1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận bàn về phạm thế trung và sử thanh văn lục

15 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận bàn về phạm thế trung và sử thanh văn lục
Tác giả Phạm Thế Trung
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học, Lịch sử văn hóa
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1836
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 5,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp đó, triều đình lại cho Phạm Thế Trung theo nguyên chức Lễ bộ Thị lang làm công việc bộ Công; Nguyễn Đức Hoạt theo nguyên hàm Hàn lâm Thị giảng học sĩ làm việc ở Nội các; Nguyễn Vă

Trang 1

LUẬN BÀN VÈ PHẠM THÉ TRUNG VÀ SỨ THANH VĂN LỤC

LÊ QUANG TRƯỜNG?) - NGUYÊN THANH LỘC?

Tóm tắt: Phạm Thế Trung, người tỉnh Nam Định, làm quan dưới triều Nguyễn đến chức Tổng

đốc Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), ông được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, chuyến đi nay ông có tập Sứ Thanh văn lục Tuy nhiên đến nay rất ít người biết đến Phạm Thế Trung và tác phẩm này của ông Bài viết bước đầu tiến hành khảo sát tác phẩm và nêu lên các giá trị của nó trong dong thơ văn

đi sứ triều Nguyễn nói chung Tác phẩm là tập hợp ghi chép từ văn thư ngoại giao, thơ ca xướng họa, tiễn tặng và những câu chuyện nhìn thấy trên đường đi sứ, do đó chúng có giá trị khảo cứu bổ khuyết

cho những sự kiện lịch sử văn hóa, đồng thời nó còn mang giá trị nhất định trong công tác sưu tầm bo

sung tác phẩm và nghiên cứu văn chương đi sứ thời Nguyễn

Từ khóa: Phạm Thế Trung, Phạm Thế Lịch, Sứ Thanh văn lục, thơ văn đi sứ, thời Nguyễn

Abstract: Pham The Trung, from Nam Dinh province, was a bureaucrat scholar in the Nguyen Dynasty and worked as General Director In the 17th year of Minh Menh Dynasty (1836), he was

sent as Chief of Mission to China, he composed Su Thanh van luc (Recital on the travel to China)

However, very few people know about Pham The Trung and his works The article highlights the value of his works as envoy poetry of the Nguyen dyansty The work is a collection of transcripts from diplomatic letters, reciprocal poems, farewells and recital on the way and have research value

to complement historical and cultural events, and at the same time, hold value the ambassadorial literature of both Vietnam and China during the Nguyen Dynasty

Keywords: Pham The Trung, Pham The Lich, Su Thanh van luc (Recital on the travel to China),

envoy poetry, the Nguyen Dynasty

1 Tiéu sir Pham Thé Trung

Phạm Thế Trung tên thật là Phạm Thế

Lịch, hiệu là Trác Phong và Chỉ Trai, người

tỉnh Nam Định Thuở nhỏ nồi tiếng văn tài,

khoa thi Hương năm Mậu Tý niên Minh

Mệnh thứ 9 (1828), Phạm Thế Trung đỗ

Á nguyên tại trường thi Hương Nam Định

Bùi Ngọc Quỹ, Phạm Thế Hiển, Phạm Chỉ

Hương, Ngô Thế Vinh Đến khoa thi Hội năm Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh thứ 10

(1829), ông trúng cách trong số 9 người,

rồi vào thi Điện, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến

sĩ xuất thân [4, tập 2, tr.764,83 1]!

do Hữu Tham tri bộ Lễ là Nguyễn Đăng

Tuân làm Chủ khảo; Hiệp trấn Sơn Tây là

Hoàng Văn Đản làm Phó chủ khảo Khoa

thi này, cùng đỗ với ông có Doãn Uẩn,

'*PGS.TS - Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Email: lequangtruong(@hcmussh.edu.vn

©SV - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Email: 175601001 1(hemussh.edu.vn

' Kỳ thi Điện năm này do Tả thống chế quân Thị

trung là Nguyễn Văn Trọng sung chức Giám thí đại

thần; thự Thượng thư bộ Lại là Lê Đăng Doanh, Hữu Tham tri bộ Lễ là Phan Huy Thực, Hữu Tham

tri bộ Binh là Lê Văn Đức, Hữu Thị lang Công bộ

là Hà Quyền sung Độc quyền; Lang trung bộ Hộ là Nguy Khắc Tuần; Lang trung bộ Binh là Vũ Phan

sung chức nhận quyền và duyệt quyền Kì thi này, Nguyễn Đăng Huân đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), còn Bùi Ngọc Quỹ, Phạm Thế Hiển, Nguyễn Trữ, Trương Quốc Dụng, Phạm Thế Lịch (sau đổi Thế Trung), Ngô Thế Vĩnh, Pham Quy, Tran Huy Phác đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.

Trang 2

Luận bàn về Phạm Thế Trung

Năm 1833, Phạm Thế Trung từ thự

Lang trung bộ Lại được thăng chức làm

Án sát tỉnh Bình Định, rồi thăng làm thự

Bố chính Bình Định (1834); cũng trong

năm này ông còr| được sung làm Phó chủ

khảo kỳ thi Hướng ở trường Nghệ An

Năm sau, ông được thăng Bồ chính Bình

Định (1835) [4, tập 3, tr.499], [4, tập 4,

tr.116, 280, 699]

Đến năm Mihh Ménh thứ 17 (1836), Phạm Thế Trung đang giữ chức Bồ chính

Bình Định đổi làm Tả thị lang bộ Lễ, sung

làm Chánh sứ đi Trung Quốc Chuyến đi

sứ này có Hàn lâm viện Thị giảng học

sĩ Nguyễn Đức Hoạt sung làm Giáp phó

sứ; Quốc tử giám Tư nghiệp Nguyễn Văn

Nhượng đổi bổ Quang lộc tự Thiếu khanh,

sung làm At phó sứ [4, tập 4, tr 1049]

