1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn ngữ văn 11 ở trường THPT

76 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN HAY NHẤT) Xây Dựng Rubric Trong Kiểm Tra Đánh Giá Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Môn Ngữ Văn 11
Trường học Trường THPT
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu khoa học gần đây
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (2)
    • 1. Lí do chọn đề tài (2)
    • 2. Đối tượng nghiên cứu (3)
    • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (3)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu (3)
  • B. PHẦN NỘI DUNG (4)
    • 1. Cơ sở khoa học (4)
      • 1.1. Cơ sở lí luận (4)
        • 1.1.1. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (Chương trình theo định hướng phát triển năng lực) (4)
        • 1.1.2. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 (5)
        • 1.1.3. Kiểm tra đánh giá và yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 (6)
        • 1.1.4. Rubric trong dạy học phát triển năng lực (10)
      • 1.2. Cơ sở thực tiễn (14)
    • 2. Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu (15)
      • 2.1. Rubric trong lĩnh vực giáo dục của một số quốc gia trên thế giới (15)
      • 2.2. Rubric trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam (16)
    • 3. Xây dụng Rubric trong kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Ngữ Văn (18)
      • 3.1. Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá hoạt động Đọc (18)
        • 3.1.1. Xây dựng rubric để đánh giá tổng quát hoạt động đọc đối với văn bản văn học (18)
        • 3.1.2. Xây dựng rubric đánh giá các phương pháp dạy, kĩ thuật, hình thức, dạy học cụ thể để tiến hành hoạt động đọc văn bản văn học theo định hướng phát triển năng lực (22)
      • 3.2. Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Viết môn Ngữ văn 11 (26)
      • 3.3. Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Nói, Nghe môn Ngữ văn 11 (33)
    • 4. Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm (35)
      • 4.1. Mục đích (35)
      • 4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm (36)
      • 4.3. Quy trình thực nghiệm (36)
  • C. PHẦN KẾT LUẬN (66)
    • 1. Quá trình nghiên cứu (66)
    • 2. Ý nghĩa của đề tài (66)
    • 3. Phạm vi và nội dung ứng dụng vào thực tiễn (66)
    • 4. Đề xuất (66)
  • PHỤ LỤC (67)

Nội dung

Kiểm tra đánh giá không chỉ là kênh thông tin về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt làm cơ sở để xếp loại, khích lệ, khen thưởng… học sinh mà nó còn có tác động tới quá trình dạy học.Thông q

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

B PHẦN NỘI DUNG 3

1 Cơ sở khoa học 3

1.1 Cơ sở lí luận 3

1.1.1 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (Chương trình theo định hướng phát triển năng lực) 3

1.1.2.Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 4

1.1.3 Kiểm tra đánh giá và yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 5

1.1.4 Rubric trong dạy học phát triển năng lực 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 14

2.1 Rubric trong lĩnh vực giáo dục của một số quốc gia trên thế giới 14

2.2 Rubric trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam 15

3 Xây dụng Rubric trong kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Ngữ Văn 11 17

3.1 Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá hoạt động Đọc 17

3.1.1 Xây dựng rubric để đánh giá tổng quát hoạt động đọc đối với văn bản văn học 17

3.1.2 Xây dựng rubric đánh giá các phương pháp dạy, kĩ thuật, hình thức, dạy học cụ thể để tiến hành hoạt động đọc văn bản văn học theo định hướng phát triển năng lực 21

3.2 Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Viết môn Ngữ văn 11 25

3.3 Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Nói, Nghe môn Ngữ văn 11 32

4 Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm 34

4.1 Mục đích 34

4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 35

4.3 Quy trình thực nghiệm 35

C PHẦN KẾT LUẬN 65

1 Quá trình nghiên cứu 65

2 Ý nghĩa của đề tài 65

3 Phạm vi và nội dung ứng dụng vào thực tiễn 65

4 Đề xuất 65

PHỤ LỤC 66

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Kiểm tra đánh giá là một khâu, một thành tố quan trọng của hoạt động giáo dục Đó là quá trình thu thập thông tin kết quả học tập của người học bằng nhiều hình thức, công cụ khác nhau Kiểm tra đánh giá không chỉ là kênh thông tin về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt làm cơ sở để xếp loại, khích lệ, khen thưởng… học sinh mà nó còn có tác động tới quá trình dạy học.Thông qua kết quả học tập của người học, các cấp quản lí, giáo viên sẽ nắm được năng lực của từng học sinh, biết được học sinh đang ở đâu, tiến bộ hoặc thụt lùi như thế nào để từ đó hướng dẫn hoạt động học tập, đưa ra những biện pháp điều chỉnh việc dạy và việc học, quản lí và phát triển chương trình, nhằm bảo đảm

sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục

1.2 Đổi mới giáo dục là một vấn đề cấp thiết, một vấn đề nóng bỏng được cả xã hội quan tâm Đây là một công việc mang tính chất lâu dài và đồng bộ.Việc đổi mới chương trình , sách giáo khoa, phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành song song với đổi mới kiểm tra đánh giá Trong quá trình đó việc đổi mới kiểm tra đánh giá được xem là yếu tố cốt lõi vì nó ảnh hưởng trực tiếp

đến chất lượng và hiệu quả dạy học Trong CT GDPT mới, việc đánh giá học

sinh sẽ có những thay đổi căn bản Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong CT tổng thể và CTmôn học, hoạt động giáo dục ( Hướng dẫn dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Những vấn đề chung) Như vậy, kiểm tra đánh giá trong dạy học phát triển năng

lực đã chuyển mục tiêu từ kiểm tra việc ghi nhớ kiến thức sang việc xem trọng năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những tình huống thực tiễn Để thực hiện được điều này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới về nội dung, cách thức đánh giá Và để kiểm tra đánh giá thực sự phát huy hiệu quả, vai trò của nó, bên cạnh việc chú ý đến các phương diện trên thì không thể không chú ý đến việc đổi mới công cụ đánh giá

1.3 Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn xác định môn Ngữ văn là môn học vừa có tính công cụ, vừa có tính thẩm mĩ, nhân văn Môn học góp nhằm hình thành và phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Đặc biệt môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển chuyên biệt: năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Chương trình cũng đưa ra yêu cầu đánh giá phải đảm bảo nguyên tắc học sinh được bộc lộ, thể hiện phẩm chất và năng lực ngôn ngữ, văn học

1.4 Các công cụ đánh giá trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực khá đa dạng, phong phú Việc đánh giá được thực hiện bằng những công cụ: câu hỏi, bài tập, sản phẩm học tập, hồ sơ học tập, bảng kiểm Trong số các công cụ trên thì Rubric là một

Trang 3

Rubric chính là bảng thang điểm chi tiết mô tả đầy đủ các tiêu chí mà người học cần phải đạt được Nó là một công cụ đánh giá chính xác mức độ đạt chuẩn của học sinh và cung cấp thông tin phản hồi để học sinh tiến bộ hơn trong học tập đồng thời cũng có thể giúp học sinh tự đánh giá Sử dụng rubric trong đánh giá là một biểu hiện của tiếp cận dạy học lấy người học làm trung tâm đồng thời phát triển được năng lực của người học

1.5 Thực trạng kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn trong giai đoạn hiện nay

dù đã có những chuyển biến tích cực song vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập

Với những lí do trên, chúng tôi xin chọn đề tài “Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Ngữ Văn 11 ở trường THPT”

làm đối tượng nghiên cứu

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Ngữ văn 11 ở trườngTHPT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

11 ở 3 trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương, Nghệ An; Đề xuất

phương pháp xây dựng rubric trong quá trình KTĐG môn Ngữ Văn 11 ở trường THPT; Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình KTĐG môn Ngữ Văn 11 theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp thuộc hai nhóm nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn, cụ thể: Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp; Phương pháp điều tra, khảo sát ; Phương pháp quan sát; Phương pháp thống kê; Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở khoa học 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (Chương trình theo định hướng phát triển năng lực)

Chương trình và SGK hiện hành theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được triển khai trong toàn quốc từ 2002 đến nay Mặc dù chương trình hiện hành có nhiều ưu điểm so với những lần cải cách giáo dục trước đó, nhưng trước yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ và khoa học giáo dục, trước những đòi hỏi hội nhập quốc tế, chương trình hiện hành khó đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới Chính

vì vậy, đổi mới giáo dục đã trở thành 1 nhu cầu cấp thiết Thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014, Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc Hội và Quyết định số 4/QQĐ- TTg ngày 27/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo xây dựng Chương trình Giáo dục phổ thông mới thay thế cho Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành Ngày 26/12/2018,Chương tình giáo dục phổ thông mới đã được ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo

Vậy chương trình giáo dục phổ thông 2018 có điểm gì khác so với chương trình hiện hành? Nhìn chung hai chương trình có những điểm khác biệt

cơ bản sau:

Điểm khác biệt đầu tiên đó chính là mục tiêu giáo dục Các văn kiện của

Đảng và Nhà nước về đổi mới CT, SGK GDPT như Nghị quyết 29, Nghị quyết

88 và Quyết định 404 đều xác định mục tiêu đổi mới CT GDPT là góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn điện phẩm chất và năng lực của người học Nói một cách vắn tắt, nếu như một CT đặt mục tiêu truyền thụ kiến thức đơn thuần trả lời cho câu hỏi: “Học

xong CT, HS biết được những gì?” thì một CT đặt mục tiêu phát triển phẩm

chất và năng lực của người học sẽ phải trả lời được cho câu hỏi: “Học xong CT,

HS làm được những gì?”

