩm, nơi các vấn đề liên quan đến
an toàn đòi hỏi phải tiếp cận ngay với kiến thức cập nhật Từ quan điểm nguồn nhân lực, văn hóa doanh nghiệp dựa trên tri thức thu hút các chuyên gia cấp cao, đây có thể được coi là chìa khóa để phát triển quản lý Thêm nữa là khả năng vận hành máy móc, thiết bị, sự hiểu biết về dây chuyền lạnh / làm lạnh để đảm bảo việc bảo quản, vận chuyển sản phẩm đã chế biến trong môi trường được kiểm soát và giảm thiểu lãng phí, khả năng giám sát hoạt động và khả năng giao tiếp với những công nhân chưa được đào tạo và đào tạo họ về quy trình sản xuất, tuân thủ chất lượng
Trong phạm vi luận án này, tác giả sử dụng các tiêu chí phản ánh tăng trưởng quy mô của ngành công nghiệp chế biến thủy sản như sự gia tăng số lượng
cơ sở chế biến, gia tăng quy mô cơ sở chế biến và gia tăng kết quả chế biến (giá trị sản xuất công nghiệp)
Đo lường tăng trưởng quy mô của công nghiệp chế biến thủy sản trên các phương diện nêu trên thông qua các chỉ tiêu như tốc độ tăng (giảm) định gốc, tốc độ tăng (giảm) liên hoàn và tốc độ tăng (giảm) bình quân Những chỉ tiêu này được tính toán như sau [4], [47],[51]
- Tốc độ tăng (giảm) định gốc ( ): phản ánh sự biến động về mặt t lệ của giá trị, sản lượng, sản phẩm thủy sản, số lượng doanh nghiệp,…giữa lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc (Yt- Yo) so với kỳ được chọn làm gốc (Y0)
- Tốc độ tăng (giảm) từng kỳ (liên hoàn) (at): phản ánh sự biến động về mặt t
lệ của giá trị, sản lượng, sản phẩm thủy sản, số lượng doanh nghiệp giữa lượng tăng (giảm) từng kỳ (Yt- Yt-1) so với kỳ sau liền kề (Yt-1)
- Tốc độ tăng (giảm) bình quân ̅ : biểu hiện chung nhất sự biến động về mặt
t lệ của giá trị, sản lượng, sản phẩm thủy sản, số lượng doanh nghiệp trong suốt kỳ nghiên cứu