TẲN VĂN - NHÌN TRONG KHÔNG GIAN VĂN HỌC VIỆT NAM LÊ HƯƠNG THỦY'*’ Tóm tắt: Đặt vấn đề nhìn tản văn trong không gian văn học những thập niên đầu thế kỷ XXI, từ thực tiễn của việc viết, cô
Trang 1TẲN VĂN - NHÌN TRONG KHÔNG GIAN VĂN HỌC VIỆT NAM
LÊ HƯƠNG THỦY'*’
Tóm tắt: Đặt vấn đề nhìn tản văn trong không gian văn học những thập niên đầu thế kỷ XXI, từ thực tiễn của việc viết, công bố, xuất bản các tản văn; bài viết tìm hiểu những khuynh hướng, đặc tính của tản văn trong sự quy chiếu của đời sống văn hóa, văn học Từ đó, bài viết cũng nhìn nhận các vấn đề: cách người viết tham dự vào đời sổng văn học, đời sống văn hóa, cách người đọc lựa chọn và thị hiếu tiếp nhận các tác phẩm, một số sắc thái của thị trường xuất bản.
Từ khóa’ , không gian văn học, văn hóa, tản văn, xuất bản, tiếp nhận.
Abstract: This article conducts a survey of the prominence of Short Prose/Vignette in both the writing and publishing industries in contemporary Vietnam In engaging with these works, the article highlights the close relation between the characteristics of these works with readers’ tastes and the publishing market.
Keywords: literary space, culture, short prose/vignette, publishing market, literature Reception.
1 Những điều kiện/ cơ sở của sự
phát triển nở rộ
Bài viết lựa chọn phạm vi khảo sát là
tản văn những thập niên đầu thế kỷ XXI
xuất phát từ thực tiễn sôi động và những
điều kiện, khả năng tồn tại của tản văn
trong một không gian văn học có những
yếu tố đặc thù Mốc thời gian những thập
niên đầu thế kỷ XXI được xem như một
hạn định vừa để giới hạn cho việc hướng
tới đối tượng nghiên cứu, vừa xuất phát
từ thực tiễn đời sống văn học Những thập
niên đầu thế kỷ XXI, sự hiện diện của
internet và những hình thái không gian
mạng, sự đa dạng của các loại hình xuất
bản và điều kiện của việc công bố các
sáng tác, tác động sâu rộng của kinh tế thị
trường, ý thức đổi mới của chủ thể sáng
tạo được tạo đà bởi chặng đường đổi mới
trước đó, sự xuất hiện của một thế hệ người
viết mới trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng
TS - Viện Văn học.
Email: thuylehuong@yahoo.com
thực tiễn sống và viết ở những không gian khác nhau là những nhân tố quan trọng tác động đến đời sống văn học
Trong những thập niên gần đây, nhìn
từ phương diện đời sống thể loại, có thể thấy tính chất bước chuyển, sự thay đổi tư duy văn học; quan niệm, phương thức phản ánh nghệ thuật và sự lựa chọn, vận dụng, phát huy những đặc tính của các hình thức thể loại trong những thực hành sáng tác của chủ thể nhà văn Trong đời sống văn học, có sự xuất hiện ít hơn của một số thể loại vốn là thế mạnh/ được nhiều người viết lựa chọn ở thời kỳ trước (như trường
ca, truyện kí); đồng thời, có sự xuất hiện những hình thức thể loại mới; sự hồi sinh của những thể loại chưa có điều kiện phát triển trước đây Hay nói cách khác, người viết đã có nhiều lựa chọn với ý thức vận dụng những hình thức thể loại mang tính đặc thù hướng tới thể hiện những vấn đề mới của đời sống Theo đó, cùng với bước chuyển của đời sống văn học, tản văn hồi sinh và phát triển mạnh mẽ
Trang 2Những thập niên đầu thế kỷ XXI
là giai đoạn vượt trội của tản văn ở số
lượng người viết (Dạ Ngân, Nguyễn
Quang Lập, Y Phương, Nguyễn Nhật Ánh,
Thảo Hảo - Phan Thị Vàng Anh, Trang
Hạ, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà,
Uông Triều, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp,
Nguyễn Trương Quý, ) và số tác phẩm
công bố Nhiều người viết thường có tản
văn xuất bản như: Nguyễn Ngọc Tư {Yêu
người ngóng nủi, Biển của mỗi người,
Ngày mai của những ngày mai); Nguyễn
Việt Hà {Con giai phố cổ, Đàn bà uổng
rượu); Y Phương {Tháng giêng tháng
giềng một vòng dao quẳm, Kungfu người
Co Xàu); Đỗ Bích Thúy {Trên căn gác áp
mái, Đen độ hoa vàng); Đỗ Phấn {Ngồi
lê đôi mách với Hà Nội, Ngẫm ngợi phổ
phường, Đi chơi bờ Hồ, Bâng quơ một
thời Hà Nội); Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng
Anh {Nhân trường hợp chị thỏ bông, Ghi
chép nhỏ của người cưỡi ngựa); Nguyễn
Vĩnh Nguyên {Tivi, xe máy, nhạc chế, chày
cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ
khác; Với Đà Lạt, ai củng là lữ khách);
Trần Nhã Thụy {Cuộc đời vui quả không
buồn được; Triều cường, chăn ngăn và
rau sạch); Nguyễn Trương Quý (Xe mảy
tiếu ngạo, Hà Nội bảo thế là thương);
Bên cạnh đó là những cây bút thuộc giới
nghệ sỹ, nhà khoa học, viết tản văn
như một nhu cầu và thường là những câu
chuyện/ những chia sẻ liên quan đến đời
sống, nghề nghiệp họ đang theo đuổi (nhạc
sĩ Dương Thụ - Cà phê mưa, đạo diễn Việt
T inh - Chuyện và truyện, ) Tồn tại trong
bối cảnh đặc thù, tản văn “nở rộ” ở những
thập niên đầu thế kỷ XXL Mai Anh Tuấn
trong bài viết Thời của tản văn cho rằng:
“Không khó để thấy, chừng mươi năm trở
lại đây, các đầu sách được dán nhãn tản
văn, tạp văn, tạp bút , gần như ra đời liên tục ở hầu hết các nhà xuất bản trong nước Cho dù nghi lễ đặt tên có vẻ không thật thống nhất và dứt khoát, nhưng tựu trung, các cuốn sách ấy, với dung lượng vừa phải, đều thành hình sau khi các bài viết trong đó, ngày này qua tháng khác, đã xuất hiện trên nhiều mặt báo”1 Nghiên cứu Vệt
sinh thái trong tản văn phương Nam đầu thế kỷ XXL Bùi Thanh Truyền nhận định:
“Những năm đầu thiên niên kỷ mới, với đặc trưng loại thể, tản văn có đất sống nhờ thế mạnh trong việc phản ánh kịp thời, nhanh nhạy các hiện tượng giàu ý nghĩa
xã hội gắn với những tình cảm, ý nghĩ trực tiếp, nóng sốt của tác giả, thích hợp với sự phóng túng nghệ sỹ, với thị hiếu, điều kiện thụ cảm văn chương của độc giả, với cách thức xã hội hóa sáng tác thời công nghệ thông tin ” [8, tr.272]
1 Xem thêm: Mai Anh Tuấn [9], Bích Thu [7],
về khái niệm tản văn vẫn có những
ý kiến chưa đồng nhất Tản văn, nhìn từ tiến trình lịch sử từ khi hình thành, phát triển và nhất là giai đoạn hiện nay khi quan niệm “không có rào cản về mặt thể loại” được ý thức thì việc đưa ra một định nghĩa thường khó có thể thõa mãn các tiêu chí
Từ thực tiễn đời sống của thể tản văn, bài viết chú ý đến những đặc trưng đã được xác lập Theo đó, tản văn là “những tác phẩm văn xuôi ngắn, bày tỏ trực tiếp chính kiến, bàn luận các vấn đề xã hội, bộc lộ những biến khúc nội tâm sâu lắng” [4, tr.8-9]; “lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện
Trang 350 NGHIÊN CỬU VẴNHỌC, SỐ 10-2021
tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp
tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính
của tác giả” [6, tr.293] Diện khảo sát của
bài viết bao gồm cả những trường hợp tác
phẩm được gọi là tạp văn, tạp bút
Sự nở rộ của tản văn là một thực tế đáng
chú ý Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc
tản văn được viết ra, được xuất hiện nhiều
trên các báo, được in ấn, xuất bản Tản vãn
tham gia vào đời sống văn học vừa như
một sản phẩm dễ thích ứng với thị trường
tiêu thụ, vừa như một sản phẩm văn hóa
Viết tản văn, trước hết xuất phát từ nhu
cầu được bộc lộ, được thể hiện chủ kiến
cá nhân1 Cùng với sự mở rộng tinh thần
dân chủ trong đời sống xã hội và đời sống
nghệ thuật là nhu cầu cần thiết được bày tỏ
quan điểm trước những vấn đề của cá nhân
và thời cuộc Tinh thần phản biện xã hội
được thể hiện và mở rộng trên nhiều diễn
đàn và các kênh thông tin Trong văn học,
người viết có nhiều cơ hội bộc lộ chủ kiến,
những suy tư về hiện thực Với đặc tính
của thể loại, tản văn đáp ứng được tiêu chí
bộc lộ chủ kiến, bộc lộ suy tưởng, những
cảm nghiệm của người viết một cách trực
diện Ở một số trường hợp, tản văn “không
đòi hỏi người viết sự “thâm nhập thực tế”
một cách trường kỳ và cái nhìn quan sát có
tính chủ ý cao như ở tùy bút hay bút ký” [5,
1 Trong chặng đường đổi mới được khởi động từ
những năm sau chiến tranh, đặc biệt là sau cao trào
đổi mới văn học từ những năm cuối thập kỷ 80,
bước sang thế kỷ XXI, đời sống văn học đã bước
sang một trạng thái khác Nếu như ở những thập kỷ
cuối thế kỷ XX dưới những tác động của công cuộc
đổi mới, đời sống văn học đã có những chuyển biến
mạnh mẽ từ ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật đến
thực tiễn sáng tác thì bước sang thế kỷ XXI cùng
với những chuyển đổi của đời sống xã hội và đời
sống văn học, đồi mới dường như không còn là vấn
đề đặt ra mà đã là vấn đề tự thân của người viết.