Thứ hai đó là về phương pháp giáo dục Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển Các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề,

Trang 5

hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học tối thiểu, đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học

Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lí thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng

Tùy theo mục tiêu cụ thể và tính chất của hoạt động, học sinh được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học sinh đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế

Thứ 3 đó là Đánh giá kết quả giáo dục Ở Việt Nam, kết quả đánh giá chưa đạt được mục tiêu cung cấp thông tin cho nhà quản lí và giáo viên để hướng dẫn và điều chỉnh các hoạt động dạy học Giáo viên và học sinh có xu hướng dạy và học để ứng phó với kỳ thi, chạy theo thành tích, thay vì hướng đến việc đạt được mục tiêu giáo dục Do đó, các kỳ thi và kiểm tra đã tạo ra nhiều áp lực cho học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh và xã hội nói chung

Trong CT GDPT mới, việc đánh giá học sinh sẽ có những thay đổi căn bản Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong CT tổng thể và CTmôn học, hoạt động giáo dục Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá

và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp.Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức để phục vụ công tác quản lí các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáo dục và phục vụ công tác phát triển CT Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lí các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng đánh giá kết quả giáo dục ở

cơ sở giáo dục, phục vụ công tác phát triển CT và nâng cao chất lượng giáo dục

1.1.2.Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018

*Quan điểm xây dựng chương trình:

Việc xây dựng CT môn Ngữ văn mới được tiến hành dựa trên các quan

điểm cơ bản sau đây:

- CT môn Ngữ văn tuân thủ các quy định cơ bản được nêu trong CT tổng thể

- CT môn Ngữ văn lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói

và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của

Trang 6

CT theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục

trong tất cả các cấp, lớp Kĩ năng Đọc được hiểu theo nghĩa rộng với nhiều yêu

cầu và mức độ khác nhau, trong đó kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học được chú

trọng đúng mức Kĩ năng Viết bao gồm yêu cầu viết chữ, viết câu, viết đoạn và tạo lập các kiểu văn bản, trước hết là cá Các kĩ năng Nói và Nghe thể hiện ở

khả năng trình bày, nói và nghe tự tin, có hiệu quả; từ nói đúng đến nói hay

Nội dung nói và nghe chủ yếu dựa vào nội dung đã đọc và viết Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về văn học và tiếng Việt được tích hợp vào hoạt động dạy đọc, viết, nói và nghe Việc xây dựng CT môn học dựa trên các trục phát triển kĩ năng đọc, viết, nói và nghe xuyên suốt cả 3 cấp học vừa bảo đảm tính chất thống nhất, phát triển, tăng tiến trong toàn CT, vừa giúp cho việc tích hợp vào nội dung CT tất cả các mục tiêu giáo dục đặc trưng của môn Ngữ văn, thể hiện rõ đặc điểm của CT phát triển năng lực, không lấy việc trang bị kiến thức làm mục tiêu giáo dục

*Mục tiêu của chương trình

Hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tốt đẹp: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính Đặc biệt, CT môn Ngữ văn giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn

hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế

- Góp phần giúp HS phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ

và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Đặc biệt, CT môn Ngữ văn giúp HS phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe; phát triển tư duy hình tượng

và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá: có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống

1.1.3 Kiểm tra đánh giá và yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018

1.1.3.1 Kiểm tra đánh giá

*Khái niệm:

KTĐG là một thuật ngữ chỉ hai hoạt động đó là kiểm tra và đánh giá

Kiểm tra là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của người học bằng nhiều hình thức, công cụ, kĩ thuật khác nhau Đánh giá là quá tình thu thập,

Trang 7

tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, về chương trình, về nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo dục

Tóm lại, KTĐG là hai công đoạn của một quá trình có mối quan hệ mật thiết với nhau Chính vì lẽ đó, KTĐG thường đi liền với nhau Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học; KTĐG là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí chất lượng dạy và học

*Mục tiêu của KTĐG

Cung cấp thông tin chính xác, khách quan, có giá trị, kịp thời về mức độ cần đạt của phẩm chất, nâng lực của HS và sự tiến bộ của người học hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học

*Ý nghĩa của KTĐG

KTĐG là khâu không thể thiếu trong hoạt động dạy học Nó chứa đựng nhiều mục đích: thu thập, xác định, xem xét, đưa ra quyết định, thông báo Hơn thế nữa, KTĐG nhằm hướng đến người học, phát triển năng lực cho người học, giúp họ hiểu biết về các tiêu chí đánh giá, từ đó có thể tự học, tự đánh giá, biết quyết định các chiến lược học tập để đạt kết quả cao

*Yêu cầu của KTĐG trong dạy học

Để thật sự có những dữ liệu bổ ích cho việc điều chỉnh quá trình dạy học, KTĐG cần phải đảm bảo một số yêu cầu mang tính chất nguyên tắc sau: Đảm

bảo tính qui chuẩn Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học; Phải mang tính công bằng, khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.; Phải mang

tính xác nhận và phát triển; Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác,

độ tin cậy, độ giá trị và thuận tiện khi sử dụng

1.1.3.2 Kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

* Xu hướng chung của kiểm tra đánh giá trong giai đoạn hiện nay

Theo quan điểm hiện đại ngày thì đánh giá là học tập , đánh giá vì học tập được xem trọng (Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học) Ngoài ra, đánh giá kết quả học tập cũng sẽ được hiện tại một thời điểm cuối quá trình giáo dục để xác nhận những

gì HS đạt được so với chuẩn đầu ra

*Những điểm mới của KTĐG theo định hướng phát triển năng lực

Sự thay đổi, khác biệt giữa KTĐG năng lực và đánh giá kiến thức kĩ năng được thể hiện rõ qua bảng so sánh sau:

Trang 8

Tiêu chí

Đánh giá kiến thức, kĩ năng Đánh giá năng lực

1.Mục đích đánh giá trọng tâm

- Xác định việc đạt kiến thức,

kĩ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục

- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau

- Đánh giá khả năng HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống

- Vì sự tiến bộ của HS

2.Ngữ cảnh đánh giá

Gắn với nội dung học tập được học trong nhà trường

Gắn với bối cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của HS

3.Nội dung đánh giá

- Những kiến thức, kĩ năng ở 1 môn học nhất định

- Quy chuẩn theo việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học

- Đánh giá đạo đức học sinh chú trọng đến việc chấp hành nội quy nhà trường, tham gia phong trào thi đua…

- Những kiến thức, kĩ năng ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm phong phú của bản thân

- Đánh giá phẩm chất của học sinh toàn diện, chú trọng đến năng lực

cá nhân, khuyến khích học sinh thể hiện cá tính và năng lực bản thân

4.Công cụ,hình thức đánh giá

- Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm

- Các hình thức kiểm tra đánh giá chưa đa dạng, mới chỉ chú

ý kiểm tra đánh giá theo từng giai đoạn Chủ yếu là kiểm tra định kì, thường xuyên với các bài kiểm tra trên giấy được thực hiện vào cuối một chủ đề, một chương, một học kì…

- Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thực

- Tập trung đánh giá thường xuyên hơn là định kì

- Chú trọng đánh giá quá trình

Chú trọng vào quá trình tạo ra sản phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến các chi tiết của sản phẩm để nhận xét

Trang 9

- Chưa chú trọng đánh giá cả quá trình

- Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực hành, sản phẩm dự án,

cá nhân, nhóm…) trong suốt quá trình học tập

5.Người đánh giá

Đánh giá được thực hiện bởi các cấp quản lí và do người dạy (giáo viên) là chủ yếu, còn

tự đánh giá của học sinh không hoặc ít được công nhận

Bên cạnh đánh giá của người dạy thì khuyến khích học sinh tự đánh giá, chủ động trong đánh giá, khuyến khích đánh giá chéo của học sinh

6.Thời điểm đánh giá

Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy

Đánh giá mọi thời điểm của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học

7.Kết quả đánh giá

- Năng lực người học phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành

- Càng đạt được nhiều đơn vị kiến thức, kĩ năng thì càng được coi là có năng lực cao hơn

- Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành

- Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn sẽ được coi như là có năng lực cao hơn

* Qui trình kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

Bước 1: Phân tích mục đích đánh giá, mục tiêu học tập sẽ đánh giá

Bước 2: Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá

Bước 3: Lựa chọn, thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá Bước 4: Thực hiện kiểm tra, đánh giá

Bước 5: Xử lí, phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá Bước 6: Giải thích kết quả và phản hồi kết quả đánh giá Bước 7: Sử dụng kết quả đánh giá trong phát triển phẩm chất và năn gl]cj HS

* Định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong môn Ngữ văn

Đánh giá dạy học trong môn Ngữ văn cần bám sát các định hướng về đổi mới đánh giá kết quả giáo dục trong chương trình tổng thể nhưng nội dung, phương pháp cần phù hợp với đặc điểm môn học Ngữ văn nói chung và đặc điểm môn học này ở cấp THPT nói riêng Cụ thể cần chú ý:

- Đánh giá cần xuất phát từ các phẩm chất và năng lực của môn học này, nhất là các năng lực chuyên môn (năng lực ngôn ngữ, văn học)

Trang 10

- Năng lực ngôn ngữ là năng lực sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp thể hiện ở kĩ năng đọc, viết, nói, nghe Năng lực văn học là khả năng đọc văn bản văn học, cảm thụ, phân tích, đánh giá văn học; tư duy hình tượng; xúc cảm thẩm mĩ….Đánh giá năng lực văn học hay ngôn ngữ đều phải thông qua các hoạt động đọc, viết, nói, nghe

Rubric thường được thiết kế dưới dạng ma trận 2 chiều, với các mức đánh giá tương ứng với các tiêu chí phù hợp với yêu cầu đánh giá đối với một hoạt động học tập

1.1.4.2.Vai trò

- Giúp công khai công cụ đánh giá của GV, với các tiêu chí cụ thể để phân biệt các mức độ thành tích trong học tập

- Rubric hỗ trợ, thúc đẩy HS học tập tích cực, chủ động, nâng cao chất

lượng học tập Nếu được thông báo trước các tiêu chí cần đạt được của bài

học,…bằng Rubric, HS có thể chủ động học tập để nhằm đạt được các chuẩn, tiêu chí đã đặt ra Rubric giúp họ suy nghĩ, học tập, và tạo ra chất lượng cao trong nhiệm vụ.Đồng thời, Rubric giúp HS biết được những kỳ vọng của GV

về học tập; nhận ra các điểm mạnh, yếu trong quá trình học tập, từ đó xây dựng cách thức và kế hoạch cải tiến

- Rubric phát triển năng lực cho người học trong quá trình kiểm tra đánh

giá Rubric hỗ trợ phát triển tốt tư duy cho HS Rubric giúp HS suy nghĩ sâu

sắc hơn, tư duy ở mức độ phức tạp hơn Khi được tham gia xây dựng Rubric,

HS sẽ được động não một cách tích cực, suy nghĩ một cách sâu sắc về các tiêu chí, mức độ đánh giá bài làm, sản phẩm, và các chiến lược để đạt được những tiêu chí của nhiệm vụ đã đặt ra

Rubric giúp phát triển năng lực đánh giá cho HS Rubric là công cụ hữu

hiệu để thực hiện đánh giá ngang hàng, tự đánh giá của HS trong lớp học

Rubric hỗ trợ tốt cho việc tự đánh giá, cho sự phát triển hiểu biết của HS Được

cung cấp bảng Rubric, HS có thể dựa vào đó để biết tại sao bài làm, sản phẩm,

dự án của mình được đánh giá ở mức độ đó, điểm nào mạnh, điểm nào yếu, cần khắc phục, cố gắng để đạt được thứ hạng cao hơn như thế nào ở những lần sau

.- Rubric làm giảm số lượng thời gian GV dành cho việc đánh giá kết quả học tập của HS ở 1 số công đoạn Với Rubric, GV cũng không phải mất

Trang 11

nhiều thời gian khi làm công tác trả bài viết, phản hồi về chất lượng bài viết của HS GV chỉ mất thời gian ở giai đoạn thiết kế chúng, còn khi chấm điểm, phản hồi, trả bài nhận xét, mọi thông tin đã có sẵn trên phiếu Rubric

Rubric dễ sử dụng và giúp GV dùng làm minh chứng để giải thích về

chất lượng KTĐG trong lớp học Nó có thể sử dụng để giải thích một cách

nhanh chóng cách đánh giá công việc của HS với những người có liên quan như cha mẹ học sinh, các nhà quản lí giáo dục được thứ hạng cao hơn như thế nào ở những lần sau