Sau khi đoàn $ứ về đến Kinh sư, không hiểu vì lý do gì cả ba sứ thần đều bị giáng 2

cấp Tiếp đó, triều đình lại cho Phạm Thế

Trung theo nguyên chức Lễ bộ Thị lang

làm công việc bộ Công; Nguyễn Đức Hoạt

theo nguyên hàm Hàn lâm Thị giảng học sĩ

làm việc ở Nội các; Nguyễn Văn Nhượng

lại trở về nhận chức Tư nghiệp ở Quốc tử

giám Sau Phạm Thế Trung được kiêm

thêm công việc ở Mộc thương, rồi lại đổi

sang làm Tả Thị lang bộ Hình, Phủ doãn

phủ Thừa Thiên ( |838) Nhưng không lâu

vì việc làm đường không được tốt mà bị

giáng làm Thông phán, rồi đổi bổ làm Chủ

sự bộ Lễ [4, tập 3 tr.291, 307, 321, 368,

380, 394, 682]

Ít lâu sau đó, ‘Pham Thé Trung được thăng thự Bồ chính tỉnh Hưng Hóa (1843),

hai năm sau được thăng Bố chính Hưng

Hóa (1845) và được thăng thự Hữu Tham

tri bộ Hộ (1846) Nhân việc triều đình

muốn làm bộ sácH Văn quy, những quan

4I

đại thần như Trương Đăng Quế, Hà Duy

Phiên, Lâm Duy Thiếp, Phan Thanh Giản,

Nguyễn Đức Hoạt, Lý Văn Phức, Bùi Quỹ, Phạm Thế Trung, Trương Quốc Dụng,

Hoàng Tế Mỹ, Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn

Cửu Trường, Vũ Phạm Khải, Lê Chân

đều sung chức làm sách Phạm Thế Trung

được chuyền làm thự Hữu Tham tri bộ Lại,

một thời gian được chuẩn cho thực thụ

chức ấy (năm 1848) [4, tập 6, tr.453, 732,

861, 882, 955]

Năm Tự Đức thứ 2 (1849), mở nhà học Kinh dién, Truong Dang Qué, Phan Thanh

Giản được sung làm giảng quan, Phạm

Thế Trung cùng với Nguyễn Đức Chính, Hoàng Tế Mỹ và Trương Quốc Dụng được

sung làm giảng quan thường ngày, hằng

ngày giảng sách bàn luận việc trị nước với

vua Năm 1850, Phạm Thế Trung chuyển

làm Tuần phủ Bắc Ninh, hộ lý Tổng đốc

Ninh-Thái, nhờ siêng năng làm việc, ông được gia thưởng 1 cấp

Năm 1852, Phạm Thế Trung lại bị mắc

lỗi mà theo Đại Nam thực lục chép có ba việc: 1/ việc tâu Tri phủ Vũ Dang Dương

ốm yếu không đúng sự thực, 2/ việc lấy

đơn từ bán thóc và cho vay hư hão, 3/ việc

tha lính lấy tiền để sửa công sở, do đó phải

bị tội đồ; nhưng do sự việc xảy ra trước khi

ân xá nên ông được chuẩn cho cách chức

không bồ dụng nữa |4, tập 7, tr.118, 162,

175, 237]

Như vậy Phạm Thế Trung kết thúc

sự nghiệp quan trường vào năm 1852 Nhưng trong quá trình nghiên cứu về tiểu

sử của Phạm Thế Trung, chúng tôi nhận

thấy về năm sinh và năm mắt của ông có những điểm bất đồng Trịnh Hạnh trong

phần khảo văn bản Sứ Thanh văn luc của

Phạm Thế Trung in trong Việt Nam Hán

Trang 3

42 NGHIÊN CỨU VĂN HỌC, SỐ 7-2021

văn Yên hành văn hiến tập thành cho biết

Phạm Thế Trung sinh năm 1761 mắt năm

1845 [7, tập 14, tr.64] Cũng là thọ 84 tuổi,

nhưng không biết là dựa vào cứ liệu nào để

cho kết quả đó

Trong Đại Nam liệt truyện mục

truyện Phạm Thế Trung, chép: “Năm thứ

3 (chỉ năm Tự Đức thứ 3 (1850), do Tuần

phủ làm Hộ lý Ninh-Thái Tổng đốc, ở

chức hai năm, vì mắc việc bị miễn chức

phải về, chết năm 84 tuổi, vốn tên là Thế

Lịch, sau vua cho tên như ngày nay, tự

hiệu là Chỉ Trai” BÌ- Và trong Quốc triều

khoa bảng luc quyén 1, tờ 5 chép: “Phạm

Thế Lịch, sau đổi tên Trung, người Quần

(Cồn) Mông, Giao Thủy, Nam Định Sinh

năm Tân Hợi, 39 tuổi [đỗ Tiến sĩ], Cử

nhân khoa thi năm Mậu Tý (1828) Làm

quan đến Tổng đốc Bắc Ninh, bị miễn

chức” [1]

Từ dữ kiện lịch sử ghỉ chép về Phạm

Thế Trung, sinh năm Tân Hợi, Cử nhân

khoa Mậu Tý (1828), năm sau ông 39 tuổi

đỗ Tiến sĩ (tức năm 1829), thọ 84 tuổi như

trên, ta có thế suy ra năm sinh Tân Hợi của

ông là 1791, ông thọ 84 tuổi, tức năm mắt

là 1874, Giáp Tuất Vậy Phạm Thế Trung

sinh năm Tân Hợi 1791, mất năm Giáp

Tuất 1874, thọ 84 tuôi

Suy luận của chúng tôi cũng khớp với

thông tin trong sách Các nhà khoa bảng

Việt Nam 1075-1919 viết về tiều sử Phạm

Thế Trung như sau:

“Phạm Thế Lịch (1791-1874), người

xã Quần Mông, huyện Giao Thủy, tỉnh

Nam Định - Nay thuộc thôn Kiên Lao,

xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh

Nam Định Sinh năm Tân Hợi Cử nhân

khoa Mậu Tý (1828) 39 tuổi đỗ Đệ tam

giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu

niên hiệu Minh Mệnh 10 (1829) Lúc đầu được bổ chức Hàn lâm viện Biên tu, điều

bổ chức quyền Tri phủ Tư Nghĩa, lại về

Kinh làm Lang trung bộ Lại, thăng bổ Án

sát rồi Bố chánh Bình Định Năm Tự Đức

17 (1864), thăng Tả thị lang bộ Lễ, sung

Chánh sứ sang Thanh Khi trở về điều

chuyển làm Tả thị lang bộ Hình, rồi Phủ

doãn Thừa Thiên Đầu đời Thiệu Trị làm

Biện lý bộ Hộ, rồi bổ đi làm Bồ chánh sứ

Hưng Hóa, sau thăng thự Tham tri bộ Hộ, chuyển sang bộ Lại Đầu đời Tự Đức sung Kinh diên giảng quan, kiêm quản Viện

Hàn lâm Năm Tự Đức thứ 3 (1850), điều

bổ chức Hộ lý Ninh - Thái Tổng đốc (tức quyền Tổng đốc hai tỉnh Bắc Ninh - Thái

Nguyên) Sau bị bãi chức Thọ 84 tuổi” [6,

tr.660]!

Suốt hơn 20 năm làm việc cho triều

đình nhà Nguyễn, Phạm Thế Trung đã có

những đóng góp cho triều đình ở công tác

trị an, giáo dục, nhưng cũng vướng nhiều

rắc rối đến nỗi phải bị cách chức không tái bổ (đáng ra là bị tội đồ) Có lẽ vì thế,

trong sách Quốc triều khoa bảng lục

không chép nhiều về ông, không ghi tác

phẩm của ông, đó cũng là lý do ít người

biết đến tác giả này

Sứ Thanh văn lục là tác phẩm làm trong thời gian đắc ý nhất của ông, đi sứ

! Tuy nhiên ở dưới lại có đoạn ghi (Phạm Thế

Lịch chết năm 1878 đời Tự Đức, trước thời Đồng

Khánh) trong sách này chúng tôi không biết là do

nhằm lẫn hay là từ nguồn tư liệu nào

Ngoài ra, theo Trần Mỹ Giống (2012), Phạm Thế

Lịch (Trung) sinh ngày 3 tháng 10 năm Tân Hợi

(1791), mat nim Ty Dire 27 (1874) va con cho

biết tên của ông bà thân sinh của ông Nhưng cũng

trong bài viết đó có vài sự kiện bị nhằm lẫn, chưa

chính xác nên cũng không thẻ lấy làm căn cứ (Xem: https://trmgiong wordpress.com/2012/12/09/tien- si-pham-the-lich/).

Trang 4

Luận bàn về Phạm Thể Trung

Trung Quốc năm 1837-1838, cũng là tác

phẩm còn lại mà chúng ta biết được cho

đến thời điểm này Chính vì lẽ đó, bài viết

tập trung giới thiệu về tác giả và tác phâm

để người đọc hình dung về một nhân vật

trong quá khứ, dùng với đó là một số sự

kiện tôn nghi

2 Sứ Thanh văn lục - tác phẩm ký

lục thuần túy

Bản Sứ 7hanh văn lục hiện được lưu

trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán

Nôm, ký hiệu A.]757, thu thập vào trong

Việt Nam Hán vẫn Yên hành văn hiến tập

thành, tập 14 Văn bản chép tay chữ khải,

mỗi trang có 8 + mỗi cột dao động từ 2

dén 23 chit, dug chép theo thể thức văn

bản mang tính quan phương và có dấu đọc

nhuận chính Theo khảo sát của chúng

tôi, văn bản có một số chữ bị chép sai, có

một số chữ hal viết theo lối tục tự Dù

có nhuận chính nhưng đôi khi những chữ

chép sai vẫn không được hiệu chính, có

thể gây khó khăn cho người đọc, sai lạc về

nội dung

Do Sứ Thanh văn lục của Phạm Thế

Trung là một tác| phẩm thuộc loại ký lực

nên đa phần nội dung và văn nghĩa trong

tác phẩm mang tịnh chất ký thuật, tức là

chép lại tường tận những sự kiện dưới

dạng thức của một văn bản hành chính

Song hành cùng với sự kiện là các kiểu

không gian văn học và thể loại văn học

đặc trưng, chang hạn, trong không gian

đối đãi với các viên đại thần triều Thanh

có thơ xướng họä, trong không gian tế tự

thần minh có văn tế Sự liên kết giữa loại

hình văn học, nội dung văn học và không

gian văn học đã phản ánh một cách chính

xác tính chất của ký /ục trong Sứ Thanh

văn lục Như vậy, nói một cách đơn giản

43

Sứ Thanh văn lục tuy cũng là một dạng đu

ký hay ký hành trình cha Pham Thé Trung được viết khi sứ đoàn ông thực thi nhiệm

vụ thông hiếu, nhưng một đặc trưng rất

rõ trong Sứ Thanh văn lục khác với các áng văn về ký đi sứ khác của những sứ giả cùng thời đó là tính vô miêu thuật, tức tác giả không sử dụng bút pháp mô

tả phong cảnh, hiện tượng, các vấn đề

xung quanh chuyến đi một cách ti mi hay sâu xa hơn là ghi lại cảm xúc của mình

mà chỉ mang tính chất ghi chép lại một

cách tường minh công vụ thực thi Có

thể Phạm Thế Trung xem lập trường sứ

thần cao hơn lập trường thi nhân, hoặc

giả trong chuyến đi sứ này ông còn có các thi văn tập khác (mà nay chưa chưa rõ),

