1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

97 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu
Tác giả Trần Thị Lương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Kha
Trường học Trường Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do ch ọn đề tài (7)
  • 2. L ị ch s ử nghiên c ứ u v ấn đề (8)
    • 2.1. Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình trước 1975 (8)
    • 2.2. Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình sau năm 1975 (9)
  • 3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
    • 3.1. Mục đích nghiên cứu (14)
    • 3.2. Đối tượng nghiên cứu (14)
    • 3.3. Phạm vi nghiên cứu (14)
  • 4. Phương pháp nghiên cứ u (15)
  • 5. Đóng góp c ủa đề tài (15)
  • 6. C ấ u trúc lu ận văn (15)
  • Chương 1 KHÁI QUÁT V Ề T Ự S Ự H Ọ C, TÁC GI Ả DƯƠNG NGHIỄ M M Ậ U TRONG (17)
    • 1.1. Khái quát v ề t ự s ự h ọ c (17)
      • 1.1.1. Khái niệm tự sự (17)
      • 1.1.2. Khái niệm tự sự học (18)
    • 1.2. Đôi nét về văn xuôi miề n Nam 1954 - 1975 (19)
      • 1.2.1. Bối cảnh văn hóa - xã hội (19)
      • 1.2.2. Đội ngũ và khuynh hướng văn xuôi miền Nam (20)
    • 1.3. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu (23)
      • 1.3.1. Cuộc đời của nhà văn Dương Nghiễm Mậu (23)
      • 1.3.2. Sự nghiệp sáng tác (26)
  • Chương 2. NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG (30)
    • 2.1. Ngườ i k ể chuy ệ n trong truy ệ n ng ắn Dương Nghiễ m M ậ u (30)
      • 2.1.1. Người kể chuyện toàn tri (31)
      • 2.1.2. Ngườ i k ể chuy ệ n ngo ạ i hi ệ n (36)
      • 2.1.3. Ngườ i k ể chuy ện đồ ng s ự (39)
    • 2.2. Điể m nhìn trong truy ệ n ng ắn Dương Nghiễ m M ậ u (43)
      • 2.2.1. Điể m nhìn c ủa ngườ i k ể chuy ệ n (45)
      • 2.2.2. Điể m nhìn c ủ a nhân v ậ t (49)
  • Chương 3 K Ế T C Ấ U, NGÔN NG Ữ VÀ GI ỌNG ĐIỆ U TRONG TRUY Ệ N NG Ắ N DƯƠNG NGHIỄ M M Ậ U (56)
    • 3.1. K ế t c ấ u truy ệ n ng ắn Dương Nghiễ m M ậ u (56)
      • 3.1.1. Kết cấu đồng hiện (57)
      • 3.1.2. Kết cấu lắp ghép (61)
      • 3.1.3. Kết cấu chuyện lồng trong chuyện (0)
    • 3.2. Ngôn ng ữ truy ệ n ng ắn Dương Nghiễ m M ậ u (65)
      • 3.2.1. Ngôn ngữ giàu tính biểu tượng (65)
      • 3.2.2. Ngôn ngữ đậm chất hiện thực - đời thường (70)
      • 3.2.3. Ngôn ng ữ giàu ch ất thơ (72)
      • 3.2.4. Ngôn ng ữ đố i tho ạ i n ội tâm và độ c tho ạ i n ộ i tâm (73)
    • 3.3. Gi ọng điệ u trong truy ệ n ng ắn Dương Nghiễ m M ậ u (75)
      • 3.3.1. Giọng chất vấn, hoài nghi (75)
      • 3.3.2. Giọng bình thản lạnh lùng (76)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)

Nội dung

ba tác phẩm để làm rõ ba lối viết truyện của Dương Nghiễm Mậu: hiện thực xã hội thời chiến Cũng đành, tra vấn hiện sinh phi lí Niềm đau nhức của khoảng tr ống, dòng ý thức Bên sườn núi

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BÌNH DƯƠNG – 2021

Trang 2

U Ỷ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sĩ với tên đề tài Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghi ễm Mậu là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Nguyễn Văn Kha Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng là trung thực và có xuất xứ

rõ ràng

Bình Dương, ngày 26 tháng 05 năm 2021

Tác giả luận văn

Trần Thị Lương

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự góp ý quý báu, động viên khích lệ của quý thầy cô, gia đình bè bạn, với lòng thành kính sâu sắc, cho tôi được gửi lời cảm ơn tới:

Quý thầy cô cùng Ban giám hiệu trường Đại học Thủ Dầu Một, Bộ phận sau Đại học, cùng quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tận tâm truyền đạt tri thức và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tiếp nhận tri thức

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Kha, người luôn quan tâm và khích lệ động viên chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Thầy cũng

là người đưa ra những nhận xét, góp ý, gợi mở động viên tinh thần giúp chúng tôi hoàn thành luậnvăn

Tôi xin gửi cảm ơn tới tập thể Lớp CH16VH02 đã cùng chúng tôi học tập rèn luyện, chia sẻ động viên, cùng nhaucố gắng phấn đấu trong quá trình thực

hiện luận văn

Cuối cùng cho tôi gửi lời biết ơn tới gia đình, bạn bè, luôn ủng hộ, khích lệ tinh thần, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi không ngừng cố gắng trong quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Bình Dương, ngày 26 tháng 05 năm 2021

Tác giả luận văn

Trần Thị Lương

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN

L ỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

2.1 Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình trước 1975 2

2.2 Dương Nghiễm Mậu trong nghiên cứu, phê bình sau năm 1975 3

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

3.1 Mục đích nghiên cứu: 8

3.2 Đối tượng nghiên cứu: 8

3.3 Phạm vi nghiên cứu: 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của đề tài 9

6 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ HỌC, TÁC GIẢ DƯƠNG NGHIỄM MẬU TRONG VĂN HỌC MIỀN NAM VIỆT NAM 1954 - 1975 11

1.1 Khái quát về tự sự học 11

1.1.1 Khái niệm tự sự 11

1.1.2 Khái niệm tự sự học 12

1.2 Đôi nét về văn xuôi miền Nam 1954 - 1975 13

1.2.1 Bối cảnh văn hóa - xã hội 13

1.2.2 Đội ngũ và khuynh hướng văn xuôi miền Nam 14

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu 17

1.3.1 Cuộc đời của nhà văn Dương Nghiễm Mậu 17

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 20

Tiểu kết chương 1 22

Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHI ỄM MẬU 24

Trang 6

2.1 Người kể chuyện trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 24

2.1.1 Người kể chuyện toàn tri 25

2.1.2 Người kể chuyện ngoại hiện 30

2.1.3 Người kể chuyện đồng sự 33

2.2 Điểm nhìn trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 37

2.2.1 Điểm nhìn của người kể chuyện 39

2.2.2 Điểm nhìn của nhân vật 43

Tiểu kết 48

Chương 3.KẾT CẤU, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU 50

3.1 Kết cấu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 50

3.1.1 Kết cấu đồng hiện 51

3.1.2 Kết cấu lắp ghép 55

3.1.3 Kết cấu chuyện lồng trong chuyện 57

3.2 Ngôn ngữ truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 59

3.2.1 Ngôn ngữ giàu tính biểu tượng 59

3.2.2 Ngôn ngữ đậm chất hiện thực - đời thường 64

3.2.3 Ngôn ngữ giàu chất thơ 66

3.2.4 Ngôn ngữ đối thoại nội tâm và độc thoại nội tâm 67

3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu 69

3.3.1 Giọng chất vấn, hoài nghi 69

3.3.2 Giọng bình thản lạnh lùng 70

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Dương Nghiễm Mậu là một trong những nhà văn đô thị miền Nam chịu ảnh hưởng đậm của tư tưởng hiện sinh Văn của ông giàu chất triết lý, thể hiện một lối viết, phong cách riêng Theo Thụy Khuê, ông là “nhà văn tiên phong đối với văn học Việt Nam bởi lối suy tưởng và cách đặt vấn đề của ông vẫn giữ nguyên

những mấu chốt bí mật, nhiều truyện ngắn với cấu trúc rất lạ, vẫn còn nằm trong vòng trăn trở tìm tòi của người viết hôm nay” (Thụy Khê, 2014) Tìm hiểu văn Dương Nghiễm Mậu, ở một phương diện nào đó, là khám phá một trường hợp

của văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam Cắt nghĩa về thành công và sức hấp dẫn của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu cũng là góp một cách diễn giải về một khuynh hướng văn học tiêu biểu này.Một trong những cách tiếp cận làm sáng tỏ

sự thành công, sức hấp dẫn, vị thế của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu là tự sự học