- Giúp tăng cường sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa GV và HS

Thông qua rubric, đánh giá không còn là một hoạt động mang tính bí mật

Sử dụng rubric trong đánh giá học tập là một biểu hiện của tiếp cận dạy học lấy người học làm trung tâm

1.1.4.3 Phân loại rubric

Căn cứ vào chức năng và mục dích đánh giá, người ta chia rubric thành

2 loại chính: Rubric định lượng/phân tích (Analytical rubric) và Rubric định tính/tổng hợp (Holistic rubric):

Rubric định lượng/phân tích (Analytical rubric) ): là Rubric được sử

dụng để đánh giá phân tích từng phần của bài làm, sản phẩm, hoạt động,…với các yếu tố hoặc bình diện riêng rẽ cùng với các chỉ số mô tả cụ thể cho từng tiêu chí, bình diện Lợi thế: Rubric phân tích cho kết quả chi tiết, giúp HS biết được một cách cụ thể những cái được và chưa được trong bài làm, hoạt động, sản phẩm,…của mình để từ đó biết cách cố gắng để tiến bộ; Dễ dàng hơn cho

Gv khi thảo luận với phụ huynh hoặc với Hs về những điểm mạnh và những điểm yếu trong bài làm…của HS Khó khăn: Mất nhiều thời gian để xây dựng

hệ thống tiêu chí và khi đánh giá

- Rubric định tính/tổng hợp (Holistic rubric): là Rubric dùng để đánh giá tổng thể toàn bộ hoạt động, sản phẩm, nhiệm vụ của HS, cung cấp một điểm số duy nhất, không cung cấp hoặc mô tả chi tiết về từng cấp độ của các tiêu chí

Rubric loại này chú trọng đánh giá tổng thể một bài làm, sản phẩm,…chứ không coi trọng chi tiết Lợi thế : Rubric tổng hợp có thể dùng để ghi điểm nhanh chóng, cung cấp cái nhìn tổng quan về thành tích học tập của học sinh Khó khăn: Tuy nhiên, đánh giá kiểu này không cung cấp nhiều thông tin phản hồi cho GV và HS, không cung cấp thông tin chi tiết về các mức độ mong đợi của từng tiêu chí thuộc sản phẩm, bài làm của HS

Sử dụng loại Rubric nào là tùy thuộc vào mục đích của việc KTĐG Sử dụng một Rubric tổng hợp khi GV muốn có một đánh giá nhanh, tổng thể, bao

quát chung về thành tích của HS Sử dụng một bảng Rubric phân tích khi

GVmuốn nhìn thấy từng điểm mạnh và điểm yếu thuộc từng phần bài làm của HS; phản hồi thông tin chi tiết về bài làm, sản phẩm cho HS; đánh giá kĩ năng

Trang 12

1.1.4.4.Thời điểm sử dụng rubric

- Việc sử dụng rubric để đánh giá và phản hồi kết quả thường được thực hiện sau khi HS thực hiện xong các bài tập, nhiệm vụ được giao Hệ thống các bài tập rất đa dạng, phong phú, có thể là các bài tập, nhiệm vụ có giới hạn đòi hỏi vận dụng tri thức, kĩ năng trong 1 phạm vi hẹp và cần ít có thời gian để thực hiện Hoặc chúng cũng có thể là các bài tập, nhiệm vụ mở rộng có cấu trúc phức tạp đòi hỏi phải vận dụng nhiều tri thức, kĩ năng khác nhau và mất nhiều thời gian để hoàn thành như: dự án học tập, nhiệm vụ làm thí nghiệm…

GV cần đưa ra các tiêu chí sẽ được sử dụng để đánh giá cho HS ngay khi giao bài tập, nhiệm vụ để HS hình dung rõ công việc cần phải làm, những gì được mong chờ ở họ và làm thế nào để giải quyết nhiệm vụ

Không những thế, GV cần tập cho HS cùng tham gia xây dựng tiêu chí đánh giá các bài tập, nhiệm vụ để HS tự làm quen và biết cách sử dụng các tiêu chí trong đánh giá

1.1.4.5 Quy trình thiết kế rubric

Để thiết kế Rubric, GV cần trải qua hai bước: Bước 1 là xây dựng tiêu chí đánh

giá, bước thứ hai là xây dựng các cức độ đạt được của các tiêu chí đó

a Bước 1: Xây dựng tiêu chí đánh giá

- Phân tích yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề, môn học và xác định các kiến thức, kĩ năng mong đợi này vào các nhiệm vụ/bài tập đánh giá mà GV xây dựng

- Xác định rõ các nhiệm vụ/bài tập đánh giá đã xây dựng và đánh giá hoạt động, sản phẩm hay đánh giá cả quá trình hoạt động và sản phẩm

- Phân tích cụ thể hóa các sản phẩm hay các hoạt động đó thành những yếu tố, đặc điểm hay hành vi sao cho thể hiện được đặc trưng của sản phẩm hay quá trình đó

- Đó là những yếu tố, những đặc điểm quan trọng, cần thiết quyết định

sự thành công trong việc thực hiện hoạt động, sản phẩm Đồng thời căn cứ vào yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề, môn học để từ đó xác định tiêu chí đánh giá Sau khi thực hiện việc này này ta sẽ có danh sách các tiêu chí ban đầu

- Chỉnh sửa, hoàn thiện các tiêu chí Công việc này bao gồm:

+ Xác định số lượng các tiêu chí đánh giá cho mỗi hoạt động, sản phẩm

Mỗi hoạt động, sản phẩm có thê có nhiều yếu tố, đặc điểm để chọn làm nhiều tiêu chí.Tuy nhiên, số lượng các tiêu chí dùng để đánh giá cho một hoạt động, sản phẩm nào đó không nên quá nhiều Bởi trong một thời gian nhất định, nếu

có quá nhiều tiêu chí sẽ khiến cho GV ít có thời gian quan sát và đánh giá, khiến cho việc đánh giá thường bị nhiễu Do đó, để sử dụng tốt nhất và có thể quản lí

1 cách hiệu quả, cần xác định giới hạn số lượng tiêu chí cần thiết để đánh

Trang 13

giá.Thông thường , mỗi hoạt động, sản phẩm có khoảng 3- 8 tiêu chí đánh giá

là phù hợp

+ Các tiêu chí đánh giá cần được diễn đạt sao cho có thể quan sát được sản phẩm và hành vi của HS trong quá trình HS thực hiện các nhiệm vụ Các tiêu chí cần được xác định sao cho đủ khái quát để tập trung vào những đặc điểm nổi bật của các hoạt động, sản phẩm, nhưng cũng cần biểu đạt cụ thể để

dễ hiểu và quan sát được dễ dàng, tránh sử dụng những từ ngữ mơ hồ làm che lấp những dấu hiệu đặc trưng của tiêu chí, làm giảm sự chính xác và hiệu quả của đánh giá

b Xây dựng các mức độ thể hiện các tiêu chí đã xác định

- Xác định số lượng về mức độ thể hiện của các tiêu chí Sở dĩ cần thực hiện việc này là vì rubric thường sử dụng thang mô tả để diễn tả mức độ thực hiện công việc của HS Với thang đo này, không phải GV nào cũng có thể phân biệt rạch ròi khi vượt quá 5 mức độ miêu tả Khi phải đối mặt với nhiều mức

độ hơn khả năng nhận biết, GV có thể đưa ra những nhận định và điểm số không chính xác, làm giảm độ tin cậy của sự đánh giá Vì thế chỉ nên sử dụng 3 đến 5 mức độ miêu tả là thích hợp nhất

- Đưa ra mô tả về các tiêu chí đánh giá ở các mức độ cao nhất, thực hiện tốt nhất

- Đưa ra mô tả về các tiêu chí ở các mức độ còn lại

- Hoàn thiện bản rubric: bản rubric cần được thử nghiệm nhằm phát hiện những điểm cần chỉnh sửa trước khi đem sử dụng chính thức

Một trong những yếu tố quan trọng nhất cả việc thiết kế thang đo cho rubic là

sử dụng từ ngữ mô tả các mức độ thực hiện tiêu chí Cần phải sử dụng các từ ngữ diễn đạt sao cho thể hiện được các mức độ thực hiện khác nhau của HS

Có thể sử dụng nhiều nhóm từ ngữ để miêu tả các mức độ từ thấp đến cao hoặc ngược lại nhưu: thực hiện tốt, tương đối tốt, chưa tốt, kém hay những từ mô tả khác như luôn luôn, phần lớn, thỉnh thoảng, ít khi, không bao giờ

* Một số lưu ý khi xây dựng Rubric

Trong quá trình xây dựng Rubric, GV có thể mắc phải một số sai sót như: bài

tập, sản phẩm, bài luận …không phù hợp với Rubric; Rubric quá chú trọng đến hình thức trong khi đó không chú ý đầy đủ đến nội dung của sản phẩm, dự án, hoạt động, bài viết, ; các chỉ số mô tả cho tiêu chí không xếp theo các nhóm một cách lôgic hoặc các chỉ số mô tả không cụ thể; Rubric có sử dụng quá nhiều

từ ngữ định lượng như “nhiều”, “rất nhiều”,…để xác định mức độ; Rubric dài dòng nhưng không rõ ràng; các mức độ quá cao hoặc quá thấp không phù hợp với chuẩn, tiêu chí hoặc đặc điểm của sản phẩm, hoạt động,… trong thực tiễn ; Rubric là một trong số rất nhiều công cụ đánh giá, tùy trường hợp mà sử dụng, tránh lạm dụng Rubric khi không cần thiết,…

Trang 14

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để có thêm những kết luận mang tính xác thực, định lượng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình KTĐG tại 3 trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An cụ thể là trường THPT Thanh Chương I và trường THPT Nguyễn Cảnh Chân, trường THPT Thanh Chương 3 (Nội dung khảo sát, xem phụ lục số 1.1, 1.2) Đối tượng khảo sát gồm GV dạy Ngữ văn THPT,

HS lớp 10,11,12 Số lượng: (20 GV, 200 HS)

Qua việc khảo sát chúng tôi nhận thấy:

- Phần lớn GV, HS chỉ chú ý đến kết quả quả, chất lượng bài viết Khi

được hỏi mục đích chung của việc kiểm tra, đánh giá thì có 10/20 GV chiếm tỉ

lệ 50% chọn phương án a Trong số 200 HS được hỏi điều mà em quan tâm nhất sau khi kiểm tra đánh giá thì có 170 /200 HS quan tâm đến điểm số chiếm

tỉ lệ 85% Con số này nói lên thực trạng chung của kiểm tra đánh giá hiện nay:

Đó là chỉ chú trọng điểm cuối của quá trình dạy học và mục đích của KTĐG

chủ yếu là để phục vụ quản lí xếp loại HS, xét lên lớp, quản lí như xếp loại HS,

…Trong khi đó, chức năng cung cấp thông tin phản hồi cho HS và GV về quá trình dạy học của KTĐG, về phát triển năng lực hầu như luôn bị bỏ qua

