PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài Tỉnh Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc Tổ quốc Nơi đây không chỉ được biết đến là một địa phương với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng đất nước, với tài nguy.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tỉnh Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc Tổ quốc Nơi đây khôngchỉ được biết đến là một địa phương với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng đấtnước, với tài nguyên khoáng sản phong phú, mà còn là một vùng văn hóa với nềnvăn học dân gian giàu giá trị, đậm đà bản sắc dân tộc Đến với văn học dân gianQuảng Ninh là đến với một kho tàng tri thức về con người, lịch sử, văn hóa… vôcùng đa dạng, cần được bảo tồn và phổ biến Trong đó có ca dao vùng mỏ
Ca dao vùng mỏ là một bức tranh thu nhỏ về cả một thời kì đau thương nhưngbất khuất của đội ngũ công nhân Quảng Ninh Những câu ca dao không chỉ phảnánh thực tế cuộc sống, là vũ khí đấu tranh giai cấp sắc bén, mà còn là tiếng lòngcủa cả một tầng lớp người lúc bấy giờ Chính từ ý nghĩa đó, ca dao vùng mỏ đã cónhững giá trị đặc sắc
Đến thời điểm hiện tại, ca dao vùng mỏ Quảng Ninh đã được sưu tầm, giới thiệu
và nghiên cứu trong một số công trình tổng quan về văn học dân gian địa phương.Trên cơ sở từ sự khảo sát của những nhà nghiên cứu đi trước và với sự hướng dẫncủa giảng viên, tác giả khóa luận mong muốn được tìm hiểu về ca dao vùng mỏtrên góc độ khoa học để có được thêm những nhận định, đánh giá về giá trị của thểloại trữ tình dân gian này Người viết hi vọng từ sự khảo cứu của mình, ca dao nơiđây được phổ biến rộng rãi hơn trên nhiều phương diện; qua đó góp phần khẳngđịnh vị trí của một loại ca dao mang đậm bản sắc văn hóa con người Quảng Ninhnói chung và giai cấp công nhân mỏ nói riêng
Bản thân tác giả khóa luận là người Quảng Ninh đang theo học ngành Văn họctại Đại học Sư phạm Hà Nội và là thành viên của Hội Văn nghệ Dân gian QuảngNinh Vì vậy, tìm hiểu về ca dao vùng mỏ là một hướng nghiên cứu thiết thực phục
Trang 2vụ cho công tác học tập cũng như làm việc và là tiền đề cho các dự án nghiên cứusau này tại địa phương Không chỉ vậy, trong quá trình làm khóa luận, tác giả cònđược biết thêm nhiều tri thức quan trọng về quê hương cả về lịch sử, chính trị vàvăn hóa, văn học Từ đó làm tăng thêm vốn kiến thức chuyên ngành và bồi dưỡngthêm tình yêu, niềm tự hào đối với quê hương, đất nước, con người.
là chủ yếu
Năm 1981, Ty văn hóa – Thông tin Quảng Ninh xuất bản cuốn “Ca daoVùng mỏ (trước cách mạng)” do nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài chủ biên Cuốnsách là tập hợp các bài ca dao vùng mỏ trước cách mạng tháng 8/1945 Cuốn sáchđược chia làm ba phần Phần đầu tiên, tác giả giới thiệu đôi nét về giá trị và đónggóp của ca dao vùng mỏ, phần thứ hai là một số các bài ca dao chọn lọc và phầnthứ ba là các sáng tác vận động Cách mạng cùng vè dân gian ở nơi đây Trong phầnthứ nhất , nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài có giới thiệu về ca dao vùng mỏ trên cácphương diện nội dung đó là tố cáo thực dân, thể hiện tình cảm yêu thương và ý chícách mạng và khái quát về giá trị nghệ thuật Những luận điểm trên đã thể hiệntương đối đầy đủ giá trị của ca dao vùng mỏ trước Cách mạng Tuy nhiên, một vàivấn đề tác giả khóa luận còn chưa thực sự đồng tình như về luận điểm ca dao vùng
mỏ phản ánh tình yêu thiên nhiên Theo chúng tôi, thiên nhiên ở đây là phương tiện
Trang 3nghệ thuật để con người bày tỏ tình cảm với quê hương, đất nước và thể hiện tìnhyêu lứa đôi.
Năm 2010, Hội Văn nghệ Dân gian Quảng Ninh kết hợp với Tập đoàn Côngnghiệp than – khoáng sản Việt Nam, xuất bản cuốn “Ca dao vùng mỏ” do tác giảTống Khắc Hài chủ biên Đây là cuốn sách có thể coi là tập hợp đầy đủ nhất các bài
ca dao vùng mỏ trước cách mạng 8/1945 và sau ngày vùng mỏ giải phóng25/4/1955 Ở những trang đầu tiên “Ca dao vùng mỏ - Những tác phẩm văn họcdân gian vô giá”, tác giả giới thiệu về nội dung của ca dao vùng mỏ trên cácphương diện: giá trị hiện thực, giá trị lịch sử và tính trữ tình của ca dao trước cáchmạng và sau ngày vùng mỏ giải phóng
Năm 2011, trong cuốn “Địa chí Quảng Ninh” tập 3, ca dao vùng mỏ được giớithiệu tại mục “Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng tháng 8 – những sáng tác văn họcđầu tiên của giai cấp công nhân” Hai phương diện nội dung và nghệ thuật trongnhững sáng tác trước Cách mạng đã được đề cập đến một cách khái quát, đem đếncái nhìn tổng quan cho người đọc
Trong luận văn “Khảo sát ca dao – dân ca người Việt lưu truyền ở Quảng Ninh”của Lê Thị Nga, ca dao vùng mỏ được nghiên cứu ở luận điểm 3 “Bức tranh hiện
thực môi trường mỏ” của chương 2: Khảo sát nội dung ca dao người Việt lưu
truyền ở Quảng Ninh trên phương diện ngôn từ Ở đây, tác giả nghiên cứu về ca
dao vùng mỏ trên 3 phương diện: Cuộc sống của người phu mỏ, bộ mặt tàn ác củabọn thực dân và ý chí niềm tin của người phu mỏ
Đã có không ít các bài báo viết về ca dao vùng mỏ Trước tiên, có thể kể đến bài
“Từ ca dao vùng mỏ nghĩ về thợ mỏ ngày xưa” được đăng trên tạp chí Than –
Khoáng sản vào ngày 11/11/2014, nhân kỉ niệm 78 năm ngày truyền thống Công
Trang 4nhân Vùng mỏ - truyền thống ngành than (12/11/1936 – 12/11/2014) Bài báo ônlại cuộc sống của công nhân và giới thiệu về ca dao vùng mỏ trước Cách mạng.
“Ca dao vùng mỏ là “mỏ đá quý” mà hiện vẫn chưa được khai thác nhiều…” là tiêu đề bài báo của tác giả Huỳnh Đăng đăng trên báo điện tử Báo Quảng Ninh
ngày 13/12/2015 Bài báo là cuộc trò chuyện với ông Lê Văn Lạo – một lương ynhưng lại say mê khảo cứu văn hóa dân gian Quảng Ninh Nội dung phỏng vấn lànhững câu chuyện xung quanh công trình nghiên cứu của ông về công nhân vùng
mỏ qua ca dao nơi đây
Tiếp theo, đó là bài “Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng: Giá trị văn hóa phi vật
thể quý báu của Quảng Ninh” của nhà văn Vũ Thảo Ngọc in trên báo điện tử Báo
Quảng Ninh ngày 20/12/2015 Bài báo giới thiệu lịch sử sưu tầm các bài ca daovùng mỏ từ những tư liệu đầu tiên cho đến cuốn “Ca dao vùng mỏ” xuất bản năm
2010 là cuốn sách hoàn thiện nhất Đồng thời, tác giả còn khẳng định giá trị của cadao vùng mỏ trước Cách mạng đối với lịch sử và với văn hóa dân gian QuảngNinh
Như vậy, với sự tìm hiểu về lịch sử sưu tầm, giới thiệu và nghiên cứu vấn đề,chúng tôi nhận thấy ca dao vùng mỏ là một đối tượng văn học giàu giá trị, đượcchú trọng lưu giữ, bảo tồn và có vai trò quan trọng trong kho tàng văn học dân gianQuảng Ninh Theo chúng tôi, việc nghiên cứu về ca dao vùng mỏ dừng lại ở mức
độ khái quát chung và chủ yếu là tìm hiểu về ca dao vùng mỏ trước Cách mạng.Tác giả khóa luận mong muốn được đóng góp thêm những nhận định, góp phầnđem đến cái nhìn toàn diện về thể loại đặc sắc này của văn học dân gian QuảngNinh ở cả hai thời kì trước Cách mạng và sau ngày vùng mỏ giải phóng
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong kho tàng văn học dân gian Quảng Ninh, có nhiều kiểu loại ca dao đặcsắc, giàu giá trị (ca dao dân tộc thiểu số, ca dao vùng biển…) Ở khóa luận này,chúng tôi nghiên cứu về ca dao được lưu truyền ở vùng mỏ Quảng Ninh trên haiphương diện nội dung và nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ca dao vùng mỏ được sáng tác phổ biến và lưu truyền rộng rãi ở QuảngNinh Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy cuốn “Ca dao vùng mỏ” doHội Văn nghệ Dân gian Quảng Ninh phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam xuất bản năm 2010 là ấn phẩm sưu tầm nhiều nhất về ca daovùng mỏ từ trước đến nay Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là 541 bài cadao được in trong cuốn sách này
4 Mục đích nghiên cứu
Trước hết, tác giả khóa luận nghiên cứu về ca dao vùng mỏ trên phương diệnnội dung để có thêm những nhận định, đánh giá về giá trị của kiểu loại ca dao nàyđối với lịch sử và văn học địa phương
Đồng thời, chúng tôi bước đầu khai thác, phân tích những yếu tố nghệ thuật đặcsắc; từ đó rút ra những nhận xét về mặt hình thức kết cấu, ngôn ngữ, thể thơ… của
ca dao vùng mỏ
Qua những tìm hiểu của mình, tác giả khóa luận mong muốn đưa đến cái nhìntoàn diện về mặt nội dung và nghệ thuật của một loại ca dao tiêu biểu của văn họcdân gian Quảng Ninh Từ đó, khẳng định những giá trị của ca dao vùng mỏ khôngchỉ đối với văn học địa phương mà còn với kho tàng văn học dân gian nước ta
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận đã kết hợp vận dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu:
Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: các phương pháp này giúp người