đo đó trong Sứ Thanh văn lục, ông không

chú trọng đến các vấn đề thuộc fính văn

mà chỉ chú trọng các vấn để thuộc ứính hành chính thủ tục Đại thể toàn văn Sứ Thanh văn lục đa phần biên chép các loại

công văn và giấy tờ hành chính theo từng

năm cho nên ngoài tính chính luận, tác

phẩm này còn mang tính niên phả với

lối viết biên niên có phần giống với Tran

Khiêm Đường niên phả lục của Trần Tiên cho nên cũng có thể xem Sứ Thanh văn

i„c là một loại ký hành chính chuyên tái

biên các sự kiện và vấn đề xoay quanh thủ tục của nhiệm vụ thông sứ

Đọc Sứ Thanh văn lục, độc giả không

chỉ tiếp cận được con đường thông sứ của

sứ đoàn Phạm Thế Trung mà còn hiểu và biết được một cách chỉ tiết các vấn đề lễ nghỉ, quy định của việc triều cống Chẳng

hạn trước khi muốn bắt đầu một kì sứ vụ,

đích thân vua triều Nguyễn sẽ phải soạn

ra một bản văn biểu tâu với lời lẽ vô cùng

cầu kỳ vừa bao hàm sự ca tụng hoàng

đế nước Thanh vừa nói rõ lý do và hành

Trang 5

44 NGHIÊN CỨU VĂN HỌC, SỐ 7-2021

trang, lễ vật thông sứ cùng đoàn tùy tùng

viên sứ đã được sắp sẵn Sau đó giữa hai

bên sẽ có một loạt các giai đoạn chuyển

giao văn thư từ văn bản về việc nghênh

tống, văn thư về việc kê khai vật phẩm

tuế cống, công văn về việc mở cửa ải đón

tiếp sứ thần Các văn bản này được viết

theo một cấu trúc hoàn chỉnh, theo một

mô thức đã được “lập trình” từ trước, có

nét tương đồng với những văn bản hành

chính, ngoại giao ngày nay Tất cả những

văn bản trên đều cung cấp các loại văn

bản, thông tin liên quan đến việc thông

sứ, là những thông tin mà Khâm định Đại

Nam hội điển sự lệ chỉ nói một cách đại

khái Do đó, chúng có giá trị khảo cứu

nhất định về lịch sử bang giao giữa hai

nước, về điển chế bang giao và các hoạt

động, nghỉ lễ trong suốt chuyến đi sứ

Từ sắc dụ của vua Minh Mệnh năm

1836 về việc giao phó nhiệm vụ đi sứ cho

sứ đoàn:

“Hoàng đề sắc dụ: Lễ bộ Tả thị lang

Phạm Thế Trung nay sang Thanh triều

cống đúng kì theo lệ, đặc ban sung chức

làm Chánh sứ, hiệp cùng Giáp Phó sứ

Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ Nguyễn

Đức Hoạt, Át Phó sứ Quang Lộc tự Thiếu

khanh Nguyễn Văn Nhượng, dẫn lĩnh

những người tùy tùng mang theo biểu

văn, phẩm vật cùng sắp xếp các thứ, y

theo kì hạn qua ải thực hiện sứ vụ, phàm

tất cả những chuyện ứng đối giao thiệp,

cần phải cùng thương lượng hiệp tế ngõ

hầu tôn trọng quốc thể, xứng với sự ủy

thác Khâm tai!

Ngày 15 tháng l1] năm Minh Mệnh

thứ 17 (1836)” [7, tr.144]

Cho đến những vật phẩm tuế công

trong kỳ này cũng được chép khá kỹ càng

trong tờ biểu văn soạn vào năm 1837 chuyền cho nhà Thanh:

“Nước tôi được thiên triều chở che,

trước dự vào hàng các nước xóm giềng, từng có ước định hai năm triều cống một

lần, bốn năm sai sứ đến triều một lần Hai

năm cống một lần và bốn năm vào triều

một lần đã thành quy định Thời gian thấm

thoát, năm nay lại đến kỳ tiến công Trộm nghĩ: phương Nam thái bình, thảy nhờ đức nhân vỗ yên trăm họ, nay dâng cống vật tầm thường quê mủa, nào xứng gọi là báo

đền cao sâu, chỉ là noi theo phận sự bang giao, để tỏ điển lễ, hầu biểu lộ tắm lòng

kính sợ thiên uy Kính đem cống phẩm

của hai năm Ất Mùi, Đinh Dậu, giao cho

bọn sứ thần Phạm Thế Trung nghiêm

cần mang đi, chờ đợi ân chuẩn thâu nhận,

cùng các biểu văn khác dâng lên Cung kính tâu bày mọi việc, cúi mong thánh giám Cẩn tấu!

Cẩn thận sai bầy tôi ba người bao gồm: Phạm Thế Trung, Nguyễn Đức Hoạt,

Nguyễn Văn Nhượng; vật phẩm vật tiến cống hai năm như sau: ngà voi 2 bộ, sừng

tê 4 bộ, thổ trù (lụa tơ địa phương) 200

Xấp, thổ hoàn (lụa nõn địa phương) 200 Xâp, thổ quyên (lụa mộc địa phương) 200 xap, thổ bố (vải địa phương) 200 xắp, tram

hương 600 lạng, tốc hương 1200 lạng, sa

nhân 90 cân, tân lang (trầu cau) 90 cân”

[ tr.75-77]

Cả sắc dụ của vua Thanh cũng được

Phạm Thê Trung chép lại cùng với các thứ tặng phẩm cho sứ đoàn mang về:

*, Từ khi đóng đô ở Loa Thành đã thành thực kính lễ bang giao; đến chầu

té chỉnh mà phong thái uy nghỉ, lời rồng thêm sáng rỡ Mừng thay bởi lòng thành

nên ban cho ơn lớn Nước Việt Nam dốc

Trang 6

Luận bàn về Phạm Thể Trung

sức phò trợ, thực lòng triều cống, cung

kính cần trọng, tuân nghiêm điền lễ, đến

mừng lễ vui khắp thiên hạ, hiến cống vật

quý bày tỏ lòng trung; nói dài thịnh điển

ngày xưa mà dâng lễ mọn từ cõi xa biển

Quế Khuyến lệ lòng trung nơi đất Tượng,

thật đáng ban kHen cho lễ trọng; nghiêm

kính đứng chầu ở rừng Kiêm, xứng được

hàm ơn nơi chín bệ Nay đặc ban sắc dụ

cùng ban cho các lễ vật tốt đẹp Nhận

được sự sủng quyến, càng thêm tỏ tắc

thành; để cho nhận dân được bình an, mối

giao hảo chẳng lứt; sửa soạn lễ vật tốt

đẹp, khiến giang sơn được dài lâu Nay

đặc ban sắc dụ Theo lệ thưởng cho nước

ay: gam 8 xap, lụa mang lan 8 xắp, lụa the

thêu hình trăn 8 xấp, vóc có vằn ngang 8

xap, lua mong i xấp, vai tron 18 xấp,

lụa bông kéo sợi 18 xấp; thưởng thêm

cho nước đó: vải thêu hình trăn 4 x4p, lụa

đoạn dé trang sức 4 xâp, lụa nội 4 xâp, vải

gam 4 xấp, đồ sứ 4 kiện, đồ pha lê 4 kiện,

giấy lụa hoa 4 quyền, bút 4 hộp, mực 4

hộp, nghiên 2 cái

Ngày 24 tháng § niên hiệu Đạo Quang

thứ 17 [1838]? [7,tr.107-108]

Tir day co thé thay trong quan hé

bang giao thời xưa, tuế cống là hình thức

của sự thủ tín (giữ tín) và đối đãi chân

thành giữa các nước xóm giềng với nhau

đặc biệt là giữa rước nhỏ và nước lớn

Nhưng hoàn toàn không phải là kiểu cống

nạp đơn phương một chiều mà ở đó có sự

tặng quà lẫn nhau như kiểu “Đầu ngã dĩ

mộc đào, báo chỉ di quỳnh dao” (‡#‡tÈ b1

2Kdt, #2} ÙÍTð7E - người tặng ta quả

mộc đào, ta tặng người ngọc quỳnh dao

- Kinh Thì), hay như kiểu “Hậu vãng bạc

lai” (I#{Èïil3 lễ mang đến thì ít, lễ tặng

lại thì nhiều - Lễ ty trong phép trị nước

45

vỗ yên người ở xa mà tư tưởng Nho gia

dé xuat

Các ghi chép còn cho thấy sứ đoàn

Việt Nam được đón tiếp, hướng dẫn việc

nhập triều, tập diễn lễ, hay việc đến dự

xem kịch ở vườn Đồng Lạc Ví dụ công

văn về việc giao cho Tứ dịch quán lo liệu

đưa các sứ thần Việt Nam đến Hồng lô tự

để tập lễ nghi khi vào chau vua nhà Thanh:

“Chuẩn theo công văn của Hồng lô

tự, cho tất cả sứ thần nước Việt Nam, định vào giờ Thìn ngày 29 tháng này thì diễn

lễ, đăng nhân! Lúc trước đã giao cho phái viên của quý quán, vào giờ Mão ngày ấy

phải lo liệu cho các sứ thần nước đó đến

Hồng lô tự diễn lễ” [7, tr.99]

Hoặc như công văn giao cho Tứ dịch

quán lo liệu việc ban tặng lễ vật cho các sứ

thần Việt Nam:

“Tất cả các đồ vật, thực phẩm ban thưởng thêm cho các sứ thần của nước

Việt Nam ở Kinh, đều giao cho phái viên

của quý quán lần lượt chuyển vào, kính

cân chờ đợi lĩnh thưởng, như có vật gì ban thưởng, tất cả đều phải kê khai gửi cho ty được biết” [7, tr.99]

Theo nội dung của Lễ bộ (triều Thanh) cẩn tâu lên vua về việc ban thưởng theo lệ

cũng có đoạn ghi:

“Trộm nghĩ, năm nay các sứ thần nước

Việt Nam lên Kinh tuế cống theo lệ, tất cả các việc lĩnh thưởng theo lệ, đến việc hội

yến đều giao cho bọn thần lo liệu tâu lên Tra trong lệ có ghi, khi công sứ về nước

thì được ban thưởng tại Ngọ môn, lại ghi các vật được lĩnh thưởng bao gồm vải vóc lụa là từ phủ Nội vụ, yêu cầu chọn loại tỉnh xảo tốt đẹp để ban cấp; lại ghi các vật

thưởng trong nước và các vật đặc ân ban

Trang 7

46 NGHIÊN CỨU VĂN HỌC, SÔ 7-2021

thưởng thêm, đều giao cho Nội các soạn

vào trong sắc, giao cho công sứ đem về;

lại ghi khi công sứ về nước, thì tại [Lễ] bộ

dự tiệc một lần, tại quán dịch dự tiệc một

lần, về đến tỉnh phận đầu tiên dự tiệc một

lần, các điều ấy đều đã tuân theo mà làm”

[7, tr.110]

Theo ghi chép của Phạm Thế Trung

việc nhận lễ vật của triều đình Trung Quốc

trao cho có chỉ tiết khá thú vị đó là phẩm

vật ban tặng khác với điều đã nói trên Các

sứ thần đã phải viết bẩm tâu lên bày tỏ thái

độ lo lắng và trình bày:

“Sứ thần nước Việt Nam lạy bẩm

làm tờ bẩm việc: Chúng tôi vâng mệnh

bổn quốc, mang các cống vật địa phương

lên Kinh kính triều cống việc đã xong

xuôi Ngày 24 tháng này tại Ngọ môn,

kính cẩn chờ đợi bái tạ lĩnh thưởng theo

đúng thông lệ, mang về công quán xem

xét đối chiếu nhận thấy trong các hạng

phẩm vật được quý quốc ban thưởng có:

gam 8 x4p, trong đó có 6 xấp bị xước hở

rất nhiều, bèn khôn xiết sợ hãi Cẩn chiều

theo thông lệ hằng năm về các vật được

tặng thưởng, phủ Nội vụ chuẩn bị các loại

lụa là gam vóc, có lệnh mang các loại tỉnh

xảo tốt đẹp dé ban cấp, đăng nhân! Đã sao

lục lại cặn kẽ, dựa trên các hồ sơ vẫn còn

Trộm nghĩ rằng: dù nửa sợi tơ vẫn là ân

trời, nào dám mạo muội tỏ lời, nhưng lại

thién nghĩ: màu gdm hoa văn rực rỡ sáng

mịn, mới là tỉnh xảo Nay thir gam nay

lại có nhiều vết xước hở, e rằng các viên

quan giữ kho chuyển giao cho đem về đã

xét lựa chưa được tinh tế, nếu lỡ bị nước

tôi hỏi tới, thì chúng tôi không thể biện rõ

được, tội ấy khó từ, bèn mạo muội mang

hết thảy sự tình bẩm báo rõ ràng, đồng

thời mang 6 xấp gắm lụa này cùng trình

một lúc Cúi xin các vị quan lớn của quý

bộ đường thiên triều, xem xét hiểu cho

Tai i a 4 rn Ai ^ `

giải quyêt thỏa đáng, chúng tôi vô cùng cảm phục vậy Ngưỡng vọng núi cao, lũ

tôi nơm nớp lo sợ, khôn xiết mong mỏi

Nay lay bam!” [7, tr.104-106]

Về việc này, trong sách, không thấy

Phạm Thế Trung chép việc có được đổi

trả vải lụa hay không Bên cạnh những ghi chép cho thấy sự trọng thể trong các hoạt động mang tính nghỉ lễ bang giao giữa hai

nước, ta còn thấy việc bat can của quan lai

Thanh triều trong lúc làm việc Đây là chỉ

tiết thú vị có thể được lý giải ở nhiều góc

độ khác nhau Phải chăng sau sự hồi bam của Phạm Thế Trung, triều đình nhà Thanh

không có phản hồi? Hoặc giả có phản hồi

mà không được ông ghi chép đầy đủ? Và

vì sao sau khi sứ đoàn về nước, cả ba ông, đều bị giáng cấp? Sự kiện sứ đoàn nước ta

sang nhà Thanh lần này, Chánh sứ Phạm

Thế Trung được Gia Khánh Đạo Quang

lưỡng triều thượng dụ và Đại Thanh lịch

triều thực lục nhắc đến, còn bộ Khâm định

Đại Thanh hội điển sự lệ chỉ thống kê khái quát thời gian và phẩm vật thưởng cho

sứ thần Việt Nam nhưng chưa cho thấy

sự kiện các sứ thần Việt Nam tâu bẩm về việc các viên quan xét lựa phẩm vật ban

tặng không cân thận và sự việc sau đó thế nao Dai Nam thực lục cũng không chép

lý do vì sao sứ đoàn của Phạm Thế Trung

bị giáng cấp sau chuyến đi sứ về nước, do

đó để làm rõ sự kiện này có thể sẽ phải cần

thêm thời gian nghiên cứu

Bên cạnh những ghi chép công văn

ngoại giao như biểu văn, sắc văn, bầm văn,

tư hội, di hội, chiếu hội, thỉnh thiếp tập sách còn ghi chép những bài văn tế thần linh cho thấy nét nghỉ lễ tế thần trên đường

Trang 8

|

Luận bàn về Pham TI hé Trung

đi sứ Bài văn tế thần Phục Ba đại tướng

quân (Mã Viện L TẾ Phục Ba đại tướng

quân từ) như sau

a HAH AERA: SELLE, 4 HE Heh, FGRSARE, SEZ LATO FE; AKI

KA, BAZ BUA RVR

Pa ZR; ME, TLR

RZ ERM a!

[7, tr.89-90]

Thién triéu Phuc Ba Đại tướng quân

Tân Tức hẳu vị tiền viết: Hữu đảo tất cáo

lễ dã Cung duy lôn thần: Khí tác sơn hà,

danh thùy di đi Thiên biên dong tru,

khanh xa chỉ ie tiết như tôn; thủy để

thiết thuyên, quắc thước chỉ hùng uy do

tại Cảnh ngưỡng sùng từ nhỉ khởi kính,

thức cung phi lễ đĩ tương kiền Âm phi

ngưỡng lại thân hưu, Ngũ Hiểm mẫn

tế xuyên chỉ tiếp du vãng tảo thông đề

khuyết, cửu "nah dam tram lộ chỉ ân

Thực duy tôn thân tướng hựu chỉ lực dã

Cẩn cáo! |

(Kính trước lịnh vị Thiên triều Phục

Ba Đại tướng i Tan Tic hau, rằng:

Có cầu đảo at = cáo lễ vậy Kính nghĩ

Tôn thần: Khí trùm núi sông, danh lưu

đỉnh vạc Trụ đồng bên trời, tiết lớn dội

vang còn đó; thu} én sat chim sông, oai

hùng mạnh mẽ văn đây Ngưỡng trông

đền dấy lòng cung kính, xuống xe bày lễ

mọn tỏ lòng Ngưỡng mong thần ra sức

âm phù, ghềnh Ngũ Hiểm mái chèo lướt

sóng; cho hanh thông đến nơi cửa khuyết,

chốn Cửu trùng mua móc ơn sâu Thực

nhờ công sức phò trợ giúp đỡ của tôn

thần vậy Cẩn cáo|)

