Chế độ dòng chảy ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ mưa trên đất liền và chế độ triều từ biển Đông.. Chế độ thủy văn mùa mưa Môđun dòng chảy trung bình trê
Trang 1đào tạo công nghệ Môi trường
Đề tài nhiệm vụ “ Đánh giá diễn biến môi trường
khu vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội
của hai vùng phía Bắc và phía nam”
Chủ nhiệm: GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng Phó chủ nhiệm: PGS.TS Lê Trình
Thư ký KH: TS Nguyễn Quỳnh Hương
Tập III
Đánh giá diễn biến môi trường
và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường
ở vùng kinh tế trọng điểm phía nam
(bản chỉnh sửa và bổ sung theo kết luận của hội đồng cơ sở ngày 19.10.2004)
Trang 2Bảng giải thích các từ viết tắt
ADB Ngân hàng Phát triển Châu á
AusAID Cơ quan Hỗ trợ Phát triển Quốc tế của Australia
BOD Nhu cầu oxy sinh hoá
CNM - BVMT Công nghệ mới và bảo vệ môi trường
CO, NO2, SO2 Công thức của các hoá chất: cacbon monoxit, nitơ dioxit,
lưu huỳnh dioxit COD Nhu cầu oxy hoá học
CTNH Chất thải nguy hại
ĐTM Đánh giá Tác động Môi trường
ĐCTV Địa chất thuỷ văn
GIS Hệ thống Thông tin Địa lý
Trang 3KCN Khu c«ng nghiÖp
KHCN Khoa häc c«ng nghÖ
KH & §T KÕ ho¹ch vµ §Çu tư
KHCNMT Khoa häc - C«ng nghÖ - M«i trưêng
KHKT vµ CNQS Khoa häc Kü thuËt vµ C«ng nghÖ Qu©n sù
KHTN & CNQG Khoa häc Tù nhiªn vµ C«ng nghÖ Quèc gia
NH4+, NO3- C«ng thøc ho¸ chÊt: amoni, nitrat
NN & PTNT N«ng nghiÖp vµ Ph¸t triÓn N«ng th«n
PM10 Bôi cã kÝch thưíc ≤ 10 micromet
QHMT Quy ho¹ch M«i trưêng
QLMT Qu¶n lý m«i trưêng
QSH Lưu lưîng nưíc sinh ho¹t
QTMT Quan tr¾c M«i trưêng
QT & PTMT Quan tr¾c vµ Ph©n tÝch M«i trưêng
SS ChÊt l¬ löng
SXKD S¶n xuÊt kinh doanh
TCVN Tiªu chuÈn ViÖt Nam
TDS Tæng chÊt r¾n hoµ tan
Trang 4UBND Uû ban Nh©n d©n
UNEP Ch−¬ng tr×nh M«i tr−êng cña Liªn Hîp quèc
UNESCO Tæ chøc Gi¸o dôc, Khoa häc vµ V¨n ho¸ cña Liªn Hîp
quèc URENCO C«ng ty M«i tr−êng §« thÞ
USD §« la Mü
VOC Hîp chÊt h÷u c¬ dÔ bay h¬i
WHO Tæ chøc Y tÕ ThÕ giíi
WMO Tæ chøc KhÝ t−îng ThÕ giíi
Trang 5Mục lục
Chương Một
Khái quát về môi trường tự nhiên Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
1.1 Vị trí Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam 1
1.2 Chế độ thuỷ văn 4
1.2.1 Chế độ thủy văn mùa mưa 5
1.2.2 Chế độ thuỷ văn mùa kiệt 8
1.2.3 Dự báo về thay đổi lưu lượng sông Sài Gòn và Đồng Nai sau khi có các công trình hồ chứa 9
1.2.4 Chế độ thuỷ văn vùng cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn 10
1.2.5 Vai trò hồ chứa đối với chế độ thủy văn ở Vùng KTTĐPN 12
1.3 Chế độ hải văn 13
1.3.1 Các đặc trưng độ lớn thuỷ triều 14
1.3.2 Các đặc trưng dòng chảy 14
1.3.3 Các đặc trưng sóng 18
1.4 Khí hậu 19
1.4.1 Nhiệt độ 19
1.4.2 Gió 21
1.4.3 Độ ẩm tương đối 22
1.4.4 Bốc hơi 23
1.4.5 Mưa 23
1.4.6 Nắng 23
1.5 Địa hình 24
1.6 Thổ nhưỡng 25
1.7 Tài nguyên sinh học 25
1.7.1 Rừng ngập mặn 25
1.7.2 Rừng ẩm nhiệt đới và rừng nhiệt đới thường xanh 27
1.7.3 Tài nguyên thuỷ sinh 28
1.7.4 Các khu bảo tồn thiên nhiên trong Vùng KTTĐPN 28
Trang 6Chương Hai
HIện trạng và dự báO PHáT TRIểN KT - XH, tác động
môi trường ở Vùng KINH Tế TRọNG ĐIểM PHíA NAM đến 2010
2.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội .29
2.1.1 Phát triển và phân bố dân số 29
2.1.2 Hiện trạng công nghiệp 29
2.1.3 Hiện trạng nông - lâm nghiệp 34
2.1.4 Ngư nghiệp 34
2.1.5 Hiện trạng cơ sở hạ tầng 36
2.1.6 Du lịch 38
2.1.7 Văn hoá, giáo dục 39
2.1.8 Y tế 40
2.1.9 Xã hội 40
2.1.10 Hiện trạng và diễn biến sử dụng đất 41
2.2 Quy hoạch phát triển KT - XH đến 2010 42
2.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 42
2.2.2 Đô thị hoá 42
2.2.3 Công nghiệp hoá 45
2.2.4 Phát triển cơ sở hạ tầng 47
2.2.5 Nông - lâm nghiệp 48
2.2.6 Thuỷ sản 48
2.2.7 Du lịch 49
2.3 Đánh giá tác động môi trường do quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Vùng KTTĐPN 49
2.3.1 Các tác động tích cực 50
2.3.2 Các tác động tiêu cực 50
Chương Ba Đánh giá diễn biến môi trường nước mặt, nước ngầm ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam 3.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm 64
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước 65
3.2.1 ảnh hưởng thủy triều và vấn đề ô nhiễm trong lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn 65
3.2.2 ảnh hưởng của các yếu tố sinh - địa - hóa đến chất lượng nước lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn .66
Trang 73.3 Diễn biến chất lượng nước theo không gian 67
3.3.1 Diễn biến ô nhiễm hữu cơ theo dòng sông 67
3.3.2 Mức độ phú dưỡng hóa theo dòng sông 70
3.3.3 Diễn biến nhiễm mặn theo dòng sông .71
3.3.4 Diễn biến mức độ axit hoá 72
3.3.5 Diễn biến chất rắn lơ lửng 75
3.3.6 Ô nhiễm do vi sinh 76
3.4 Ô nhiễm nguồn nước mặt do hoá chất có độc hại 76
3.4.1 Các nguồn gây ô nhiễm do hoá chất độc hại 76
3.4.2 Ô nhiễm sông Đồng Nai do hoá chất độc hại 78
3.4.3 Ô nhiễm sông Sài Gòn do hoá chất độc hại 79
3.4.4 Kết luận chung về hiện trạng ô nhiễm các sông trong lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn do các hóa chất độc hại 81
3.5 Hiện trạng ô nhiễm các hồ và kênh rạch ở Vùng KTTĐPN 81
3.5.1 Chất lượng nước các hồ 81
3.5.2 Ô nhiễm các kênh rạch 83
3.6 Phân vùng chất lượng nước lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn 85
3.6.1 Phương pháp luận về phân vùng chất lượng nước lưu vực sông ĐN - SG 85
3.6.2 Phân loại chất lượng nước và phân vùng chất lượng nước các sông lớn ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn .88
3.6.3 Dự báo ô nhiễm do chất thải từ thượng nguồn đưa về vùng cửa sông Đồng Nai – Sài Gòn 90
3.6.4 Dự báo về lan truyền dầu do sự cố tràn dầu 94
3.6.5 Đề xuất phân vùng và quy hoạch chất lượng nước trong lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn 97
3.7 Tài nguyên nước ngầm ở Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam 99
3.7.1 Hiện trạng tài nguyên nước ngầm 99
3.7.2 Diễn biến tài nguyên nước ngầm 106
3.7.3 Đánh giá tổng hợp về chất lượng nước ngầm ở Vùng KTTĐPN 114
Chương Bốn Hiện trạng và diễn biến môi trường biển và đới bờ ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 4.1 Đặc điểm môi trường vùng cửa sông, ven biển và tài nguyên thuỷ sinh 117
4.1.1 Đặc điểm môi trường ven biển Vùng KTTĐPN 117
4.1.2 Hiện trạng tài nguyên thuỷ sinh khu vực ven biển 118
Trang 84.2 Diễn biến ô nhiễm biển và cửa sông 124
4.2.1 Diễn biến chất lượng nước vùng cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn tại Cần Giờ 124
4.2.2 Diễn biến chất lượng nước biển ven bờ Vùng KTTĐPN theo không gian 125
4.3 Tác động môi trường và suy thoái tài nguyên sinh vật ven biển và cửa sông ở Vùng KTTĐPN 129
4.3.1 Suy giảm tài nguyên sinh vật trên cạn 129
4.3.2 Suy giảm tài nguyên thủy sinh 130
Chương Năm đánh giá diễn biến ô nhiễm môi trường không khí ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 5.1 Hiện trạng và diễn biến ô nhiễm không khí khu đô thị 131
5.1.1 Hiện trạng chất lượng không khí khu vực dân cư ở đô thị 131
5.1.2 Diễn biến ô nhiễm không khí khu vực dân cư 134
5.2 Hiện trạng và diễn biến ô nhiễm không khí ở các khu công nghiệp 136
5.2.1 Hiện trạng ô nhiễm không khí khu công nghiệp 136
5.2.2 Diễn biến ô nhiễm không khí ở khu vực công nghiệp 140
5.3 Hiện trạng và diễn biến ô nhiễm không khí giao thông 142
5.3.1 Hiện trạng ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông 142
5.3.2 Diễn biến ô nhiễm không khí khu vực giao thông 144
5.4 Phân vùng chất lượng không khí và bản đồ ô nhiễm không khí 146
Chương Sáu Hiện trạng và dự báo gia tăng chất thải đến năm 2010 ở vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam 6.1 Hiện trạng và dự báo tải lượng ô nhiễm do nước thải đô thị 153
6.1.1 Hiện trạng hệ thống thoát và xử lý nước thải 153
6.1.2 Dự báo lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt 153
6.2 Hiện trạng và dự báo tải lượng ô nhiễm do nước thải công nghiệp 158
6.2.1 Thành phần nước thải công nghiệp ở Vùng KTTĐPN 158
6.2.2 Lưu lượng nước thải từ các KCN tập trung 159
6.2.3 Lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải công nghiệp ngoài KCN 162
Trang 96.2.4 Hiện trạng xử lý nước thải tại các KCN ở Vùng KTTĐPN 168
6.3 Hiện trạng và dự báo chất thải rắn sinh hoạt 171
6.3.1 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt 171
6.3.2 Tỷ lệ chất thải nguy hại trong rác sinh hoạt 172
6.3.3 Thành phần chất thải rắn đô thị 173
6.3.4 Hiện trạng thu gom, vận chuyển CTR ở các đô thị trong Vùng KTTĐPN 174
6.3.5 Hiện trạng xử lý chất thải rắn đô thị 178
6.3.6 Dự báo chất thải rắn đô thị Vùng KTTĐPN đến năm 2010 180
6.4 Hiện trạng và dự báo chất thải rắn công nghiệp 181
6.4.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn công nghiệp 181
6.4.2 Dự báo khối lượng chất thải rắn công nghiệp năm 2010 184
6.5 Hiện trạng và dự báo chất thải nguy hại ở Vùng KTTĐPN 185
6.6 Hiện trạng và dự báo khí thải ở Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam 188
6.6.1 Các nguồn khí thải 188
6.6.2 Dự báo về tải lượng khí thải đến 2010 189
6.7 Đánh giá hiện trạng và dự báo chất thải rắn y tế Vùng KTTĐPN đến năm 2010 194
6.7.1 Hoạt động y tế trong Vùng KTTĐPN 194
6.7.2 Khối lượng chất thải rắn y tế 195