nghiên cứu xác định số lượng, tần số xuất hiện, sự phân loại của các bài ca dao theocác tiêu chí Từ đó rút ra nhận xét về đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật của cadao vùng mỏ
Phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh: phương pháp này nhằm làm
nổi bật các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ca dao vùng mỏ lưu truyền ởQuảng Ninh
Phương pháp so sánh, đối chiếu: áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu các
bài ca dao vùng mỏ trước Cách mạng và sau ngày giải phóng để thấy được sự đốisánh về nội dung luận điểm chính trong từng phần và từ đó thấy được những nétchung và riêng trong nghệ thuật
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trên cơ sở khảo sát thực tế và nghiên
cứu văn bản ca dao vùng mỏ hiện có, tác giả đã vận dụng phương pháp nghiên cứuliên ngành giữa văn học với lịch sử học, địa lí học để có thể nghiên cứu một cáchtoàn diện và chuyên sâu nhất
Phương pháp điền dã: Tác giả khóa luận đã về vùng mỏ Hà Lầm (Hạ Long),
vùng mỏ Mông Dương (Cẩm Phả) và gặp gỡ phỏng vấn những cựu công nhân mỏ,
để có được cái nhìn toàn diện về kết cấu cơ sở hạ tầng của các vùng mỏ than vàcuộc sống thực tế của người công nhân trước đây
Trang 76 Đóng góp của khóa luận
Các nhà nghiên cứu đi trước đã quan tâm sưu tầm và giới thiệu về ca dao vùng
mỏ lưu truyền ở Quảng Ninh nhưng tất cả mới chỉ dừng lại ở mức tổng quát vàchưa được hệ thống hóa thành một nghiên cứu mang tính chất khoa học Tác giảdựa trên tinh thần gợi mở và định hướng của giảng viên và những nhà nghiên cứu
đi trước, lần đầu tiên ca dao vùng mỏ được nghiên cứu một cách toàn diện, hệthống thành một khóa luận
Khóa luận đã góp phần bước đầu vào việc khẳng định vị trí của ca dao vùng mỏ
- một loại ca dao mang tính địa phương gắn liền với lịch sử và những giá trị khôngthể phủ nhận của nó đối với nền văn học dân tộc
Khóa luận đóng góp giá trị về mặt tư liệu cho chương trình địa phương tronggiáo dục, góp phần vào công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy giá trị văn hóabản sắc của Quảng Ninh
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, nội dung chính của khóa luậnđược chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung và tình hình khảo sát, thống kê, phânloại ca dao vùng mỏ
Chương 2: Đặc điểm nội dung của ca dao vùng mỏ
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của ca dao vùng mỏ
Trang 81.1 Khái quát về đặc điểm địa lí, lịch sử, điều kiện tự nhiên và văn hóa xã
hội của tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam Được thành lập từ năm
1963, tên gọi Quảng Ninh có nguồn gốc từ tên ghép của hai tỉnh Quảng Yên và HảiNinh cũ Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến
21o40' vĩ độ bắc Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km Bề dọc từbắc xuống nam khoảng 102 km Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phíanam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáp tỉnh HảiDương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh LạngSơn, Bắc Giang và Hải Dương Với điều kiện vị trí trên, Quảng Ninh đóng vai trò
là một vùng bản lề của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế,chính trị và giao lưu trao đổi văn hóa với các vùng trong nước và quốc tế
Trang 9Địa hình Quảng Ninh được kiến tạo thành ba tiểu vùng có sắc thái văn hóatương đối rõ rệt, hòa quyện trong tính thống nhất của vùng là: khu vực đồi núi caođược kiến tạo bởi các dãy núi có độ cao từ 900 – 1.100m với hướng chủ đạo làĐông Bắc – Tây Nam; thứ hai là khu vực trung du và đồng bằng ven biển được bồiđắp phù sa hàng năm từ các con sông lớn: Bạch Đằng, Tiên Yên, Ba Chẽ…; thứ ba
là vùng biển và hải đảo gồm 2078 đảo lớn nhỏ Điều kiện đó giúp con người nơiđây phát huy được vai trò chính trị, văn hóa du lịch, thủy sản, khoáng sản, thươngmại và đặc biệt là khơi dậy ở họ lòng tự hào về quê hương đất nước và khát vọngsáng tạo nghệ thuật Mỗi một vùng địa hình đều có những sắc thái văn hóa, văn họcđặc trưng của vùng, tạo nên sự đa dạng về văn hóa nghệ thuật ở Quảng Ninh Cóthể nói, Quảng Ninh là một vùng đất phong phú về khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng.Đồng thời đó cũng chính là môi trường sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đa sắcthái của người dân nơi đây
Quảng Ninh còn là một trong những tỉnh trọng điểm về kinh tế Ngay từ khi đấtnước phát triển, bước vào thời kỳ hội nhập nước ta đã chú trọng vào việc phát triểnkinh tế vùng trọng điểm trong đó có Quảng Ninh Được xem như là đầu tàu củaphía Bắc, Quảng Ninh là nơi tập trung những mỏ khoáng sản lớn nhất nước ta,chiếm tới 90% Đây là nguồn tài nguyên bất tận nhằm cung cấp nguyên liệu chonhiều ngành công nghiệp, xuất khẩu Hình ảnh “than – vàng đen của tổ quốc” đã đivào trong rất nhiều các tác phẩm thi ca nghệ thuật, trở thành nguồn đề tài và cảmhứng sáng tác đối với nhiều tác gia Chính những đặc trưng về lịch sử, văn hóa liênquan đến kinh tế vùng (công nghiệp, nông nghiệp, thủy hải sản…) mà ở QuảngNinh xuất hiện nhiều tác phẩm và loại hình văn học nghệ thuật có nét đặc sắc rấtriêng mà chỉ địa phương này mới có, tiêu biểu có thể kể đến ca dao vùng mỏ hayhát giao duyên trên biển, hát đối, hát nhà tơ cửa đình…
Trang 10Không chỉ vậy, Quảng Ninh còn là một trong những trung tâm du lịch bậc nhất
cả nước với hệ thống các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa có tầm vóc
và ý nghĩa quan trọng Những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử này đã tạo choQuảng Ninh một diện mạo đa dạng không chỉ về du lịch mà còn về tôn giáo, tínngưỡng, văn hóa, nghệ thuật Có thể nói, những địa danh, những thắng cảnh tươiđẹp đã phần nào tạo nên cảm hứng sáng tác, cảm hứng ngợi ca thiên nhiên, đấtnước, con người của người dân nơi đây và du khách thập phương khi đến vớiQuảng Ninh
1.2 Khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh
Quảng Ninh có một kho tàng văn học dân gian phong phú, đặc sắc Kho tàng đó
là kết tinh những sáng tác văn học của tất cả các tộc người cùng sinh sống trênmảnh đất này trải qua mỗi thời kì Đến với diện mạo văn học dân gian Quảng Ninh
là đến với những vùng văn học đặc trưng và các loại hình văn học đa dạng, phong
phú, giàu giá trị
1.2.1 Phân vùng văn học dân gian Quảng Ninh
Theo nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài, trong cuốn “Địa chí Quảng Ninh”(tập 3),Quảng Ninh có 4 vùng văn học dân gian được chia theo tiêu chí địa lí tương ứngvới 4 vùng địa hình của mảnh đất này Đó là vùng núi, vùng trung du và đồng bằngven biển, vùng biển và vùng đô thị [6]
Vùng miền núi
Vùng văn học dân gian miền núi Quảng Ninh có văn học dân gian của cácdân tộc thiểu số người Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa Các dân tộc này có sốdân trên một ngàn người và họ sống thành những cộng đồng dân cư ở các làng bảnmiền núi với ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng (Còn có các dân tộc khác nữa
Trang 11nhưng số lượng ít, không thành các cộng đồng dân cư và sắc thái văn hóa dân tộckhông rõ nét) Chung một nguồn gốc từ các tộc người Bách Việt và đã cư ngụ lâuđời bên cạnh người Kinh, nhất là nhóm Tày – Nùng, nên nhiều tác phẩm văn họcdân gian của họ gần giống những tác phẩm của các dân tộc thiểu số phía Bắc Tuynhiên, họ có rất nhiều những thần thoại, truyền thuyết mang sắc thái địa phương rất
rõ, nhất là những truyền thuyết gắn liền với đồi núi, sông suối, các địa danh và các
sự kiện lịch sử Bên cạnh loại hình tự sự, ở vùng này, thể loại trữ tình cũng hết sứcphát triển Đó là ca dao, nguyên là lời các bài hát đối đáp giao duyên, người TàyNùng gọi là sli, tì làu, người Dao gọi là sảng cố, người Hoa gọi là sán cố, ngườiSán Chay gọi là xóng cọ, người Sán Dìu gọi là xình cô Đó chủ yếu là những bàihát về tình yêu lứa đôi tha thiết, chân thành nhưng ý nhị, kín đáo
Vùng trung du và đồng bằng ven biển
Đây là nơi đồng bào Kinh cư trú lâu đời, chủ yếu là nông dân, có kho tàng vănhọc dân gian gần giống với các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ Vùng này gồmĐông Triều, Uông Bí, Yên Hưng, và vùng nông thôn ven biển, nơi người Kinh sinhsống ở các huyện còn lại Bên cạnh những nguyên bản hoặc dị bản trong kho tàngtruyện cổ và ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cười của miền Bắc, mỗi nơi đều cónhững tác phẩm bản địa Đó là những tục ngữ, phương ngôn tổng kết kinh nghiệmsản xuất và sinh sống ở mỗi vùng Đó là những truyền thuyết, những giai thoại,những bài vè về các nhân vật và sự kiện tại địa phương Nét đặc sắc của hàng loạtcác tác phẩm này chính là dấu ấn lịch sử ở một vùng phên dậu, nơi núi cao, sônghiểm đã diễn ra những chiến trận hào hùng của dân tộc
Vùng biển
Vùng biển và ven biển có văn học dân gian của ngư dân Đây là một vùng cưdân đặc biệt bởi họ đời nối đời sống lênh đên trên những chiếc thuyền nan và chính