2 Ở một số cây bút (nhiều tác phẩm của họ vẫn được xếp vào dòng văn học đại chúng) thi viết tản văn được lựa chọn và có thể xem như một cách thức trong việc tạo nên những hiệu ứng trong sự cộng hưởng của những hoạt động nghệ thuật của
họ Nhiều tản văn của các cây bút này có số lượng phát hành lớn và được tái bản nhiều lần, mang lại doanh thu.
tr.322] Tản văn một mặt phù hợp với thị hiếu của người đọc trong những thời điểm nhất định; mặt khác, chính những “gương mặt” thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết mà các nhà văn tạo dựng được trước đó đã có sức thu hút/ một gợi dẫn để người đọc tìm đến những sáng tác tản văn của họ2 Đây cũng
là một lý do để người viết lựa chọn hướng đến độc giả bên cạnh nhu cầu bộc lộ cách nhìn, chủ kiến cá nhân
Dung lượng tác phẩm phù họp với khuôn khổ của nhiều trang báo, phù họp với thời gian đọc có giới hạn của độc giả đương đại; tính chất dễ biểu đạt các vấn
đề của đời sống đã khiến cho tản văn có
cơ hội được hiện diện trong đời sống xuất bản, cùng với những cộng hưởng trong đời sống văn học Một số người viết, trước khi xuất bản các tập tản văn thường viết tản văn đăng trên các báo Các bài viết trong tập Tạp văn Phan Thị Vàng Anh từng được
in trên các báo: báo Thể thao - văn hóa, báo Tuối trẻ, Tạp chí Tia sảng, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Các bài viết trong tập Tạp bút Bảo Ninh đều được đăng trên các báo Văn
nghệ Trẻ và một số tờ báo khác ở thời điểm
từ năm 2000 trở về sau Một số tờ báo đã dành số trang nhất định, chuyên mục riêng cho tản văn, những chủ đề tản văn cụ thể Tản văn vẫn được một số nhà văn tên tuổi viết đăng báo song song với những dự định
và kế hoạch dài hơi cho những tác phẩm ở các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn,
Trang 4Từ thực tế nhu cầu của việc viết ở những
nhà văn đã gắn bó dài lâu với nghiệp viết,
sự xuất hiện của những người viết mới, sự
phát triển có xu hướng mở rộng các hình
thức xuất bản; các sáng tác văn học nói
chung và các tác phẩm tản văn nói riêng
được xuất bản ngày một nhiều1
1 Từ phương diện sáng tác và tiếp nhận, tản văn
dành được sự quan tâm của cả người viết và người
đọc Những cụm từ “thời của tản văn” ,“tản văn có
phải là món ăn nhanh” xuất hiện trong một số bài
viết và ý kiến trao đổi.
Những thập niên đầu thế kỷ XXI,
mạng internet tạo ra một không gian rộng
mở cho các kênh thông tin như một cơ chế
tất yếu của đời sống trong xã hội hiện đại;
qua đó, mồi người có thêm những điều
kiện bộc lộ suy nghĩ, bày tỏ ý kiến cá nhân
Không gian mạng trở thành nơi công bố
các sáng tác, cộng hưởng với hoạt động
sáng tác, thúc đẩy và làm thay đổi một số
phương diện trong tư duy nghệ thuật và lối
viết Đời sống văn học Việt Nam những
thập niên đầu thế kỷ XXI một phần chịu
sự tác động của internet, không gian mạng
Nhiều tập tản văn được thai nghén/ xuất
hiện trên mạng trước khi được in và phát
hành theo phương thức truyền thống (tản
văn của Nguyễn Quang Lập, Trang Hạ, )
Ký ức vụn của Nguyễn Quang Lập từng
được đăng tải trên blog cá nhân Có thể
việc viết và đưa lên mạng của nhà văn
ban đầu là một nhu cầu của bản thân trong
cộng đồng mạng, về sau nhận được sự chia
sẻ, phản hồi, cộng hưởng của người đọc và
người làm sách Viết và đăng tải tản văn
trên blog, facebook, các trang web cá nhân
đã và đang là một thực tế của những cây
bút chuyên và không chuyên Không phải
tất cả những sản phẩm của sự viết như vậy
đều cho ra những tác phẩm tản văn với ý
nghĩa là tác phẩm văn học đích thực do nhu cầu của việc viết, do mục đích chia
sẻ và tương tác giữa người viết và người đọc trên không gian mạng, do khả năng và
sự đầu tư của người viết; nhưng cũng như với các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn từng xuất hiện trên không gian mạng ở thời điểm văn học mạng, văn học trong không gian mạng phát triển mạnh mẽ; việc xuất bản theo hình thức này đã có những hiệu ứng về việc xuất bản và phát hành sách với số lượng lớn, kéo theo là những hệ quả về doanh thu