6.7.3 Dự báo lượng chất thải rắn y tế đến năm 2010 196
6.7.4 Diễn biến khối lượng chất thải rắn y tế ở Vùng KTTĐPN từ năm 1997-2010 196
Chương bảy Hiện trạng và diễn biến rừng và đa dạng sinh học ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía nam 7.1 Diễn biến tài nguyên rừng 197
7.1.1 Hiện trạng rừng 197
7.1.2 Diễn biến rừng 199
7.1.3 Phân tích những nguyên nhân diễn biến rừng 201
7.1.4 Giá trị môi trường của rừng và định hướng bảo vệ rừng 202
7.2 Các khu bảo tồn thiên nhiên - vườn quốc gia 203
7.2.1 Vườn Quốc gia Cát Tiên 203
7.2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu 205
Trang 107.2.3.Rừng ngập mặn Cần Giờ 206
7.2.4 Vườn Quốc gia Côn Đảo 207
7.3 Diễn biến tài nguyên thuỷ sinh 209
7.3.1 Diễn biến tài nguyên thuỷ sinh trên các hệ thống sông chính 209
7.3.2 Diễn biến tài nguyên thuỷ sinh vùng cửa sông, ven biển 217
7.4 Dự báo diễn biến đa dạng sinh học đến năm 2010 220
Chương Tám Tác động môi trường do công nghiệp hoá, Đô thị hoá đến sức khoẻ ở VùNG KINH Tế TRọNG ĐIểM PHíA NAM 8.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường lao động tại Vùng KTTĐPN 221
8.1.1 Ô nhiễm môi trường lao động tại ngành dệt, may 221
8.1.2 Ô nhiễm môi trường lao động tại ngành nhựa - cao su 222
8.1.3 Ô nhiễm môi trường lao động tại ngành chế biến gỗ - giấy 222
8.1.4 Ô nhiễm môi trường lao động tại ngành cơ khí 223
8.1.5 Ô nhiễm môi trường lao động tại ngành xi măng 224
8.1.6 Ô nhiễm môi trường lao động tại ngành chế biến thực phẩm 225
8.1.7 Ô nhiễm môi trường tại ngành điện tử 226
8.1.8 Ô nhiễm môi trường tại ngành sản xuất thép 226
8.1.9 Ô nhiễm môi trường tại ngành sản xuất sành sứ - thuỷ tinh 227
8.1.10 Ô nhiễm môi trường trong ngành hóa chất 228
8.1.11 Ô nhiễm môi trường trong ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực 228
8.1.12 Ô nhiễm môi trường tại văn phòng 228
8.1.13 Nhận xét chung 229
8.2 Tình hình bệnh nghề nghiệp tại Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam 230
8.2.1 Tình hình chung 230
8.2.2 Tình hình bệnh nghề nghiệp ở các địa phương 232
8.2.3 Nhận xét chung 233
8.3 Diễn biến các bệnh đường nước 234
8.4 Các bệnh do vật truyền trung gian 235
8.5 Các bệnh do ô nhiễm nguồn nước do hoá chất 236
8.6 Diễn biến các bệnh do ô nhiễm không khí 236
8.7 kết luận về Các vấn đề sức khoẻ môi trường ở vùng KTTĐPN 237
Trang 11Chương chín
Đề xuất các biện pháp quản lý và quy hoạch
Để Bảo vệ môi trường Vùng KINH Tế TRọNG ĐIểM PHíA NAM
9.1 Các giải pháp về khoa học quản lý môi trường 239
9.1.1 Gắn kết quy hoạch phát triển KT-XH với BVMT 239
9.1.2 Định hướng bảo vệ môi trường nước 242
9.1.3 Các biện pháp bảo vệ môi trường không khí 246
9.1.4 Nghiên cứu cơ sở KHCN bảo vệ môi trường ven biển 247
9.1.5 Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng 251
9.1.6 Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống quản lý tổng hợp môi trường toàn Vùng KTTĐPN 252
9.1.7 Thiết lập cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Vùng KTTĐPN 253
9.1.8 Phát triển mô hình hóa trong quản lý tổng hợp môi trường Vùng KTTĐPN 255
9.1.9 Thiết lập và hoạt động Hệ thống Quan trắc Môi trường Vùng KTTĐPN 257
9.1.10 Tích cực thực hiện các quyết định, chỉ thị, chính sách của Nhà nước về xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm nghiêm trọng 259
9.2 Các giải pháp về quy hoạch môi trường 260
9.2.1 Quy hoạch tổng thể Vùng KTTĐPN 260
9.2.2 Đề xuất các quy hoạch chuyên ngành 271
Chương Mười Đề xuất các giải pháp công nghệ để bảo vệ môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía nam 10.1 Khái quát chung 289
10.1.1 Đánh giá chung về hiện trạng công nghệ môi trường áp dụng ở Vùng KTTĐPN 289 10.1.2 Các định hướng chính về công nghệ bảo vệ môi trường 291
10.2 Công nghệ xử lý nước thải đô thị tập trung cho các đô thị lớn ở Vùng kinh tế trọng điểm phía nam 292
10.2.1 Thành phần nước thải đô thị trong Vùng KTTĐPN 292
10.2.2 Hiện trạng và dự báo lưu lượng nước thải sinh hoạt tại các đô thị ở Vùng KTTĐPN 293
10.3 Công nghệ xử lý nước thải công nghiệp cục bộ và tập trung 300
Trang 1210.3.1 Công nghệ xử lý nước thải tập trung cho các khu công nghiệp điển hình ở Vùng
KTTĐPN 300
10.3.2 Công nghệ xử lý cho một số ngành công nghiệp điển hình 301
10.4 Đề xuất Các giải pháp và Công nghệ kiểm soát ô nhiễm không khí ở Vùng KTTĐPN 306
10.4.1 Chọn lựa nhiên liệu phù hợp 306
10.4.2 Sử dụng các kỹ thuật xử lý khí thải hiện đại và phù hợp 306
10.5 Biện pháp quản lý và xử lý chất thải rắn tại Vùng KTTĐPN 310
10.5.1 Quản lý chất thải rắn 310
10.5.2 Xử lý chất thải rắn 311
10.5.3 Đề xuất vị trí các trạm xử lý chất thải rắn 316
10.6 Phòng chống sự cố môi trường ở Vùng KTTĐPN 317
10.6.1 Phòng chống sự cố ô nhiễm môi trường diện rộng 317
10.6.2 Phòng chống cháy, nổ 317
10.7 Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong công nghiệp dầu khí 318
10.7.1 Kiểm soát chất thải 318
10.7.2 Kế hoạch ứng cứu sự cố tràn dầu 319
Chương mười một Đề xuất quy hoạch hệ thống quan trắc môi trường ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (và mở rộng cho lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn) đến năm 2010 11.1 Tổ chức hệ thống quan trắc 328
11.2 Tính cấp thiết 330
11.3 Các mục tiêu cơ bản 331
11.4 mạng lưới quan trắc chất lượng nước 332
11.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước trong Vùng KTTĐPN và lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn 332
11.4.2 Các loại trạm trong Mạng lưới Quan trắc Môi trường nước tại lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn 333
11.4.3 Tần suất quan trắc 336
11.4.4 Các thông số quan trắc chọn lọc 337
11.4.5 Đo đạc thuỷ văn 338
Trang 1311.4.6 Xử lý và lưu trữ số liệu 338
11.5 Mạng lưới Quan trắc chất lượng không khí ở Vùng KTTĐPN 338
11.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong Vùng KTTĐPN 338
11.5.2 Các loại trạm trong Mạng lưới quan trắc chất lượng không khí trong Vùng KTTĐPN 339
11.5.3 Các thông số quan trắc chọn lọc 340
11.5.4 Tần suất quạn trắc 341
11.5.5 Quan trắc hỗ trợ (quan trắc vi khí hậu) 341
11.6 Mạng lưới quan trắc môi trường đất trong Vùng KTTĐPN 341
11.6.1 Các nguồn gây ô nhiễm và suy thoái đất 341
11.6.2 Các loại trạm (điểm) quan trắc môi trường đất 341
11.6.3 Vị trí các điểm quan trắc môi trường đất 342
11.6.4 Tần suất quan trắc 342
11.6.5 Các thông số quan trắc chọn lọc 342
11.6.6 Phương pháp quan trắc 343
11.7 Quan trắc đa dạng snh học 343
11.7.1 Các ngyuên nhân gây suy thoá tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học 343
11.7.2 Vị trí các điểm quan trắc ĐDSH 343
11.7.3 Các thông số quan trắc 344
11.7.4 Tần suất quan trắc 344
11.7.5 Phương pháp quan trắc 344
11.8 Quan trắc chất thải rắn 345
11.8.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn ở Vùng KTTĐPN 345
11.8.2 Vị trí các điểm quan trắc 345
11.8.3 Các thông số quan trắc chọn lọc 346
11.8.4 Tần suất quan trắc 346
11.8.5 Phương pháp quan trắc 346
11.9 Các biện pháp chung trong hệ thống quan trắc môi trường ở Vùng KTTĐPN 346
11.9.1 Các biện pháp về kỹ thuật 346
11.9.3 Dự tính kinh phí 347
Kết luận phần III 349
Tài liệu tham khảo 351
Trang 14Lời nói đầu
Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu “Đánh giá diễn biến môi trường Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam (Vùng KTTĐPN)” trong Nhiệm vụ cấp Nhà nước “Đánh giá diễn biến môi trường khu vực trọng điểm phát triển KTXH của hai vùng tam giác phía Bắc và phía Nam”, trong thời gian từ tháng VI đến tháng XII năm 2003, Viện Môi trường và Phát triển Bền vững (VESDI) đã kết hợp với Phân viện Công nghệ mới và Bảo vệ Môi trường - Bộ Quốc phòng; Trung tâm Công nghệ Môi trường - Hội BVTN
và MT Việt Nam; Viện Môi trường - Tài nguyên - ĐHQG Tp Hồ Chí Minh; Trung tâm Bản đồ Tài nguyên – Bộ NN và PTNT đã tiến hành khối lượng lớn các công tác:
- Thu thập, xử lý tài liệu từ các viện, trường, tỉnh, thành phố về các thành phần môi trường;
- Khảo sát, phân tích bổ sung về hiện trạng môi trường không khí, nước, đất, tài nguyên sinh vật ở toàn Vùng KTTĐPN (Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu), trọng tâm là 30 KCN, 4 đô thị lớn và các sông, bãi biển chính trong Vùng;
- Khảo sát, tính toán, xác định các nguồn nước thải, chất thải rắn, khí thải ở 30 KCN, KCX lớn và các khu xử lý rác chính ở cả 4 tỉnh, thành phố;
- Khảo sát, xác định khối lượng, thành phần chất thải rắn đô thị, công nghiệp, y tế
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp về công nghệ về BVMT toàn Vùng;
- Nghiên cứu xây dựng các bản đồ số hoá theo kỹ thuật GIS về chất lượng nước, chất lượng không khí, thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất của Vùng;
Kết quả nghiên cứu được trình bày chi tiết trong 12 báo cáo chuyên đề kèm theo Báo cáo tổng hợp này phản ánh kết quả nghiên cứu của các đơn vị tham ra thực hiện đề tài theo sự chỉ đạo chung của PGS.TS Lê Trình, theo đề cương nhiệm vụ được GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng - Chủ trì dự án giao
Kết quả nghiên cứu có nhiều nội dung, quan điểm và nhất là có số liệu mới với nhiều tính toán định lượng có tính hệ thống, tính dự báo nên có thể phục vụ tốt cho công tác bảo vệ môi trường, phát triển bền vững ở Vùng KTTĐPN - cũng như từng tỉnh, thành phố trong Vùng