- GV chưa chú ý đến hoạt động đánh giá nhiều kĩ năng khác bên cạnh kĩ năng viết cho HS Trong quá trình tiến hành khảo sát khi được hỏi: Để tiến hành kiểm tra dánh giá theo định hướng phát triển năng lực của HS, thầy (cô) thường xuyên sử dụng hình thức đánh giá nào? Thì có tới 15/20 GV chiếm tỉ lệ 75%

chọn hình thức kiểm tra viết

- Không ít GV vẫn có xu hướng giữ lại tất cả quyền sở hữu trong quá trình KTĐG Khâu KTĐG hiện nay vẫn là sự độc quyền của GV HS cho rằng

GV chiếm 85,5% trong vai trò là người đánh giá các em.Trong khi đó, GV cũng cho rằng thỉnh thoảng họ mới để cho HS tham gia với vai trò là người đánh giá bên cạnh GV (18/20 Gv chiếm tỉ lệ 90%) Việc tự KTĐG và đánh giá lẫn nhau (đánh giá ngang hàng) ở HS nhằm hình thành năng lực giao tiếp, tạo lập văn bản cho HS chưa được chú ý đúng mức

- Nhiều công cụ đánh giá của GV chưa thật sự bám sát mục tiêu theo định hướng phát triển năng lực GV chưa biết cụ thể hóa các mục tiêu thành từng tiêu chí cụ thể để đánh giá, chưa chú ý đến việc công bố các tiêu chí KTĐG cho HS trước khi tiến hành một bài học, một nhiệm vụ (qua khảo sát có 17/20 chiếm tỉ lệ 85% GV chọn đáp án c: có nhưng ít khi công khai tiêu chí đánh giá trước khi tiến hành 1 hoạt động kiểm tra đánh giá) Đa số phương pháp, công

cụ KTĐG trong dạy học Ngữ văn được thực hiện một cách đơn điệu chưa phù hợp với việc đổi mới phương pháp, đổi mới kiểm tra đánh giá GV kiểm tra thường xuyên, định kì bằng đề tự luận hơn là kết hợp đa dạng các phương pháp KTĐG Theo kết quả khảo sát, GV cho biết: có tới 15/20 GV sử dụng phương pháp đánh giá bằng hình thức viết sau khi GV đã cho hệ thống câu hỏi, bài tập,

Trang 15

đề kiểm tra Đánh giá bằng hồ sơ học tập và rubric chưa từng được sử dụng

Đánh giá bằng sản phẩm học tập chiếm 5/20 với tỉ lệ 25%

Hầu hết GV và HS có xu hướng đánh giá thấp tầm quan trọng của thái

độ, hành vi, năng lực hợp tác và các năng lực thực khác của HS trong kiểm tra, đánh giá GV cho rằng mức độ quan trọng cần kiểm tra chỉ chiếm 10%

(2/20GV)

- Trong giờ trả bài viết HS đã cho rằng: việc yêu cầu HS tự đánh giá bài viết, đánh giá ngang hàng bài làm của bạn hầu như không được tiến hành GV chủ yếu là đánh giá, nhận xét bài viết của HS, lấy giờ trả bài viết để dạy bài tiết trước chưa xong là 1,5%; đọc điểm, vô điểm: 2,5%,…Mặc dù đây là những đánh giá từ một phía HS nhưng chúng tôi cho rằng đó là những con số tương đối thực về tình hình KTĐG trong dạy học hiện nay ở trường phổ thông

Với những thực trạng trên, đẩy mạnh đổi mới hoạt động KTĐG trong dạy học là điều cần phải tiếp tục được tiến hành mà việc vận dụng Rubric theo chúng tôi là một trong nhều công cụ có thể giải quyết được hiện trạng trên

2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 2.1 Rubric trong lĩnh vực giáo dục của một số quốc gia trên thế giới

KTĐG vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cấp quản lí, các nhà giáo dục

Thuật ngữ Rubric đã được sử dụng trong tiếng Anh kể từ năm 1400

Rubric có gốc từ tiếng La tinh gọi là “Rubrica” có nghĩa là vùng đất đỏ, phần viết bằng màu đỏ viết trong các kinh thánh, sách cổ, được các giáo hội công giáo sử dụng cho việc hướng một đạo luật hay một phần của một mã quy phạm pháp luật (và cũng được in dẫn tiến hành Thánh lễ.Và trong luật pháp Rubric

có nghĩa là đề mục hoặc là một tiêu đề của bằng mực đỏ) Một ý nghĩa khác gần gũi hơn khiến nó được sử dụng hiện nay trong giáo dục đó là Rubric là tiêu

đề của một chương hoặc một phần trong quyển sách, được viết hoặc in thành mực đỏ hoặc được gạch chân màu đỏ để nhấn mạnh

Tháng 11 năm 1981, Rubric xuất hiện trong bài viết “The Validity of the

advanced placement English language and composition examination” của

trường College English Đây là lần đầu tiên, nó được dùng để đánh giá bài viết

“Các độc giả đã được đào tạo để cho điểm một bài luận cách tổng thể, xem xét chất lượng của bài luận cả về nội dung lẫn hình thức Họ đã sử dụng một thang

đo chín điểm và được hướng dẫn bởi một hướng dẫn cho điểm hay Rubric”.Từ

đó, Rubric ngày càng được sử dụng phổ biến trong giáo dục

Hiện nay, ở một số quốc gia tiên tiến, Rubric được sử dụng rất nhiều trong dạy học từ việc công bố tiêu chí cần đạt được trong suốt cấp học, khóa học, từng bài học, đến việc đánh giá các bài trình bày, bài kiểm tra viết, nói, các sản phẩm của dự án học tập; từ việc GV đánh giá HS, HS tự đánh giá và

Trang 16

đánh giá lẫn nhau đến việc GV đánh giá lẫn nhau,… Nhiều bài viết về PPDH, KTĐG trong giáo dục của các quốc gia tiên tiến đã đề cập đến Rubric…

Rubric ở các quốc gia trên thế giới được hướng dẫn thiết kế bằng tay hoặc bằng các phần mềm máy tính sẵn có tại các trang Web trực tuyến Ví dụ:

trang Web rubricstar.com, rubrics4teachers.com,…Ngày nay, Rubric trở thành công cụ được dùng phổ biến trong dạy học, KTĐG của hầu hết các quốc gia như là một sự công bố, thông báo cho người học biết những đích mong đợi mà

họ cần hướng đến để đạt được chất lượng học tập mong muốn

2.2 Rubric trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam

Rubric là công cụ khá hữu ích tuy nhiên có thể nói các công trình nghiên cứu về công cụ này đặc biệt là trong dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn

chưa nhiều

Từ năm 2009 đến 2011, Nguyễn Kim Dung đã thực hiện Dự án “Xây

dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng học tập HS THPT” nhằm đề ra phương

pháp khắc phục những hạn chế trong khâu đánh giá kết quả học tập của HS THPT Đề tài thực hiện các nội dung chính: xây dựng bộ công cụ các tiêu chí đánh giá chất lượng học tập của học sinh THPT theo các mặt: tiêu chí đánh giá đầu vào, đánh giá quá trình đầu ra, các tiêu chí khác có liên quan đến chất lượng học tập; điều tra chất lượng và đánh giá thực trạng chất lượng học tập của học sinh THPT thông qua khảo sát tình hình học tập của học sinh THPT tại thành phố HCM; bước đầu triển khai tập huấn cho giáo viên về bộ công cụ đánh giá

chất lượng học tập ở các trường và hướng dẫn sử dụng các phần mềm trắc

nghiệm; đánh giá chất lượng học tập của học sinh ở cấp THPT ở 1 số trường

TH PT tại thành phố HCM theo các tiêu chí của bộ công cụ…Trong đó, tác giả

đã nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc sử dụng các tiêu chí lượng hóa (Rubric) Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng, có thể làm căn cứ đáng tin cậy cho việc tiến hành sử dụng Rubric trong dạy học, KTĐG trong những năm sắp tới ở Việt Nam

Tháng 9 năm 2009, Tạp chí Giáo dục số 221 đã đăng bài viết “Áp dụng

đánh giá theo Rubric trong dạy học” của Tôn Quang Cường Nội dung bài báo

trình bày một cách khái quát vấn đề: khái niệm Rubric, phân loại Rubric, nguyên tắc và qui trình thiết kế, áp dụng Rubric trong dạy học nói chung, Song, việc vận dụng Rubric vào các môn học trong đó môn Ngữ Văn chưa được đề cập

Nhận thức được vai trò của Việc KTĐG kết quả học tập của HS, nhằm đổi mới công tác KTĐG, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích giáo viên

sử dụng kĩ thuật rubric xây dựng ma trận đề và thang điểm cho bài kiểm tra thông qua các tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện và câu hỏi, bài tập cho cấp THPT

Trang 17

Năm 2010, Bộ GDĐT đã tập huấn “Đổi mới kiểm tra kết quả học tập

của học sinh trung học phổ thông” cho 10 môn học, trong đó có Ngữ văn Nội

dung xoay quanh cách lập ma trận đề kiểm tra, cách KTĐG mới theo định hướng phát triển năng lực Tài liệu tập huấn đã giới thiệu qui trình, kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cùng các ví dụ ở 10 môn học thuộc cấp THPT Bước đầu, các tác giả cũng đã trình bày một số bảng Rubric minh họa về tiêu chí chấm điểm bài tự luận của HS, trong đó có Ngữ văn Tuy nhiên, tài liệu này này cũng chỉ là kết quả của những bước thử nghiệm chung, việc áp dụng Rubric cụ thể cho từng phân môn, lí thuyết, cách thiết kế, sử dụng vẫn chưa được đề cập

Năm 2010, trong công văn 8773/BGDĐT- GDTrH ngày 30/12/2010 hướng dẫn đổi mới KTĐG cấp trung học, Bộ GDĐT hướng dẫn GV cách xây dựng ma trận đề kiểm tra (thực chất là một bảng Rubric dạng ma trận 2 chiều)

Cũng tại công văn này, Bộ GDĐT cũng đã khuyến khích GV dùng Rubric trong xây dựng thang điểm để chấm điểm bài tự luận cho HS Tuy vậy, không phải

GV nào cũng biết lí thuyết về công cụ Rubric

Năm 2019, Trung tâm Đánh giá chất lượng giáo dục, Cục quản lí chất

lượng tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lí, cho giáo viên về: Vận dụng cách

đánh giá PISA vào đổi mới đánh giá giáo dục phổ thông Trong tài liệu tập

huấn việc xây dựng rubric chấm cũng được phân tích khá cụ thể Từ khái niệm,

ý nghĩa, phân loại, cách xây dựng rubric đều được tài liệu tập huấn phân tích khá chi tiết

Đặc biệt Nguyễn Thành Ngọc Bảo với đề tài Rubric đánh giá năng lực

tạo lập văn bản nghị luận văn học của học sinh THPT đã đóng góp một “tiếng

nói” quan trọng trong đổi mới KTĐG môn Ngữ Văn Đề tài cũng có những khái quát chung về Rubric: khái niệm, các bộ phận cấu thành, đặc điểm của Rubric