Tự sự học (narratology) là ngành nghiên cứu lấy nghệ thuật kể chuyện làm đối tượng nghiên cứu Hiện nay, tự sự học đang trở thành một hướng nghiên cứu thu hút sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học Tự sự học hiện đại mở ra triển vọng cho việc làm sáng tỏ nhiều vấn đề của thi pháp, phong cách nghệ thuật, bao gồm từ vấn đề quan niệm nghệ thuật, cách tổ chức các sự kiện, các motif truyện, diễn ngôn, người kể, lời kể, điểm nhìn, thời, thức,…

Từ đầu năm 2000 đến nay, tự sự học được giới nghiên cứu văn học đánh giá là một bộ môn liên ngành giàu tiềm năng, từ cách nhìn này đã có nhiều lý thuyết tự sự kinh điển và hậu kinh điển được du nhập, tiếp nhận ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu vận dụng lý thuyết này giúp soi sáng, lý giải thuyết phục nhiều vấn đề nghệ thuật mà các phương pháp nghiên cứu khác không có ưu

thế

Xuất phát từ vị trí văn học sử của Dương Nghiễm Mậu trong văn học trước 1975, cùng sự tương thích của lý thuyết tự sự học, chúng tôi lựa chọn đề

tài Ngh ệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu Mong muốn của

tác giả luận văn làgóp một tiếng nói lý giải về sự thành công cũng như vị thế của Dương Nghiễm Mậu trong truyện ngắnđô thị miền Nam Đối với luận văn,

Trang 8

Dương Nghiễm Mậu chỉ là một trường hợp nghiên cứu, qua đây người viết vừa

thử nghiệm để rèn luyện kĩ năng vận dụng lý thuyết hiện đại vào quá trình đọc văn bản, giảng dạy văn học trong trường phổ thôngvừa có điều kiện trau dồi

kiến thức để làm sáng tỏ hơn các khuynh hướng văn học khác nhau giữa hai miền Nam - Bắc giai đoạn 1954-1975

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Có thể nói Dương Nghiễm Mậu là một trong những tác giả quan trọng góp phần làm nên gương mặt văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Từ đầu thập niên 60 (thế kỷ XX) đến sau ngày đất nước thống nhất đến nay, cuộc đời và sáng tác của Dương Nghiễm Mậu vẫn luôn là đối tượng diễn giải, phân tích của rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà văn quan tâm đến sáng tác của Dương Nghiễm Mậu

Để làm tài liệu cho việc nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Mậu, một số bài viết sau đây được xem xét và tiếp thu những điểm phù hợp trong luận văn

Có thể phân chia những bài viết, ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

của luận văn theo hai giai đoạn: giai đoạn trước 1975 và giai đoạn sau 1975

Từ thập niên 60 (của thế kỷ XX) sáng tác của Dương Nghiễm Mậu trở thành một đối tượng chú ý của phê bình văn học Nhà phê bình Đặng Tiến trong bài viết Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mậu (Tạp chí Bách Khoa số

154 ngày 1 - 6 - 1963), có nhận xét sâu sắc về thế giới nhân vật và bối cảnh xã

hội hoạt động của các nhân vật trong sáng tác của Dương Nghiễm Mậu:“Tất cả

nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều mồ côi từ nhân vật chính đến nhân vật

phụ, từ truyện đầu đến truyện cuối Những kẻ không còn cha mẹ chưa chắc đã

mồ côi: mồ côi ở đây vừa không có cha mẹ, vừa không có một bàn tay nào vuốt mắt nếu mình chết đi, không một cái nhìn nào dừng lại khi mình vấp ngã Tôi không rõ chính Dương Nghiễm Mậu có mồ côi hay không, nhưng qua cái ám ảnh của ông, chúng ta bắt gặp một thời đại mồ côi”.Qua nhận xét trên đây của Đặng Tiến, ta thấy rằng, những mảnh đời nhỏ bé đó, những thân phận không may mắn