Trang 15Chương Một
Khái quát về môi trường tự nhiên Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 1.1 Vị trí Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam
Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) bao gồm toàn bộ các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở Đông Nam Bộ,
trong lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn (Hình 1.1 và 1.2) Giới hạn của Vùng nằm từ 10020
- 11030 vĩ độ Bắc và từ 106020 - 107030 kinh độ Đông, phía Bắc giáp các tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận; phía Tây giáp tỉnh Long An và Tây Ninh; phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang và biển Đông Phần lớn Vùng KTTĐPN nằm ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn; một phần phía Đông Nam thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu nằm
trong lưu vực các sông Ray, Dinh (Hình 1.2)
Vùng KTTĐPN có tổng diện tích vào khoảng 12.660 km2 (chiếm 3,8% diện tích cả nước) và dân số là 9.027 triệu người vào năm 2001 và đạt 10,1 triệu người vào năm 2002, chiếm 12,5% số dân cả nước Từ năm 2003, Vùng KTTĐPN mở rộng đến các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước (ở Đông Nam Bộ) và Long An (ở Đồng bằng sông Cửu Long) Đề tài này chỉ nghiên cứu Vùng KTTĐPN với 4 tỉnh, thành phố trước đây Số đơn vị hành chính của
Dân số (ngàn người)
Thành phố
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 - NXB Thống kê, 2002
Do có tài nguyên thiên nhiên phong phú, thị trường lớn, chính sách kinh tế cởi
mở và nguồn nhân lực dồi dào, Vùng KTTĐPN có nhiều lợi thế phát triển so với các vùng khác trong nước Đây là vùng có tiềm lực kinh tế lớn nhất và phát triển năng động nhất cả nước trong 10 năm qua Với số dân chỉ chiếm 12,50% dân số cả nước nhưng GDP của Vùng KTTĐPN chiếm gần 40% tổng GDP cả nước (năm 2002) Tốc độ tăng GDP trung bình của các tỉnh, thành phố trong vùng giai đoạn 1996 - 2000 là 8 - 9%/năm và giai đoạn 2001 - 2003 là 9 - 10%/năm
GDP theo đầu người của từng địa phương trong năm 2002 là 1.200 USD (Tp Hồ Chí Minh), 2.200 USD (Bà Rịa - Vũng Tàu), 1.850 USD (Bình Dương) và 750 USD (Đồng Nai) Mức này cao gấp 1,8 - 5,5 lần trung bình cả nước (khoảng 400 USD vào năm 2002) Mức tăng GDP hàng năm trong giai đoạn 2001 - 2010 dự tính là 8 - 10%/năm
Trang 16Hình 1.1
Vị trí Vùng KTTĐPN trên bản đồ Việt Nam
Trang 17H×nh 1.2
VÞ trÝ Vïng KTT§PN trong lưu vùc §ång Nai – Sµi Gßn
Trang 18Mức đóng góp ngân sách của Vùng KTTĐPN chiếm trên 40% mức thu ngân sách Nhà nước, trong đó Tp Hồ Chí Minh đã đóng góp đến 25% tổng ngân sách Nhà nước Vào năm 2002, trong số 5 tỉnh, thành phố có mức đóng góp cho Nhà nước cao hơn mức nhận lại từ Nhà nước có 4 tỉnh trong Vùng KTTĐPN (địa phương còn lại là
Hà Nội) Đến năm 2010 mức đóng góp cho ngân sách Nhà nước của Vùng KTTĐPN
ước tính lên tới 50% tổng thu ngân sách Nhà nước Mặc dù vậy, do tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng cơ sở hạ tầng còn hạn chế, bảo vệ môi trường chưa được gắn kết với phát triển kinh tế nên Vùng KTTĐPN đang và sẽ gặp nhiều thách thức lớn đối với phát triển bền vững
1.2 Chế độ thuỷ văn
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ các suối Tonle Chàm, rạch Chàm ở biên giới Việt Nam - Campuchia (địa phận huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước) chảy vào hồ Dầu Tiếng sau đó làm thành ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Tây Ninh - Bình Dương và Bình Dương - Tp Hồ Chí Minh, qua trung tâm Tp Hồ Chí Minh rồi hợp lưu với sông Đồng Nai tại Nam Cát Lái (ngã ba Đèn Đỏ)
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ Nam Tây Nguyên ở thượng lưu có hai nhánh chính là Đa Nhim và Đa Dung bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Tp Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng) chảy qua vùng Đông Bắc tỉnh Lâm Đồng, rồi làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Cát Tiên, Da Teh của Lâm
Đồng với các huyện Dak Nong, Dak Rlap - tỉnh Dak Nông, Bù Đăng - tỉnh Bình Phước
và Tân Phú - tỉnh Đồng Nai, trước khi đổ vào hồ Trị An Sau hồ Trị An, sông Đồng Nai nhận nước từ sông Bé rồi chảy qua các huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Vĩnh Cửu,
Tp Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch - tỉnh Đồng Nai và quận 9, quận 2 - Tp Hồ Chí Minh và hợp lưu với sông Sài Gòn ở Nam Cát Lái tạo thành sông Nhà Bè Từ Phú Xuân huyện Nhà Bè, dòng sông chia thành nhiều nhánh, đổ vào vịnh Gành Rái Các nhánh chính là: Soài Rạp, Lòng Tàu - Ngã Bảy, Đồng Tranh, Gò Da
Sông La Ngà ở thượng lưu có tên là Da R’Gna bắt nguồn từ các suối nhỏ ở vùng cao nguyên Di Linh và Bảo Lộc, Bảo Lâm - tỉnh Lâm Đồng, chảy về các huyện Tánh Linh, Đức Linh - tỉnh Bình Thuận, các huyện Xuân Lộc, Định Quán - tỉnh Đồng Nai rồi đổ vào hồ Trị An Hồ Trị An được hoàn thành vào năm 1987 có dung tích 2,54 tỷ
m3 là hồ thủy điện lớn nhất ở miền Nam
Sông Bé bắt nguồn từ Dak R’Lấp (Tây Nam tỉnh Daklak) chảy qua các huyện
Bù Đăng, Phước Long, Lộc Ninh, Bình Long-tỉnh Bình Phước, Phú Giáo, Tân tỉnh Bình Dương rồi đổ vào sông Đồng Nai ở điểm sau nhà máy thủy điện Trị An Trên sông Bé ở địa phận tỉnh Bình Phước có hồ Thác Mơ (dung tích 1,2 tỷ m3) mới được xây dựng vào năm 1994
Uyên-Diện tích và chiều dài của những con sông chính trong lưu vực Đồng Nai - Sài
Gòn không được thống nhất giữa các tài liệu (Bảng 1.2)
Ngoài ra sông Thị Vải có độ dài gần 50 km bắt nguồn từ huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai đổ ra Vịnh Gành Rái cũng nối với các sông thuộc vùng cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn
Các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây có thể được tính vào lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn
Trang 19Bảng 1.2: Diện tích lưu vực và chiều dài các con sông chính ở Vùng KTTĐPN
Sông chính Diện tích lưu vực (km 2 ) Chiều dài (km)
43.450
14.800**
4.6484.7107.3103.9082.2270
Nguồn: Quy hoạch Tổng thể Vùng trọng điểm Kinh tế phía Nam (1995)(cột có dấu *)
và Dự án "Môi trường lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai do Lâm Minh Triết chủ nhiệm XII.2002 (cột có dấu ** )
Nếu tính cả các sông độc lập ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu (sông Cái, sông Luỹ, sông Quao, sông Cà Ty, sông Phan, sông Linh, sông Bà Đáp, sông Ray, sông Dinh.v.v ) thì lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn trong nhiều tài liệu tính đến 48.268 km2 hoặc có tài liệu ghi là 47.052 km2
Các sông chính trong lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn được thể hiện ở Hình 1.3
Chế độ dòng chảy ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ mưa trên đất liền và chế độ triều từ biển Đông Do vậy chế độ thủy văn biến đổi lớn theo không gian và thời gian - mưa nhiều thì dòng chảy mạnh, mưa ít thì dòng chảy yếu, thuỷ triều mạnh (triều cường) thì dòng chảy mạnh hơn, xâm nhập sâu vào đất liền,
có biên độ lớn, khi triều kém thì ngược lại
Khí hậu trong lưu vực có hai mùa chính: (mùa mưa và mùa khô) nên chế độ dòng chảy ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn cũng hình thành hai chế độ tương ứng: chế độ dòng chảy mùa mưa, chế độ dòng chảy mùa kiệt Sự biến đổi dòng chảy của hai mùa rất tương phản nhau
1.2.1 Chế độ thủy văn mùa mưa
Môđun dòng chảy trung bình trên toàn lưu vực hệ thống lưu vực sông Đồng Nai
- Sài Gòn khoảng 25 l/s/km2, tương ứng với lớp dòng chảy 800 mm trên tổng lớp nước mưa trung bình 2100 mm, đạt hệ số dòng chảy 0,83 thuộc vào dòng chảy loại trung bình ở nước ta Do sự phân bố lượng mưa không đều ở các vùng nên sự phân bố dòng chảy cũng không giống nhau theo các vùng Qua số liệu thực tế có thể xác định một số vùng đặc trưng như sau
• Lưu vực có môđun dòng chảy nhỏ
Sông Vàm Cỏ Đông, hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn có môđun dòng chảy khoảng 15 - 20 l/s.km2, hạ lưu Đa Nhim môđun dòng chảy 20 - 22 l/s.km2 Đây là những vùng có hiệu suất dòng chảy thấp (từ 23 - 33 % lượng mưa).\
• Lưu vực có môđun dòng chảy trung bình
Hạ lưu sông Bé, ven biển Vũng Tàu - Tp Hồ Chí Minh, thượng lưu sông Sài Gòn: môđun dòng chảy từ 18 - 28 l/s.km2
Trang 20H×nh 1.3: HÖ thèng c¸c s«ng chÝnh trong lưu vùc
§ång Nai - Sµi Gßn
Trang 21• Lưu vực có môđun dòng chảy lớn
Trung lưu sông Đồng Nai, thượng lưu sông Bé, sông La Ngà: môđun dòng chảy
38 - 43 l/s.km2 ở nụi hẹp hơn, modun dòng chảy có thể đạt 46 l/ngày.km2 Đặc trưng
dòng chảy tại một số điểm trong lưu vực được nêu trong Bảng 1.3
Bảng 1.3: Đặc trưng dòng chảy một số điểm trong lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn
Q P (m 3 /s)
m 2
M O l/s/km 2
Tà Pao La Ngà 2000 36,8 73,7 2330 104,3 73,5 63 48 Trị An Đồng Nai 14025 35,5 498 15750 696 494 403,7 322Biên Hòa Đồng Nai 22425 34,2 767 24252 1070 760 615 490Dầu Tiếng Sài Gòn 2700 22,3 60,2 1903 83,5 59,6 48 38,7Thủ Dầu Một Sài Gòn 4200 21 88,6 2802 123 87,5 71 57 Nhà Bè Đồng Nai 27425 31,5 864 27320 1186 858 693 557
Gò Dầu Hạ Vàm Cỏ
Đông 5650 17,3 97,7 3089 135,4 96,7 78 62 Soài Rạp Nhà Bè 40000 25,3 1012 32000 1403 1002 809 651