Đóng góp của bài viết là đã xác định các tiêu chí và mức điểm cho từng tiêu chí như vấn đề cần nghị luận, kết cấu bài văn nghị luận, lập luận, diễn đạt trong Rubric đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học Như vậy, bài viết cũng đã đề cập đến việc KTĐG kĩ năng viết tuy nhiên các năng lực khác như năng lực đọc, nói nghe chưa được đề cập đến

Tóm lại, cho đến thời điểm nghiên cứu hiện tại, chúng tôi nhận thấy công

cụ Rubric đã được đề cập và vận dụng bước đầu trong thực tiễn giáo dục tại Việt Nam Tuy nhiên, những công trình, tài liệu nghiên cứu về lí thuyết, cũng như cách vận dụng Rubric vào KTĐG môn Ngữ Văn 11 theo định hướng phát triển năng lực vẫn là một đề tài mới, còn nhiều nội dung có thể “khai phá”

Trang 18

3 Xây dụng Rubric trong kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Ngữ Văn 11

3.1 Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá hoạt động Đọc

Hệ thống văn bản trong chương trình môn Ngữ văn 2018 được chia thành

3 loại: văn băn văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin.Trong số đó văn bản văn học chiếm tỉ lệ đáng kể hơn so với hai loại văn bản còn lại Vì vậy, trong phạm vi nhỏ hẹp của SKKN này, chúng tôi chỉ đề xuất cách xây dựng rubic đánh giá hoạt động đọc đối với tác phẩm văn học Để tiếp cận văn bản 1 cách hiệu quả, nhất thiết HS phải có kĩ năng đọc tốt Mục đích của dạy đọc là giúp HS biết đọc và tự đọc được văn bản, từ đó mà hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho HS

Đánh giá hoạt động đọc của HS là việc không đơn giản Để có được kết quả chính xác, ngoài những hình thức truyền thống, rubric là một công cụ đánh giá hiệu quả Như ở phần trên đã phân tích thì bản chất của rubric là đánh giá tham chiếu theo tiêu chí, do đó rất thích hợp để đánh giá năng lực

3.1.1 Xây dựng rubric để đánh giá tổng quát hoạt động đọc đối với văn bản văn học

*Các bước xây dựng rubric để đánh giá tổng quát hoạt động đọc đối với văn bản văn học:

- Bước 1: Xây dựng các tiêu chí đánh giá của rubric

+Muốn xác định được tiêu chí đánh giá, nhất thiết phải nắm được mục tiêu đánh giá Nói cách khác mỗi tiêu chí phải tương ứng với 1 mục tiêu đánh giá nào đó, phải cụ thể, đo lường được và định hướng hành động

Theo chương trình môn học Ngữ văn 2018 đã được công bố thì mục tiêu, yêu cầu của hoạt động đọc đối với văn bản văn học Ngữ văn 11 là:

chuyện, sự kiện, nhân vật và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm; nhận xét được những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản; Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân biệt chủ đề chính, chủ đề phụ trong một văn bản có nhiều chủ đề; Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn

bản; phát hiện được các giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ văn bản

bản của ngôn ngữ văn học Phân tích được tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm văn học; Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện thơ dân gian và truyện thơ Nôm như: cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, độc thoại nội tâm, bút pháp miêu tả ngôn ngữ,…;Nhận biết và phân tích được một số yếu

tố của truyện ngắn hiện đại như: không gian, thời gian, câu chuyện, nhân vật,

Trang 19

người kể chuyện ngôi thứ 3 (người kể chuyện toàn tri) và người kể chuyện ngôi thứ nhất, sự thay đổi điểm nhìn, sự nối kết giữa lời người kể chuyện, lời nhân vật ;Nhận biết và phân tích được vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ

Đánh giá được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ như ngôn từ, cấu tứ, hình thức bài thơ thể hiện trong văn bản ; Nhận biết và phân tích được một số

yếu tố của bi kịch như: xung đột, hành động, lời thoại, nhân vật, cốt truyện…

Liên hệ, so sánh, kết nối: So sánh được hai văn bản văn học viết cùng

đề tài ở các giai đoạn khác nhau; liên tưởng, mở rộng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản được đọc; Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống

và hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để nhận xét, đánh giá văn bản văn học; Phân tích được ý nghĩa hay tác động của văn bản văn học trong việc làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức, đánh giá của cá

nhân đối với văn học và cuộc sống

* Để đạt được các yêu cầu trên, HS phải:

- So sánh, liên hệ giữa các văn bản, kết nối văn bản với đời sống

- Điều chỉnh hành vi ứng xử qua việc vận dụng các giá trị mà văn bản đem lại

Từ đây, các tiêu chí đánh giá của rubric được đưa ra như sau:

1 Đọc trực tiếp văn bản Đọc (đọc thầm hoặc đọc to) để có được

Phát hiện, phân tích, lí giải những giá trị nội dung tư tưởng được người viết gửi gắm trong văn bản

4

Xác định các yếu tố thuộc về hình thức của văn bản

Xác định được kiểu văn bản, thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh…

Trang 20

5 Liên hệ, kết nối văn bản

So sánh văn bản được đọc với các văn bản khác nhau có sự tương đồng hoặc khác biệt, liên hệ văn bản với đời sống thực tại và với những ứng xử của cá nhân

+Xác định mức điểm cho mỗi tiêu chí đánh giá

Trong các tiêu chí đánh giá, GV phải xác định được tiêu chí nào là tiêu chí qun trọng, có trọng điểm số cao nhất Theo chúng tôi, trong hoạt động đọc, việc học sinh nắm bắt được nội dung và hình thức của văn bản là hai yêu cầu

vô cùng quan trọng Vì thế mỗi tiêu chí chiếm 30% tổng thang điểm Hoạt động đọc chiếm 10% vì đây là yêu cầu tối thiểu Hoạt động tóm tắt, tương tự hoạt động đọc chiếm 10% Khả năng liên hệ, kết nối văn bản của học sinh chiếm 20%

Tư đó , mức điểm đề xuất cho từng tiêu chí đánh giá của rubric được thể hiện

ở bảng sau (theo thang điểm 10):

Đọc trực tiếp văn bản

Tóm tắt văn bản

Phân tích các thông điệp được gửi gắm trong văn bản

Xác định các yếu tố thuộc

về hình thức của văn bản

Liên hệ, kết nối văn bản

tả này được diễn đạt từ mức cao nhất đến mức thấp nhất, và nhất thiết phải chỉ

ra được ranh giới của các mức độ, tránh trường hợp đánh giá mơ hồ, không xếp được ở 1 khuông ô cụ thể nào Không những thế các mô tả này hướng tới khả năng tự đánh giá, đánh giá và cùng đánh giá của cả GV và HS Ở mỗi mức độ

là các mô tả cụ thể, tương ứng HS có thể nhìn vào rubric để tự đánh giá được mình thuộc mức độ nào, do đó theo dõi được sự tiến bộ của bản thân, của bạn học

Sau đây là rubric mà chúng tôi đề xuất để đánh giá tổng quát hoạt động đọc:

Tiêu chí

Mức 1(Tốt) Mức 2 (Khá) Mức 3(TB) Mức 4 (Kém)

Đọc trực

Đọc văn bản

to, rõ ràng, đúng ngữ điệu

Đọc văn bản

rõ ràng, có chú

Đọc văn bản không trôi chảy, chưa chú

Đọc văn bản còn ngắc ngứ, mắc nhiều lỗi,

Trang 21

tiếp văn bản (10%)

,có khă năng biểu cảm tốt

ý ngữ điệu và biểu cảm

ý đến ngữ điệu

và biểu cảm

không biểu cảm

Tóm tắt văn bản (10%)

Nắm vững bố cục của văn bản, tóm tắt tốt nội dung của văn bản đó

Tóm tắt được nội dung văn bản

Trình bày được

mở đầu và kết thúc văn bản

Tóm tắt văn bản lộn xộn, không theo trình tự, nhầm lẫn giữa văn bản này với văn bản khác

Phân tích các thông điệp được gửi gắm trong văn bản (30%)

Phân tích tốt các thông điệp được gửi gắm trong văn bản theo các tầng bậc ý nghĩa;

lập luận ,lí giải cho cách hiểu của mình một cách thuyết phục

Phân tích được 2/3 các thông điệp được gửi gắm trong văn bản; giải thích

sơ lược cho cách hiểu của mình về thông điệp đó

Phân tích được thông điệp bề mặt của văn bản, không phân tích được những ý nghĩa bên trong của văn bản, không

lí giải được cách hiểu của bản thân về thông điệp đó

Không nắm được các thông điệp được gửi gắm trong văn bản, không hiểu ý nghĩa và giá trị của văn bản

Xác định các yếu

tố thuộc

về hình thức của văn bản

(30%)

Xác định được kiểu văn bản, thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh… được sử dụng; phân tích rõ vai trò của các yếu tố hình thức trong việc làm nên sức hấp dẫn của văn bản

Xác định được kiểu văn bản, thể loại, ngôn ngữ được sử dụng; không phân tích được vai trò của các yếu tố hình thức đặt trong chỉnh thể văn bản

Nhầm lẫn kiểu văn bản; Xá định được 1/3 đặc điểm về ngôn ngữ, hình ảnh của văn bản; không phân tích được

ý nghĩa của các yếu tố hình thức đối với văn bản

Không xác định được các yếu tố thuộc về hình thức của văn bản

Liên

hệ, kết nối văn bản

Biết so sánh văn bản đang học với các văn bản khác

có liên quan,

Biết so sánh văn bản đang học với các văn bản khác, chưa có liên

Có liên hệ, so sánh nhưng chỉ liên hệ, so sánh

1 cách đối phó

Không biết liên

hệ, kết nối văn bản

Trang 22

(20%) biết kết nối

văn bản với bối cảnh lịch

sử, văn hóa, xã hội, biết liên

hệ với quan điểm sống và cách ứng xử của bản thân

hệ, kết nối văn bản với đời sống

Như vậy, với mô hình rubric này, GV có thể đánh giá được hoạt dộng đọc của HS tương đối dễ dàng Hơn thế, khi HS sử dụng rubric, HS sẽ thấy trước được những yêu cầu mà GV đòi hỏi, kì vọng ở họ trong hoạt động đọc

Những hiểu biết mơ hồ về đọc tốt, đọc khá, đọc TB, đọc kém không còn nữa, thay vào đó là những mô tả, giải thích rõ ràng, cặn kẽ, khách quan GV và HS cũng có thể điều chỉnh các mô tả trong rubric sao cho chúng phù hợp với năng lực và tiến độ của người học

3.1.2 Xây dựng rubric đánh giá các phương pháp dạy, kĩ thuật, hình thức, dạy học cụ thể để tiến hành hoạt động đọc văn bản văn học theo định hướng phát triển năng lực