Vì sao các sứ đoàn thường tế viếng

Phục Ba Mã Viện trên đường đi sứ? Điều

47

đó có ảnh hưởng đến tinh thần quốc gia

và dân tộc nước Nam? Lòng tự trọng của các sứ thần nước Nam ở đâu khi vào đó cúng tế Mã Viện? Có thể lý giải rằng, sau

sự kiện Phục Ba tướng quân Mã Viện đưa quân đàn áp phong trào khởi nghĩa Hai Bà Trưng và phân chia ranh giới, người dân

Trung Quốc lập đền thờ Mã Viện như là đẻ

ghi ơn một vị thần trấn giữ vùng đất biên

giới; về sau, Mã Viện lại trở thành vị thần

linh trần áp sóng lớn (phục ba) cho thuyền

bè lại qua thuận lợi Sự chuyển đổi nội hàm từ biểu tượng thần trấn giữ biên giới

thành biểu tượng thần sông nước cho thấy

sự chuyển hóa các van đề mang tính địa lý

lịch sử chính trị sang các vấn đề thuần tính

văn hóa Vì vậy việc tế thần Phục Ba Mã

Viện của các sứ thần Việt Nam (dù có nhắc đến một vài điển tích điển cô cũng chỉ là kiểu nhắc lại sự tích của một nhân thần), chỉ mang ý nghĩa tế thẦn sông nước mà thôi Như bài văn tế thần hồ Động Đình

sau đây:

Zðii !Ñ 2i el EY lB EH

EF; ABBR, BRR FAM

Seta MD RCA, BOE ATF am (REE:

J9ifiEi, XÄ3f:JHlfi —WUR20, 11iSE)MB +8; ABLE, 11ì#0lXK2 lW 8U

MZ Ath at! (7, 11.96]

Thién triéu Hd Quang tinh Déng

Đình bình hỗ Hộ quốc Đại vương tôn

thân vị tiễn viết: Hữu đảo tất cáo lễ dã

Cung duy tôn thân: Bích tẩm trừ tỉnh, chu cung tụy chỉ Triều tông hội Ngũ Hồ chỉ phái, hạo khí uông dương, lợi thiệp thông Tam Sở chỉ tân, linh nguyên phổ tế

Cảnh ngưỡng sùng từ nhỉ khởi kính, kién tương phi lễ dĩ trữ thành Phục vọng: Phú

Trang 9

48

tứ giám lâm, mặc thùy tưởng hựu Nhất

phàm phong lực, ngưỡng bằng trợ thuận

chỉ linh, vạn lý tỉnh sà, tảo đạt thiên triều

chỉ kính Thực lại tôn thần bang phù chỉ

luc da Can cdo!

(Kính trước linh vị tôn than Thiên

triều Hộ quốc Đại vương Động Đình bình

hồ tỉnh Hồ Quảng, rằng: Có cầu đảo ắt

phải cáo lễ vậy Kính nghĩ tôn thần: Cõi

biếc chứa chất tỉnh anh, cung ngọc hội

nên phúc huệ Dòng lớn Năm Hồ tụ lại,

hạo khí mênh mông; bến thông Ba Sở!

lại qua, nguồn thiêng cứu giúp Ngưỡng

trông đền thiêng mà khởi lòng cung

kính, chân thành bày biện lễ mọn để tỏ

lòng thành Cúi mong: thần minh chứng

giám, âm phù giúp đỡ Một lá buồm xuôi,

nguyện xin thần thiêng giúp gió; bè sao

vạn dặm, sớm bày lòng kính giữa sân trời

Ấy thực nhờ sức tôn thần phò trợ vậy

Cần cáo!)

Các bài văn tế này thường không được

đọc trong khi tế, mà chỉ là dâng tế cùng với

phẩm vật do địa phương sắp sẵn Trong

Lịch triêu hiễn chương loại chí, mục Bang

giao chí, Phan Huy Chú cho rằng việc tế

cáo thần linh không chỉ cầu sự “phù nguy

tế hiểm”, “âm phù mặc tướng” để được

yên ồn trong suốt con đường thông sứ mà

còn để thần minh chứng chiếu cho tam

lòng thành khan của các viên quan sứ Đó

là một trong, những nguyên nhân lý giải

VÌ sao việc tế cáo được các sứ thần thực

hiện liên tục trong suốt chặng đường sứ

Hoa Nhưng từ phương diện khác, việc tế

cáo thần linh không chỉ là hành động cầu

sự bình an trên đường thông sứ mà còn là

một cách biểu thị văn hóa, tạo mối liên kết

! Vùng đất thời xưa vào khoảng giữa đời Tần Hán

bao gôm Tây Sở, Đông Sở và Nam Sở

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC, SỐ 7-2021

bền chặt giữa hai nước thông qua hành

động tế tự, tôn trọng văn hóa bản địa, và

đó cũng chính là sự tự khẳng định văn hóa

của nước nhà

Ngoài những ghi chép có tính sao lục các công văn trao đổi qua lại một cách tỉ

mỉ rõ ràng những ngày giờ năm tháng để báo cáo tình hình với triều đình, trong tập

Sứ Thanh văn lục còn có một bộ phận ghi chép mang tính chất của loại bút ký, lược

ghi những điều mắt thấy tai nghe trên hành

trình đi sứ, như chuyện núi lở chết người

ở sông Ngô Châu, chuyện được tặng sách trên đường đi, chuyện tượng Phật chảy máu ở chùa Tương Sơn Dù những ghi

chép loại này không nhiều nhưng nó cũng

cho thấy tính chất ký sự của tác phẩm và ít

nhiều cung cấp vài thông tin về phong tục tập quán và văn hóa trên xứ người như vua Minh Mệnh từng yêu cầu