Nguồn: Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn (KT - TV) phía Nam, 2002
Dòng chảy mùa lũ ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn thường bắt đầu vào tháng
VI, VII, nghĩa là xuất hiện sau mùa mưa từ 1 - 2 tháng và kết thúc vào tháng IX, kéo dài 5 - 6 tháng Tuỳ theo vị trí từng vùng mà thời gian mùa lũ bắt đầu và kết thúc khác nhau Nếu lấy theo tiêu chuẩn trị số lưu lượng trung bình tháng so với trị số trung bình năm thì thời gian của một số vùng được xác định như sau:
- Mùa lũ thượng Đa Nhim kéo dài 3 - 4 tháng, từ tháng VIII - IX đến tháng XI - XII
- Thượng lưu La Ngà, nhánh Da Kna, mùa lũ kéo dài 6 tháng, từ tháng VI đến tháng XI
- Trên các đoạn sông còn lại: trung lưu sông Đồng Nai Lưu vực sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông: mùa lũ kéo dài 5 tháng
Các tháng đầu mùa mưa là thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa lũ và mùa kiệt, thường
là tháng V và tháng VI Phần lớn các sông thuộc lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn, lưu lượng vào tháng VI có thể đạt 60 - 75% lưu lượng trung bình năm Vào mùa lũ, lũ cao nhất trên các sông thường xảy ra vào tháng VIII, tháng IX, tháng XI Môđun dòng chảy trung bình tháng vào khoảng 60 - 80 l/s.km2 cho các lưu vực lớn, còn các lưu vực nhỏ thường là 100 -150 l/s.km2 Môđun lũ trung bình vào khoảng 0,2 - 0,5 m3/s.km2
cho các lưu vực lớn và 0,8 - 1,2 m3/giây/km2 cho các lưu vực nhỏ Đối với tần suất 1%,
các trị số này có thể cao hơn từ 5 - 10 lần, tuỳ từng khu vực Bảng 1.4 cho các giá trị
lưu lượng lớn nhất và tổng lượng lũ sông Đồng Nai (ở trạm Cây Gáo)
Trang 22Bảng 1.4: Lưu lượng lớn nhất của sông Đồng Nai tại trạm Cây Gáo
Lưu lượng lũ Q P = m 3 /s Tổng lượng lũ W P = 109 m 3
F = Km2
0,1% 1% 5% 10% 0,1% 1% 5% 10%
15375 21000 13800 8800 6700 19,25 12,67 8,09 6,16
Nguồn: Trung tâm KT - TVphía Nam, 2002
Lưu lượng nhỏ nhất trên sông Đồng Nai xuất hiện vào cuối mùa khô từ tháng IV
- V tại trạm Cây Gáo là 19 - 20 m3/s và tại Biên Hoà là 25 m3/s
Kết quả đo đạc vào tháng VII/2001 (mùa mưa) của Trung tâm KT - TV phía Nam cho thấy mực nước cực đại trên lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn cao nhất là 128
cm (trạm Hoá An) và thấp nhất là 96 cm (trạm Phú Cường) Mức nước cực tiểu tại khu vực này cao nhất là -142 cm (trạm Hoá An) và thấp nhất là -236 cm (trạm Nhà Bè) Biên độ dao động của mực nước tăng dần về phía hạ lưu của các sông
Tốc độ cực đại của dòng chảy khi nước nước chảy ra (triều rút - nước ròng) lớn nhất là 1,565 m/s (trạm Nhà Bè) và nhỏ nhất là 0,848 m/s (trạm Phú Cường) Tại 3 trạm đo đạc ở vùng hạ lưu: Phú An, Cát Lái, Nhà Bè có tốc độ của dòng chảy khi nước chảy lớn hơn 1,00 m/s (từ 1,059 - 1,565 m/s), còn hai trạm ở thượng nguồn Phú Cường, Hoá An có tốc độ của dòng chảy khi nước chảy ra nhỏ hơn 1,00 m/s (xấp xỉ bằng 1,00 m/s) tức là giao động trong khoảng 0,981 - 0,848 m/s
Tốc độ cực đại của dòng chảy khi nước chảy vào (triều dâng - nước lớn) lớn nhất là 0,965 m/s ở trạm Phú An và nhỏ nhất là 0,485 m/s ở trạm Hoá An Tốc độ cực đại của dòng chảy khi nước chảy vào trên tất cả 5 trạm quan trắc đều nhỏ hơn 1,00 m/s, trong đó
có hai trạm là Phú An và Nhà Bè có tốc độ xấp xỉ 1,00 m/s (0,965 - 0,960 m/s)
Lưu lượng trung bình qua tiết diện mặt cắt ngang lớn nhất trên lưu vực sông
Đồng Nai - Sài Gòn là 4315 m3/s (trạm Nhà Bè) và nhỏ nhất là -62 m3/s (trạm Phú An) Lưu lượng qua tiết diện mặt cắt ngang chủ yếu phụ thuộc vào diện tích của mặt cắt ngang (độ sâu, chiều rộng mặt cắt), tốc độ dòng chảy và thời gian nước chảy ra vào của mỗi trạm đo đạc
1.2.2 Chế độ thuỷ văn mùa kiệt
Nhìn chung trong toàn lưu vực, mùa kiệt thường bắt đầu vào tháng XII và kéo dài đến hết tháng V năm sau (khoảng 6 - 7 tháng) ở vùng thượng Đa Nhim thì mùa kiệt kéo dài 8 - 9 tháng
Trong mùa khô lượng mưa rất ít nên dòng chảy mùa kiệt rất nhỏ Lưu vực sông Sài Gòn và các sông suối nhỏ khác bắt nguồn từ vùng đồi Xuân Lộc như sông Lá Buông, suối Cả, sông Dinh là nơi có dòng chảy kiệt dồi dào, có môđun từ 5 - 8 l/s.km2 Còn ở lưu vực sông La Ngà, thượng Đa Dung, trung lưu sông Đồng Nai có môđun kiệt tương đối khá (từ 3 đến 5 l/s.km2) Lưu vực sông Bé và Vàm Cỏ Đông có môđun kiệt trung bình từ 2 - 3 l/s.km2 ở vùng này, các lưu vực có diện tích nhỏ hơn 100 km2thường cho môđun kiệt dưới 0,5 l/s.km2, thậm chí bằng 0
Môđun kiệt không những phụ thuộc vào lượng mưa mà còn phụ thuộc vào điều kiện địa chất, thổ nhưỡng và thảm phủ thực vật Hàng năm, lưu lượng kiệt nhất trên các triền sông thường rơi vào tháng III và tháng IV
Trang 231.2.3 Dự báo về thay đổi lưu lượng sông Sài Gòn và Đồng Nai sau khi có các công trình hồ chứa
Theo số liệu của Trung tâm KT-TV phía Nam do Huỳnh Nguyên Lan cung cấp cho Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu môi trường công trình thủy điện Trị An (1992-1995) việc hoạt động các hồ chứa sẽ gây thay đổi rõ rệt lưu lượng ở hạ lưu của các sông chính
Các Bảng 1.5 - 1.8 cho thấy đặc điểm thủy văn của một số trạm quan trắc trong
lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn
Bảng 1.5: Hiện trạng lưu lượng trung bình của sông Sài Gòn tại Thủ Dầu Một
Bảng 1.7: Dự báo lưu lượng trung bình của sông Sài Gòn tại Thủ Dầu Một
sau khi có hồ Phước Hòa, Đa Mi, Hàm Thuận
Bảng 1.8: Dự báo lưu lượng trung bình của sông Đồng Nai tại Biên Hòa
sau khi có hồ Phước Hòa, Đa Mi, Hàm Thuận
Trang 24Qua các bảng trên có thể thấy rằng sau khi có công trình hồ Phước Hòa thì lưu lượng sông Sài Gòn tăng đáng kể nhưng lưu lượng của sông Đồng Nai tại Biên Hòa bị
giảm một phần Điều này sẽ dẫn đến việc cải thiện mức độ ô nhiễm nước và giảm xâm
nhập mặn vào sông Sài Gòn nhưng lại gia tăng ô nhiễm nước sông Đồng Nai ở đoạn từ
huyện Vĩnh Cửu, Tp Biên Hòa, Quận 9 đến Cát Lái
Các Bảng 1.5 - 1.8 là dự báo từ 1993, tuy nhiên đến nay, Nghiên cứu khả thi
Dự án thủy lợi Phước Hòa do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN và PTNT) cùng Công ty Tư vấn Black & Veatch International thực hiện đã hoàn thành (2003) Theo Dự án này lưu lượng nước sẽ chuyển từ sông Bé sang sông Sài Gòn tối thiểu là 65 m3/s, tối đa là 75 m3/s và lưu lượng từ sông Bé về sông Đồng Nai chỉ còn khoảng 15 m3/s Như vậy lưu lượng sông Đồng Nai tại Biên Hòa còn giảm nhiều so với dự báo trên Đây sẽ là vấn đề môi trường lớn cần được xem xét trong dự án thủy lợi Phước Hòa
1.2.4 Chế độ thuỷ văn vùng cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn
Hàng năm sông Đồng Nai - Sài Gòn và các phụ lưu đã đổ ra biển qua vịnh Gành Rái hơn 30 tỷ khối nước và hàng triệu tấn phù sa Vùng cửa sông tiếp giáp biển là nơi thường xuyên xảy ra hai quá trình tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển cả - bồi tụ
và xói lở Các quá trình động lực tương tác giữa sông - biển luôn luôn xảy ra, khi thì quá trình động lực biển chiếm ưu thế hơn, khi thì các quá trình động lực vùng cửa sông mạnh hơn, khi thì xen kẽ nhau làm cho chế độ thủy văn phức tạp Cũng chính nơi đây lại rất giàu có về nguồn lợi sinh học
Vùng hạ lưu các sông Đồng Nai, Sài Gòn có mạng lưới kênh rạch dày đặc nối các sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông với nhau:
- Rạch Chiếc nối sông Đồng Nai với sông Sài Gòn;
- Rạch Cát (Cây Khô) nối sông Sài Gòn với sông Vàm Cỏ;
- Rạch Tra - Thầy Cai, Rạch Tra - Cầu An Hạ, sông Chợ Đệm - Bến Lức nối sông Sài Gòn với sông Vàm Cỏ Đông
Hệ thống kênh, rạch vùng cửa sông vừa là trục dẫn nước vừa là trục tiêu thoát,
đồng thời chúng cùng các sông lớn tạo nên mạng lưới giao thông thuỷ rất quan trọng
đối với các hoạt động kinh tế vùng hạ lưu
Chế độ dòng chảy ở hạ lưu chịu sự tác động khác nhau theo không gian và thời gian của các yếu tố sau:
- Chế độ dòng chảy từ thượng lưu về
- Chế độ thuỷ triều biển Đông
- Các khai thác có liên quan đến dòng chảy và dòng sông ngay ở hạ lưu
Riêng đối với sông Vàm Cỏ Đông còn chịu sự ảnh hưởng của lũ từ Đồng Tháp Mười tràn về
Chế độ thủy văn ở một số trạm vùng cửa sông được nêu trong Bảng 1.9
Trang 25Bảng 1.9: Kết quả đo tốc độ dòng chảy và lưu lượng ở các trạm thủy văn
vùng cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn, 18.VII - 20.VII.2000
Trạm H max H min V max
Bình Khánh 90 -214 0,653 0,836 76303 112394 -36091 -737 Phước Khánh 92 -213 0,836 0,731 74533 98556 -24023 -490 Vàm Sát 97 -230 0,753 0,691 203824 138151 65673 1340Thiềng Liềng 108 -237 0,660 0,498 111152 52393 58759 1199Thị Vải 378 11 0,937 0,589 40555 26642 13913 284
Nguồn: Huỳnh Bình An - Trung tâm KT - TVphía Nam, 2000
- Mặc dù Soài Rạp là sông lớn nhưng khả năng thoát nước của sông Lòng Tàu lại lớn hơn sông Soài Rạp Theo kết quả đo đạc và tính toán thì phần lớn khối lượng nước của hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn thoát ra biển đều chảy ra Lòng Tàu Tốc độ dòng chảy lớn nhất của sông Lòng Tàu Vmax khoảng 0,8 m/s Rõ ràng đây là một
điều kiện động lực quan trọng, thuận lợi cho tàu bè ra vào, tiết kiệm được nhiên liệu nếu như biết tính đúng thời gian triều lên và triều rút
- Tàu bè đậu ở Vịnh Gành Rái nếu muốn đi về phía Soài Rạp để vào cảng Sài Gòn thì phải trải qua hơn 10 km bãi bồi dọc mũi Cần Thanh (thị trấn Cần Giờ) đến cửa
