tà ItựbáoTăng cường các biện pháp giảm thiêu rủi ro dịch bệnh Covid-19 tại các điểm đến du lịch ở Việt Nam • • • nhằm thu hút khách du lịch trẻ ĐÀO minh ngọc* PHẠM XGÂN MAI" LÊ KHÁNH
Trang 1tà Itựbáo
Tăng cường các biện pháp
giảm thiêu rủi ro dịch bệnh Covid-19
tại các điểm đến du lịch ở Việt Nam
• • •
nhằm thu hút khách du lịch trẻ
ĐÀO minh ngọc*
PHẠM XGÂN MAI"
LÊ KHÁNH LY" * NGGYỀN THỊ THO QUÊ' * " * HOÀNG THUY TRANG"" * PHẠM THỊ PHƯỢNG *** "
Tóm tắt
Đại dịch Covid-19 có tác động rất lớn tới sức khỏe tâm lý của khách du lịch thế hệ trẻ (Gen Z)
trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Nhiều hành vi và thói quen tiêu dùng du lịch của khách du
lịch thế hệ trẻ đã thay đổi hoàn toàn so với trước đây Họ quan tâm nhiều đến vấn đề vệ sinh và
an toàn tại điềm đến Nhằm đánh giá tâm lý phòng ngừa rủi ro dịch bệnh khi đi du lịch của thế
hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ đại dịch Covid-19, các tác giả dã thực hiện khảo sát online đối
với nhóm khách du lịch tiềm năng trong độ tuổi từ 16 đến 35 Kết quả cho thấy, du khách trẻ
sẵn sàng đi du lịch trong nước khi có thể và họ ưu tiên chọn các điểm đến vắng vẻ, gần gũi thiên
nhiên Bên cạnh đó, họ sẽ cân nhắc đến độ tín cậy của thông tin, tình hình dịch bệnh và các vấn
đề an toàn, như các biện pháp đảm bảo phòng dịch trên các phương tiện giao thông, hệ thống y
tế, chính sách của chính quyền địa phương.
Từ khóa: Covid-19, thế hệ z, giảm rủi ro du lịch, điểm đến du lịch, ý định du lịch
Summary
The Covid-19 pandemic has made a huge impact on the psychological health of young tourists
(Gen Z) around the world as well as in Vietnam Many consumer behaviors and habits in
tourism of young tourists have completely changed compared to the past They pay much
attention to the hygiene and safety at the destination In order to assess the psychology of
disease risk prevention when traveling of young Vietnamese during the Covid-19 pandemic,
the authors conducted an online survey to potential tourists aged 16-35 The results show
that young tourists are willing to travel in the country as they can and they prefer deserted
and close to nature destinations In addition, they will consider the reliability of information,
the pandemic situation and safety issues such as pandemic prevention measures on means of
transportation, health system, local policies.
Keywords: Covid- 19, Gen z, travel risk reduction, tourist destination, travel intention
GIỚI THIỆU
Trong hai năm 2020-2021, ngành du
lịch trên thế giới và Việt Nam đã phải
hứng chịu những tổn thất vô cùng nặng
nề, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
Theo số liệu của Tổng cục Thông kê,
năm 2020, khách quốc tế đến Việt Nam
chỉ đạt khoảng 3,7 triệu lượt, giảm 79,5%
so vớinăm 2019;kháchnội địa đạt56 triệulượt, giảm 34,1% so với năm2019và khoảng 95%doanh nghiệp
lữhànhquốc tế trên cả nước dừnghoạt động, nhiều cơ
sở lưu trú, nhà hàngphảiđóngcửa
Năm 2021, khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 157,3 nghìn lượtngười, giảm95,9% so với nàmtrước;
lượng khách du lịch nội địa đạt khoảng 40 triệu lượt;
tổng thu từ khách du lịch đạt 180.000 tỷ đồng Cằc doanh nghiệp lữ hành rơi vào tình trạng khủng hoảng,