3 Sứ Thanh văn lục - nơi lưu giữ

những thi phẩm hiếm hoi

Ngoài các văn thư, các bài văn tẾ,

Sứ Thanh văn lục của Phạm Thế Trung

còn là tập lưu giữ những thi phẩm hiếm

hoi của chính tác giả và các Phó sứ Nhân

tiết Vạn thọ vua Thanh, theo lệ, các sứ thần sẽ phải dâng thơ chúc thọ, vì thế đến nay chúng ta mới có dịp đọc được thơ của Phạm Thế Trung và hai Phó sứ Nguyễn

Đức Hoạt, Nguyễn Văn Nhượng Chẳng

bạn bài thơ dâng lên hoàng đế nhà Thanh

của Phạm Thế Trung (Phạm Thé Trung

cung tién thi):

LABWe AH

ST it Sit AG FE HU]

Pa Re APA AC

Tt Hae aE HE

Trang 10

Luận bàn vê Phạm TÌ hề Trung

iE 7öák ÍT<

i ak fa

AEA EDR lL

FEA ERG (LAS [7, tr.102]

Ngũ bách xượng kỳ tụy cát tường,

Hồng lưu thuy ái ting than xuong

Nam minh digp tich tién tri ky,

Bắc cực chiểu hi thọ diệu quang

Kiện vận càn nguyên thuần bắt tức,

Thân trùng tích mệnh vĩnh vô cương

Viễn thần na hạnh bôi tiên trượng,

Bái khế canh dương vạn tự trường

(Năm trăm pam mới có điềm tốt,

phúc lành tụ hội/ Mây màu ngũ sắc phúc

khí bao trùm cả cung vua/ Nơi bể Nam

chất chứa thêm thẻ tuổi của tiên/ Cõi

Bắc rực sáng gol sáng của sao thọ mạng

chầu về/ Sự vận hành mạnh mẽ của quẻ

Càn khởi đầu không ngừng nghỉ/ Mệnh

sáng nối truyền én muôn đời/ Thần từ

nơi xa may mắn lược gần bậc thần tiên/

Cúi đầu chúc thánh thượng muôn năm

trường thọ)

Bài thơ của Nguyễn Đức Hoạt (Nguyễn

Đức Hoạt cung an thi):

Sea Pe

SEH IIE

i Se HE HL

1 BNE H tk

EMEDIA 18

3£I# Hzkfill##

khi A

HARA RAAB (7, tr.102]

49

Lệnh hiến nghỉ nhân giá chỉ trù, Bong Lai cung khuyết thụy quang phù

Duật vân huyễn thái lung hoàng đạo, Hằng nguyệt dương huy sảng tô thu

Qué hải ba trừng chiêu thánh đức,

Minh giai nhật vĩnh tích tiên trù

Thê hàng hạnh trắc Minh Đường hội, Cẩn chúc thiên gia tập phúc trù

(Luật phản tốt đẹp hợp lòng người, phúc lành vô số/ Cung khuyết tựa cõi Bồng Lai, ánh sáng tốt lành nổi lên/ Mây lành

ba sắc rực rỡ chiếu rọi bao trùm cả ngôi

hoàng đạo/ Bóng trăng tỏa sáng giữa mùa

thu trong má Bể Nam sóng lặng, sáng

ngời đức độ thánh vương/ Thèm Nghiêu

thái bình, chất chứa thêm tuổi thọ/ Trèo núi vượt sông đi sứ may được dự hội Minh Đường/ Chỉ muốn chúc thánh thượng

ruộng phúc phì nhiêu)

Và bài thơ của Nguyễn Văn Nhượng

(Nguyên Văn Nhượng cung tiễn thì):

Bồ 34 '† Ất 1E BY

FF BL bite Tk YT BUT BER GA PEPE RHEL

KRG

FAAS RAR BDC BRS SAR FF HG RAK (7, tr 103]

1y chiếu đương trung tượng chính minh, Tường phong phi phất hải ba bình

Giáo hành khởi trực đông tây sóc,

Đức đắc hề duy lộc vị danh

Ngày đăng: 03/11/2022, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cao Xuân Dục (1894), Quốc triều khoa bảng lục, Thư viện Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều khoa bảng lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: Thư viện Quốc gia Hà Nội
Năm: 1894
[2] Khâm định Quang Tự Đại Thanh hội điển sự lệ (7E 3áš ®xì Ất #\ 1|, 1976), quyên 510,Tân Văn Phong xuât bản, Đài Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Quang Tự Đại Thanh hội điển sự lệ
Nhà XB: Tân Văn Phong xuất bản, Đài Bắc
Năm: 1976
[3] Quốc Sử quán triều Nguyễn (2005), Đại Nam liệt truyện, tập 4, Tổ phiên dịch Viện Sử học ViệtNam dịch, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam liệt truyện, tập 4
Tác giả: Quốc Sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa, Huế
Năm: 2005
[4] Quốc Sử quán triều Nguyễn (2003-2007), Đại Nam thực lục, 10 tập và 1 tập phụ biên, Tô phiên dịch Viện Sử học Việt Nam dịch, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc Sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb.Giáo dục, Hà Nội
Năm: 2003-2007
[5] Quốc Sử quán triều Nguyễn (2007), Khám định Đại Nam hội điền sự lệ, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện sử học dịch, Nxb. ThuậnHóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám định Đại Nam hội điền sự lệ
Tác giả: Quốc Sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện sử học dịch
Năm: 2007
[6] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Hữu Mùi (2006), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919
Tác giả: Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Hữu Mùi
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2006
[7] Viện Nghiên cứu Văn sử Đại học Phúc Đán (Trung Quôc), Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) (2010), Việt Nam Hán văn Yên hành vănhiển tập thanh (R57 CHEAT SOME), tập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Hán văn Yên hành vănhiển tập thanh
Tác giả: Viện Nghiên cứu Văn sử Đại học Phúc Đán (Trung Quôc), Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam)
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w