Đồng Tranh Ngoài ra sông Vàm Cỏ Đông đẩy dòng nước qua phía sông Soài Rạp tạo nên những bãi bồi phức tạp làm cho luồng lạch ra vào cửa Soài Rạp biến động không ngừng
Luồng lạch vùng cửa sông Soài Rạp - Đồng Tranh không sâu, 18% diện tích mặt nước có độ sâu từ 7 - 10 m, hơn 80% diện tích còn lại có độ sâu dưới 6,0 m Vịnh Gành Rái lại có độ sâu lớn: hơn 70% diện tích có độ sâu 7,0 m còn hơn 30% diện tích (tập trung giữa vịnh) có độ sâu 7 - 22 m
Sông Thị Vải có độ rộng không lớn (300 - 600m), nhưng độ sâu lớn (10 - 30m),
ít bị bồi lắng nên rất thuận lợi cho việc xây dựng các cảng nước sâu và hoạt động của tàu từ 10.000 đến 50.000 DWT Hiện nay trên sông này đã có 3 cảng hoạt động, đến năm 2010, 4 - 5 cảng nước sâu sẽ được xây dựng
• Dòng chảy vùng cửa sông
Vùng cửa sông Đông Nai - Sài Gòn chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ bán nhật triều từ biển Đông với biên độ triều vào loại lớn của Việt Nam Vùng cửa sông này có thể chia thành hai khu vực: khu vực ngập thường xuyên và khu vực bán ngập
Trang 26- Vùng bán ngập: chiếm diện tích lớn, chủ yếu nhất là phần lớn diện tích tự nhiên
của huyện Cần Giờ, phía Nam huyện Nhơn Trạch và ven sông Thị Vải ở phía Tây huyện Tân Thành
- Khu vực ngập thường xuyên: chủ yếu là Vịnh Gành Rái với chiều dài mặt nước
20 km và chiều rộng 11 km
Chế độ thuỷ triều vùng cửa sông Đồng Nai - Sài Gòn mang tính chất bán nhật triều không đều Số ngày nhật triều trong tháng hầu như không đáng kể Hàng ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống với chênh lệch rõ ràng độ cao mực nước Biên
đột triều khoảng 3,0 - 4,0 m trong thời kỳ nước cường Giữa kỳ nước cường và kỳ nước kém, độ lớn triều chênh lệch đáng kể, nhưng ngay trong kỳ nước kém, triều vẫn lên xuống khá mạnh, độ lớn triều có thể đạt tới 1,5 - 2,0 m
Thuỷ triều biển Đông ảnh hưởng rất sâu vào trong đất liền Khi chưa có công trình hồ Trị An, Dầu Tiếng thì trên sông Đồng Nai thuỷ triều lên đến Trị An cách biển
180 km, còn trên sông Sài Gòn thuỷ triều lên đến Dầu Tiếng cách biển 208 km, trên sông Vàm Cỏ Đông thủy triều lên đến tận Rạch Muôn (sát biên giới Campuchia) cách biển 245 km
Sau khi có công trình Trị An, Dầu Tiếng tuy lưu lượng trung bình tháng của mùa kiệt (tháng II, III, IV) có tăng lên 4 - 5 lần so với trước nhưng lưu lượng mùa lũ (tháng VIII, IX, X) lại giảm, chỉ còn 50% so với trước khi có công trình cho nên ảnh hưởng thuỷ triều biển Đông ở lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn có khác đi so với trước đây
Trong thực tế có thể lấy vị trí trạm Nhà Bè là ranh giới phân định sự ảnh hưởng giữa sông và biển Từ Nhà Bè trở lên thượng nguồn là vùng chịu ảnh hưởng của quá trình sông là chính, còn từ Nhà Bè ra cửa sông là vùng chịu ảnh hưởng của thuỷ triều (biển) là chính
1.2.5 Vai trò hồ chứa đối với chế độ thủy văn ở Vùng KTTĐPN
Mưa là yếu tố quan trọng tạo thành dòng chảy trên lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn Tương ứng với hai mùa khí hậu trong năm: mùa mưa và mùa khô tạo thành hai mùa dòng chảy: mùa lũ và mùa kiệt Tuy nhiên trên lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn việc hình thành dòng chảy không chỉ do mưa mà còn có vai trò thuỷ triều Tốc độ dòng triều trên các sông, kênh, rạch của lưu vực khá lớn và ảnh hưởng lên đến tận thượng nguồn Quan hệ giữa dòng triều và dòng chảy sông rất chặt chẽ là luôn biến đổi, thay thế cho nhau, khi thì dòng triều chiếm ưu thế, khi thì ngược lại dòng chảy sông chiếm ưu lấn át Điều này thể hiện đỉnh chu kỳ rõ rệt: mỗi ngày có hai lần triều lên và hai lần triều rút
Hiện nay, nhiều hồ chứa thuộc lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn đã được xây dựng để phục vụ thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt, năng lượng Các hồ lớn nhất là:
- Hồ Trị An trên sông Đồng Nai (dung tích 15.230 triệu m3)
Trang 27Trong tương lai trong lưu vực sẽ có thêm các hồ Phước Hòa (dung tích 18,5 triệu m3), hồ Cần Đơn (dung tích 165 triệu m3), hồ Srok-Phu Miêng (trên sông Bé) và nhiều hồ thủy điện trên sông Đồng Nai
Nhiệm vụ chính của các hồ chứa là điều chỉnh dòng chảy theo thời gian nhằm
đáp ứng yêu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, tưới, tiêu nông nghiệp và để phát điện
Hồ nước tích nước vào thời gian trên sông có lưu lượng lớn (mùa lũ) và xả nước từ hồ
ra khi trên sông có lưu lượng nhỏ (mùa kiệt) cho phù hợp với nhu cầu sử dụng nước Chính nhờ tích nước vào mùa lũ mà hồ chứa có tác dụng cắt giảm đỉnh lũ ở hạ lưu, phân bố lại dòng chảy tự nhiên của hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn, làm thay đổi mực nước sông ở thượng lưu hồ chứa, làm thay đổi tốc độ dòng chảy trên các sông, và kiểm soát mặn
Trước khi có hồ Trị An lưu lượng trung bình tháng mùa khô ở Biên Hòa chỉ
45-65 m3/s, sau khi có hồ này lưu lượng sông tại Biên Hòa tăng đến 200-300 m3/s Do vậy xâm nhập mặn về mùa khô bị đẩy từ Long Đại xuống Nhà Bè
Trước khi có hồ Dầu Tiếng, độ xâm nhập mặn vào sâu trên sông Sài Gòn: tại Lái Thiêu với độ mặn là 13,72 g/l (vào năm 1977 - 1978) Trên sông Đồng Nai có độ mặn tại Thượng Tắc đạt 4 g/l
Sau khi có hồ Dầu Tiếng độ mặn bị đẩy xuống dưới Bình Lợi trên sông Sài Gòn
đặc biệt khi hoàn thành cống An Hạ thì độ mặn bị đẩy lùi xuống dưới Cầu Xáng làm ngọt hoá toàn bộ kênh Thầy Cai, Rạch Tra Tuy nhiên do tích nước để kiểm soát lũ vào mùa mưa nên vào mùa này xâm nhập mặn ở vùng cửa sông huyện Cần Giờ lại tăng hơn trước khi có các hồ chứa Ngoài ra việc thay đổi chế độ thủy văn do các hồ chứa đã gây
ảnh hưởng rõ rệt đến hệ sinh thái tự nhiên ở hạ lưu sông Đồng Nai-Sài Gòn Điều này
đã được chứng minh trong nhiều đề tài nghiên cứu khoa học
1.3 Chế độ hải văn
Chế độ hải văn vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu - Tp Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu kỹ trong các công trình của Trương Đình Hiển và CTV, 1992 - 1997 Dưới đây là tóm tắt tài liệu của các tác giả này
Bảng 1.10 trình bày các kết quả tính mực nước trung bình của từng tháng trong
nhiều năm và giá trị mực nước lớn nhất cũng như giá trị thấp nhất của mực nước quan trắc trong nhiều năm của từng tháng
Bảng 1.10: Các giá trị đặc trưng của mực nước (hệ cao độ Mũi Nai)
Trung bình -1 -8 -12 -17 -25 -33 -35 -32 -20 -2 9 7 -14 Cực đại 136 143 151 133 127 116 112 119 155 149 153 140 155 Cực tiểu -280 -284 -239 -265 -287 -309 -304 -294 -257 -257 -259 -272 -309
Nguồn: Trương Đình Hiển và CTV, 1997
Xu thế biến đổi theo các tháng của mực nước trung bình nhiều năm rất rõ rệt Mực nước trung bình biến đổi từ - 35cm đến 9cm Độ chênh lệch của biến thiên mực nước trung bình theo tháng khoảng 45 - 50cm
Trang 28Trong mùa khô từ tháng XI đến tháng III, giá trị mực nước trung bình biến đổi
từ - 12 đến 9cm Trong mùa mưa giá trị mực nước trung bình biến đổi từ -2 đến 35cm Nói chung mực nước trung bình trong mùa khô (gió mùa Đông Bắc) luôn luôn lớn hơn mực nước trung bình trong mùa mưa (gió mùa Tây Nam) mặc dù trong mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 11% tổng lượng mưa năm và mùa mưa chiếm 85% tổng lượng mưa năm Từ đó chúng ta thấy rõ bản chất vật lý của quá trình dao động mực nước ở Vùng cửa sông Đồng Nai được quyết định do các dao động từ biển Đông và ven bờ truyền vào như dao động triều, dao động mùa do hoàn lưu khí quyển gây nên hơn là quá trình biến động lưu lượng nước sông đổ vào vịnh ở thượng nguồn
Sự ảnh hưởng của lượng mưa và nước sông đến các quá trình mực nước không vượt quá giới hạn Cát Lái (Nhà Bè) kể từ thượng nguồn xuống Ngược các quá trình dao động mực nước triều ở biển Đông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình mực nưóc
đến tận Trị An trên sông Đồng Nai và Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn Còn ảnh hưởng dao động mùa do hoàn lưu khí quyển (gió mùa) có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khu vực Nhà Bè và tắt dần ở Long Đại trên sông Đồng Nai và Lái Thiêu trên sông Sài Gòn
Hiện tượng dao động mùa của mực nước có độ chênh lệch đáng kể (45 - 50cm) Quá trình này sẽ góp phần truyền mặn vào vịnh cũng như vào hệ thống sông Đồng Nai
- Sài Gòn Cơ chế vật lý của hiện tượng dao động mực nước trong gió mùa Đông Bắc
và Tây Nam có thể được giải thích bởi cấu trúc động lực dịch chuyển dòng toàn phần của bài toán hải lưu gió trong phạm vi vĩ mô có chu kỳ thời tiết
Rõ ràng, dưới tác động của trường gió mùa Đông Bắc trong biển Đông hình thành hoàn lưu kích thước lớn với xoáy thuận (ngược chiều kim đồng hồ) Kết quả dẫn
đến trong phần bờ Tây biển Đông nhận được sự dịch chuyển dòng toàn phần về phía bên phải hướng gió Nghĩa là dòng toàn phần của biển được dịch chuyển theo hướng vuông góc từ ngoài vào bờ Theo tính chất của môi trường liên tục, kết quả đã dẫn đến
sự dâng nước ở bờ Tây biển Đông theo chu kỳ và cường độ của hoàn lưu gió mùa Đông Bắc Ngược lại hoàn toàn với hiệu ứng dâng nước tong thời kỳ gió mùa Đông Bắc Trong hướng gió mùa Tây Nam dòng toàn phần được hướng từ bờ ra khơi, kết quả tạo thành hiệu ứng nước rút ở bờ Tây biển Đông phụ thuộc vào cường độ và chu kỳ của hoàn lưu gió mùa Với ý nghĩa vật lý nói trên của hiện tượng dao động mực nước trung bình có thể dẫn đến sự hình thành dòng chảy gradient đáng kể trong khu vực ven biển