Quan sát đời sống văn học, ở những giai đoạn có tính chất “bước chuyển”, một
số nhà văn đã có ý thức về việc sử dụng những hình thức thể loại đặc thù để phát huy những đặc tính vốn có của nó trong việc kịp thời chuyển tải những vấn đề đặt ra trong đời sống Người viết có thể tìm đến/ lựa chọn đa dạng các thể loại hoặc những hình thức thể loại phù hợp với những vấn
đề muốn chuyển tải Không còn tồn tại ở
vị trí ít được chú ý cả với người viết và người đọc như ở giai đoạn trước, tản văn
đã có một số cơ chế trong sự vận động của đời sống văn học Những suy nghĩ rời rạc, những cảm xúc tản mạn, riêng tư được thể hiện trong một hình hài thể loại khác với những tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, vốn được nhìn nhận như những thể loại
“quan trọng” trong việc phản ánh hiện thực lớn lao trước đây Đến nay, những đặc thù, tính chất mới/ khác của đời sống xã hội và đời sống văn học khiến cho tản văn
có cơ hội hiện diện rộng rãi
2 Những khuynh hướng và sắc thái của lối viết
Do tính chất, đặc điểm của đời sống thể loại cũng như sự vượt ra khỏi cái nhìn
Trang 552 NGHIÊN CỬU VĂN HỌC, SỐ 10-2021
mang tính sử thi của văn học giai đoạn
trước, tản văn thời kỳ đổi mới, nhất là
những thập niên đầu thế kỷ XXI có sự
mở rộng của các phạm trù được biểu hiện
Thực tế là không có sự hạn định về đề tài
với tất cả các thể loại văn học nhưng so
với các thể loại như tiểu thuyết, truyện
ngắn; khi viết tản văn, người viết dễ có
không gian cho sự biểu hiện, đồng thời
không cần đến những chiến lược xây dựng
cốt truyện hay một số kĩ thuật tạo lập văn
bản như ở các thể loại vừa đề cập1; người
viết tự do bộc lộ những suy tư về đời sống,
những kiến giải mang tính cá nhân, đôi khi
là sự giãi bày trước một tình thế của đời
sống Tản văn đa dạng về đề tài sáng tác
từ những cảm nhận, những suy nghĩ tản
mạn về cảnh sắc thiên nhiên, phong tục,
tập quán, những đặc thù của đời sống văn
hóa vùng miền đến những vấn đề “nóng”
của đời sống xã hội, những chia sẻ về nghề
nghiệp, có khi là những công việc “bếp
núc” về nghề, ở đó cũng cho thấy quan
điểm nghệ thuật và chủ kiến của nhà văn
1 Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết, thường cần
có cốt truyện, nhân vật, hệ thống nhân vật Cũng
cẩn hiểu rằng đặc điểm mang tính đặc trưng của
các thế loại truyện ngắn, tiểu thuyết này gần đây
cũng đã được nhiều người viết vận dụng có chuyển
hóa, hoặc người viết có ý thức không bị lệ thuộc
bởi những đặc điểm mang tính quy phạm trước đó
Bởi thế những quy định về thể loại vốn định hình
trước đây, ở một số trường hợp đã không còn “vừa
khuôn” với thực tiễn sinh động, phong phú của đời
sống sáng tác.
2 Với những thể loại khác (như tiểu thuyết, truyện ngắn) người viết thường có sự lồng ghép, đan cài trong cách triển khai xây dựng cốt truyện, chi tiết của tác phẩm (như những “trữ tình ngoại đề”), còn với tản văn, người viết có thể bộc lộ trực diện những góc nhìn cùa mình.
3 Y Phương (2009), Tháng giêng thảng giêng một
vòng dao quắm, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Khuynh hướng thế hiện những góc
nhìn về phong tục, tập quán, những sac
thái văn hóa địa phương
Viết về nhiều đề tài, nhiều phương
diện khác nhau của đời sống, nhưng có thể
thấy một khuynh hướng chủ lưu là tản văn
viết về phong tục tập quán, thể hiện bản sắc văn hóa địa phương, bộc lộ kiến thức, trải nghiệm, góc nhìn về văn hóa vùng miền của chủ thể viết Có sự tiếp tục với xu hướng gia tăng của các tản văn dạng thức này ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, một phần là bởi mỗi chủ thể khi viết, đều chịu sự chi phối bởi vốn văn hóa, những tri thức về văn hóa bản địa mà người viết gắn
bó Đồng thời, quá trình đô thị hóa, những điều kiện, yêu cầu/ nhu cầu của đời sống trên thực tế đã cho phép mồi người xê dịch nhiều hơn Toàn cầu hóa cũng lại đặt
ra những vấn đề về nơi chốn Việc nhiều người bị/ tự bứng khỏi quê nhà đến những không gian khác do thay đổi môi trường sinh sống, môi trường làm việc sẽ tạo ra các trang viết về quê hương nhiều hơn bên cạnh những bài viết về không gian định