Trang 12cuộc sống đó đã tạo nên một vùng văn hóa dân gian độc đáo, trong đó có văn họcdân gian (không giống ngư dân mọi nơi luôn có làng xóm, phố phường trên bờ, chỉđàn ông mới đi biển, sớm đi chiều về hoặc ra khơi dài ngày theo mùa vụ) Ngư dânchài Quảng Ninh xưa không có làng xóm cố định, tùy theo từng nghề và tùy mùa
vụ cá, mùa gió mà các con thuyền tản mát hát chụm lại trong các tùng, các vụng,dưới các bóng núi Họ cũng phải vào bến, lên chợ bán cá và mua gạo nhưng mọichuyện trên bờ thật lạ lẫm với họ Họ luôn có mặc cảm vì người trên bờ gọi họ là
“dân chã”, coi họ như những người thiểu số từ trên núi xuống Từ cuộc sống đơn lẻcủa mỗi con thuyền, lại giữa cảnh mênh mang trời mây non nước kì ảo, họ có mộtnhu cầu giao lưu tình cảm hết sức mãnh liệt và hát giao duyên chính là để giải tỏanỗi buồn, để kết bạn, để nên vợ nên chồng Lời các bài hát đó chính là kho tàng cadao hết sức đặc sắc bởi lời lẽ trau chuốt và rất nhiều cung bậc Đương nhiên họcũng có nhiều tục ngữ, phương ngôn và cũng không ít câu đố, bài vè và truyện cổ
Vùng đô thị
Vùng đô thị là một vùng văn học dân gian chỉ một thời – thời của vùng côngnghiệp than dưới ách bóc lột và thống trị tàn bạo của bọn thực dân Pháp đã trởthành một vùng lầm than tủi cực điển hình, một vùng “địa ngục giữu trần gian” Cóthể xác định được thời gian tồn tại của vùng văn học ấy Đó là từ năm 1888, khiCông ty mỏ than Bắc Kỳ thuộc Pháp (SFCT) chính thức hoạt động và trải qua 70năm, đến năm 1955, vùng mỏ được giải phóng trở về sau Về không gian, vùng vănhọc này gồm tất cả các lán thợ, các làng mỏ, các thị trấn, thị tứ mỏ (Mạo Khê,Tràng Bạch, Uông Bí, Vàng Danh, Đồng Đăng, Hòn Gai, Hà Lầm, Hà Tu, CẩmPhả, Cửa Ông, Mông Dương và Vạn Hoa) Chủ nhân của vùng văn học này chính
là những người nông dân gốc đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ Tĩnh bị bần cùnghóa đã trở thành những phu mỏ khốn khổ Sáng tác của họ là những truyện kể đầyđau thương về số phận, những truyện cười châm biếm đả kích bọn chủ mỏ và bọn
Trang 13tay sai chó săn, những bài vè miêu tả chân dung bọn chúng hoặc ghi lại các sự kiệnđáng nhớ, trước hết là các cuộc đình công, song nhiều nhất và phổ biến nhất vẫn lànhững câu ca dao sắc sảo, cảm động miêu tả nỗi buồn tủi trước cảnh khổ cực hoặc
tố cáo tội ác của bọn thực dân chủ mỏ
Như vậy, ca dao vùng mỏ thuộc vùng văn học đô thị Đặt ca dao vùng mỏ trongmối quan hệ với vùng văn học chúng ta có thể có được một cái nhìn tổng quát, sâurộng về sự hình thành, tồn tại và phát triển của ca dao vùng mỏ Qua đó, ta còn hiểuđược một cách sâu hơn về giá trị lịch sử, văn hóa của thể loại ca dao này
1.2.2 Các loại hình văn học dân gian Quảng Ninh
Kho tàng văn học dân gian Quảng Ninh không chỉ đặc sắc ở giá trị các sáng tácvăn chương mà còn phong phú ở các thể loại, loại hình văn học Theo nhà nghiêncứu Tống Khắc Hài, loại hình văn học dân gian ở Quảng Ninh bao gồm truyện cổ;tục ngữ, phương ngôn; vè; ca dao
Loại hình truyện cổ
Loại hình truyện cổ trong văn học dân gian Quảng Ninh bao gồm thần thoại,truyền thuyết và truyện cười
Thần thoại là thể loại ra đời sớm nhất, đề tài chính là giải thích các hiện
tượng thiên nhiên diễn ra trong thế giới vũ trụ với cách tư duy thần bí mang đậmyếu tố duy tâm Đó là truyện “Ông khổng lồ định gánh đá lấp bể” (truyện kể ở vùngbang Trới – Hoành Bồ) hay “Truyện núi Phượng Hoàng” (Núi Hang Son – UôngBí)…
Thể loại truyền thuyết cũng phát triển rất mạnh, ở đó lịch sử được sáng tạo
theo tư duy thần thoại và các nhân vật lịch sử được kì ảo hóa, thần linh hóa Có thể
kể đến các truyền thuyết về rồng hoặc các địa danh gắn với rồng (Truyền thuyết Hạ
Trang 14Long và Bái Tử Long, truyền thuyết về đảo Hoàng Tân, đảo Cái Bầu, giếng MắtRồng…), truyền thuyết về tiên, bụt, Phật (Truyền thuyết đèo Bụt, sự tích hangTrinh Nữ, sự tích hòn Cô Thanh Lảnh)…
Truyện cười ở đây có nhiều cấp độ Có loại truyện khôi hài chỉ để cười đùa
tạo giải trí Loại truyện này thường chấp nhận cả yếu tố tục và luôn coi thường lễgiáo phong kiến Có loại truyện châm biếm các thói hư tật xấu trong xã hội, từ thóitham ăn đến bệnh sợ vợ, từ bệnh khoác lác đến tội chửa hoang Đặc biệt là một loạtcác truyện hướng đến đả kích sâu cay nhắm vào những tên tây, kẻ thù đàn áp, bóclột nông dân và thợ thuyền…
Tục ngữ, phương ngôn
Hệ thống tục ngữ, phương ngôn ở Quảng Ninh vô cùng đa dạng, phong phú
ở cả dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn Đó là những kinhnghiệm, đúc kết sâu sắc về các chủ đề, mang sắc thái địa phương cao Đặc biệt, ởQuảng Ninh có hàng loạt những câu tục ngữ phương ngôn có giá trị liên quan đếnvùng biển và nghề biển Đây là những tư liệu văn học dân gian quý giá cần đượclưu giữ, bảo tồn và phổ biến rộng rãi
Vè
Vè là thể loại truyện kể bằng văn vần, có số lượng tác phẩm lớn, hướng đếncác chủ đề có giá trị lớn về chính trị, xã hội và lịch sử của vùng, mang sắc thái địaphương cao Vè được chia làm hai loại là vè có ghi tác giả và vè không ghi tác giả
Ở các tác phẩm còn được ghi tên tác giả như: ông Trịnh Tráng (vè cứu tầu Héng, vèsửa đình Quan Lạn…) Ông Pháp Thuật (vè đình công năm băm sáu) Cụ Phạm Thị
Bế (vè lụt năm Đinh Mão) Những tác phẩm vè không ghi tên tác giả thì đa dạng,xoay quanh nhiều vấn đề trong cuộc sống Ví dụ: Vè cải cách ruộng đất, Vè chiếnkhu Đông Triều, Vè đời sống phu mỏ…
Trang 15Ca dao
Ca dao là một thể loại trữ tình có giá trị đặc sắc về đề tài, chủ đề và thi pháp.Nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài trong “Dư địa chí Quảng Ninh” chia kho tàng cadao Quảng Ninh thành hai bộ phận là ca dao của các dân tộc thiểu số và ca dao củangười Việt
Ca dao của các dân tộc thiểu số có đặc điểm là thường đi liền với diễnxướng Họ dùng ca dao để diễn xướng trong các bài hát ru, hát chúc, các điệu hátthen, sli, tì làu (người Tày – Nùng), xoóng cộ (người Sán Chay), xình cô (ngườiSán Dìu)… trong các dịp sinh hoạt cộng đồng, hội xuân, đám cưới, lễ tết…
Bộ phận ca dao người Việt được chia làm ba mảng có giá trị đặc thù là: Cadao cổ về non nước Quảng Ninh; Ca dao vùng biển; Ca dao vùng mỏ
Mảng ca dao cổ về non nước: Là những sáng tác của người Việt ở QuảngNinh, ca ngợi sông, núi, cảnh đẹp quê hương
Mảng ca dao vùng biển là những bài ca dao đằm thắm về tình yêu người, yêunghề, yêu biển đảo quê hương giàu đẹp của những người dân chài sống trên biển.Loại hình ca dao này vô cùng phong phú bởi nó luôn được sáng tác đồng thời vớiquá trình diễn xướng thông qua các điệu hát mà họ gọi là hát chèo đường, hát ví,hát véo, hát đối, hát cưới…
Mảng ca dao vùng mỏ là những tác phẩm trữ tình có giá trị đặc sắc cả về nộidung và nghệ thuật Ca dao vùng mỏ là mảng thể loại tiêu biểu cho vùng văn hóa
đô thị ở Quảng Ninh Các tác phẩm đã được lưu giữ và trở thành một phần khôngthể thiếu trong kho tàng văn học về vùng mỏ ở nơi đây
Trang 162 Khái niệm ca dao – ca dao vùng mỏ và sự hình thành ca dao vùng mỏ 2.1 Ca dao
Trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều các định nghĩa về ca dao đã được đưa
ra Ở khóa luận này, chúng tôi đi đến chọn theo cách hiểu của PGS TS Phạm Thu
Yến Trong cuốn giáo trình Văn học dân gian PGS TS Phạm Thu Yến định nghĩa
ca dao dựa trên các yếu tố lời ca, điệu hát, lối hát và mối quan hệ giữa các yếu tố
đó, cụ thể như sau:
Ca dao là thơ ca dân gian tồn tại ở dạng lời thơ hoặc điệu hát, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của nhân dân Với bản chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn, tình cảm của nhân dân lao động.[16, 183]
2.2 Ca dao vùng mỏ
2.2.1 Khái niệm
Theo nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài,“ Ca dao vùng mỏ là tiếng nói tâm tìnhtrước hết là của những người thợ mỏ Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời vàphát triển của ngành khai thác mỏ.” [8, 18]
Theo chúng tôi, định nghĩa trên chưa thực sự đầy đủ, vì ca dao vùng mỏ đượcnảy sinh và tồn tại cùng với cuộc sống con người ở các vùng mỏ than Chính vìvậy, ca dao vùng mỏ không chỉ là sáng tác của những người thợ mỏ mà còn là sángtác của những người không là thợ mỏ nhưng vẫn sinh sống ở vùng quanh đây Họ
là những người trực tiếp tiếp xúc với cuộc sống của phu, thợ hoặc có người thân làthợ mỏ… vì thế vẫn có những nỗi lòng, tâm sự và vẫn sáng tác các bài ca dao
Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, có thể quan niệm ca dao vùng mỏnhư sau:
Trang 17Ca dao vùng mỏ là những bài ca dao của những người thợ mỏ và những người trực tiếp sống hoặc làm việc tại các khu khai thác mỏ Ca dao vùng mỏ
ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của ngành khai thác mỏ mà nơi tập trung đông đảo mỏ than và phu mỏ nhất là ở Quảng Ninh.