Đông Nam Bộ
1.3.1 Các đặc trưng độ lớn thuỷ triều
Đặc trưng độ lớn thuỷ triều tại trạm mực nước Vũng Tàu biến đổi trong khoảng
từ 329 cm vào tháng 10 đến 407 cm vào tháng VI Độ lớn thuỷ triều đạt giá trị lớn vào các tháng VI, VII, VIII trong mùa mưa và các tháng XII, I, II trong mùa khô Độ lớn thuỷ triều trong tháng VI, VII, VIII là lớn nhất, phù hợp với thời kỳ gió Tây Nam thình hành, hiệu ứng nước rút khá mạnh Độ lớn thuỷ triều bình quân cả năm là 368 cm Đại
lượng này có ý nghĩa rất quan trọng khi chọn mực nước yên lặng để thiết kế công trình
1.3.2 Các đặc trưng dòng chảy
• Phân tích dòng chảy trong khu vực
Vịnh Gành Rái cũng như vùng bờ biển Đông Nam Bộ chịu sự chi phối quyết định của các quá trình động lực của biển Đông, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng một phần của các quy luật của các hệ thống sông đổ vào vịnh Vì vậy, dòng chảy trong khu vực Vịnh
Trang 29Gành Rái mang tính chất không thuần nhất và là tổ hợp của nhiều thành phần phụ thuộc vào các ngoại lực tác dụng lên hạt chất lỏng trong quá trình chuyển động Trong các thành phần của dòng chảy, dòng triều đóng vai trò chủ đạo, tiếp đến là dòng chảy gradient gây nên bởi các quá trình nước dâng và dòng mực độ của khu vực các cửa sông
Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc (lấy tháng 1 làm điển hình), dòng chảy trong vịnh gần như có hướng về mũi Cần Giờ phía bờ Tây của vịnh Trong thời kỳ này, hướng dòng chảy tầng mặt và tầng đáy có cùng một hướng Tốc độ cực đại tại tầng mặt gần cửa vịnh phía Đông là 27,3 cm/s và tại tầng đáy là 23,5 cm/s Kết quả này cũng phản ánh tính chất của hải lau gió biển nông có độ sâu nhỏ hơn độ sâu của ma sát gió Tốc độ dòng chảy tại tầng mặt trong toàn miền khoảng 20 - 30 cm/s
Trong thời kỳ gió mùa Tây Nam (lấy tháng 8 làm điển hình): dọc bờ từ Long Hải đến Cần Giờ dòng chảy gần như có xu thế đi xa bờ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Về phía mũi Vũng Tàu ở tầng đáy dòng nước có xu hướng đi vào vịnh ngược lại với hướng dòng chảy tầng mặt Tốc độ trung bình của dòng chảy trong thời kỳ gió mùa Tây Nam cho toàn miền khoảng 10 cm/s Nói chung dòng chảy gió trong thời kỳ mùa mưa yếu hơn trong thời kỳ mùa khô
Kết quả nhận được trên đây phù hợp với sự ảnh hưởng của hoàn lưu nước ngược chiều kim đồng hồ trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc và cùng chiều kim đồng hồ trong thời kỳ gió mùa Tây Nam ở vùng thềm lục địa phía Nam Trong thời kỳ gió mùa Tây Nam hiện tượng nước rút xảy ra ở tầng mặt và do tính chất môi trường liên tục nên ở tầng sâu xuất hiện dòng nước chảy vào vịnh và trồi lên mặt tham gia vào dòng chảy ra ngoài vịnh
- Dòng chảy gradient
Dưới tác dụng của dòng chảy gió, sự tham gia của nước sông đổ vào vịnh dẫn
đến sự sản sinh gradient áp lực nằm ngang trong vịnh và vùng ven biển tạo thành dòng chảy gradient Trong dãy quan trắc các thành phần dòng gradient được thể hiện trong thành phần dòng lưu dư của khu vực nghiên cứu Vận tốc của dòng gradient thường chiếm từ 5 - 10% trong dòng chảy tổng hợp
Trang 30• Dòng chảy tổng hợp
Trong các mục trên đã trình bày các thành phần cơ bản của các loại dòng chảy trong tổng thể hợp thành của các dòng chảy tổng hợp Trong mục hiện tại nhằm trình bày các đặc trưng của dòng chảy tổng hợp trong vùng nghiên cứu
Mặc dù có sự tham gia của các thành phần dòng chảy gió và dòng chảy gradient vào dòng chảy tổng hợp, song trong dòng tổng hợp, dòng triều đóng vai trò chủ đạo Vì vậy tính chất cơ bản của dòng chảy tổng hợp là dòng có chu kỳ bán nhật triều không
đều Theo các tài liệu khảo sát từ 1973 cho đến nay, có thể dẫn ra các quy luật phân bố theo mặt rộng, phân bố theo phương thẳng đứng, biến đổi theo thời gian, trục dòng chảy trong vùng nghiên cứu cũng như các giá trị cực đại của nó dùng cho thiết kế công trình
- Phân bố dòng chảy tổng hợp theo mặt rộng
Phần bên trong Vịnh Gành Rái: theo tất cả khảo sát và tính toán đều cho thấy dòng chảy tổng hợp trong vịnh Gành Rái chủ yếu là dòng chảy vào và chảy ra, vectơ vận tốc dòng chảy trong pha triều rút (chảy ra) gần như ngược hướng với vectơ vận tốc lúc chảy vào, ngoại trừ một vài trường hợp do ảnh hưởng đặc biệt của địa hình
Tốc độ dòng chảy trung bình ở bề mặt trong vịnh Gành Rái khoảng từ 30 - 50 cm/s Hướng và tốc độ dòng chảy cực đại trên các tầng nước nhận được đặc trưng cho toàn khu của biển biểu hiện khá rõ rệt trên các kết quả quan trắc và tính toán
- Dòng chảy khu vực bãi cát ngầm trước cửa sông Cái Mép
Khu vực bãi cát ngầm có độ sâu khoảng 10m lúc nước ròng Dòng chảy tại bãi cát ngầm cũng chảy vào có hướng Nam - Đông Nam Tốc độ dòng chảy cực đại ở tầng
đáy là 88 cm/s và ở tầng mặt là 166 cm/s Tần suất xuất hiện hướng chảy ra và vào xấp
xỉ nhau (35 - 48%)
- Dòng chảy khu vực luồng trong vịnh Gành Rái
Đoạn luồng từ sau bãi cát ngầm đến bãi cạn ở ngoài mũi Nghinh Phong có độ sâu khá lớn khoảng từ 13 - 32 m Trong đoạn từ mũi Nghinh Phong đến mũi Sao Mai, dòng chảy vào có hướng Nam - Đông Nam Tốc độ dòng chảy cực đại khoảng từ 100 -
120 cm/s Tại khu vực này dòng chảy tầng đáy khá nhỏ so với tầng mặt
- Khu vực luồng từ ngoài biển đến mũi Nghinh Phong
Khu vực này xuất hiện hai bãi cạn phạm vi nhỏ có độ sâu khoảng 10 - 12m lúc nước ròng tại bãi cát ngầm cửa Nghinh Phong, còn lại có độ sâu từ 14 - 17m Dòng chảy vào có hướng Tây - Tây Bắc và dòng chảy ra có hướng Nam - Đông Nam Tần suất xuất hiện hướng dòng chảy vào và dòng chảy ra gần như bằng nhau (khoảng 35 - 46%) Tốc độ dòng chảy quan trắc được tầng mặt và tầng đáy khoảng 144 cm/s và 128 cm/s
- Dòng chảy tại khu vực sông Dinh - Bến Đình
Tại khu vực Bến Đình, dòng chảy vào có hướng Đông - Đông Bắc và Đông -
Đông Nam Tốc độ khoảng 30 - 60 cm/s Dòng chảy ra có hướng Tây - Tây Nam, tốc
độ dòng chảy khoảng 30 - 74 cm/s Tại tiền cảng trên sông Dinh dòng chảy vào có hướng Đông Bắc, tốc độ cực đại khoảng 120 cm/s Dòng chảy ra có hướng Tây Nam tốc độ cực đại lớn hơn 120 cm/s
Trang 31- Tại khu vực cửa sông Ngã Bảy - phía bờ Tây vịnh Gành Rái
Dòng chảy vào có hướng Bắc - Tây Bắc, dòng chảy ra có hướng Nam - Tây Nam Tốc độ cực đại tại tầng mặt khoảng 121 cm/s và tại tầng đáy 43 cm/s
- Cấu trúc của dòng chảy tổng hợp theo phương thẳng đứng
Khu vực ven biển Cần Giờ, Vũng Tàu, vịnh Gành Rái là vùng ven bờ và vịnh nông, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bán nhật triều hỗn hợp Thành phần dòng triều chiếm từ 70 - 80% trong dòng chảy tổng hợp nên cấu trúc thẳng đứng của nó mang tính chất của dòng triều Trừ khu vực ven biển Vũng Tàu, Cần Giờ và khu vực lõm sâu tại mũi Sao Mai vận tốc dòng chảy ở đáy giảm đáng kể so với tầng mặt Tại các vùng còn lại, sự giảm vận tốc theo chiều sâu xảy ra chậm và vận tốc dòng đáy khá lớn, không bị tắt dần nhanh chóng như khu vực biển sâu Việc dòng chảy đáy tại các khu vực dọc luồng có thể quan trắc được với vận tốc cực đại từ 80 cm/s đến hơn 100 cm/s
Sự chảy mạnh đó có ý nghĩa lớn đến quá trình bồi lắng và ổn định của luồng Ngoài ra tồn tại một vài khu vực đặc biệt như đoạn luồng trong sông Cái Mép (bên trong bãi cát ngầm) có hình thành xoáy ngược ở tầng giữa trên mặt phẳng thẳng đứng dọc theo trục luồng đã tạo nên dòng chảy ở tầng 15 - 20 cm luôn có hướng chảy vào trong sông mà không có sự đổi chiều Dòng này về thực chất là sóng phản xạ của dòng chảy tầng sâu khi gặp bãi cát ngầm án ngữ cửa sông
Dòng chảy trong vịnh hầu như theo hướng đường đẳng sâu Tính chất này đặc biệt rõ nét đối với dòng chảy vào ở tầng đáy, ở tầng mặt hướng chảy trong từng khu vực riêng biệt có lệch với đường đẳng sâu nhưng không lớn Trong các sông lớn: Thị Vải, Ngã Bảy, Gò Gia, sông Dinh, trục dòng chảy hướng theo trục của lòng sông và hướng của vách bờ
- Trong pha triều dâng
Sau khi vượt qua khu vực bãi cát ngầm ở cửa vịnh, dòng chảy đi vào Vịnh Gành Rái theo hướng Bắc - Tây Bắc ở phần phía Đông, dọc theo Nghinh Phong - Sao Mai Luồng chảy mạnh có kích thước rộng khoảng 2 km ở tầng sâu và 4 km ở tầng mặt Sau khi vào đến đường ranh giới Sao Mai - Cần Giờ, một bộ phận không lớn rẽ sang hướng
Đông Bắc và Đông đi vào khu vực Bến Đình - sông Dinh Nhánh chủ yếu tiếp tục chảy theo hướng Bắc - Tây Bắc và Tây Bắc, sau khi đến khu vực trước bãi cát ngầm thì tách thành hai nhánh:
- Nhánh thứ nhất chuyển sang hướng Tây - Tây Bắc, sau khi vượt qua bãi cát ngầm chuyển thảng theo hướng Bắc vào sông Cái Mép
- Nhánh thứ hai chuyển sang hướng Tây - Tây Bắc vào cửa sông Ngã Bảy
Tại phần phía Tây của Vịnh, trục dòng chảy song song với bờ biển Đồng Hoà - Cần Giờ, chảy theo hướng Đông - Đông Bắc, sau khi đến mũi Cần Giờ nhập vào dòng nước biển bên ngoài đổ vào vịnh theo hướng Tây Bắc đến bãi cát ngầm cửa sông Cái Mép thì tách thành hai bộ phận: bộ phận thứ nhất theo hướng Tây - Tây Bắc chảy vào sông Cái Mép; bộ phận thứ hai theo hướng Tây Bắc chảy vào sông Ngã Bảy
- Trong pha triều rút
Trong các sông lớn đổ váo vịnh, trục dòng chảy đổi hướng hoàn toàn ngược lại Khu vực trong vịnh, trục dòng chảy ra lệch với trục dòng chảy vào một góc từ