cư mới hay những vùng đất mình có dịp đặt chân đến2 Nhiều người thường viết về vùng đất mình gắn bó: có thể là nơi mình sinh ra, nơi mình từng sinh sống và làm việc, cũng có khi là lúc đi xa nhớ và viết
về mảnh đất thân yêu của mình Nhà văn
Y Phương thường viết về làng Hiếu Lễ, những phong tục tập quán của người Co Xàu ở Cao Bằng, những đặc trưng ngày Tet, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán, văn hóa tâm linh3, Sự khám phá sâu vào những vỉa tầng văn hóa của Y Phương đã khiến ông có được những tản văn viết về những cái Tet của người Tày Nùng với những sắc thái văn hóa bản địa độc đáo
Trang 6từ Tết anh cả đến Tết Vía trâu, Têt Tảo
mộ, Tết Slip Sli, Ông viết về vùng đất
và những con người nơi đây bằng những
hiểu biết sâu sắc, bằng sự gắn bó cội rễ về
những con người mà “đất đá nơi đây từng
nuôi họ sống, ôm đăp họ khi chêt” (Giêng
chàm xanh như ngọc) Việc đi sâu/ viêt vê
những vùng đất/ không gian mình gắn bó,
tâm huyết là lựa chọn của nhiều người viết
và trên thực tế đã mang đến những thành
công nhất định Qua những tản văn của
mình, các tác giả đã tạo dựng được những
không gian văn hóa mang tính đặc trưng
của vùng miền gắn liền với không gian
sống và trải nghiệm (Nguyễn Ngọc Tư với
không gian sông nước, miệt vườn Cà Mau;
Nguyễn Nhật Ánh với “sương khói quê
nhà” ở vùng đất Quảng; Đỗ Phấn, Nguyễn
Việt Hà, Nguyễn Trương Quý với một Hà
Nội đã ăn sâu vào tiềm thức và những vấn
đề của thực tại, ) Có thể cùng viết về một
vùng đất, nhưng qua những sáng tác của
mỗi người viết lại có những sắc thái, phong
vị khác nhau Những cây bút như Nguyễn
Ngọc Tiến, Đồ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Lê
Minh Hà, Uông Triều, Nguyễn Trương Quý
đã viết về Hà Nội bằng cách nhìn và dấu
ấn của những chủ thể viêt trong bôi cảnh
mới Tản văn của Nguyễn Việt Hà thường
là những phác họa/ góc nhìn về đời sông
đô thị của một Hà Nội hỗn tạp, nhiều thanh
âm và các mặt đối lập với cái nhìn giễu
nhại Đỗ Phấn sinh ra, lớn lên ở Hà Nội
nên ông viết về Hà Nội bằng sự am hiểu
vùng đất có thời gian dài gắn bó, chứng
kiến những đổi thay của Hà Nội theo thời
gian: từ những món ăn, thức quà mang
nét đặc trưng riêng của Hà Nội; từ những
địa danh, sắc thái sinh hoạt của người Hà
Nội đến những biến chuyển nhanh chóng,
trong đó có những thay đổi về kiến trúc,
cảnh quan như là hệ quả của quá trình đô
thị hóa với những mặt đối lập (Ngồi lê đôi
mách với Hà Nội1) Hà Nội trong góc nhìn
của Uông Triều - một người không sinh
ra ở Hà Nội, với ý thức viết cũng là quá hình hải nghiệm và khám phá - có những thanh âm, màu sắc và hương vị của phố xá, những con đường gắn liền với những hàng cây đặc trưng, những ngôi chùa trầm mặc,
Hà Nội lúc về đêm, Hà Nội của những cơn mưa, Hà Nội với dáng dấp của “một lịch
sử lâu đời, vẻ đẹp tĩnh lặng, ồn ào, bụi bặm, thướt tha”1 2 Hà Nội của Lê Minh Hà gắn liền với những thức quà, thức bánh, những kỉ niệm của một người đã từng gắn
bó và giờ thì đang ở rất xa Hà Nội Không đơn thuần là nồi nhớ về một món ăn, về những hương vị quê hương đã ăn sâu vào tiềm thức, mà trong đó còn chứa đựng cả một miền ký ức về những ngày quá vãng (các tản văn trong tập truyện ngắn và tản văn Thương thể ngày xưa và những giọt
trầm3) Một đặc điểm mang tính chi phối
là người viết thường viết về vùng đất thân thuộc của mình (có thể là quê hương, là nơi được đặt chân đến, có thể là nơi định
cư hiện tại) vừa như là một lợi thế về vốn hiểu biết và sự trải nghiệm, vừa thể hiện sự gắn bó với không gian sống/ không gian tâm tưởng của tác giả tản văn ơ những tản văn có xu hướng thể hiện cái nhìn về phong tục, tập quán, những sắc thái văn hóa địa phương, thường cho thây khả năng quan sát và tái hiện, những cảm nhận và xúc cảm của người viết từ những gì mình
1 Đỗ Phấn (2015), Ngồi lê đôi mách với Hà Nội, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
2 Uông Triều (2020), “Lời nói đầu”, Hà Nội dấu
xưa phố cũ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.7.