TS., Phó Trưởng Khoa Du lịch và Khách sạn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
", gj n h vj ên Khoa 0 U lịch và Khách sạn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Ngày nhận bài: 28/3/2022; Ngày phản biện: 05/4/2022; Ngày duyệt đăng: 15/4/2022
Trang 290%-95% dừnghoạt động; chuyển ngành nghề, đổi mô
hình kinh doanh, cắt giảm nhân sự Năm 2021, lượng
doanhnghiệp lữ hànhxin thu hồi giây phép kinh doanh
chiếm trên 35% tổngsố đãđược câp, phần còn lại dừng
hoạt động Các doanh nghiệp vận chuyển khách du
lịchcũng dừnghoạt động [1]
Đến năm 2022, với những diễn biến theo chiều
hướnglạcquan hơn của dịchbệnh, đồng thời, tỷ lệbao
phủ vaccinecũngđã đạtở mức cao, các chính phủ đã
bắt đầu thực hiện các biện pháp kinh tế, xã hội khác
nhau để du lịch có thể phục hồi Ớ Việt Nam, ngành
du lịch mở cửa đón khách quốc tế đến, cũng như đưa
khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài bắt đầu từ giữa
tháng 3/2022 Tuy nhiên, để có thể xây dựng được
những sản phẩm, chính sách phù hợp nhằm thu hút
kháchdu lịch, ngành dulịch và các doanh nghiệp cũng
cần có sựhiểu biết rõ hơn về những sự thay đổitrong
hành vi, tâm lý tiêu dùng của khách du lịch trong và
sau bôi cảnh đại dịch
Đặc biệt, ở bối cảnh dịch bệnh Covid-19, đã có
nhiều thay đổi, tỷ lệ tiêm chủng đạt khá cao ở Việt
Nam và khách thể nghiên cứu là thế hệ trẻ (Gen
Z), thìviệc đo lường những cảm nhận, đánh giá của
khách du lịch tiềm năng về khả năng ứng phó, giảm
thiểu rủi rodịch bệnh của các điểm đến du lịchlà rất
cần thiết
TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Tổng quan nghiên cứu
Những nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của
Covid-19 tớihoạt động du lịch thường tập trung vào
tác động của nóđốì với việc đi lại, các yếu tô'cản trở
và phục hồi củangành (Teeroovengadum và cộng sự,
2020) Một số ít nghiên cứu đề cập đến thái độ và
hành vi của khách du lịch đôi với những yếu tô' dịch
bệnh truyền nhiễm ởcác điểm đến (Brug và cộng sự,
2004); hay cảm nhận của khách du lịch về các yếu
tô' rủi ro dịch bệnh khi đi du lịch (Caber và cộng sự,
2020) Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đề cập
đến mối quan hệ giữa cảm nhận/đánh giá về yếu tô'
giảm thiểu rủi ro dịch bệnh của điểm đến với ý định
du lịch của khách du lịch Trong khi đó, đây là một
trong nhữngyếutô'đặcbiệtquan trọng cần nghiên cứu
ở bô'icảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang là một vấnđề
rất lớn đô'i với sự pháttriển của nhiều ngành kinh tế,
trong đó códu lịch Đặcbiệt, chưa có nghiêncứu nào
xem xét mô'i quan hệ nàyởnhómkhách dulịch thếhệ
trẻ, trong khiđây là thê' hệ có nhiều đặcđiểm hànhvi
khác biệt so với các độ tuổi còn lại (ETC, 2020) Họ
có thể vượtquanhữngràocảncủarủi ro (nhấtlà rủi ro
về sứckhỏe) tô't hơn những khách du lịch thê'hệ khác
(Dimitriou, 2019)
Trước khi có dịch Covid-19 xảy ra, khách du lịch
thê'hệ trẻ thường quan tâm nhiều tới cácthông tin về
dịch vụ lưu trú, các tụđiểm vui chơi, giải trí, hệ thông
nhà hàng, quán ăn và các giátrị ẩm thực tại điểm đến
và ít quan tâm tới những thông tin liên quan tới y tế,
an toàn sức khỏe ít hơn những thế hệ còn lại (Wiweka vàcộng sự, 2017) Tuy nhiên, kể từ khi dịch bệnhCovid-19xảy
ra, những đặc điểm hành vi nói trên đã