2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của ca dao vùng mỏ
Ca dao vùng mỏ ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của ngànhthan ở nước ta Lịch sử ngành than Việt Nam chính thức bắt đầu từ những thậpniên đầu của thế kỉ XIX, dưới thời nhà Nguyễn Theo nhà sử học Phan Huy Lê thìcác công trường khai mỏ của triều Nguyễn hồi đó “Thể hiện rõ tính chất của mộtcông trường phong kiến với những chế độ lao động nặng nề…” Lực lượng lao động
“gồm có binh lính, dân phu và phu mỏ làm thuê” Cho đến nay chúng ta chưa có tưliệu gì thêm về đời sống của những binh lính, dân phu và phu mỏ hồi đó Rất có thể
họ đã gửi gắm tâm tư, tình cảm… vào các bài ca dao, những lời hát, hoặc nhữngtích truyện, nhưng đến nay không có tư liệu còn lưu lại Hơn nữa, vùng mỏ thật sựđông đảo công nhân phải là sau khi thực dân Pháp đưa quân tiến đánh Bắc Kì vànhanh chóng chiếm đoạt vùng mỏ Nơi tập trung đông đảo mỏ than và phu mỏ nhấtchính là Quảng Ninh Đây cũng chính là cái nôi của ca dao vùng mỏ
Chỉ trong vòng 5 năm, từ 1883 – 1888, với những bản văn tự ép triều đình nhàNguyễn phải kí nhượng bán, toàn bộ vùng mỏ than rộng lớn của nước ta đã vào tay
tư bản Pháp Mốc thời gian quan trọng nhất là năm 1888, công ty than Bắc Kìthuộc Pháp (SFCT) được thành lập và mở các công trường khai thác với số lượngcông nhân được chiêu mộ có những lúc lên đến hàng chục ngàn người
Những người phu mỏ phải sống trong hoàn cảnh vô cùng khốn khổ Họ phảichịu những áp bức, bóc lột nặng nề và phi lí của bọn chủ mỏ và tay sai mà chỉ cóthể ngậm đắng nuốt cay Họ cần có một nơi để gửi gắm tâm tư, tiếng lòng của
Trang 18mình Vốn đại đa phần là những người nông dân ở vùng đồng bằng rất quen với cácbài ca dao, các bài vè và các điệu hát dân ca, thế là vẫn vần điệu lục bát quen thuộc,
họ sắp đặt thành những bài ca để cùng bạn bè chia sẻ Hàng loạt bài ca dao đã rađời từ đó Ca dao vùng mỏ không chỉ là nơi gửi gắm những nỗi buồn, những lời thởthan hoặc hả những bực tức trong lòng mà còn là nơi để những người phu mỏ bày
tỏ niềm yêu thương đối với thiên nhiên, với quê hương hay là tình cảm đôi lứa mộcmạc, bình dị Không chỉ vậy, từ khi những người thợ mỏ có được sự dẫn lối chỉđường của Đảng và Cách mạng thì ca dao vùng mỏ còn là phương tiện giáo dục,tuyên truyền đắc lực, cổ vũ đấu tranh Sau ngày vùng mỏ được giải phóng, ca daovùng mỏ là nơi ôn lại những kỉ niệm của một thời đã qua, là những vần thơ nói lênniềm tự hào dân tộc, niềm yêu Tổ quốc, niềm biết ơn đối với Đảng và Bác Hồ Cóthể nói, ca dao vùng mỏ đã thực sự trở thành một phần không thể thiếu trong đờisống tinh thần của người thợ mỏ nói riêng và người dân đất mỏ nói chung
II Tình hình khảo sát, thống kê, phân loại ca dao vùng mỏ
1 Tiêu chí khảo sát
Chúng tôi khảo sát, thống kê, phân loại về ca dao vùng mỏ trên tổng số 541 bài
ca dao trên các phương diện: thời gian sáng tác, tác giả sáng tác, và nội dung cácsáng tác tương ứng với các chủ đề của ca dao vùng mỏ
Trang 192 Bảng khảo sát
2.1.Về thời gian sáng tác
Về thời gian sáng tác, ca dao vùng mỏ được sáng tác và phân loại thành hai giai
đoạn: trước Cách mạng 8/1945 và sau ngày vùng mỏ giải phóng 1955 Cụ thể nhưsau:
và nghệ thuật sáng tác phù hợp với tính chất của từng giai đoạn Việc phân chia
thành hai giai đoạn cụ thể là ca dao sau cách mạng tháng 8/1945 và ca dao sau
ngày vùng mỏ giải phóng là người viết căn cứ trên các văn bản hiện có và theo sự
phân loại của nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài và hội đồng sưu tầm ca dao vùng mỏtrong cuốn sách Ca dao vùng mỏ
Chúng tôi có tìm hiểu về việc 10 năm bị bỏ qua trong giai đoạn từ 8/1945 –4/1955 và phỏng đoán trong thời gian này, ca dao vùng mỏ vẫn được sáng tác vàlưu truyền Tuy nhiên vì một số lí do mà các bài này không được nhắc tới trong các
Trang 20văn bản sưu tầm về sau Trong quá trình thực hiện khóa luận, người viết đã có cuộcgặp gỡ với đồng chí Nguyễn Quang Vinh - trưởng ban vận động sưu tầm ca daovùng mỏ và trao đổi với đồng chí về vấn đề này Nhà nghiên cứu chia sẻ, ca daovùng mỏ được phân chia thành hai giai đoạn chủ yếu là dựa vào các sự kiện, biến
cố lịch sử và nội dung sáng tác để xếp loại nên 10 năm đã bị bỏ qua Chúng tôinhận thấy, cần có thêm nhiều lí giải hơn nữa
Qua tìm hiểu, trong các văn bản hiện có sưu tầm ca dao vùng mỏ trong các thời
kì, ca dao vùng mỏ cũng bị lược bỏ 10 năm Những văn bản còn lưu giữ hiện tạithuộc giai đoạn trước Cách mạng, trong thời kháng chiến chống Mỹ và từ khángchiến chống Mỹ đến nay mà không có ca dao vùng mỏ thời kháng chiến chốngPháp (1945 – 1954)
Chúng tôi phỏng đoán, trong giai đoạn từ 1945 đến 1955, ca dao vùng mỏ vẫnđược sáng tác Tuy nhiên, vì là những sáng tác dân gian nên rất có thể các tác phẩmnày đã được gộp lại với giai đoạn trước hoặc giai đoạn sau trong quá trình lưutruyền, diễn xướng
Tuy vậy, đó chỉ là những phỏng đoán của người viết Với quy mô nghiên cứucủa khóa luận, do thời gian, điều kiện, tư liệu còn nhiều hạn chế nên chúng tôi chưathể tìm hiểu một cách sâu sắc, đưa ra những lí giải thuyết phục hoặc sưu tầm bổsung những sáng tác thời kì 1945 – 1955 Đây là một trong những trăn trở củangười viết về việc khảo sát ca dao vùng mỏ Trong những lần nghiên cứu tiếp theo,chúng tôi sẽ tìm thêm các hướng giải quyết vấn đề này
2.2 Về tác giả sáng tác
Trang 21Về tác giả sáng tác của ca dao vùng mỏ, chúng tôi khảo sát và thấy được ca dao
vùng mỏ có thể chia làm hai phần là những bài ca dao chưa rõ tác giả và những bài
ca dao đã rõ tác giả, cụ thể như sau:
Trước hết, các sáng tác này được sáng tác theo thi pháp ca dao Nội dung của
240 bài ca dao có tác giả phù hợp với quan niệm dân gian, sử dụng ngôn ngữ dângian và các kết cấu truyền thống đặc trưng của ca dao… Có một số lượng không
nhỏ các sáng tác có sự vận dụng chất liệu ca dao truyền thống: “Anh đi anh nhớ
quê nhà/ Nhớ thương đất mỏ như là nhớ em”, “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi/ Thả gầu trăng vỡ còn gì/ Sóng sa sóng sánh trăng đi đường nào…” Nhiều bài ca dao có sự lặp lại về cấu trúc, âm điệu, công thức
truyền thống của ca dao: “Hòn Gai có núi Bài Thơ/ Có hang Đầu Gỗ, có chùa
Long Tiên”; “Một yêu sản xuất hăng say/ Hai yêu cảnh giác hàng ngày đề cao/ Ba yêu hưởng ứng phong trào/ Bốn yêu năng suất luôn cao hơn người”
Trang 22Thứ hai, nhiều bài ca dao tuy có tác giả nhưng các tác giả tự nguyện đóng gópsáng tác vào kho tàng văn học dân gian Do sự ghi nhớ từ người sưu tầm và lưugiữ, nhiều tên tác giả đã được ghi trong sáng tác của mình Điều này phù hợp vớicon đường sáng tác và lưu truyền của văn học dân gian Bất kì một sáng tác dângian nào cũng có tác giả Khi các tác phẩm đó có giá trị, phù hợp với tâm lí, quanniệm thẩm mĩ sẽ được ghi nhớ, lưu truyền trong không gian và thời gian nghệthuật Từ đó, các tác phẩm được nhuận sắc, sửa đổi, trở thành sản phẩm chung củacộng đồng.