Để phát triển năng lực đọc văn bản cho HS, trong quá trình dạy học, chúng ta thường sử dụng các phương pháp dạy học như: đàm thoại gợi mở, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, dạy học dự án, đóng vai…; Các kĩ thuật dạy học như: sơ đồ tư duy, phòng tranh, KWL, khăn trải bàn… ;Các hình thức dạy học như: cá nhân, cặp đôi, nhóm…Đây là những phương pháp, kĩ thuật, hình thức dạy học tạo điều kiện để HS tham gia, thực hiện hoạt động học tập vì phẩm chất, năng lực chỉ hình thành và phát triển qua việc tham gia thực hiện các hoạt động

a Xây dựng rubric đánh giá kĩ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy

- Bước 1: Xây dựng tiêu chí đánh giá

+ Phân tích yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề, môn học và xác định các kiến thức, kĩ năng mong đợi này vào các nhiệm vụ/bài tập đánh giá mà GV xây dựng

+ Xác định rõ đây là rubic đánh giá sản phẩm

+ Để đánh giá sơ đồ tư duy ta có thể chia thành 2 yếu tố như sau: phần thông tin và phần hình thức

- Bước 2 Xây dựng các mức độ thể hiện các tiêu chí đã xác định

+ Xác định số lượng về mức độ thể hiện của các tiêu chí

+ Đưa ra mô tả về các tiêu chí ở các mức độ còn lại

Trang 23

+ Hoàn thiện bản rubric: bản rubric cần được thử nghiệm nhằm phát hiện những điểm cần chỉnh sửa trước khi đem sử dụng chính thức

Sau đây chúng tôi xin đề xuất rubric đánh giá sơ đồ tư duy như sau:

Không nêu được hoặc nêu sai lệch đặc điểm của vấn

đề, chủ đề Hình thức Sơ đồ có nhánh

chính, nhánh phụ được sắp xếp 1 cách hợp lí, khoa học

Sơ đồ có nhánh chính, nhánh phụ nhưng sắp xếp chưa hợp lí

Sơ đồ chỉ có nhánh chính

b Xây dựng rubric đánh giá kĩ thuật dạy học nhóm

Cũng với quy trình như xây dựng rubric ở trên, chúng tôi xin đề xuất rubric hướng dẫn quan sát, đánh giá sự hợp tác của HS khi làm việc nhóm như sau:

1.Nhận nhiệm vụ

Xung phong nhận nhiệm

vụ

Vui vẻ nhận nhiệm vụ khi được giao

Miễn cưỡng, không thoải mái khi nhận nhiệm vụ được giao

Từ chối nhận nhiệm vụ

2.Tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm

- Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng

kế hoạch hoạt động của nhóm

- Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi

Biết tham gia

ý kiến xây

hoạch hoạt động của nhóm song đôi lúc chưa chủ động

- Đôi lúc chưa biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của các

- Còn ít tham gia ý kiến xây

hoạch hoạt động của nhóm

- Ít chịu lắng nghe, chưa tôn trọng ý kiến của các thành viên khác trong nhóm

- Không tham gia ý kiến xây

hoạch hoạt động của nhóm

- Không lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các thành viên khác trong nhóm

Trang 24

người trong nhóm

thành viên trong nhóm

3.Thực hiện nhiệm vụ và

hỗ trợ, giúp

đỡ các thành viên khác

Cố gắng, nỗ lực hoàn thành nhiệm

vụ của bản thân, đồng thời chủ động

hỗ trợ các thành viên khác trong nhóm

Cố gắng hoàn thành nhiệm

vụ được giao nhưng chưa chủ động hỗ trợ các thành viên trong nhóm

Ít cố gắng, nỗ lực hoàn thành nhiệm

vụ của bản thân; ít hỗ trợ các thành viên trong nhóm

Không cố gắng hoàn thành nhiệm

vụ của bản thân; không

hỗ trợ các thành viên trong nhóm

4.Tôn trọng quyết định chung

Tôn trọng quyết định chung của cả nhóm

không tôn trọng quyết định chung của cả nhóm

Nhiều lúc không tôn trọng quyết định chung của cả nhóm

Không tôn trọng quyết định chung của cả nhóm, làm ngược lại với ý kiến chung

5.Kết quả làm việc

Có sản phẩm tốt, theo mẫu

và và vượt mức thời gian quy định

Sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu, đảm bảo kịp thời gian

Có sản phẩm tương đối tốt nhưng không đảm bảo thời gian

Sản phẩm không đạt yêu cầu

6.Trách nhiệm với kết quả làm việc chung

Chịu trách nhiệm về sản phẩm chung

Chưa sẵn sàng chịu trách nhiệm

về sản phẩm chung

Còn đùn đẩy trách nhiệm

Không chịu trách nhiệm

về sản phẩm chung

Thang đánh giá:

Mức 1: Đạt 6 tiêu chí Mức 2: Đạt được 5 tiêu chí (Đạt đủ các ý trong tiêu chí 2,3) Mức 3: Đạt được 4 tiêu chí (trong đó phải đạt được ít nhất một tiêu chí 2 hoặc 3)

Mức 4: Đạt từ 3 tiêu chí trở xuống

Trang 25

c Xây dựng rubric đánh giá hồ sơ học tập

Trong dạy học Ngữ văn cũng như các môn khác thì hồ sơ học tập chưa phải là một sản phẩm quen thuộc, và đánh giá bằng hồ sơ học tập chưa phải là một đánh giá phổ biến Tuy nhiên, với tác dụng to lớn trong việc phát triển phẩm chất và năng lực HS thì việc lập hồ sơ học tập sẽ trở thành một việc không thể thiếu, đồng thời việc đánh giá bằng hồ sơ học tập sẽ trở thành 1 yêu cầu tất yếu

Để đánh giá bằng hồ sơ học tập, trước tiên giáo viên cần hướng dẫn cho

HS hiểu rõ khái niệm, công dụng và cách triển khai hồ sơ học tập từ đầu năm học, chủ đề, bài học… và xem đó là một nhiệm vụ học tập

Về cấu trúc, hồ sơ học tập trong dạy học Ngữ văn có thể theo cấu trúc chung như sau:

- Trang bìa: cần thể hiện được các thông tin sau: tên hồ sơ, tên HS chuẩn

bị hồ sơ

- Trang giới thiệu: lời giới thiệu, mở đầu; tóm tắt tiểu sử: thông tin cá nhân, thông tin về quá trình học tập trước đó

- Bảng chú dẫn: các kí hiệu, viết tắt trong hồ sơ

- Kế hoạch phát triển cá nhân:mục tiêu học tập, những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, năng khiếu cá nhân, kế hoạch học tập của bản thân để hoàn thành

hồ sơ học tập

- Thư mục tài liệu: Phân loại tài liệu, sắp xếp tài liệu (theo thời gian hoặc theo phân loại tài liệu…), các sản phẩm kèm theo và đánh giá cho từng sản phẩm, tiêu chí đánh giá hồ sơ học tập và các bảng kiểm đánh giá

Để đánh giá tổng kết hồ sơ học tập, chúng tôi xin đưa ra rubric như sau:

1.Hình thức hồ sơ

Thể hiện tính chuyên

nghiệp; Đẹp;

Sáng tạo;

Cấu trúc khoa học; Sử dụng

dễ dàng

(2.0)

Đẹp; Cấu trúc khoa học; Sử dụng dễ dàng

(1,5)

Cấu trúc khoa học;

Sử dụng dễ dàng

(1.0)

Cấu trúc không khoa học

đủ các mục;

Sản phẩm phong phú, đa dạng, số

Đủ các mục theo yêu cầu; Sản phẩm học tập phù hợp với mục

Đủ các mục theo yêu cầu của 1 hồ sơ; Sản phẩm phù hợp với

Chưa đủ các mục theo yêu cầu của 1

hồ sơ; có những sản

4.0

Trang 26

lượng vượt mức so với yêu cầu và tất

cả có chất lượng tốt

(4.0)

tiêu, phong phú, đa dạng và có chất lượng tương đối

(3.0)

mục tiêu và một số có chất lượng tương đối

(2.0)

phẩm chưa phù hợp với mục tiêu và có chất lượng chưa tốt

(1.0)

Năng lực thực hiện

hồ sơ

Hiểu sâu sắc

về hồ sơ học tập; Chủ động, sáng tạo, say mê trong việc lập

kế hoạch, triển khai hồ sơ; Sử dụng hiệu quả hồ sơ

để năng cao hiệu quả học tập; Biết tự đánh giá hồ sơ; Có thể giúp các bạn khác trong nhóm, lớp triển khai và đánh giá hồ sơ (4.0)

Hiểu rõ về

hồ sơ học tập; Chủ động trong việc lập kế hoạch, triển khai hồ sơ;

Sử dụng hiệu quả hò

sơ để nâng cao hiệu quả học tập;

Biết tự đánh giá hồ sơ;

Có thể giúp các bạn khác trong nhóm, lớp triển khai và đánh giá hồ

(3.0)

Hiểu rõ về

hồ sơ học tập; biết lập

kế hoạch, triển khai

hồ sơ; Biết

sử dụng hồ

sơ để năng cao hiệu quả học tập;

Biết tự đánh giá hồ sơ;

Đôi khi cần

sự trợ giúp của GV hoặc của

HS khác trong việc tiến hành các khâu trên

(2.0)

Chưa hiểu

rõ về hồ ơ học tập;

Cần óc sự giúp đỡ của GV hoặc các

HS khác trong việc lập kế hoạch, triển khai

hồ sơ để nâng cao hiệu quả học tập, tự đánh giá

hồ sơ

(1.0)

4.0

GV cần dành khoảng trống thời gian nhất định trong tiến trình dạy học

để HS dựa vào Rubric tự đánh giá lại hồ sơ của chính mình và đánh giá hồ

sơ học tập của bạn nhằm trao đổi, chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm cho nhau

3.2 Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Viết môn Ngữ văn

11

Cũng giống như đối với hoạt động đọc thì chương trình GDPT môn Ngữ văn cũng hướng tới rèn luyện kĩ năng viết cho HS trên 3 loại văn bản: văn bản văn học, thông tin, nghị luận Tuy nhiên, chương trình Ngữ lớp 11 hiện hành chúng ta đang tập trung KTĐG (đặc biệt là KTĐG định kì) chủ yếu là văn bản nghị luận Vì vậy, trong phạm vi đề tài ,chúng tôi chỉ xin đề cập tới việc xây dựng rubric trong KTĐG kĩ năng viết văn bản nghị luận

Trang 27

3.2.1 Các bước xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Viết văn bản nghị luận

- Bước 1:

+Xây dựng tiêu chí đánh giá

Để xây dựng tiêu chí đánh giá trước hết chúng ta phải xác định được mục tiêu của hoạt động này, xác định được đặc điểm của văn nghị luận xã hội

→ xác định đây là kiểm tra sản phẩm hay kiểm tra quá trình → xác định các tiêu chí đánh giá