có một sô' thay đổi.Không còn hoàntoàn bàng quan với những thông tin về sức khỏe, y tê' , người trẻ đã có xu hướng đánh giá, cảm nhận về những rủi ro và khả năng chống chịu những rủi ro (đặc biệt là rủi ro dịch bệnh) khi đi du lịch tại các điểm đến (V H Nguyen và cộng
sự, 2021)
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành cuộc khảo sát ở 309 người thuộc nhóm tuổi từ
16đến 35 (Gen Z) trongkhoảngthờigian
từ tháng 12/2021 đến hết tháng 1/2022
Dữ liệu được thu thậpbằng bảng câuhỏi đượcthiết kê' trên nền tảngGoogle form Mục tiêu của khảo sát là để xác định những cảm nhận, đánh giá của khách
dulịch thê' hệ trẻ Việt Namvề khả năng ứng phó với rủi ro dịch bệnh của điểm đến và ý định đi dulịch của họ
KẾT QUẢ NGHIÊN cứu
Kết quả nghiêncứuchothấy,khác với giai đoạn trước khi dịch bệnh Covid-19 xảy ra, người trẻ ở giai đoạn này đã rất quan tâm tới các yếu tô'giúp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh khi lựa chọn điểm đến
du lịch Hầu hết các câu trả lời về tầm quan trọng của các biện pháp an toàn phòng dịch ởđiểm đến đốì với khách du lịch đều đạt giá trịtrung bình ở mức cao
từ 3,97đến 4,17 (mức quantrọng đếnrất quan trọng Trong đó, các yếu tô' về biện pháp an toàn tại sânbay, an toàn của các hãnghàngkhông và các phươngtiện vận chuyển mặtđấttại điểm đến; các yếu tố
về hệ thông y tê' và chăm sóc sức khỏe đều là những yếu tô' được đánh giálà hết sức quan trọng (Bảng 1)
Ngoài ra, người tiêu dùng trẻ cũng đặc biệt quan tâm tới các chính sách, biện pháp đảm bảo an toàndịch bệnh ở nơicông cộng của chính quyền điểm đến
vàcho rằng, cộng đồng cưdân tại điểm đến thực hiện đeo khẩu trang là biện pháp quan trọng đểgiảmthiểurủi ro dịch bệnh cho khách dulịch Cuối cùng, việc điểmđến có thông tin rõ ràng, minh bạch
về tình hình dịch bệnh sẽ là cơ sởquan trọng nhấtgiúp người tiêudùng trẻ Việt Nam đánh giá về mức độ phòng dịch ở điểm đến và điều này giúphọgiảm thiểu rủi rodịch bệnh khi đi du lịch
Trang 3UI Dự háo
BẢNG 1: ĐÁNH GIÁ VỀ TAM QGAN trọng CỞA các YẾG Tố
GIÚP GIẢM THIEG RỎI RO DỊCH BỆNH ở DIEM đến DG lịchthờikỳ COVID-19 CGA khách DG lịchtrẻ
trung bình
Độ lệch chuẩn
Cơ sở lưu trú ở điểm đến có biện pháp phòng dịch tốt sẽ giảm thiểu được rủi ro dịch bệnh khi đi
Dịch vụ y tế ở điểm đến sẵn sàng, thuận tiện để tiếp cận sẽ giảm thiểu được rủi ro dịch bệnh khi
Chính quyền có những quy định về các biện pháp phòng dịch của cơ sở lưu trú tại điểm đến sẽ
giảm thiểu rủi ro dịch bệnh khi đi du lịch 3,99 0,910
Các hãng hàng không áp dụng những biện pháp an toàn phòng dịch trên máy bay sẽ giảm thiểu
Các phương tiện giao thông mặt đất tại điểm đến áp dụng biện pháp an toàn phòng dịch sẽ giảm
thiểu rủi do dịch bệnh khi đi du lịch 4,05 0,893
Chi phí dịch vụ y tế tại điểm đến phù hợp vđi khả năng chi trả của cá nhân sẽ giúp giảm thiểu
Điểm đến có đầy đủ các thông tin minh bạch, tin cậy về các biện pháp phòng dịch sẽ giúp giảm
thiểu rủi ro dịch bệnh khi đi du lịch 4,08 0,947
Các sân bay áp dụng những biện pháp an toàn phòng dịch sẽ giảm thiểu rủi ro dịch bệnh khi đi
Điểm đến có hệ thống thông tin về dịch bệnh được tiếp cận dễ dàng sẽ giúp giảm thiểu rủi ro
Điểm đến có hệ thống y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng và danh tiếng sẽ giúp giảm
thiểu rủi ro dịch bệnh khi đi du lịch 4,11 0,952