* Lê Minh Hà (2005), Thương thế ngày xưa và
những giọt trầm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Trang 754 NGHIÊN CỬU VẪN HỌC, SỐ 10-2021
quan sát được và cảm quan văn hóa của
mỗi chủ thể viết
Khuynh hướng bộc lộ ý kiến về các
vấn đề xã hội
ơ chặng này, những tản văn bộc lộ ý
kiến về các vấn đề xã hội có xu hướng
gia tăng Ngay cả một số tản văn được
xếp vào khuynh hướng thể hiện những
góc nhìn về phong tục, tập quán, những
săc thái văn hóa địa phưong trên đây thì
cũng đã ít nhiều cho thấy những góc nhìn
và chủ kiến của người viết về các vấn đề
xã hội Điều này gắn liền với không khí
dân chủ trong đời sống xã hội, sự gia tăng
tính đối thoại trong đời sống văn hóa, văn
học được tạo đà ở những thập niên đầu
của thời kỳ Đổi mới, sự mở rộng và cộng
hưởng của không gian mạng ở những thập
niên đầu thế kỷ XXL Những năm đầu thời
kỳ Đổi mới, những tiếng nói cho thấy ý
thức về sự thay đổi tư duy nghệ thuật, nhu
cầu được đổi mới lối viết trong các sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh
Châu, Bảo Ninh, đã tạo nên những dấu
ấn quan trọng trong đời sống văn học,
cho thấy những bước chuyển của một giai
đoạn văn học mới Đến nay, cùng với tinh
thần nhận thức lại hiện thực trong đời sống
văn học là nhu cầu bộc lộ những tiếng nói
cá nhân trước những vấn đề của đời sống
xã hội, nhất là khi đời sống đang có những
thay đổi mạnh mẽ với sự tác động sâu rộng
của kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập Khác với những tác
phẩm hư cấu, với tản văn, người viết có
thế bộc lộ một cách trực diện những vấn
đê mình quan tâm, từ đó người đọc có thể
tiếp cận vấn đề nhanh chóng và trực diện
Trong các tản văn của mình, Phan Thị
Vàng Anh thể hiện một cái nhìn sắc cạnh
trước những vấn đề của đời sống: những
hình ảnh mất bản sắc trên đường phố Hà Nội, một gợi xuất về việc đừng xóa làng chài ở Hội An mà nên coi đây như một địa chỉ du lịch văn hóa cần lưu giữ, những trăn trở làm sao những đứa trẻ thành phố hiểu được cội nguồn và lịch sử trong bối cảnh của đời sống hiện đại/ hiện tại, những bất cập của giáo dục, những vấn đề của đời sống điện ảnh - nghệ thuật đưomg đại, những hạn chế cần khắc phục của ngành
du lịch, những căn bệnh trầm kha của người Việt, Trong tản văn của Phan Thị Vàng Anh (Ghi chép nhỏ của người cưỡi
ngựa'), nhiều vấn đề của đời sống được
nhìn nhận, mổ xẻ và phân tích từ chuyện
du lịch đến câu chuyện của đường sắt, những tản mạn xung quanh chuyện trồng cây, thế giới facebook, chuyện ăn uống, chuyện thời gian, chuyện về hưu, chuyện sống với người già, Đọc những tản văn của chị, có thể thấy rõ cái nhìn trực diện
về các phưomg diện của đời sống; thẳng thắn chỉ ra những hạn chế và thói tật, bộc
lộ rõ tinh thần phản biện và riết róng trước những vấn đề đặt ra trong đời sống Phan Thị Vàng Anh thể hiện cái nhìn sắc sảo trong các bình luận, cho thấy chính kiến của người viết về các tình huống/ các mặt tồn tại Cùng tinh thần và góc nhìn mang tính phản biện, nhiều tản văn của Nguyễn Quang Thiều bộc lộ nỗi day dứt về những thực trạng đáng báo động trong đời sống:
là những suy ngẫm về thực trạng những đứa trẻ được bao bọc quá nhiều, mất
đi những khả năng tự vệ và tìm đến cái chết một cách dễ dàng để lại nỗi đau cho những người còn sống (Chủng ta đang bỏ quên con cái trong ngôi nhà của mìnhỴ,
1 Phan Thị Vàng Anh (2016), Ghi chép nhỏ của
người cưỡi ngựa, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
Trang 8những cảm nghiệm của người viết về thái
độ của con người trước thiên nhiên, quy
luật của tạo hóa và những hệ lụy khi con
người phá vỡ quy luật đó {Những loi đi bỉ
ẩn của thảng giêng)', ký ức về các cuộc
tiễn đưa, những chuyến tàu thời chiến
mang theo nhiều thanh niên trai tráng mà
nhiều năm sau những đứa trẻ ở làng ngày
ấy mới cảm nhận được sự chia ly thật sự
của cuộc tiễn đưa đó vì nhiều người trong
số họ không trở về {Bên ô cửa những toa
tàu thời chiến)', tâm trạng và suy nghĩ của
một người đi tìm lại những nét đẹp xưa
cũ trong những người muôn năm cũ, một
Hà Nội đô thị hóa kéo theo sự mất mát
của những giá trị {Những di sản của đất
Thăng LongỴ. Nhiều vấn đề mang tính
thời sự cập nhật vốn đã được đề cập trên
các phương tiện thông tin đại chúng đã
được thể hiện dưới góc nhìn riêng qua các