Trang 9

trong cuộc sống hiện lên trong trang văn của Dương Nghiễm Mậu thật đau khổ

biết bao Đặng Tiến có cái nhìn bao quát, đồng cảm, ông chỉ ra nội dung xã hội,

số phận con người được trình hiện trong văn Dương Nghiễm Mậu, xã hội ấy, con người ấy in hằn dấu vết của chiến tranh tàn khốc, loạn lạc

Cùng quan tâm đến thế giới nhân vật trong sáng tác của Dương Nghiễm Mậu, Tô Thùy Yên trongVăn và người Dương Nghiễm Mậu (Tuần báo Nghệ

thu ật số 45 năm 1967) nhận xét: “Thế giới đó của Mậu trưng bày những bi đát

gớm giếc, những tối tăm rờn rợn, những bải hoải rã rời, những thét gào tắc nghẹn, những uất ức, trong đó sinh sôi những chuột rệp, bệnh tật, đói nghèo, vô

học và tính xấu, với đôi khi, không thể thiếu, một vài cái cười hỗn xược hay tang thương”(Tô Thùy Yên, 1967) Đó chính là số phận của các nhân vật trong truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu

Đến Tạ Tỵ,ông quan tâm đến thái độ sống, bản lĩnh và khuynh hướng sáng tác của Dương Nghiễm Mậu Trong bàiDương Nghiễm Mậu và tuổi trẻ cô

đơn (Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, 1971) Tạ Tỵ nhận định: “Một khi con

người không có quyền lựa chọn cho đời mình hướng đi, thì một, phải dứt khoát với nó, hai phải buông trôi thân phận như dòng nước nhỏ chảy len lách vô tri dưới một khe lạch không tên, cho đến lúc nhạt nhòa tan biến vào đại dương” (Tạ

Tỵ, 1971) Cùng nhấn mạnh đến cái nhìn nghệ thuật của Dương Nghiễm Mậu,

Du Tử Lê vớisự ngưỡng mộ sâu sắc văn chương Dương Nghiễm Mậu, cho rằng các tác phẩm của ông giống như ngọn hải đăng, ngọn đuốc soi rọi và chi phối cả

sự nghiệp của ông

Ngoài các bài viết đánh giá khái quát quá trình sáng tác, phong cách, lối

viết, khuynh hướng tư tưởng của Dương Nghiễm Mậu, trước năm 1975 còn có một số bài viết điểm sách Loại bài viết này xuất hiện mỗikhi sáng tác của Dương Nghiễm Mậu được xuất bản Chẳng hạn “Đọc Ngã đạn của Dương Nghiễm Mậu:

Thái độ của con người sống thực trong trò chơi: cuộc đời” (Nguyễn Nhật Duật,

Kh ởi hành số 57, tháng 6/1970), “Quê người của Dương Nghiễm Mậu” (Nguyễn

Nhật Duật, Khởi hành số 71, tháng 9/1970), “Tuổi nước độc” (Tràng Thiên, Tạp chí Bách khoa số 68, năm 1959)…

Trang 10

Trước năm 1975 cho đến thập niên 80, nếu như các nhà phê bình Sài Gòn thiên về ghi nhận các phương diện văn học của sáng tác Dương Nghiễm Mậu, thì

từ cái nhìn ý thức hệ các nhà phê bình miền Bắc có xu hướng xem xét văn họcđô

thị miền Nam là lệch lạc, là thứ văn học của thực dân, Mỹ ngụy phản động, đồi trụy, sáng tác chỉ nhằm phục vụ xã hội tiêu thụ Cái nhìn định kiến chính như vậy còn nặng nềcho đến đầu thập niên 80