160 - 165 độ về phía trái (trục chảy hướng vào vịnh)
Trang 32Khu vực ven bờ Đồng Hoà - Cần Giờ trục dòng chảy đổi hướng ngược lại (dòng chảy có hướng từ Cần Giờ đến Đồng Hoà) Sự lệch hướng của dòng chảy ra và hướng dòng chảy vào (mà không hoàn toàn thuận nghịch) có thể có nghuyên nhân là vai trò của lực Coriolis tác động lên dòng chảy sông - uốn hướng chuyển động của dòng nước
về phía bên phải (đối với Bắc bán cầu)
Tóm lược về hệ dòng chảy trong Vịnh Gành Rái, ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu và vùng phụ cận như sau:
- Dòng chảy trong vùng nghiên cứu mang quy luật bán nhật triều không đều, trong một ngày đêm có 4 lần đổi hướng dòng Dòng triều chiếm khoảng 90% độ lớn dòng tổng cộng, còn dòng dư khoảng 10%
- Tại khu vực trong Vịnh Gành Rái, Sao Mai - Bến Đình, dòng chảy mang tính chất gần như thuận nghịch, dòng chảy vào gần như dòng chảy ra
- Tại khu vực ven bờ Cần Giờ, dòng chảy mang tính chất thuận nghịch và song song với bờ Khi dòng triều lên, dòng chảy có hướng từ Đồng Hoà đến mũi Cần Giờ và khi triều rút thì ngược lại
- Sự tắt dần của vận tốc theo phương thẳng đứng xảy ra chậm chạp, mang tính chất của dòng triều trong biển nông Hướng chảy tầng đáy và tầng mặt sai khác nhau không đáng kể, trừ một vài trường hợp như trong luồng tàu vào cửa sông Cái Mép luôn luôn tồn tại dòng chảy vào ở dưới tầng 15 - 20m do kết quả của sự phản xạ của dòng chảy ra len bãi cát ngầm cửa sông
- Trục dòng chảy chủ yếu hướng theo đường đẳng sâu ở trong vịnh Trong sông, trục dòng chảy hướng theo trục dòng sông và hướng của vạch bờ
1.3.3 Các đặc trưng sóng
• Điều kiện hình thành và tạo sóng của khu vực
Vùng biển ven bờ Vũng Tàu và Vịnh Gành Rái thuộc vùng biển nông có độ sâu biến đổi nhỏ từ vài mét đến lớn hơn 32m Nhìn chung Vịnh Gành Rái bị che khuất nhiều hướng gió, trừ hướng gió Tây Nam Từ đó có thể thấy rằng điều kiện tạo sóng và phát triển sóng trong Vịnh Gành Rái bị hạn chế rất nhiều Riêng hướng Tây Nam đã trình bày trên đây rất thoáng có điều kiện tạo sóng tốt nhưng do địa hình đáy ở đây rất nông nên các quá trình sóng được hình thành không thể phát triển lớn được Khu vực bãi trước Vũng Tàu có độ sâu lớn và rất thoáng nên điều kiện tạo sóng và phát triển sóng ở đây có phần thuận lợi hơn trong vịnh Khu vực ven bờ Cần Giờ mặc dù rất thoáng song độ sâu khá nhỏ nên điều kiện tạo sóng ở đây không ddược thuận lợi như Bãi Trước Càng vào sâu trong vịnh điều kiện tạo sóng càng hạn chế nhiều, đồng thời
điều kiện truyền sóng cũng rất khó khăn
• Các đặc trưng sóng quan trắc trong khu vực vịnh Gành Rái
- Các đặc trưng sóng tại Nghinh Phong
Tại khu vực mũi Nghinh Phong - Cầu Đá, độ cao sóng cực đại theo các tháng trong năm có giá trị từ 1,5 - 3m Trong thời kỳ từ tháng I đến tháng IV hướng gió chiếm ưu thế là hướng Đông, độ cao sóng quan trắc được từ 1,5 - 2m, chu kỳ sóng từ 4,8 giây đến 5,7 giây, từ tháng V đến tháng X độ cao sóng cực đại quan trắc được từ 1,5 - 3m ứng với hướng gió chiếm ưu thế là Tây và Tây Nam Từ tháng XI - XII độ cao sóng quan trắc được 1,25 - 1,5m ứng với hướng gió chiếm ưu thế là Đông và Đông Nam Cấp sóng lớn nhất là cấp V, hầu hết tập trung ứng với hướng gió Tây Nam
Trang 33- Các đặc trưng sóng tại Bến Đình và cảng Vũng Tàu
Tại đây, độ cao sóng cực đại quan trắc được là 0,6m ứng với tốc độ gió 6m/s Tại khu vực cảng Vũng Tàu có sự tồn tại của sóng gió và sóng lừng Tại đây, chúng ta thấy trong mùa Đông theo hướng Đông Bắc, tần suất xuất hiện sóng gió có độ cao 0,9m là 8% Trong lúc đó, tần suất xuất hiện độ cao sóng lừng 0,9m là 29% Điều đó chứng tỏ sóng lừng truyền vào vịnh theo hướng gió Đông Bắc trong mùa Đông có độ cao xấp xỉ sóng gió và có tần suất xuất hiện lớn hơn tần suất xuất hiện sóng gió là 3,5 lần Về mùa hè theo hướng Tây Nam tần suất xuất hiện sóng gió có độ cao 0,9m là 15% và tần suất xuất hiện sóng lừng 0,9m là 17% Từ đó cho ta thấy sóng lừng đóng một vai trò rất lớn trong quá trình động lực sông trong vịnh Gành Rái Điều đó nói lên rằng sự cần thiết phải chú ý đến sự truyền của các sóng bão từ xa với chu kỳ dài vào vịnh khi xác định các cao trình xây dựng cảng cũng như các công trình thuỷ khác của khu vực trong khu vực ven biển Đông Nam Bộ Đặc biệt khi xây dựng các đê kè chính trị luồng Đồng thời phải chú ý sự phát triển của dòng chảy trên nền của sóng lừng sẽ dẫn đến sự phức tạp của chế độ dòng chảy khu vực
• Sự truyền sóng và khúc xạ sóng theo các hướng khác nhau
Khu vực cửa vịnh Gành Rái ở phía Đông chịu ảnh hưởng chủ yếu của các sóng khúc xạ theo hướng Nam và Tây Nam Theo hai hướng này, vùng tập trung năng lượng sóng khúc xạ nhiều nhất là khu vực Sao Mai, phần phía Đông cửa vịnh và dọc luồng vào vịnh Phần từ giữa vịnh lên phía Bắc vịnh, bao gồm cả khu vực Bến Đình, chịu ảnh hưởng của khúc xạ sóng theo các hướng Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, và Đông - Đông Bắc
Kết luận
Khu vực có độ cao sóng lớn là Bãi Trước, mũi Nghinh Phong, Sao Mai và luồng vào Vịnh Gành Rái Còn các khu vực: cửa sông Ngã Bảy, Cái Mép, Bến Đình, ven đảo Long Sơn thì có độ cao sóng nhỏ
Các hướng truyền sóng quan trọng đối với vịnh Gành Rái là hướng Nam và Tây Nam Theo các hướng khác, nói chung sự truyền sóng yếu và điều kiện tạo sóng không thuận lợi
Tần suất xuất hiện sóng lừng tại Vịnh Gành Rái và cảng Vũng Tàu quan trắc
được luôn luôn lớn hơn tần suất xuất hiện sóng gió cùng theo hướng (Đông Bắc vào mùa khô và Tây Nam vào mùa mưa) ứng với cùng một độ cao
Độ cao sóng cực đại quan trắc được tại khu vực trạm cầu Đá (Nghinh Phong) là 3m ứng với hướng Tây Nam, tại mũi Sao Mai là 1,2m ứng với hướng Nam và tại Bến
Đình là 0,6m ứng với hướng Tây Nam
Trang 34trời là khá dài (khoảng 118 - 128 ngày), cho nên nền nhiệt độ trên lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn tương đối cao và ổn định Tuy nhiên do trong lớp khí quyển dưới thấp (tầng đối lưu), theo quy luật, nhiệt độ giảm theo độ cao, cho nên tại một số nơi trên phần phía Bắc của lưu vực như Đà Lạt (1500m), Bảo Lộc (800m), Phước Long (250m) nhiệt
độ trung bình tháng và năm đều thấp hơn trên các trạm ở phía Nam lưu vực (Bảng 1.11)
Từ Bảng 1.11 có thể thấy rằng nhiệt độ trung bình tháng cao nhất tại các khu vực
trong Vùng KTTĐPN cũng như toàn bộ lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn thường xuất hiện sau tháng có tổng lượng bức xạ lớn nhất Mặt khác do ảnh hưởng của mây nên trong mùa mưa có tháng có tổng lượng bức xạ nhỏ nhất, nhưng không phải là tháng có nhiệt độ trung bình thấp (tháng XII hoặc tháng I) Hai tháng này tổng lượng bức xạ cao hơn vào các tháng mùa mưa Điều đó có thể hiểu rằng sự hạ thấp nhiệt độ vào hai tháng đó không phải là do ảnh hưởng của bức xạ ít mà là do hoàn lưu gió mùa đông gây ra Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất ở các tỉnh trong Vùng KTTĐPN xuất hiện vào tháng IV
Bảng 1.11: Nhiệt độ trung bình tháng và năm ( 0 C) tại một số nơi
Sở Sao 24,5 26,1 27,6 28,9 28,6 27,2 26,8 26,7 26,6 26,3 25,7 24,4 26,6Trị An 25,6 27,0 27,9 29,0 28,0 26,9 26,5 26,4 26,4 26,1 26,0 25,8 26,8
Nguồn: Trung tâm KT-TV phía Nam, 2002
Độ chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng lớn nhất và tháng lạnh nhất (biên độ năm) trong Vùng KTTĐPN dao động từ 3,1 đến 4,50C Tháng có nhiệt độ tối cao tuyệt
đối tại các khu vực trong vùng đều xuất hiện vào tháng IV hoặc tháng III (Bảng 1.12)
Bảng 1.12: Nhiệt độ tối cao tuyệt đối tháng và năm ( 0 C) tại một số nơi
Sở Sao 37,7 37,3 39,8 39,6 38,7 38,1 35,2 34,7 35,2 34,3 35,2 35,2 39,8Trị An 35,4 35,8 38,8 37,5 37,8 35,1 34,3 33,9 33,5 33,3 33,8 33,9 38,8
Nguồn: Trung tâm KT-TV phía Nam, 2002
Nhiệt độ thấp trung bình tháng của không khí ở vùng thấp nhất đã quan trắc
được đạt khoảng 200C - 260C Nhiệt độ tối thấp trung bình năm khoảng từ 140C - 17,50C Nhiệt độ tháng trung bình thấp nhất hầu hết đều xuất hiện vào tháng I, và cao nhất là xuất hiện vào tháng IV hoặc tháng V
Trang 35Bảng 1.13: Nhiệt độ tối cao trung bình tháng và năm ( 0 C)
tại một số nơi trong Vùng KTTĐPN
Tp Hồ Chí Minh 21,0 21,9 23,5 24,9 24,7 24,1 23,9 24,0 23,9 23,6 22,8 21,6 23,3 Biên Hoà 19,8 20,0 22,3 24,2 24,6 24,1 24,0 23,8 23,8 23,3 22,2 20,4 22,7
Sở Sao 19,6 20,5 22,3 24,1 24,5 24,1 13,8 23,9 23,7 25,6 22,1 20,5 22,9 Trị An 22,1 22,8 23,9 25,0 25,0 24,4 13,9 24,1 24,0 23,9 23,5 22,4 23,8
Nguồn: Trung tâm KT-TV phía Nam, 2002
Chênh lệch giữa các giá trị cực đại của nhiệt độ tối cao trung bình và giá trị của nhiệt độ thấp trung bình (biên độ cực trị trung bình) dao động trong khoảng 12,80C - 16,50C
Các trị số nhiệt độ thấp tuyệt đối ở các khu vực có độ cao hơn 800m thấp hơn
50C Hầu hết các trị số này đều xuất hiện vào tháng XII hoặc tháng I - thời kỳ hoạt
động mạnh mẽ nhất của gió mùa đông (Bảng 1.14)
Bảng 1.14: Nhiệt độ thấp nhất tháng và năm ( 0 C) tại một số nơi trong Vùng KTTĐPN
Sở Sao 13,0 15,3 15,9 21,1 21,8 22,4 21,2 21,9 21,9 17,4 16,9 14,4 13,0 Trị An 17,0 18,8 18,7 21,5 21,6 22,3 21,6 21,8 21,8 19,9 20,8 14,7 14,7
Nguồn: Trung tâm KT-TV phía Nam, 2002
hành ở Vùng KTTĐPN thay đổi rõ rệt theo mùa (Bảng 1.15)