tản văn của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn
Quang Thiều
Ở những tản văn có khuynh hướng
bộc lộ quan điểm về những vấn đề xã hội,
có thể thấy, một vấn đề đáng quan tâm và
được nhiều tản văn đề cập đến gần đây là
vấn đề sinh thái môi trường Điều này gắn
liền với những biến đổi của môi trường tự
nhiên, những tác động của con người đến
môi sinh và hệ quả phải đối mặt Trong
văn học, ở một số thể loại hư cấu (tiểu
thuyết, truyện ngắn) đã khai thác vấn đề
này nhung với tản văn, người viết đã có
một cách thức để có thể bày tỏ thái độ
một cách trực diện, thẳng thắn, mang tính
thời sự, cập nhật Khi đời sống xã hội có
những thay đổi mạnh mẽ, tốc độ đô thị
hóa diễn ra nhanh chóng hơn, và đi cùng
1 Nguyễn Quang Thiều (2012), Có một kẻ rời bỏ
thành phổ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
với quá trình đó là một số phương diện chịu tác động Quan tâm đến những vấn
đề sinh thái môi trường, Trần Nhã Thụy2
đã quan sát và đưa ra những góc nhìn về
sự biến đổi của thành phố nơi anh sống, từ hiện tượng triều cường mỗi năm cao hơn năm trước {Triều cường, chân ngắn và sau
rạch); tình trạng nước ngập trước cửa nhà buổi sớm mai, khiến anh không khỏi nghĩ đến cảnh tượng thành phố chìm trong nước
và những hệ lụy đến đời sống, sinh hoạt
và sản xuất kinh doanh {Biết bao nhiêu nước ở ngay trước nhà) Khi đề cập đến
những vấn đề sinh thái đô thị, Đỗ Phấn (cả trong tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn)
đã đặt ra nhiều vẩn đề đáng suy ngẫm, có tính phản biện xã hội trước những bước chuyển của đời sống với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng Trong bối cảnh hiện nay, con người đã và đang phải đối mặt với những vấn nạn sinh thái như hiện tượng trái đất nóng lên, hiệu ứng nhà kính, thiên tai, sự đa dạng sinh học bị đe dọa, tình trạng mất cân bằng sinh thái từ quá trình
đô thị hóa Cùng với các sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết, Đỗ Phấn cũng như một
số người viết khác đã tìm đến tản văn đế bộc lộ quan điểm về những vấn đề sinh thái Đó cũng là lý do cho thấy vì sao có nhiều tản văn đề cập đến vấn đề sinh thái
môi trường {Gáy người thì lạnh3- Nguyễn Ngọc Tư; Phố của làng - Dạ Ngân; Biết bao nhiêu nước ở ngay trước nhà, Bầu trời và dây điện - Trần Nhã Thụy; Chủng
ta chẳng có nơi nào khác để đi - Phạm Lữ
Ân, ) thòi gian gần đây
2 Trần Nhã Thụy (2014), Triều cường, chân ngắn
và rau sạch, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
3 Nguyễn Ngọc Tư (2012), Gáy người thì lạnh, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
Trang 956 NGHIÊN CỬU VĂN HỌC, SỐ 10-2021
Trong những tản văn có xu hướng bộc
lộ ý kiến về các vấn đề xã hội, dấu ấn của
“cái tôi tác giả” thường rõ nét “Cái tôi tác
giả” có thể là một hình tượng được khắc
họa Trong tản văn Trang Hạ (Đàn bà ba
mươi') nổi bật bởi hình tượng của người
nữ chủ động trong cuộc sống, công việc
và hôn nhân, tự chủ với tình cảm và có
thái độ sống độc lập Ở đó, không có một
công thức nào cho tình yêu và hạnh phúc
mà mỗi người có thể tìm kiếm, chiếm lĩnh,
cảm nhận hạnh phúc theo cách riêng của
mình Ý thức về chính mình, về bản thể
luôn là một yếu tố cốt lõi trong hình tượng
người nữ trong các tản văn của chị “Cái
tôi tác giả” cũng có thể được bộc lộ qua
những quan điểm, cách nhìn, lập luận và
vấn đề được đề cập Trong các tản văn
thuộc khuynh hướng bày tỏ ý kiến về các
vấn đề xã hội người viết thường bộc lộ tinh
thần chất vấn, phản biện về những vấn đề
xã hội, nhân sinh, thể hiện quan điểm của
chủ thê từ góc nhìn cá nhân với những lý
giải, phân tích của người viết
Khuynh hưởng giãi bày, bộc lộ những
miền kỷ ức và xúc cảm cá nhân, những
cảm nhận về đời sổng hiện tại
Sự hiện diện rõ rệt của những tản văn
thuộc khuynh hướng này, trước hết xuất
phát từ nhu cầu mượn đến hình thức của tản
văn để dễ dàng bộc lộ những xúc cảm cá
nhân của người viết như cách thức thường
thấy ở nhiều tác giả tản văn Đồng thời,
khi đời sống xã hội thay đổi nhanh chóng
theo yêu cầu/ nhu cầu về phát triển kinh tế,
xã hội trong thời kỳ hội nhập; đô thị hóa
diễn tiến nhanh hơn sẽ dẫn đến những thay
đổi cả trong đời sống thực tại hiện hữu và
1 Trang Hạ (2012), Đàn bà ba mươi, Nxb Văn học,
Hà Nội.