Chính quyền có các chính sách, biện pháp đảm bảo vệ sinh, an toàn dịch bệnh tại các nơi công
Cộng đồng cư dân tại điểm đến thực hiện việc đeo khẩu trang sẽ giúp giảm thiểu rủi ro dịch
Điểm đến có thông tin rõ ràng, minh bạch về tình hình dịch bệnh sẽ giúp giảm thiểu rủi ro dịch
BẢNG 2: Ý ĐỊNH ĐI DG LỊCH TẠI CÁC DIEM Đẽ'n trong thời kỳ dịchbệnh COVID-19
CGA THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM
trung bình
Độ lệch chuẩn
Tôi có ý định đi du lịch tại điểm đến du lịch nưđc ngoài ngay khi được phép 3,67 1,048
Tôi có ý định đi du lịch tại các điểm đến vắng vẻ thay vì đến những nơi đông đúc, náo nhiệt 3,91 0,852
Tôi có ý định đi du lịch tại các điểm đến du lịch gần gũi với thiên nhiên, văn hóa bản địa để
giảm thiểu những căng thẳng về tâm lý 4,00 0,841
Tôi có ý định đi du lịch tại điểm đến du lịch trong nước ngay khi được phép 4,07 0,952
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Kết quảkhảo sát về ý định du lịch của
thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ dịch bệnh
Covid-19 cho thấy, họ đã sẵn sàng đi du
lịch ngay khi được cho phép tại các điểm
đến du lịch trong nước (với giá trị mean
= 4,07, ở hơn mức đồng ý) và có ý định
lựa chọn những điểm đến du lịch gần gũi
với thiên nhiên, văn hóa bản địa để giảm
thiểu những căng thẳng về tâmlý (mean
= 4,00), cũng nhưsẽ lựa họn những điểm
đến vắng vẻ thay vì đến những nơi đông
đúc náo nhiệtnhư trước kia (3,91) Đối với
ý định đi du lịch nước ngoài, người trẻ ở
Việt Nam còn chưathực sự sẵn sàng với giá trị trung bình đạt mức 3,67 (ởgiữa mức trung bìnhvà đồng ý) (Bảng2)
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Từ kết quả nghiên cứu và những phân tích về bôi cảnh của du lịch Việt Nam trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19, nhóm tác giả xin nêu ra một số gợiý về mặt quản lývà chínhsách đối với các điểm đến và doanh nghiệp du lịch ở Việt Nam
Đổì với các điểm đến du lịch ở Việt Nam
Khảosátđã cho thấy rõ,trong thời giangần,khách
du lịch tiềm năngthuộcthế hệ trẻ ở Việt Namđã sẵn
Trang 4sàng đi du lịch, nhưng điểm đến mà họ lựa chọn sẽ
là các điểm du lịch trong nước Điều này cho thấy,
trong giai đoạn từ năm 2022 đếnkhi dịch bệnh có thể
có những chuyển biến tích cực hơn, thị trường khách
du lịch nội địa vẫn sẽ là điểm quan trọng để vực dậy
ngành dulịch.Tuynhiên, ởgiai đoạnhiệntại, hành vi
của người tiêu dùng du lịch trẻ ởViệt Nam đã có nhiều
thay đổi.Họ đã quantâm nhiều hơn tới các yếu tố giúp
giảm thiểu rủi ro dịch bệnh của điểm đến Các yếutố
được người tiêu dùng thế hệ trẻ xem là rất quantrọng
để đánh giá khả năng giảm thiểu rủiro cho khách du
lịch,đó là: Thông tinvề tình hình dịch bệnh Covid-19 ở
điểm đến; Các biện pháp antoàn phòng dịch Covid-19
củacác sân bay, cáchãng hàng không,cácphươngtiện
vận chuyển mặt đất ở điểmđến;Các biện pháp an toàn
phòng dịchCovid-19 của người dân và chínhquyền ở
điểm đến và Sự sẵn sàng, chất lượng của dịch vụ y tế
tại điểm đến Điều này cho thấy, cần có sự hợp tác,
phôi hợp chặt chẽ của các ngành giao thông, y tế, cơ
quan quản lý ở địa phương và những cơ quan thông
tin,truyền thông vềdịch bệnhvới các cơ quan quảnlý
điểm đến và doanh nghiệpdu lịch Nếu cósự phôihợp
này, thì mới có thể giúp cho các điểm đến và ngành du