Cuối cùng, các bài ca dao sau ngày vùng mỏ giải phóng còn được diễn xướngtrong môi trường dân gian, đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân Ví dụnhư bài “Hòn than”, “Theo chồng làm than” được lưu truyền rộng rãi tại vùng mỏ
Hà Lầm hay bài “Ai yêu Cọc Sáu thì vào” được lưu truyền ở vùng mỏ Cẩm Phả.Nhiều bài ca dao sau giải phóng được truyền miệng và lưu giữ lại cho đến bây giờ
Từ bảng khảo sát, chúng ta có thể nhận thấy toàn bộ các bài ca dao sáng táctrước Cách mạng đều không rõ tác giả và ngược lại, gần như toàn bộ các bài ca daosáng tác sau ngày vùng mỏ giải phóng đều có tác giả Theo chúng tôi, điều này cóthể lí giải như sau:
Trước cách mạng, đời sống người phu mỏ còn hết sức khổ cực, những bài cadao đa phần được sáng tác ngẫu hứng ngay tại chính cuộc sống và hòa trộn cùngvới lời ăn tiếng nói của người dân Đồng thời, nội dung của các sáng tác lúc bấy giờchỉ để nói lên tiếng lòng và giải tỏa tâm sự của những người nông dân, thị dân phải
ra mỏ làm phu nên việc ghi nhớ tác giả không được coi trong Tiếp theo, tính chất
xã hội, bài ca dao không thể phổ biến một cách rộng rãi Cuối cùng, theo tìm hiểu,trong suốt 7 thập kỉ những sáng tác này được truyền miệng qua các thế hệ, các lớpngười ở vùng mỏ, trải qua những biến cố lịch sử và sự lưu giữ trong trí nhớ ngườidân, dần dần không còn rõ tác giả
Trang 23Sau ngày vùng mỏ giải phóng, do điều kiện kinh tế và xã hội đã có phần chuyểnbiến tích cực, và từ các lí do đã nêu nên bài ca dao đã được lưu giữ cả về mặt vănbản và người sáng tác
2.3 Về chủ đề sáng tác
Ca dao vùng mỏ thể hiện nhiều chủ đề khác nhau trong cuộc sống như: Cuộcsống và con người vùng mỏ, thiên nhiên vùng mỏ, tình yêu đôi lứa, bộ mặt thựcdân Pháp, ý chí cách mạng, niềm tin tưởng vào tương lai và đất nước… Qua khảosát 541 bài, chúng tôi thấy được trong ca dao vùng mỏ có một số nội dung tiêu biểunhư sau:
có nội dung chủ đạo riêng
Trước Cách mạng, với 205/266 bài, gần 80% ca dao vùng mỏ tập trung nói
về cuộc sống khốn khổ và tình cảm của người phu mỏ đối với gia đình, quê hương
Trang 24bản quán và con người Chúng tôi không tách riêng hai phần này để khảo sát bởi rấtnhiều bài ca dao có cùng cả hai nội dung trên Từ sự hoàn cảnh sống khốn cùng,vất
vả, ca dao gợi nhắc đến nỗi nhớ người thân, nhớ nơi chôn rau, cắt rốn Hay từ trongkhó khăn, tủi cực, con người ta yêu nhau với một tình cảm hết sức bình dị mà chânthành, xúc động… Ngoài ra, có một lượng không nhỏ các bài ca dao với tiếng nói
tố cáo bộ mặt thực dân và tay sai Chúng mang danh khai hóa văn minh nhưng thựcchất lại bóc lột con người đến cùng kiệt không khác gì cầm thú Không chỉ vậy, cadao trước Cách mạng còn mang tinh thần phản kháng, ý chí đấu tranh và niềm tinvào tương lai Khi có sự dẫn lối chỉ đường của Đảng, rất nhiều những bài ca dao đãđược sáng tác nhằm cổ vũ, vận động Cách mạng Vì thế, những năm từ 1930 đếntrước 1945, ca dao vùng mỏ đã có những bước chuyển biến về tư tưởng để làm tiền
đề cho sự thay đổi nội dung của ca dao vùng mỏ sau giải phóng Điều này là phùhợp với tình hình chính trị, xã hội của nước ta lúc bấy giờ
Sau ngày vùng mỏ giải phóng, ca dao vùng mỏ đã thực sự khoác lên mình
“tấm áo mới” Với 179/275 bài (chiếm đến 65,1% ca dao thời kì này), ca dao vùng
mỏ sau 1955 chủ yếu ca ngợi, quê hương, đất nước, con người Âm hưởng của cácsáng tác trở nên tích cực, tươi vui một cách rõ nét Ca dao vùng mỏ sau ngày giảiphóng là sự đối sánh về mặt nội dung so với thời gian trước Nếu như ca dao vùng
mỏ trước Cách mạng phản ánh cuộc sống khổ cực tăm tối của con người, thì saunhững năm 1955, trên tinh thần đó, ca dao ôn lại quá khứ, trân trọng hiện tại vàhướng đến tương lai Nếu như trước Cách mạng, những người phu mỏ đau đớn,nghẹn ngào nhớ quê và dặn nhau về nơi rừng thiêng nước độc thì đến sau này, cadao vùng mỏ đã dành phần lớn nội dung để ca ngợi quê hương, đất nước đẹp giàu
Họ từng yêu nhau bằng thứ tình cảm cay đắng, xót xa cho thân phận thì đến nay, tabắt gặp trong ca dao là tình yêu đôi lứa ngọt ngào, tươi trẻ Trước cách mạng, họđộng viên nhau cùng đấu tranh, đi theo tiếng gọi của Đảng thì khi vùng mỏ được
Trang 25giải phóng, một số lượng không nhỏ các bài ca dao đã bày tỏ niềm biết ơn Bác Hồ,biết ơn Đảng và nhà nước đã mang đến cuộc sống hôm nay Đây thực sự là một sựthay đổi to lớn về mặt nội dung và nghệ thuật của ca dao vùng mỏ.
Trang 26TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Quảng Ninh là một tỉnh có những đặc trưng riêng về tự nhiên, xã hội, lịch sử
và văn hóa ở nước ta Những đặc trưng ấy đã tạo tiền đề và cơ sở cho sự hình thành
và phát triển của kho tàng văn học dân gian địa phương Có thể nhận thấy, văn họcdân gian Quảng Ninh không đồ sộ về tầm vóc nhưng lại có nhiều thể loại mang bảnsắc văn hóa vùng miền, đặc trưng cho từng vùng Trong mỗi thể loại lại có nhiềutiểu loại khác nhau tạo nên diện mạo phong phú cho kho tàng văn học, văn hóa nơiđây Không chỉ vậy, Quảng Ninh còn là nơi tập trung nhiều dân tộc cùng sinh sốngtrên một địa bàn từ đó góp phần làm phong phú thêm giá trị văn học các dân tộc
Qua tìm hiểu tổng quan, ta thấy Quảng Ninh là một địa phương với kho tàngvăn học dân gian hết sức giá trị, phong phú cả về nội dung cũng như thể loại, loạihình Cụ thể hơn, ta còn thấy được vị trí cũng như đóng góp hết sức quan trọng của
ca dao mà đặc biệt là ca dao vùng mỏ đối với kho tàng văn học dân gian của tỉnhnói riêng và của nước ta nói chung
Ca dao vùng mỏ là một tiểu loại của ca dao Quảng Ninh Cùng với ca daovùng biển, ca dao các dân tộc trên địa bàn Quảng Ninh, ca dao vùng mỏ đã gópphần tạo nên diện mạo phong phú, đặc sắc cho ca dao nơi đây Ca dao vùng mỏgiàu giá trị văn học, có vị trí đặc biệt trong lịch sử vùng đô thị và lịch sử địaphương Ca dao vùng mỏ tái hiện trước mắt người đọc bức tranh về cả một thời kìđau thương nhưng bất khuất, nơi con người sống trong tăm tối khổ cực vẫn ngờisáng phẩm chất tốt đẹp, nơi con người vượt qua đau thương để đi đến tương lai,xây dựng tổ quốc ngày càng đẹp giàu, văn minh Qua văn học dân gian QuảngNinh nói chung và ca dao vùng mỏ nói riêng, ta cảm nhận được phần nào cuộcsống con người và dòng chảy lịch sử, văn hóa của nơi đây
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA CA DAO VÙNG MỎ
1 Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng tháng 8/1945
Theo khảo sát, trước Cách mạng tháng 8/1945, ca dao vùng mỏ tập trung phảnánh về số phận của người phu mỏ ở đất than Quảng Ninh 266 bài ca dao đã táihiện một cách chân thực nhất về bức tranh đời sống sinh hoạt cũng như đời sốngtinh thần của con người ở nơi đây Theo quan điểm của chúng tôi, dựa trên tìnhhình khảo sát, ta có thể khái quát về ca dao vùng mỏ trước cách mạng ở hai nộidung chính đó là nội dung phản ánh hiện thực và nội dung phản ánh tư tưởng, tìnhcảm của con người
1.1 Ca dao vùng mỏ phản ánh hiện thực vùng mỏ Quảng Ninh
Theo chúng tôi, giá trị lớn nhất của ca dao vùng mỏ trước cách mạng là giá trịhiện thực Hiện thực ấy là hiện thực của con người trực tiếp sống và làm việc tại
mỏ than Quảng Ninh Họ là những dân đến từ khắp mọi nơi, vì nghèo đói, nợ nần,
vì nghe lời dụ dỗ… mà ra mỏ làm phu Họ bị chủ mỏ và tay sai hành hạ, bóc lộtđến cùng kiệt mà không thể lên tiếng Vì vậy, trong ca dao vùng mỏ trước cáchmạng, ta thấy hiện lên hai tuyến nhân vật chính là người thợ mỏ và những kẻ chủ
mỏ, tay sai thực dân Hiện thực xã hội cũng từ hai tuyến nhân vật ấy mà được phơibày một cách rõ nét
1.1.1 Ca dao vùng mỏ phản ánh hình ảnh thợ mỏ
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều những bài ca dao nói
về thân phận người dân lao động lam lũ, khổ cực Đó có khi là những lời than thở
của một người dân nghèo: “Khổ như tôi đây mới ra thậm khổ/ Lên non đốn củi
đụng chỗ đốn rồi/ Xuống sông gánh nước gặp chỗ cát bồi, khe khô”, hay là lời than
Trang 28của một người đi làm thuê kiếm sống: “ Cơm cha áo mẹ đã từng/ Con đi làm mướn
kiếm lưng cơm người/ Cơm người khổ lắm mẹ ơi/ Chẳng như cơm mẹ vừa ngồi vừa ăn” Đặc biệt, có thể kể đến hàng loạt các bài ca dao với cấu trúc “Thương thay +
hình ảnh ẩn dụ” Những nỗi thương thân của người dân thể hiện qua các hình ảnh
ẩn dụ động vật độc đáo Thương con rùa “xuống thương sông đội đá lên chùa độibia” là thương người nông dân với cuộc đời luẩn quẩn của thân phận tôi đòi.Thương con tằm là thương cho thân phận bị bòn rút sức lực phục vụ kẻ khác.Thương lũ kiến tí ti là thương cho thân phận bé nhỏ suốt đời phải làm lụng kiếmmiếng ăn Thương cho con hạc là thương cho cuộc đời phiêu bạt, khốn khó, mỏimệt không có tương lai (biết ngày nào thôi) Thương cho con cuốc là thương thânphận thấp bé, dù có than thở đến kiệt sức thì cùng không có người động lòng,thương xót Nỗi thương xót như muốn kéo dài triền miên qua hình ảnh cua nhữngcon vật bé nhỏ, tội nghiệp Trong ca dao truyền thống, đã có biết bao nhiêu lời tâm
sự về thân phận tủi khổ của những người dân nghèo thấp cổ bé họng xót xa nhưvậy
Đến với ca dao vùng mỏ, ta cũng bắt gặp những số phận con người Đó là sốphận của những thợ làm mỏ than Ca dao đã phản ánh hình ảnh phu mỏ QuảngNinh trước hết qua nguồn gốc, xuất thân, sau đó là qua số phận cơ cực trong laođộng, sinh hoạt và cuối cùng sự phản kháng trước những áp bức bóc lột và ý chícách mạng của người công nhân mỏ Nỗi khổ trong cuộc sống, số phận của nhữngngười thợ mỏ là nỗi khổ đặc trưng gắn liền với hoàn cảnh, với vùng mỏ, với tiếngcòi tầm, với hòn than, với những kẻ chủ mỏ, cai than tàn nhẫn, bất nhân Nhữngngười thợ mỏ vừa là người sáng tác, vừa là nhân vật chính trong các bài ca dao củamình Bằng những vần thơ, những câu hát chân thực, bình dị, họ đã tạo nên mộtkiểu nhân vật “người phu mỏ” rất riêng, rất thật mà ta không thể thấy được ở đâukhác Họ là những người nông dân, thị dân nghèo bị rơi vào cảnh khốn cùng phải ra
Trang 29phu mỏ Không những thế, họ còn bị bóc lột đến cùng kiệt, phải sống trong mộthoàn cảnh cơ cực, điều kiện vật chất thiếu thốn đủ đường
Về nguồn gốc, xuất thân
Trước hết, họ là những người có cùng nguồn gốc xuất thân Theo nhà nghiêncứu P Gourou về nguồn gốc xuất thân của công nhân mỏ Quảng Ninh,có đến 60%những người phu mỏ đến từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, còn lại là các tỉnh thànhnhư Hải Phòng, Hưng Yên [6] Đại bộ phận họ là nông dân bị bần cùng hóa ở cáctỉnh đồng bằng Bắc Bộ Theo khảo sát, có 10 bài ca dao được người công nhân nói
về quê quán, xuất thân trong số 205 bài có nội dung về cuộc sống và tình cảm của
người phu mỏ Đó là những lời tâm sự chân thật: “Quê tôi ở tỉnh Kiến An/Thủy
Nguyên, Phục Lễ là làng đồng chua” ; “Nam Định là chốn quê nhà/ Có ai về mộ
cu ly ra làm” ; “Thái Bình tôi đã rời chân/Tìm nơi nhà mộ lâu dần hỏi han”.