Nhìn chung, Vùng KTTĐPN có tần suất lặng gió đều khá cao trừ Tp Hồ Chí Minh Tại hầu hết các nơi trong thời gian từ tháng IV đến tháng XI, tần suất lặng gió xuất hiện cao hơn các tháng khác trong năm và tháng X là tháng có tần suất lặng gió lớn nhất: Tp Hồ Chí Minh 11,8%, Biên Hoà 30,7% Chung cả năm, tần suất lặng gió
tại các điểm quan trắc đều từ khoảng 20% trở nên (trừ Tp Hồ Chí Minh là 7,5%)
Trang 36Do tần suất lặng gió khá cao, nên tốc độ gió trung bình ở Vùng KTTĐPN khá nhỏ Nếu loại trừ các lần lặng gió thì tốc độ trung bình tháng đạt khoảng 1,3 - 3,8 m/s
và tốc độ gió trung bình năm trên đạt khoảng 1,8 - 3,1 m/s
Bảng 1.15: Tần suất xuất hiện của gió (%) tại một số nơi trong Vùng KTTĐPN
Tháng
Hướng
Cả năm
Nguồn: Trung tâm KT-TV phía Nam, 2002
Tốc độ trung bình của gió theo hướng thịnh hành tại các khu vực trong Vùng KTTĐPN đều từ 1,4 m/s trở lên và cao nhất đạt đến 4,0 m/s Tốc độ gió cực đại đã quan trắc được tại một số nơi trong các tháng đều từ 10m/s trở lên Tốc độ gió mạnh nhất đã quan trắc được tại các nơi như sau:
Độ ẩm tương đối trung bình năm ở vùng KTTĐPN đều đạt được từ 78% - 86%
Trang 37Tháng
Địa điểm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Cả năm
Vũng tàu 2 1 5 33 188 206 213 173 214 215 69 23 1347 Long Thành 9 5 10 67 222 289 317 323 335 287 117 43 2007 Tân Sơn Nhất 10 3 9 44 192 298 302 282 310 285 120 30 1884 Dầu Tiếng 6 10 21 81 210 222 281 265 317 272 124 28 1838
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều tài liệu
Có thể nhận thấy rằng, lượng mưa vào các tháng mùa khô thường rất thấp Đặc biệt vào các tháng I, II và III tại một số nơi lượng mưa nhỏ hơn 5 mm/tháng Lượng mưa hàng năm tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa (khoảng 90% tổng lượng mưa một năm) Đỉnh mưa trong mùa mưa (tháng có lượng mưa lớn nhất trong mùa mưa) thường xuất hiện vào tháng IX (chiếm 75%) Một số nơi có đỉnh mưa vào tháng VIII Việc xê dịch đỉnh mưa này có ảnh hưởng tới dòng chảy lũ, cho nên phần lớn đỉnh lũ trên lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn đều xảy ra vào tháng IX hàng năm
Sự phân bố số ngày mưa (lượng mưa ngày ≥ 0,1 mm) tại một số nơi trong Vùng KTTĐPN đều từ 100 ngày trở lên Số ngày mưa trong các tháng mùa mưa chiếm từ 88% - 94% số ngày mưa cả năm Các tháng có số ngày mưa nhiều nhất (tháng VII, VIII hoặc IX) thường có số ngày mưa từ 20 ngày trở lên
1.4.6 Nắng
Số giờ nắng tăng lên trong mùa khô và giảm trong mùa mưa Số giờ nắng xuất hiện
nhiều vào tháng III, đạt từ 225 giờ/tháng trở lên (Bảng 1.17) Sang tháng IV số giờ nắng
bắt đầu giảm vì xuất hiện các trận mưa trong thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa
mưa Tháng có số giờ nắng ít nhất thường rơi vào tháng VII, tháng VIII hoặc tháng IX
Bảng 1.17: Tổng số giờ nắng trung bình tháng và năm (ngày)
tại một số nơi trong Vùng KTTĐPN
Tháng
năm
Tp Hồ Chí Minh 74 71 71 74 81 84 84 84 86 85 82 78 80 Biên Hoà 74 71 70 73 79 84 85 86 88 88 84 82 80
Sở Sao 74 69 71 72 80 85 87 87 88 86 83 73 80 Trị An 70 70 70 72 79 86 88 89 88 87 81 74 80
Nguồn: Trung tâm KT-TV phía Nam, 2002
Trang 38Tóm lại, qua việc thống kê, đánh giá về đặc trưng khí hậu Vùng KTTĐPN có thể nhận định như sau:
- Đặc trưng nổi bật là nhiệt và ẩm Có thể nói bức xạ và nhiệt độ là hai yếu tố không có hạn chế nào đáng kể đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, có
điều là về mùa khô do lượng bức xạ mạnh, nhiệt độ cao làm gia tăng lượng nước tiêu hao do bốc hơi nhiều nên làm cho mức độ khô hạn thêm gay gắt
- Mặc dầu lượng mưa hàng năm trên lưu vực khá lớn, nhiều nơi đạt trên 2000
mm, nhưng lượng mưa phân bố không đều theo thời gian, tập trung vào các tháng mùa mưa Đó là khó khăn thực sự cho việc sử dụng nước, bảo vệ hồ chứa nước, các đập thuỷ điện và đề phòng các trận lũ quét, lũ ống trong mùa mưa
- Các hồ chứa nước Trị An, Thác Mơ, Dầu Tiếng, Đa Mi - Hàm Thuận cũng ảnh hưởng nhất định đến sự biến đổi các yếu tố nhiệt - ẩm trên lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn nói chung và Vùng KTTĐPN nói riêng Độ ẩm tăng lên trong các tháng mùa khô do tác động của một lượng lớn hơn nước bốc lên từ các mặt hồ và chế độ nhiệt sẽ được điều hoà hơn (nhiệt độ tối cao giảm và nhiệt độ tối thấp tăng)
1.5 Địa hình
Vùng KTTĐPN có địa hình thấp dần từ Đông Bắc đến Tây Nam Độ cao trung bình vùng Tây Bắc (các huyện Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc - tỉnh Đồng Nai) là trên
100 m Vùng thấp nhất là khu vực cửa sông (huyện Cần Giờ - Tp Hồ Chí Minh), tại
đây, độ cao trung bình chỉ từ 0,5 - 2 m trên mực nước biển
Toàn Vùng KTTĐPN có hai dạng địa hình chính là địa hình trung du và địa hình đồng bằng
Địa hình trung du bao gồm phần lớn phía Bắc và Đông Bắc các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Đông Bắc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Vùng này có diện tích lớn, cao độ trung bình từ vài chục mét đến gần một trăm mét so với mực nước biển, địa hình chuyển dần từ dạng đồi cao có vết tích của miệng núi lửa ở vùng Đức Linh, Định Quán, Xuân Lộc… sang vùng đồi thoải hay vùng đất cao khá bằng phẳng ở Phước Hoà, Bến Cát, Cần Đơn Một số vùng có núi đá trên 100 m như Tp Vũng Tàu, huyện Long Đất - Bà Rịa - Vũng Tàu, Định Quán, Tân Phú - Đồng Nai
Địa hình đồng bằng phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Sài Gòn, hạ lưu sông Đồng Nai
và thượng - trung lưu một số lưu vực sông độc lập ven biển Đông Nam Bộ (Nam Bình Dương, Nam Đồng Nai, toàn bộ Tp Hồ Chí Minh, Tây Bà Rịa - Vũng Tàu) Vùng đồng bằng có địa hình bằng phẳng với cao trình phổ biến từ 1 - 3 m, những khu vực đồi gò có độ cao 30 - 90 m
Nhìn chung phần lớn phía Nam Vùng KTTĐPN là đồng bằng thấp, bằng phẳng
Do ảnh hưởng của chế đô bán nhật triều với biên độ dao động lớn (3,0 - 3,5 m), toàn bộ sông rạch ở Tp Hồ Chí Minh, Nam Đồng Nai, Tây Bình Dương và một phần phía Tây tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị ảnh hưởng mặn vào mùa kiệt
Vùng ven các sông Sài Gòn, Đồng Nai và các kênh rạch cũng có địa hình thấp
Do vậy, vào mùa mưa lũ kết hợp triều cường một phần lớn diện tích khu vực trung tâm
và phía Tây Tp Hồ Chí Minh bị ngập úng
Trang 391.6 Thổ nhưỡng
Theo nghiê cứu của Viện Quy hoạch Nông nghiệp miền Nam, trong Vùng KTTĐPN có các loại đất chính sau:
- Đất đỏ vàng trên đất bazan: phân bố ở vùng cao (30 - 50 m) thuộc các huyện
Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú - Đồng Nai và một phần Ngãi Giao, Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu Loại đất này thích hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp (cao
su, cà phê, tiêu) và cây màu (bắp, mì)
- Đất xám (trên phù sa cổ, trên granit, hoặc đất xám đọng mùn-gley): Loại đất
này phổ biến ở Bình Dương và Tây Bắc Tp Hồ Chí Minh, thích hợp cho cây công nghiệp (điều, mì, cao su) và cây màu
- Đất cát biển: chiếm diện tích nhỏ, chủ yếu ở mộ số giồng cát ở Cần Giờ, và TP
Vũng Tàu
- Đất mặn: chiếm phần lớn diện tích huyện Cần Giờ và phía Tây TX Bà Rịa,
huyện Tân Thành, Nam Nhơn Trạch Dưới lớp đất mặn có tầng sinh phèn Loại đất này không phù hợp cho nông nghiệp nhưng thích hợp cho phát triển rừng ngập mặn, nhất là vùng có địa hình thấp
- Đất phèn: phổ biến ở các vùng trũng ven các sông Vàm Cỏ Đông, Sài Gòn ở
khu vực phía Tây Tp Hồ Chí Minh, TX Thủ Dầu Một, Long Thành Các hoạt động thuỷ lợi, đào kênh xây dựng ở vùng này có khả năng gây axit hoá đất và nước
- Đất phù sa: phân bố ven các sông Đồng Nai, La Ngà, Sài Gòn, sông Bé và sông
Vàm Cỏ Loại đất này phù hợp cho phát triển lúa và hoa màu
- Đất dốc tụ: xuất hiện ở vùng địa hình thấp, ở các hợp thuỷ giữa các đồi phù sa
cổ Loại đất này có ở Đông Bắc tỉnh Đồng Nai với diện tích nhỏ
Nhìn chung, tài nguyên đất trong vùng đa dạng, có thể sử dụng tốt cho nhiều mục đích phát triển cây công nghiệp, lúa, hoa màu, rừng ngập măn, rừng tràm và đáp ứng được yêu cầu về xây dựng đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch
Chi tiết về các nhóm đất ở Vùng KTTĐPN được trình bày trong tập sách “Môi trường lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn” (Lê Trình, Lê Quốc Hùng, 2003) Phân bố tài
nguyên đất được trình bày như trong Hình 1.4.
1.7 Tài nguyên sinh học
Vùng KTTĐPN có tài nguyên sinh vật phong phú, nhất là ở các vùng đất ngập nước ven biển và vùng rừng đầu nguồn hồ Trị An Chi tiết về tài nguyên sinh học ở Vùng KTTĐPN được thể hiện trong nhiều nghiên cứu của Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam Bộ, Viện Sinh thái học Nhiệt đới, Viện Môi trường và Phát triển Bền
vững và được tóm tắt trong Chương Bảy Dưới đây là một vài thông tin khái quát
1.7.1 Rừng ngập mặn
Theo kết quả phân tích từ ảnh vệ tinh (2002), diện tích rừng ngập mặn còn lại trong Vùng KTTĐPN khoảng 37.973 ha, bao gồm 35.247 ha huyện Cần Giờ (Tp Hồ Chí Minh), còn lại ở các huyện Long Thành, Nhơn Trạch (Đồng Nai) và huyện Tân Thành TX Bà Rịa (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Vùng KTTĐPN đóng vai trò vô cùng trọng yếu trong phòng hộ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học; hơn thế nữa đây còn là giá trị kinh tế lớn, đặc biệt là thuỷ sản và du lịch
Trang 40Hình 1.4: Bản đồ đất vùng kinh tế trọng điểm phía nam