lịch địa phương có điều kiệntốt nhất để thu hút khách
du lịch thếhệ trẻ trong nước, hướng đến phục hồi dần
dần chất lượng dịch vụ để tiếp tục đón các thị trường
khách dulịch nước ngoài
Đốì với các doanh nghiệp
Khác với trước đây, khi đi du lịch, người trẻ thường có xu hướng lựa chọn những điểm du lịch nổi tiếng, đông đúc với những loại hình dịch vụ, sản phẩm hiện đại mang tính thời trang, kết quả của nghiên cứu này cho thấy, hành vi này đã có sự thay đổi Thếhệ trẻ quan tâm hơn tới những điểm đến gần gũi với thiên nhiên, văn hóa bản địa để giảm thiểu những căng thẳng vềtâmlý, đồng thời có xuhướng du lịch tới nhữngđiểm đến ít đông đúc để giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra, khi dịch bệnh vẫn còn làmột môi longại với sức khỏe của con người Kết quảnày đưa ra gợi ý đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành,
du lịch về việc tạo ra những sảnphẩm, chương trìnhdu lịchgiúp cân bằng tâm
lý.Đồng thời, cácdoanh nghiệplữ hành cũng cần lưu ý tới việc lựa chọn những điểm đến du lịch sinh thái, gần gũi với tự nhiên và văn hóa khi xây dựng chương trình du lịch hoặc giới thiệu điểm đến với thế hệtrẻ để đảm bảo phù hợp với nhu cầu của họ trong giaiđoạn hiện tại.Q
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tổng cục Thông kê (2020-2021) Báo cáo tĩnh hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm
2020, 2021
2 Brug, A.R Aro, A Oenema, o de Zwart, J H Richardus, G.D Bishop(2004) SARS risk perception, knowledge, precautions, and information sources, the Netherlands, Emerging Infectious Diseases, 10(8), 1486-1489
3 Caber, M., Gonzalez-Rodriguez, M R., Albayrak, T., and Simonetti, B (2020) Does perceived risk really matter intravel behaviour?,Journal of Vacation Marketing, 26(3), 334-353
4 Dimitriou, Christina K., and Emad AbouElgheit (2019) Understandinggeneration Z’stravel social decision-making, Tourism and hospitality management,25(2),311-334
5 ETC (European Travel Commission) (2020).Study On Generation z Travellers,A handbook produced for the European TravelCommission (ETC)by TOPOSOPHY Ltd
6 Golets, A., Farias, J., Pilati, R„ and Costa, H (2021) COVID-19 pandemic and tourism: The impact of health risk perception and intolerance of uncertainty on travel intentions, Current Psychology,https://doi.org/10.1007/s12144-021 -02282-6
7 Ozdemir, L D M A., and Lee Dr Sercan Yildiz (2020) How Covid-19 outbreak affects tourists’ travel intentions? A case study in Turkey, SMART Journal, 32(1), 1101-1113
8 Teeroovengadum, V., Seetanah, B., Bindah, E., Pooloo, A., and Veerasawmy, (2021) Minimising perceived travel riskin the aftermath of the COVID-19 pandemicto boost traveland tourism, Tourism Review, 76(4)
9 V H Nguyen, T X D Truong, h T Pham, d T Tran, and p H Nguyen (2021) Travel Intention to Visit TourismDestinations: A Perspectiveof Generationz inVietnam, The Journal of Asian Finance, Economics and Business,8(2), 1043-1053
10 Vo Que (2022) Revitalizing domestic tourismafter COVID-19 Immunity, Vietnam Tourism, 1,56-57
11 Wiweka, K., Kurniawati, R., and Adnyana, I N. (2017) The profile and behavior of SMART
TOURIST
(Generation Z) in travel decision making, World Research Summit for Tourism and Hospitality (4th), 8-11/12/2017, Orlando,USA
*