Những người nông dân ra mỏ làm thuê là những người nông dân bị bần cùnghóa Họ rơi vào tình trạng khốn cùng, vì thiên tai mất mùa, vì sự bóc lột vô nhântính của những tên lí trưởng, cường hào hoặc vì sưu cao thuế nặng Họ rơi vào cảnh
nợ nần đến mức không biết “kiếp nào trả xong”: “Có tên lí trưởng nhà giầu/ Nó
cho thuê ruộng, thuê trâu mà cày/ Một sào hai thúng tô đầy /Thiếu ăn nên phải đi vay bậm vào/ Một ngày nợ lãi công cao/ Nợ nần biết đến kiếp nào trả xong”.
Trước tình trạng quẫn bách đó, những người nông dân nghèo kéo cả làng đikiếm ăn ở hầm mỏ, và có lúc đã lên đến hàng chục nghìn phu mỏ ở các khu Cẩm
Trang 30hồ: “Cũng có kẻ quá tay cờ bạc Phải tìm nghề kiếm chác nương thân/ Cũng có kẻ
kinh luân đầy túi/ Vì chi mà phải tới chốn đây/ Cũng có kẻ tháng ngày du đãng/ Kẻ đèn sách lỡ vận sa cơ”
Như vậy, những người phu mỏ đều xuất thân từ những hoàn cảnh hết sứckhó khăn Họ là những người nông dân vì nghèo đói, nợ nần… phải ra mỏ làm phu
Họ là những thị dân nghèo, những kẻ giang hồ do hoàn cảnh mà phải đến chốn địangục trần gian này Dù là xuất thân từ đâu, tất cả bọn họ khi đi mộ phu đều đượcgọi chung với cái tên là “công nhân mỏ”
Về số phận
Rời thôn quê hay nơi khốn cùng ở thành thị mong thoát khỏi ách áp bức bóclột của phong kiến địa chủ nhưng khi vừa tới mỏ, những người công nhân đã bị sangay vào nanh vuốt của bọn chủ mỏ mới, bọn tư bản thực dân Pháp cướp nước ta
và tay sai Trong thời đại đó, những người dân nghèo Việt Nam dường như khôngbao giờ thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực khi đè lên vai họ là không biết bao nhiêunhững tầng “gông cùm” Họ ra đi với những hứa hẹn và tương lai tốt đẹp của bọnthực dân khi bắt tay với chính quyền để thực hiện chính sách mị dân nhằm tăng số
lượng công nhân trong các mỏ than: “Tưởng rằng đi mộ Nam Kì/ Là nơi sung
sướng tôi đi theo người” “Ai ai cũng bảo rằng nhàn/ Tiền rừng bạc biển chan chan thiếu gì”.
Thế nhưng, khi đến mỏ than, hiện thực lại hoàn toàn khác so với những gì họ
tưởng tượng Trước hết, những người phu mỏ bị bóc lột đến cùng kiệt Họ không
chỉ làm việc với cường độ cao mà còn bị trả lương bèo bọt, thậm chí bị quỵt lương
và cùng lúc chịu nhiều áp bức, quy định nặng nề, phi lí
Ở các mỏ than, những người công nhân phải làm việc với thời gian kéo dài.Những công việc đồng áng, họ làm việc theo mùa vụ, hoặc là có thể làm việc theo
Trang 31nhu cầu, theo sức lực lao động, tuy vất vả nhưng vẫn có đủ thời gian nghỉ ngơi thì
đến các mỏ than những điều đó gần như không còn : “Sáng đi tối đất mù giời/ Tối
về chẳng biết mặt người là ai”; “Tây chủ có tính tham lam/ Bắt tay vào làm chẳng biết sớm trưa/ Sáng đi ba rưỡi cũng vừa/ Tối về tám rưỡi rưỡi cũng chưa bằng lòng”
Những lúc có tàu vào ăn than thì người thợ, nhất là thợ nhà Sàng, Sở Cầu bịbuộc phải làm việc liên miên, lên 16 – 18 tiếng một ngày Thời gian nghỉ ngơi của
họ vô cùng ít bởi các lán trại thường cách mỏ tương đối xa Có những khi 6 rưỡibắt đầu vào làm nhưng những người công nhân đã phải đi từ 3 rưỡi, 4 giờ sáng
Vừa kéo dài thời gian làm việc, họ còn bị tăng cường độ lao động lên mứctối đa Những người công nhân phải làm việc vô cùng vất vả trong điều kiện bụithan mù mịt, với cơ sở hạ tầng tạm bợ, nguy hiểm Tai nạn thì luôn rình rập nhữngngười phu mỏ bất kể đêm ngày “lò sập đổ, đá rơi, tầng lở” nên dường như mỗi lần
ra khỏi hầm lò là một lần họ được biết mình vẫn còn sống: “Tay cầm cuốc mặt thì
cúi gập/ Lưng gò vào như gấp làm đôi/ Loanh quanh xoay xở hết hơi/ Tấm thân như hãm vào nơi ngục tù/ Mãi đến lúc sương mù bóng ngả/ Mới là giờ vội vã trèo lên/ Trông ra non nước hai bên/ Biết mình còn sống ở trên cõi trần”
Người thợ san than hầm tầu cũng cực nhọc, tối tăm không khác người thợ
làm dưới lò sâu : “Mồ hôi ròng ròng mặt mũi than gio/ Quầy sâu chẳng khác hầm
lò/ Âm ty quỷ sứ hay mồ hồng nhan/ Muối vừng cơm nắm pha than/ Vừa nhai vừa nuốt vừa san quầy tàu”.
Làm việc cực nhọc, thời gian lao động kéo dài nhưng đồng lương mà bọnchủ trả cho người thợ quá bèo bọt Đồng lương đã ít mà những kẻ chủ mỏ còn ănbớt, cắt xén, và những kẻ bán hàng luôn tìm cách rút bớt tiền của những người côngnhân sống ở đây Thế nên, phu mỏ luôn luôn sống trong tình cảnh nghèo đói, túng
Trang 32thiếu, cùng quẫn: “Mỗi ngày hai bốn đồng xu/ Đi sương về mù khổ lắm ai ơi”;
“Mỗi ngày hai mươi bốn xu/ Cơm hàng cháo chợ hào tư đi rồi”.
Tuy những người phu mỏ đã đi làm suốt năm suốt tháng nhưng tết nhất thìmột đồng cũng không có Còn gì khốn khổ hơn đi vay nợ thì bị chủ đuổi, con cáinheo nhóc đứa trước đứa sau Ở quê nhà họ bị đẩy vào cảnh bần cùng, đến mỏ than
cảnh ấy cũng không có gì đổi khác: “Tết nhất cái gì một đồng xu không có/ Hai vợ
chồng ngồi nhăn nhó với nhau/ Đàn con eo óc đứa trước đứa sau/ Trông đến ró ró
đã hết gạo/ Rờ đến tiền tiền hết ráo từ lâu/ Xắn quần cao chạy lại bác chủ thầu/ Nói van vỉ vay dăm hào tiêu tết/ Vợ chủ thầu đuổi ra không tiếp”.
Không chỉ bị kéo dài thời gian làm việc và tăng cường độ lao động, nhữngngười công nhân còn bị đánh đập, chửi bới hết sức dã man Chủ nghĩa thực dânPháp tự khoe khoang là kẻ “khai hóa văn minh” cho các dân tộc thuộc địa nhưng sựtàn ác mà chúng cư xử với người thợ mỏ chẳng khác gì con vật, đã bóc trần bộ mặtgiả dối, bì ổi của chúng Để cưỡng bức người thợ làm việc theo ý muốn của chúng,
chúng đã dồn ép, đánh đập họ một cách tàn nhẫn: “Ba toong đi lại nghênh ngang/
Chậm chân thì gậy nó phang vỡ đầu/ Công việc khoán nặng, khoán cao/ Làm mà không được xơi bao mũi giày/ Mồm quát tháo chân tay đá tát/ Đánh đập rồi cúp phạt hết lương”.
Với lòng tham không đáy, chúng không bao giờ vừa lòng với công việcngười thợ đang làm Chúng coi những người thợ là những cỗ máy làm việc, nhữngcon vật không hơn không kém Bọn cai, sếp, đốc công luôn luôn ốp họ làm nhanhhơn, nhiều hơn, năng suất cao hơn Lúc nào chúng cũng có thể nổi giận chửi mắng,
quát tháo người thợ thậm tệ: “Nếu mà mệt nhọc nghỉ tay/ Cú mèo quạ ác nó rầy
chửi luôn/ Xà-lù-bệt, đít-tăng-xương/ Tạt tai đá đít chẳng thương đâu mà/ Trai hay gái trẻ hay già/ Tây chửi mắm-xốt tú-là cu-xoong”.