Về mục tiêu của dạy viết theo định hướng phát triển năng lực: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn đã xác định Mục tiêu của hoạt động

này đối với lớp 11 là: Quy trình viết: Biết viết văn bản đúng quy trình, bảo đảm

các bước đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp trước.Thực hành viết: Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội, trình bày rõ quan điểm và hệ thống các luận điểm; cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu và kết thúc gây ấn tượng;

sử dụng các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục: chính xác, tin cậy, thích hợp, đầy

đủ

Về đặc điểm của văn nghị luận: Hiểu một cách khái quát nhất, văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học

Đặc điểm của văn nghị luận đó là sử dụng các luận điểm, luận cứ và lập luận

Luận điểm:Là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới

hình thức câu khẳng định hay phủ định, được diễn đạt dễ hiểu, sáng tỏ và nhất quán Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối Để có sức thuyết phục, luận điểm cần phải đúng đắn, chân thực và đáp

ứng nhu cầu thực tế Trong một bài văn nghị luận, luận điểm có thể có các cấp

độ khác nhau Tùy nội dung vấn đề và cách lập luận của người viết mà bài văn

có thể có một luận điểm chính, luận điểm trung tâm và các luận điểm phụ Việc xác định được hệ thống, các cấp độ của luận điểm trong văn bản là một yêu cầu cấp thiết chứng tỏ khả năng thâu tóm, hiểu sâu vấn đề và kỹ năng tư duy logic

của người đọc Còn luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm

Để bài viết có sức thuyết phục cao, người viết phải đưa ra những lí lẽ, dẫn

chứng xác thực để người đọc tin vào vấn đề người viết nêu ra Lập luận là cách

tổ chức vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục Để đánh giá cái hay, sức thuyết phục của văn bản nghị luận cần phải phân tích, đánh giá, chứng minh được mức độ chặt chẽ sắc bén của lập

luận và sự hợp lí của cách thức lập luận mà tác giả lựa chọn

.Xác định đây là KTĐG sản phẩm Xác định các tiêu chí cần đánh giá: cấu trúc bài văn,lập luận, diễn đạt, trình bày, sáng tạo và mức điểm (theo thang điểm 10) của mỗi tiêu chí như sau:

Trang 28

1.0

Bài viết đầy đủ 3 phần chặt chẽ, logic Thân bài tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau để cùng làm sáng rõ vấn đề

0.5 Bài viết đầy đủ 3 phần Thân bài tổ chức thành

nhiều đoạn văn

0.25 Bài viết đầy đủ 3 phần nhưng thân bài chỉ có

1 đoạn văn

0 Bài viết chưa có bố cục 3 phần

Tiêu chí 2: Lập luận (4.0 điểm)

2,5- 3.5

Hệ thống luận điểm tương đối rõ ràng, phù hợp và hầu hết được làm sáng rõ bằng lí lẽ và dẫn chứng; Hệ thống luận điểm được trình bày theo trình tự tương đối hợp lí; Lí lẽ hợp lí, trình bày sáng rõ; Dẫn chứng rõ ràng, phù hợp

Trang 29

với luận điểm nhưng chưa phong phú, tiêu biểu

1.0- 2.0

Luận điểm chưa rõ ràg, phù hợp, không được làm sáng rõ bằng lí lẽ và dẫn chứng; Các luận điểm trình bày theo trình tự chưa hợp lí; Lí lẽ chưa rõ ràng; Dẫn chứng không xác thực, nghèo nàn, chưa rõ ràng

0

Không nêu được luận điểm về vấn đề nghị luận; Lí lẽ chưa phù hợp hoặc chưa đưa ra được lí lẽ; Không đưa ra được dẫn chứng phù hợp với vấn đề cần nghị luận

Tiêu chí 3: Diễn đạt (3 điểm)

Điểm Mô tả tiêu chí

3.0

Vốn từ ngữ phong phú; có tư hay, biểu cảm; kiểu câu đa dạng;

Sử dụng phép liên kết đa dạng, linh hoạt để liên kết chặt chẽ các đoạn, các câu với nhau; Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

1.5- 2.5

Vốn từ tương đối phong phú, kiểu câu đa dạng; Sử dụng được phép liên kết để liên kết chặt chẽ các đoạn, các câu với nhau;

Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp 0.5- 1.0

Vốn từ còn khá ít, câu đơn điệu; Sử dụng phép liên kết để liên kết chặt chẽ các đoạn, các câu với nhau ở 1 số chỗ; Mắc khá nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

0

Vốn từ còn nghèo nàn, câu đơn điệu; Chưa sử dụng được phép liên kết hoặc sử dụng chưa phù hợp để liên kết các đoạn, các câu với nhau; Mắc rất nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

Tiêu chí 4: Trình bày (1 điểm)

Điểm Mô tả tiêu chí

1.0 Chữ viết cẩn thận, rõ ràng, bài sạch sẽ, không có chỗ gạch,

Trang 30

0 Chữ viết không rõ ràng, cẩu thả, khó đọc; bài văn trình bày

không sạch sẽ Tiêu chí 5: Sáng tạo (1.0điểm)

Điểm Mô tả tiêu chí

1.0 Có 1 số chỗ thể hiện quan điểm, cách nhìn mới và cách diễn

đạt độc đáo, mới mẻ

0 Không có cái nhìn mới và không có chỗ diễn đạt sáng tạo,

mới mẻ Với bài văn nghị luận xã hội, chúng tôi xin đưa ra rubric đánh giá như sau:

Tiêu chí

Mức độ

1.Cấu trúc bài văn (1.0đ)

Bài viết đầy đủ 3 phần chặt chẽ, logic Thân bài tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau

0.5

Bài viết đầy

đủ 3 phần nhưng thân bài chỉ có 1 đoạn văn

0.25

Bài viết chưa có bố cục 3 phần

0

2.Lập luận (4.0đ)

Hệ thống luận điểm rõ ràng, toàn diện, sâu sắc

và được làm sáng

rõ bằng lí lẽ và dẫn chứng

Hệ thống luận điểm tương đối rõ ràng, mới nêu được 3/4 luận điểm

và hầu hết được làm sáng

rõ bằng lí lẽ và dẫn chứng

Luận điểm

ràng,mới nêu được 1-2/4 luận điểm, không được làm sáng rõ bằng lí lẽ và dẫn chứng

Không nêu được luận điểm về vấn đề nghị luận

Hệ thống luận điểm được trình bày theo trình tự hợp lí, logic, chặt chẽ, thuyết phục

Hệ thống luận điểm được trình bày theo trình tự tương đối hợp lí

Các luận điểm trình bày theo trình

tự chưa hợp

Chưa rõ các luận điểm và trình tự của các luận điểm

Trang 31

Lí lẽ thuyết phục, sâu sắc

Lí lẽ hợp lí, trình bày sáng

Lí lẽ chưa rõ ràng

Lí lẽ chưa phù hợp hoặc chưa đưa ra được lí lẽ Dẫn chứng xác

thực, tiêu biểu, phong phú, thể hiện sự hiểu biết rộng rãi, sâu sắc 4.0

Dẫn chứng rõ ràng, phù hợp với luận điểm nhưng chưa phong phú, tiêu biểu 2.5- 3.5

Dẫn chứng không xác thực, nghèo nàn, chưa rõ ràng

1.0- 2.0

Không đưa

ra được dẫn chứng phù hợp với vấn đề cần nghị luận

0

3.Diễn đạt (3.0đ)

Vốn từ ngữ phong phú; có tư hay, biểu cảm;

kiểu câu đa dạng

Vốn từ tương đối phong phú, kiểu câu

đa dạng

Vốn từ còn khá ít, câu đơn điệu

Vốn từ còn nghèo nàn, câu đơn điệu

Sử dụng phép liên kết đa dạng, linh hoạt để liên kết chặt chẽ các đoạn, các câu với nhau

Sử dụng được phép liên kết

để liên kết chặt chẽ các đoạn, các câu với nhau

Sử dụng phép liên kết để liên kết chặt chẽ các đoạn, các câu với nhau ở 1 số chỗ

Chưa sử dụng được phép liên kết hoặc

sử dụng chưa phù hợp để liên kết các đoạn, các câu với nhau

Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

Mắc rất nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

4.Trình bày (1.0đ)

Chữ viết cẩn thận, rõ ràng, bài sạch sẽ, không có chỗ gạch, xóa

1.0

Chữ viết rõ ràng, trình bày tương đối sạch sẽ, có một số

chỗ gạch, xóa

0.75

Chữ viết tương đối rõ,

có nhiều chỗ gạch, xóa

0.5

Chữ viết không rõ ràng, cẩu thả, khó đọc; bài văn trình bày không sạch sẽ

0

Trang 32

5.Sáng tạo (1.0đ)

Có 1 số chỗ thể hiện quan điểm, cách nhìn mới và cách diễn đạt độc đáo, mới mẻ 1.0

Có một quan điểm, cách nhìn mới

0.5

Không có cái nhìn mới và không có chỗ diễn đạt sáng tạo, mới mẻ

0 Tiến trình vận dụng rubic chấm trong KTĐG kĩ năng viết văn bản nghị luận được tiến hành như sau:

Các bước tiến hành

- Bước 1: Ra đề dựa theo mục tiêu, ma trận đề kiểm tra, các bước theo qui định của Bộ GDĐT hiện hành, thiết kế Rubric (bảng tiêu chí chấm điểm)

- Bước 2: Cung cấp Rubric cho HS ( Rubric không có phần ghi chú) GV

có thể đưa Rubric để HS bổ sung, đóng góp thêm (nếu thời gian cho phép)

- Bước 3: Chấm bài theo Rubric Mỗi HS được chấm và nhận xét vào một bảng Rubric riêng GV thống kê bài viết HS theo lớp cùng trên một bảng Rubric (minh họa ở phần sau) để so sánh, đối chiếu, theo dõi sự tiến bộ của HS qua từng bài viết hoặc dùng để trả bài và sửa chữa từng phần văn bản

Mẫu Rubric dành cho GV khi chấm bài viết định kì cho HS:

Tên bài kiểm tra

Tiêu chí Mức 1

Giỏi:

8.0- 10đ

Mức 2 Khá 6.5- 7.75

Mức 3

TB 5.0- 6.75đ

Mức4 Yếu Dưới 5đ 1.Cấu

trúc bài văn

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm 2.Lập

luận

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm 3.Diễn

đạt

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm 4.Trình

bày

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Trang 33

5.Sáng tạo

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm

Nhận xét Điểm Nhận xét chung về bài làm:

Họ và tên giáo viên

- Bước 4: Trả bài theo Rubric

GV phát Rubric chấm bài từng học sinh, rút ra bài học kinh nhiệm GV cần

tiến hành giờ trả bài viết như một giờ học thật sự khoa học và nghệ thuật, có mục tiêu, phương pháp, hoạt động cụ thể của GV và HS GV không nên lấy giờ trả bài thành giờ đọc điểm, giờ để bù cho các tiết trễ bài hoặc để phê phán HS

vì kết quả không tốt, …Vì tất cả điều này làm cho HS chỉ biết đến điểm sau kiểm tra mà không hề quan tâm đến ưu, khuyết điểm của mình, của bạn học để phấn đấu ở các bài viết lần sau