ý thức của mỗi cá nhân Những thay đổi nhanh, đôi khi là chóng vánh dễ dẫn đến những suy cảm về hiện thực, bộc lộ cái nhìn mang tính đối sánh
Với đặc trưng của thể loại, tản văn
đã được lựa chọn như một phương tiện hữu hiệu để chuyên chở những hồi ức, xúc cảm cần bộc lộ; những kỷ niệm sâu sắc (ở đó có những dấu ấn về hình bóng cuộc đời tác giả); những rung động trước những tình huống, cảnh ngộ của quá khứ
và hiện tại Đỗ Bích Thúy trong Trên căn gác áp mái2 3 là những ký ức và xúc cảm
về người chị quá cố của mình, nỗi niềm của người đàn bà viết với những trăn trở
về cuộc mưu sinh, những cảm nhận về cuộc sống của những đứa trẻ trên căn gác
ở phố cùng nỗi nhớ, ký ức về tuổi thơ xa xưa của mình ở một vùng hoang sơ; là tình yêu và nỗi nhớ quê hương được gửi gắm trong cái cây mang về từ vùng đất
xa xôi ấy, Bay trên mái nhà thành ph(F
của Phong Điệp là những hình dung về ban mai khi xưa và khi nay: ban mai của tuổi thơ trong trẻo và ban mai của bây giờ khi mỗi sáng bước ra đường là phải đối mặt với nạn tắc đường, ban mai mù mịt khói vì nhà nhà quạt chả (Ban mai bước
ra đường)-, những cảm nhận về những đổi thay của khu phố theo thời gian (Nếpphố)-,
những góc nhìn và thông điệp của người
mẹ về những cảnh sống của một nơi không
xa Bờ Hồ - nơi những cô cậu học trò vẫn hàng ngày đối mặt với cái đói, cái rét và những thiếu thốn mà học sinh thành phố khó lòng tưởng tượng (Gửi con những câu
2 Đỗ Bích Thúy (2011), Trên căn gác áp mái, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
3 Phong Điệp (2012), Bay trên mải nhà thành phố, Nxb Văn học, Hà Nội.
Trang 10chuyện mùa đông) Ỏ những tản văn được
viết theo khuynh hướng này thường bộc lộ
dòng suy tư, xúc cảm của người viết với
những đan xen giữa quá vãng và hiện tại,
khai thác khả năng liên tưởng Trước một
khung cảnh và tình huống hiện hữu, ký ức
bất chợt tràn về cùng với những trạng thái
tâm trạng của chủ thể Không gian, thời
gian được tạo dựng, khắc họa từ những
điểm nhìn đan xen giữa còn và mất, quá
khứ và hiện tại, những lưu luyến, hồi cố về
hiện thực quá vãng và thực tại Đằng sau
những miền ký ức được gợi lại, sau những
chia sẻ, những giãi bày của người viết, các
tản văn ở những mức độ khác nhau cũng
đã đặt ra những vấn đề đáng quan tâm của
đời sống
Khuynh hướng chia sẻ những vấn đề
của đời sống nghệ sỹ, những người từng
gặp và công việc “bếp núc ” nghề nghiệp
văn chương, nghệ thuật
Nhiều người viết tản văn, trước hết
là những nhà văn chuyên nghiệp Một số
người đã có vị trí trên văn đàn và có bề dày
trong bước đường sáng tác mượn đến tản
văn để chia sẻ nhiều vấn đề về đời sống và
công việc “bếp núc” của văn chương Đọc
tản văn của Nguyễn Nhật Ánh, người đọc
có thể bắt gặp những hình ảnh của làng Đo
Đo, ngôi làng từng đi vào nhiều sáng tác
ăn khách của Nguyễn Nhật Ánh, những
chia sẻ về công việc bếp núc/ về những
nhân vật trong truyện (Cây trái tuồi thơ)
Người đọc bắt gặp một Nguyễn Nhật Ánh
vừa quen (liên quan, gần gũi với những
sáng tác hư cấu ông từng viết cho tuổi
mới lớn), vừa lạ bởi những góc nhìn và
chia sẻ vì ở đó cái tôi của người viết được
bộc lộ Đọc Có một cách yêu vãn chương,
người đọc có thể biết thêm về con đường
đến với nghiệp viết, về những tác phẩm
đầu tay và tình yêu văn chương được nuôi dường như thế nào Với những cây bút nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp thì tản văn còn là cách thức để người viết có thể chia
sẻ những vấn đề liên quan đến nhà văn và tác phẩm, thể hiện những góc nhìn về đời sống xã hội và đời sống sáng tác của cá nhân và đồng nghiệp Những tạp bút của
Bảo Ninh Sau chiến tranh, chủng tôi viết văn; Nen văn học nặng thương tích chiến tranh; Mấy cảm nghĩ về nghề văn; Tiếu thuyết thời đổi mới1 là những chiều cạnh của đời sống văn học từ cái nhìn và kinh nghiệm của một người viết từng tham dự
và có tác phẩm thành công về chiến tranh
Ở những tác phẩm thuộc khuynh hướng này, nhiều chân dung các nhà văn, nghệ sỹ cũng đã được phác họa, bộc lộ những góc nhìn của người viết từ những quan sát và trải nghiệm cá nhân
1 In trong Bảo Ninh (2015), Tạp bút Bảo Ninh, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
Với số lượng phong phú các tản văn được viết, in ấn, xuất bản trong thời gian gần đây, việc phân chia các khuynh hướng trên đây hướng đến việc nhận diện tản văn trong bối cảnh văn học đang có những chuyển động đáng chủ ý Với tính chất của thể loại (mọi vấn đề của đời sống đều có thể được ghi lại dưới dạng những tản văn), sự giao thoa của thể loại (tự sự, trữ tình, ) và thực tiễn sôi động của tản văn; việc nhìn nhận tản văn từ các khuynh hướng trên đây vẫn có tính tương đối Trong nồ lực tìm hiểu tản văn những thập niên đầu thế kỷ XXI, ngoài những khuynh hướng và sắc thái của lối viết được đề cập trên đây, do tính chất “hỗn hợp”, tự do của lối viết; vẫn còn những tản văn khó có thể khuôn vào những loại hình/ khuynh hướng