Trang 33Những người phu mỏ còn phải chịu nhiều thứ quy định hết sức phi lí Ngườithợ muốn vào làm việc ở mỏ thì cái “thủ tục đầu tiên” không tránh khỏi là có “lễ”cho cai, kẻ trực tiếp hướng dẫn sản xuất và quản lí họ Những kẻ cầm đầu này tìm
mọi cách gây khó dễ để vơ vét của người dân đến cùng kiệt: “Việc thì có nhưng
phải vào lễ/ Không có tiền không xin được thẻ/ Công ba hào thì lễ tam nguyên/ Công năm hào chục rưỡi trở nên”
Khi đã có lễ cho cai, người thợ được nhận vào làm “bạc đâm vào thì giấy
toạc ra”, thế nhưng họ đâu có được yên thân Hàng tháng, đến kì thợ vay hoặc lĩnh
lương, cai lấy cớ phải “tết tây”, bắt thợ đóng góp: “Thế mà cũng chẳng yên
thân/Cuối năm cai lại bổ tiền tết Tây/ Mỗi người công nộp một ngày” Thực ra có
tết tây hay không hay chỉ bịa ra để “xoay” tiền của thợ chỉ có trời mới biết được:
“Biết rằng cai có tết Tây/ Hay là vào túi việc này biết sao?”
Nhà cai tìm mọi cách bủn xỉn để bòn rút tiền công ít ỏi của thợ như bắt thợphải mua lương thực thực phẩm ở cửa hàng nhà cai với giá cắt cổ Thợ chưa có tiềnthì nhà cai cho mua chịu nhưng vợ cai phải giữ sổ lương của thợ Đến kì vay, kìlĩnh vợ cai mang sổ lương của thợ đến lĩnh rồi trừ nợ mua chịu Bao giờ nhà caicũng trừ quá số tiền thực tế mà thợ mua chịu Nhiều khi cai tự tiện bớt xén tiền
công của thợ một cách vô lí: “Ông cai ơi hỡi ông cai/ Công tôi làm đúng được hai
mươi ngày/ Làm sao mà đến kì vay/ Công hai mươi ngày hụt mất hào tư?” Người
thợ lên án mạnh mẽ sự ti tiện, bủn xỉn, nhỏ nhen của bọn tay sai được mệnh danh
“thầy cai, thầy kí”: “Ông ơi thù vặt làm chi/ Nếu xanh không thủng cá đi đằngnào?”
Bọn kí hàng tháng phát gạo cho thợ bằng máy quay tay, thường là kí ma lanh
không quay hết vòng, giữ gạo lại bên trong máy để bớt xén: “Cái cân có quỷ có
ma/ Gạo vào một lối gạo ra một đằng/ Thẻ tôi ba sáu kí rõ ràng/ Về nhà khảo lại chỉ còn ba mươi”
Trang 34Những thứ bóc lột “giời ơi đất hỡi” như vậy đặt hết lên vai người phu mỏ.
Họ bị bắt nạt mà không thể lên tiếng Họ vừa bị khai thác sức lao động, vừa chịukhổ sở trăm đường từ những thứ lí lẽ vô lí của bọn chủ mỏ, cai than
Không chỉ bị bóc lột đến cùng kiệt, những người phu mỏ còn phải sống trong một hoàn cảnh cơ cực, đâu đâu cũng là thiếu thốn, khốn khổ
Nơi ở của thợ mỏ hết sức tạm bợ, rách nát và thiếu đủ mọi vật chất cần thiếtcho cuộc sống Hầu hết thợ mỏ không có nhà riêng Những người thợ mỏ từ tứ xứthập phương đến mỏ đều là những người hết sức nghèo khổ, các khu mỏ lại rộnglớn và họ phải làm việc hầu như cả ngày nên đa phần không thể tự có nhà riêng.Những người phu mỏ được tập trung ở các lán trại Thợ làm dưới quyền của cai nào
thì ở luôn trong lán do cai đó quản lí: “Đêm ngủ lán dột nằm co/ Ngày ngày chui
rúc trong lò tối tăm” Những lán trại là những nơi ở tạm bợ, thiếu thốn đủ đường,
khổ không bút mực nào tả xiết Người thợ ở trong những cái lán dài, chật chội, ẩmthấp, chỗ nằm là sạp tre gồ ghề được ngăn thành buồng, mỗi người bốn mét vuông,,
treo lủng lẳng nồi niêu, quang gánh: “Nhà hai gian hai mươi người ở/ Rất hẹp hòi
xoay xở làm sao!/ Còn giường nằm lấy những tre đóng dóng/ Mảnh lớn, bé, thấp, cao gồ gổng/ Dưới gầm thì lủng củng nồi niêu/ Trên đầu những quang treo tua tủa”
Quần áo mặc của thợ mỏ hiện lên qua các câu ca dao cũng khiến người đọckhông khỏi thương xót Quần của họ là những cái “khố một nhai” ngắn chỉ đủ quấnmột vòng cho đàn ông Áo mặc của họ thường là bằng bao gai Nếu bằng vải thìcũng vá chằng vá đụp Mùa đông, thợ phải lấy chiếu rách khoét lỗ, chui đầu vào,
lấy dây buộc ngang người cho ấm để đi làm: “Bốn mùa xuân hạ thu đông/ Đờ xuy
lá nón gái không dám nhìn/ Thân sao thân đến thế này/ Quần bao áo bị mình gầy xác ve” Những chiếc chiếu rách đó không thể giặt nên hầu như luôn có rận, thậm
chí là các con côn trùng ở trong đó Mùi hôi hám từ mồ hôi, từ những manh chiếu
Trang 35ngấm nước mưa không được giặt giũ phơi khô khiến những người thợ mỏ luôn phảisống chung với bệnh tật Cũng chính vì thế mà nơi ở, quần áo của những người thợvừa thiếu thốn trăm bề lại vừa không đảm bảo sạch sẽ.
Bữa ăn hàng ngày của người thợ cũng là một trong những tâm sự đầy xót xacủa người thợ mỏ Bị bọn chủ mỏ và tay sai bóc lột, đục khoét khiến cho đời sốngthợ mỏ cùng cực không sao tả xiết Ăn thì gạo mục, muối vừng, cá khô có khi lẫn
giòi: “Ăn thì gạo mục cá khô/ Ngày hai mươi tiếng đồng hồ đội than” Bữa cơm
phải ăn vội ăn vàng cho kịp giờ làm, nhất là bữa cơm giữa ca than gio bụi bặm:
“Ăn uống thì nhai với nuốt ngập ngừng/ Than với đá lẫn cùng cơm gạo/ Nuốt
chẳng được nhai thì lạo xạo/ Cũng cố liều nhếu nháo nuốt đi”
Hệ quả của việc bị bóc lột lao động đến cùng kiệt và sống trong hoàn cảnh
thiếu thốn là những người phu mỏ phải chịu nhiều bệnh tật và tai nạn lao động.
Làm việc cực nhọc, ăn uống kham khổ, một hậu quả tất nhiên đến với người thợ
mỏ đó là một loạt các loại bệnh vô cùng đặc trưng của vùng mỏ: “Ai đi Cẩm Phả,
Hòn Gai/ Ho lao, sâu quảng, thối tai mang về” ; “Làm thì phoi đá phoi than/ Anh hít vào ruột vào gan suốt ngày/ Mắc bệnh gầy yếu đắng cay/ Cơn ho hộc máu chảy ngang ròng ròng/ Chân sâu quảng loét đến xương/ Đi đánh sắng tẩy dưới khoang hầm tầu” Có lẽ không ít người thợ mỏ mắc phải các chứng lao phổi, viêm phổi, sốt
rét hay đặc biệt là sâu quảng Đây là một thứ bệnh rất phổ biến, những vết sâuquảng là những vết loét thối da thối thịt ở chân, rất khó chữa, có khi thối vào tậnxương Tất cả những bệnh nghiêm trọng, người phu mỏ thời ấy không có điều kiệnchữa trị nên hầu như chỉ một thời gian ngắn sau khi mắc bệnh sức khỏe của họ đãgiảm sút rất nhiều, thậm chí đây còn là nguyên nhân dẫn đến những cái chết thươngtâm
Không chỉ mắc bệnh, họ còn phải đối diện với nguy cơ bị tai nạn lao độngtrước điều kiện cơ sở vật chất ở mỏ vô cùng nghèo nàn và không có bảo hộ lao
Trang 36động Nào là “kẹp xe hỏa, đổ tầng bè” dẫn đến “què quặt đầy đường” hay là “Tầng
cao đá lở như cạm bẫy người/ Sẩy chân lăn tầng dưới/ Chậm mắt vướng đá rơi”.