- Bước 5: HS sửa bài viết dựa theo Rubric HS sẽ sửa bài viết dựa theo

bảng Rubric đã GV chấm HS kẻ bảng thống kê bài viết của mình trong một

năm học để theo dõi sự tiến bộ trong việc rèn luyện kĩ năng viết trong trường phổ thông Sau đó, GV yêu cầu HS tạo một hồ sơ học tập để lưu các bài viết và bảng Rubric mà GV đã chấm bài Nếu nhà trường, HS lưu giữ được Rubric bài viết định kì thành hồ sơ học tập thì rất tốt GV có thể tham khảo những bảng thống kê này của các năm trước đó để biết ưu, khuyết điểm của HS, sở trường của các em trong tạo lập văn bản để tư vấn, phát huy HS dùng những bảng thống kê này để đối chiếu sự tiến bộ của mình qua từng năm học

3.3 Xây dựng rubric trong kiểm tra đánh giá kĩ năng Nói, Nghe môn Ngữ văn 11

*Các bước xây dựng rubric:

- Xác định mục tiêu, yêu cầu của việc dạy học kĩ năng nói, nghe Giúp HS:

+ Kĩ năng nói: Biết trình bày ý kiến đánh giá, bình luận một vấn đề xã hội; kết cấu bài có ba phần rõ ràng; có nêu và phân tích, đánh giá các ý kiến trái ngược; sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiện phi ngôn ngữ một cách đa dạng; Biết giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật theo lựa chọn

cá nhân (ví dụ: tác phẩm văn học); Trình bày được báo cáo kết quả nghiên cứu

về một vấn đề đáng quan tâm; biết sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với phương tiện phi ngôn ngữ để nội dung trình bày được rõ ràng và hấp dẫn

Về Kĩ năng nghe: Nắm bắt được nội dung truyết trình và quan điểm của người nói Nêu được nhận xét, đánh giá về nội dung và cách thức thuyết trình

Biết đặt câu hỏi về những điểm cần làm rõ

Trang 34

Nói nghe tương tác: Biết thảo luận về một vấn đề trong đời sống phù hợp với lứa tuổi; tranh luận một cách hiệu quả và có văn hoá

*Xác đinh các tiêu chí, mức độ miêu tả tiêu chí

Đề xuất Rubric đánh giá kĩ năng nói nghe thông qua bài thuyết trình

Chuẩn bị khá tốt nhưng vẫn cần luyện tập

kĩ hơn nữa

Có chuẩn bị

từ trước nhưng chưa luyện tập

không chuẩn

bị gì cho bài thuyết trình của mình

Nội dung - Thể hiện sự

hiểu biết rất phong phú, đầy đủ về đề tài

- Biết chọn nội dung hấp dẫn tập trung trình bày

Thể hiện sự hiểu biết tốt

về đề tài

Thể hiện sự hiểu biết về một phần của

- Không có lỗi phát âm gây cản trở việc hiểu vấn

đề thuyết trình, không nói ngọng

- Sử dụng một phạm vi rộng các từ vựng phù hợp

- Phần lớn nói tương đối trôi chảy,

- Có 1 vài lỗi

nhưng không ảnh hưởng đến việc hiểu vấn đề thuyết trình, không nói ngọng

- Sử dụng một phạm vi các từ vựng

nhưng chưa phong phú

- Nói hay do

dự và thỉnh thoảng có sự thay đổi

thoảng có lỗi phát âm gây cản trở việc hiểu vấn đề thuyết trình, không nói ngọng

- Sử dụng một phạm vi các từ vựng

nhưng đôi khi

- Nói rất hay

do dự, hay thay đổi, thường nói ngắt quãng và không nói hết câu

- Có quá nhiều lỗi phát âm gây cản trở việc hiểu vấn đề thuyết trình -

Sử dụng một phạm vi các

từ vựng hạn chế, từ vựng

sử dụng đôi

Trang 35

- Không có lỗi ngữ pháp

- Tông giọng tốt, âm lượng phù hợp với nội dung nói, với vai giao tiếp, tạo được

sự hấp dẫn đối với người nghe

- Có rất ít lỗi ngữ pháp

- Tông giọng tốt, âm lượng phù hợp với nội dung nói, với vai giao tiếp

chưa phù hợp

- Có nhiều lỗi ngữ pháp gây cản trở việc hiểu vấn

đề thuyết trình

thoảng âm lượng không phù hợp với nội dung và vai giao tiếp

khi không phù hợp, không cho thấy sợ làm chủ từ vựng

- Thường xuyên có lỗi ngữ pháp, hoàn toàn cản trở việc hiểu vấn đề

- Âm lượng chưa phù hợp với nội dung nói, với vai giao tiếp Yếu tố phi

ngôn ngữ

Dáng vẻ tự tin; Sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ (nét mặt, ánh mắt,

cử chỉ, ) phù hợp với nội dung và vai giao tiếp

Sử dụng yếu

tố phi ngôn ngữ (nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, ) đôi lúc chưa phù hợp

Thiếu tự tin;

Có sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ (nét mặt, ánh mắt,

cử chỉ, ) nhưng còn gượng gạo

Không có sự

tự tin; Không biết sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ (nét mặt, ánh mắt,

cử chỉ, )

Tương tác - Tự nhiên, có

nghệ thuật

- Khái quát được ý kiến đối thoại; tích cực đối thoại, tranh luận

- Tự nhiên

- Khái quát được ý kiến đối thoại

- Có tham gia đối thoại nhưng chưa chủ động

- Còn ngần ngại

- Không tham gia đối thoại

Không chủ động suốt thời gian trình bày;

cảm thấy như

bị ép buộc và

lệ thuộc ý kiến người khác

4 Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm 4.1 Mục đích

- Để kiểm chứng cho tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng rubric vào quá trình kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 11 ở trường THPT

Trang 36

- Rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm

- Đối tượng: Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Thanh

Chương 1, Nghệ An, đối tượng là học sinh lớp 11 với các lớp mà bản thân đang trực tiếp giảng dạy

Chủ đề KTĐG: văn học hiện đại giai đoạn 1930- 1945 trực tiếp là tác phẩm Chí Phèo

* Các bước tiến hành:

- Xác định mục tiêu bài học

Hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực:

+ Đọc:

• Đọc hiểu nội dung:

Phân tích được hình tượng nhân vật Chí Phèo: số phận bi kịch: bi kịch bị tha hóa, bị tước quyền làm người , kết thúc bi thương, bế tắc; quá trình thức tỉnh (diễn biến tâm trạng của Chí Phèo khi gặp Thị Nở và khi bị Thị Nở từ chối, hắt hủi); Phân tích và đánh giá được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc mới mẻ của tác phẩm

• Đọc hiểu hình thức:

Nhận biết và phân tích được 1 số đặc điểm cơ bản của truyện ngắn hiện đại:

Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình trong hòan cảnh điển hình, miêu tả tâm

Trang 37

lí nhân vật, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ đa thanh, đa giọng điệu, cốt truyện đặc sắc

• Liên hệ, so sánh, kết nối Vận dụng được những hiểu biết về tác giả Nam Cao để đọc hiểu 1 số tác phẩm của tác giả này; Vận dụng những hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử xã hội để

lí giải sự tha hóa của nhân vật Chí Phèo; So sánh truyện ngắn Chí Phèo với văn bản cùng đề tài như với tác phẩm Tắt đèn- Ngô Tất Tố, tác phẩm Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài; Phân tích ý nghĩa, tác động của văn bản trong việc làm thay đổi suy nghĩ, cách nhìn nhận , đánh giá 1 con người, hình thành trong học sinh lòng nhân ái, cảm thông với những mảnh đời bất hạnh, trân trọng khát vọng chính đáng của con người

+ Nói: Trình bày được kết quả thảo luận về hình tượng nhân vật Chí Phèo + Nghe: Nắm bắt được nội dung thuyết trình và quan điểm của các nhóm khác Nêu được nhận xét, đánh giá về nội dung và cách thuyết trình của các bạn

đã thuyết trình

- Tìm phương pháp dạy học phù hợp và KTĐG song song với việc tổ chức các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực đó

Với bài này, chúng tôi dự kiến như sau:

Hoạt động khởi động: Trình chiếu một số hình ảnh về nhân vật Chí Phèo trong phim làng Vũ Đại ngày ấy (chú ý tìm những hình ảnh về ngoại hình của nhân vật) Em có nhận xét gì về hình ảnh mà các em vừa xem? (Gợi dẫn: về ngoại hình)

Hoạt động hình thành kiến thức mới:

Tìm hiểu về tác giả, tác phẩm: Tổ chức trò chơi ô chữ

Đọc, tìm hiểu cốt truyện: sân khấu hóa tác phẩm dưới hình thức 1 vở kịch ngắn GV phân HS thành 2 nhóm cho chuẩn bị tập luyện trước ở nhà trong vòng 1 tuần

Phân tích nhân vật Chí Phèo: HS thuyết trình về nhân vật sau khi đã chuẩn bị sẵn ở nhà

Hoạt động luyện tập: Cho HS làm bài tập trắc nghiệm Hoạt động vận dụng, tìm tòi mở rộng, sáng tạo: sử dụng phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề

Trong tất cả các hoạt động trên chúng tôi lựa chọn sử dụng rubric để đánh giá sản phẩm sân khấu hóa, đánh giá bài thuyết trình của HS

* Rubric đánh giá sản phẩm học tập: sân khấu hóa tác phẩm Chí Phèo bằng 1 đoạn kịch ngắn

Trang 38

Chúng tôi xác định đánh giá trên 4 tiêu chí: Nội dung, diễn xuất, phục trang, thời gian

Mỗi tiêu chí được cụ thể hóa thành một rubric như sau:

Tiêu chí 1: Nội dung kịch bản (3.5đ)

3.5 Phản ánh đúng, sâu sắc, đầy đủ

nội dung tác phẩm

Giá trị hiện thực: miêu tả , phản ánh hiện thực xã hội ở nông thôn trước cách mạng

+ Những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội: nội bộ địa chủ, cường hào, thống trị- bị trị

+ Quy luật khủng khiếp:

chừng nào bọn địa chủ cường hào còn tác oai, tác quái chừng

đó, người dân sẽ không được sống lương thiện…

+ Bi kịch của người nông dân:

bị tha hóa, bị tước quyền làm người

+ Hiện thực tâm hồn những con người bất hạnh: không cam tâm làm kiếp “quỷ dữ”

Trong hoàn cảnh nào họ cũng khao khát cuộc sống lương thiện

- Giá trị nhân đạo + Thấu hiểu, đồng cảm với bi kịch của người nông dân

+ Niềm tin vào sức sống tiềm tàng, mãnh liệt, vào bản chất lương thiện của người nông dân

3.0 Phản ánh được ¾ nội dung 2.0 Chỉ nêu được ½ ý so với mức 1

0 Hoàn toàn sai lệch với nội dung

tác phẩm

Ngày đăng: 03/11/2022, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w