Tất cả đã tạo nên một vùng đất “ Đường không lối về” khiến người đọc không khỏi
đau đớn xót xa
Không có bảo hộ lao động, ốm đau không được chạy chữa chu đáo, hàngnăm hàng trăm người thợ mỏ tàn phế và phải bỏ mạng vì tai nạn lao động, vì bệnhtật Những cái chết đến nơi vùng than như chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày.Những người còn sống thì phần lớn bụng ỏng, mặt phù, tóc rụng, người như quỷ,
như ma: “ Đoàn người hay quỷ hay ma/ Tay mai tay cuốc sương sa mịt mù/ Hai
bên gió núi ù ù/ Tưởng oan hồn của dân phu hiện về” Con người được định giá hết
sức rẻ mạt, được trả tiền như những món hàng nếu bị tai nạn lao động: “Năm đồng
một ngón chân tay/ Cụt cánh, cụt cẳng được ngay mười đồng/ Hai mươi đồng: nạn
tử vong/ Không què, không chết đừng hòng một xu” Còn gì bi hài hơn tình cảnh
ngược đời muốn có tiền để sống thì phải chết đi Còn gì đau đớn hơn bộ phận thânthể lành lặn vốn quý giá nhưng đến nơi địa ngục trần gian này lại không đáng một
xu nếu không “què, cụt” Và khi không còn giá trị sử dụng, họ liền bị đuổi khỏi mỏthan, phải lang thang đầu đường xó chợ, chết vì đói, vì rét, vì bệnh tật hành hạ Bịđuổi khỏi mỏ trong tình trạng bệnh tật tức là đồng nghĩa với bản án tử thần Vìnhững người thợ không có nhà cửa, cũng không có tiền để về quê, họ sống lay lắttrên đường như những bóng ma vật vờ Xót thương thay những vần ca dao ai oán
xé lòng: “Những ai mất xác Nam Kì/ Những ai bón cỏ xanh rì ngoài Uông” Thời
ấy, không biết bao nhiêu xác người chết mà trong người vẫn còn tấm thẻ bài phu sởmỏ
Giữa cuộc sống bị đày ải, cùng cực của người thợ nói chung, thì người thợ đàn bà còn khốn khổ hơn nhiều Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam,
chúng ta bắt gặp rất nhiều những câu ca dao nói về thân phận của người phụ nữ Có
Trang 37biết bao nhiêu nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất “ngày
ngày hai buổi trèo non”, “ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương” Nhưng nỗi khổ
lớn nhất, xuất hiện với tần số cao nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thânphận mong manh, bị động, ít giá trị Những người phụ nữ ở đây bị “đồ vật hoá”,
được định giá theo giá trị sử dụng Thân phận họ chỉ được ví với “hạt mưa sa”, như
“chổi đầu hè” Ta có thể cảm nhận được bao nỗi đắng cay của người phụ nữ khi
cất lên những lời ca ấy Không phải người phụ nữ không ý thức được vẻ đẹp và
phẩm giá đáng quý của mình Họ luôn ví mình với “tấm lụa đào”, “giếng nước
trong” nhưng những phẩm chất ấy đâu có được xã hội , người đời biết đến và coi
trọng Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn Không chỉ vậy,những người phụ nữ trong ca dao trữ tình nói chung còn cất lên những lời than saukhi kết hôn Những hoàn cảnh muôn hình vạn trạng nhưng tựu chung lại đều là
những sự tủi nhục, xót xa cho bản thân mình Đó là cảnh lấy chồng làm lẽ: “Thân
em làm lẽ chẳng nề/ Có như chính thất ngồi lê giữa đường” hay cảnh lấy chồng quá
cực khổ: “Chồng con là cái nợ nần/ Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm” Đây là
những tiếng than một cách chung nhất, khái quát nhất về thân phận phụ nữ trong xãhội phong kiến
Trong ca dao vùng mỏ, chúng ta cũng bắt gặp hình ảnh người phụ nữ vớicuộc sống trăm cay nghìn đắng Vẫn là những bất công, tủi nhục giống như thânphận người phụ nữ trong ca dao nói chung nhưng ở ca dao vùng mỏ, tiếng than củangười phụ nữ là tiếng than khi xã hội đã thay đổi, là tiếng than cụ thể khi họ bị bạcđãi và không được sống với những thiên chức vốn có Nếu như không gian sốngcủa người phụ nữ trong xã hội phong kiến được truyền tải qua ca dao là không giangia đình thì ở ca dao vùng mỏ, không gian ấy đã được mở rộng hơn ở cả khônggian mỏ Sự tủi hổ, cơ cực của họ là nỗi bất hạnh gắn với đặc trưng nghề nghiệp, lànhững bận lòng với đồng lương, với chồng con và với cả nhân phẩm của chính
Trang 38mình Nỗi khổ của họ, là cái khổ riêng trong muôn vàn nỗi khổ chung của nhữngngười phu mỏ vốn không được thực dân coi là con người Họ bị bọn chủ trả lương
thấp hơn nam giới dù cùng làm một công việc : “Làm thì chẳng kém đàn ông/ Thế
mà kém gạo, kém công, kém tiền” Họ còn bị chúng chọc ghẹo, hãm hiếp, dày vò
lên nhân phẩm : “Bên lán mới phải đâu xa cách/ Giữa ban ngày ban mặt hẳn hoi/
Từ đâu thói phép lạ đời/ Ông đồn đi hiếp vợ người An Nam” Từ đó, hễ thấy “ông tây con chó đến đâu” là “Đàn bà con gái rủ nhau lên rừng” để lánh nạn Chưa bao
giờ, trong ca dao lại có nhiều bài nói lên nỗi xót xa về nhân phẩm, tiết hạnh bị chàđạp của người phụ nữ đến như thế Bóc lột về sức lao động chưa đủ, những kẻmang danh “khai hóa văn minh An Nam” còn đày đọa phụ nữ cả về thân xác vàtinh thần
Những người phụ nữ còn xót xa cho chính bản thân mình Trước những vất
vả, cơ cực của hoàn cảnh, họ thương thay cho thân phận hồng nhan “má phấn, răng
đen”: “ Một ngày hai bữa cơm đèn/ Còn gì má phấn, răng đen, hỡi chàng!” Họ hiện lên với dáng hình hết sức đáng thương: “Mặt phong sương da vàng phủi bụi/
Thân xác vờ tóc rối quầng thâm/ Gầy gò dải yếm thắt ngang…” Ở nơi địa ngục
trần gian, than kíp, than cám, hay những đòn roi của những kẻ chủ nô dường như
đã khiến những người phụ nữ phai bạc đi nét duyên dáng, yêu kiều vốn có
Một nỗi đau luôn dằn vặt đối với người thợ đàn bà là do làm việc liên miên,căng thẳng mà không có điều kiện chăm sóc con cái Tiếng còi tầm lúc nào cũng
ám ảnh họ như là “tiếng vọng từ âm phủ”: “Tỉnh mơ còi đã hú rồi/ Giật mình đánh
thót, con rời vú ra” Con còn bé thì phải địu con lên tầng, để ở bụi, rồi mẹ đi làm
mặc cho con kiến cắn, muỗi đốt: “Vợ nghèo ẵm trẻ hài nhi/ Lên tầng để bụi rồi đi
đẩy gòong/ Trẻ thơ nằm mớ bòng bong/ Nô đùa muỗi có đói lòng ngậm que”.
Những câu ru con tha thiết cất lên như chứa từng giọt nước mắt cay đắng, day dứt
của người mẹ “Mẹ ru con ngủ cho ngoan/ Mẹ còn xúc nốt xe than cho đầy/ Mẹ ru
Trang 39con ngủ cho say/ Làm xong chuyến nữa nghỉ tay mẹ về/ Con nằm khát sữa đầu hè/
Mẹ căng vú sữa vắt re đầu đường” Nhiều người thợ đàn bà có chửa sắp đến ngày
sinh cũng phải đi làm, không đi thì không có gạo bỏ nồi, lại bị cai, sếp đuổi mấtviệc: “Đau đẻ cũng phải xúc than/ Đẻ rơi cũng mặc, kêu van cũng lờ”
Những nỗi khổ, những tiếng lòng của người phụ nữ cất lên thật đáng xót xabiết bao Đọc những câu ca dao trước cách mạng ta như sống cùng với một thời mà
có lẽ địa ngục nơi trần gian cũng chỉ đến thế Thân phận con người rẻ mạt đến mứcnhững kẻ cầm quyền đối xử không hơn không kém con vật và có thể bị vứt bỏ khikhông còn giá trị sử dụng Có lẽ không một trang lịch sử nào, không một bài báohay một phóng sự nào có thể tái hiện bức tranh số phận con người vùng than chânthật hơn, đau đớn hơn ca dao của đất mỏ Quảng Ninh
Về tinh thần phản kháng và ý chí cách mạng
Như một lẽ tất yếu, “con giun xéo lắm cũng quằn”, những bài ca dao thuộc
giai đoạn cuối của thời kì này là tiếng nói của sự phản kháng, là hệ quả tất yếu của những áp bức, bóc lột mà người phu mỏ phải chịu Sự phản kháng của họ đã
tiềm tàng từ những bài ca dao trước đây với tiếng nói phản ánh, tố cáo hiện thựcnhưng chỉ đến khi được tiếp xúc với ánh sáng của Đảng và Cách mạng ta mới thấytinh thần này được thể hiện một cách rõ nét, quyết liệt
Một loạt những bài ca dao với hình thức là những câu hỏi tu từ được tác giả
dân gian sử dụng như xoáy vào hiện thực bất công, ngang trái: “Ai sinh ra cái sở
than/ Để ta vất vả gian nan thế này?”; “Trời làm chi cực lắm trời/ Thân trâu, kiếp ngựa cuộc đời tối tăm?” ; “Hỏi cùng đất thấp trời cao/ Cuộc đời phu mỏ khổ nào khổ hơn?” Họ lên tiếng một cách mạnh mẽ về số phận của mình Đó không còn là
sự cam chịu trong nhẫn nhục mà “Không nghe thầy đuổi việc liền”, mà đó là những
sự oán trách, những lời bất bình về cuộc sống không được sống với những quyền
Trang 40lợi và điều kiện vật chất tối thiểu dành cho con người Họ hỏi trời, hỏi đất, hỏi “ai”nhưng thực ra “câu trả lời” đã có sẵn Những người phu mỏ hiểu rõ về nguyên nhângây ra sự khổ cực cho mình, họ cũng biết đâu là kẻ thù, đâu là đồng minh Từ
những lời oán than, sự bất bình của người phu mỏ đã chuyển sang kêu gọi: “Noi
gương Cách mệnh tháng Mười/ Phá tan xiềng xích xây đời tự do” Họ sáng tác bài
ca dao phản bác lại giọng điệu ngon ngọt mộ phu của kẻ chủ mỏ, chủ lò: “Hỡi anh
em các người làm mỏ/ Làm lò ông Thuận mất quyền lợi to” Họ kêu gọi, tuyên
truyền cho nhau về đường lối, chỉ đạo của Đảng cũng như nâng cao tinh thần, ý chíCách mạng, tin theo Đảng, Bác Hồ và đi theo tiếng gọi của dân tộc Không chỉ kêugọi, những người thợ mỏ còn nhắc nhở nhau kiên định, nâng cao phẩm chất, không
bị dụ dỗ bởi sự gạt lừa: “Ai ơi chớ có tham tiền/ Dễ bị kẻ xấu xỏ xiên gạt lừa” hay giữ vững ý chí đấu tranh: “Lao công thuyền thợ chúng mình/ Đồng tâm kỉ luật
chung tình đấu tranh” Họ tin tưởng vào tương lai của cuộc đấu tranh nhất định
thắng lợi: “Nào anh, nào chị nắm tay/ Cuộc đấu tranh này chỉ thắng không thua”
Kết quả của sự tiếp thu đường lối và tự ý thức về quyền tự do, bình đẳng của mình
là những người thợ vùng mỏ đã đi đến những hành động phản kháng hết sức mạnh
mẽ: “ Đình công nhất quyết đình công/ Chủ chưa chấp thuận ta không đi làm” Kết
quả thành công nhất của những hành động của người thợ mỏ chính là cuộc tổngđình công cuối năm 1936 Sau 8 ngày, từ 12/11/1936 đến 20/11/1936, cuộc tổngđình công diễn ra thắng lợi hoàn toàn Đó chính là kết quả vô cùng tuyệt vời màcông nhân vùng mỏ đạt được sau những ngày tháng bị bóc lột, bị ức hiếp một cách
vô lí, dã man
Như vậy, những người công nhân mỏ đã đi theo con đường Cách mạng, đi từnhững năm tháng lầm than tiến tới ánh sáng của Đảng Họ đã thực sự chứng minhcho thực dân, chủ mỏ thấy, thợ mỏ Quảng Ninh không phải là những cỗ máy làmviệc mà là những con người xứng đáng được hưởng quyền tự do, dân chủ, xứng