Năm 1975, Bộ Thông tin Văn hóa ra thông tri cấm lưu hành sách báo phản động Thông tri có nội dung như sau: “theo chủ trương của Ban Tuyên huấn trung ương cục, Bộ Thông tin Văn hóa miền Nam đã tổ chức một bộ phận công tác chuyên đọc và nghiên cứu những sách báo của địch xuất bản và lưu hành trong thời kỳ chúng còn chiếm đóng, phân loại những tác phẩm phản động, đồi trụy, trước hết là loại sách dâm ô, để có thái độ xử lí” (Trần Trọng Đăng Đàn, 2000) Trong bảng kê sách báo cấm lưu hành thì Dương Nghiễm Mậu có 12 tác phẩm bị cấm lưu hành Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội IV năm 1976 khẳng định, “ở miền Nam, chủ nghĩa thực dân cũ và mới cùng với ba mươi năm chiến tranh, đã để lại những hậu quả nặng nề trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng Bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, bọn Mỹ-ngụy cố tạo ra một thứ văn hóa nô dịch, đồi trụy, lai căng, cực kỳ phản động” (Phong Hiền, 1984)

Trong công trình Ch ủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt đánh giá

Dương Nghiễm Mậu và Thế Uyên, Nguyên Vũ, Văn Quang, Phan Nhật Nam, …

là những cây bút chống Cộng thế hệ trẻ, “họ không đem cái tâm tình chống Cộng phơi trên mặt giấy hay gửi gắm vào các nhân vật, mà đi vào những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, đưa chúng vào bối cảnh cụ thể của một quân trường ngụy,

một mật khu, một trại giam của Cộng sản hay pha loãng nội dung chống Cộng vào một gợi ý lơ lửng, một niềm băn khoăn không có gì giải đáp cụ thể, một câu chuyện tình trong đó chất phản động và chất lãng mạn hay đồi trụy quyện vào nhau một cách chặt chẽ Tác phẩm của họ mang chiều sâu của cuộc sống mà họ phản ánh, mang sự dằn vặt nội tâm sống thực mà chính họ đã trải qua, nhưng con người họ trước sau, vẫn không chấp nhận Cộng sản” (Phong Hiền, 1984).Đánh giá riêng về Dương Nghiễm Mậu, tác giả Phong Hiền viết: “chính Dương Nghiễm Mậu, viên sĩ quan chiến tranh chính trị rất hung hăng đó, có lúc đã viết

Trang 11

về mình: “Có hôm nhìn lại, tôi rùng mình, như một kẻ lưu đày, tôi hiểu ra những cay đắng của đời mình, tôi không thể để mất nữa, như là tôi đã mất hết” Với một tâm trạng rối bời như vậy, Dương Nghiễm Mậu vẫn viết chống Cộng và cắt nghĩa thái độ của mình một cách đầy ngụy biện như là lựa chọn một “sự bất công không có tổ chức” để chống lại một sự“bất công có tổ chức” Tác giả chống Cộng một cách tuyệt vọng, đồng thời gào thét lên sự tuyệt vọngcủa chính mình” (Phong Hiền, 1984) Năm 1989, Trần Trọng Đăng Đàn trong công trình Văn hóa văn nghệ… Nam Việt Nam 1954-1975 xếp Dương Nghiễm Mậu vào khuynh

hướng phản động, đồi trụy hóa con người: “có thể tìm thấy nhiều sự pha tạp, xen

kẽ giữa các khuynh hướng kích dâm, đồi trụy, khuynh hướng văn chương tiêu thụ nhằm phi chính trị hóa bạn đọc với khuynh hướng phản động chính trị ở nhiều tác giả phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới nhưTrùng Dương, Minh Đức - Hoài Trinh… ở nhiều tác phẩm của Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo… Dương Nghiễm Mậu…” (Phong Hiền, 1984)

Năm 1985 Mai Thảo cho xuất bản cuốn sách Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam Điểm thú vị của cuốn sách này là Mai Thảo viết về các

nhà văn, nhà thơ cùng thời với ông, ông miêu tả, đánh giá về các tác giả ấy từ điểm nhìn gần, từ cái nhìn bên trong, vì thế cả sinh hoạt văn chương lẫn cuộc sống ngoài đời của nhiều nhà văn nhà thơ hiện lên sinh động trên các trang viết.Trong bàiCon đường Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo chia sẻ: “Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn,

và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh” (Mai Thảo, 1984)

Một trong những đổi mới đáng lưu ý trong cách đánh giá văn học miền Nam nói chung, Dương Nghiễm Mậu nói riêng là việc các soạn giả của công

trình T ừ điển văn học bộ mới đã đưa tác giả Dương Nghiễm Mậu vào làm một

mục từ, do Thụy Khuê phụ trách và viết khá kĩ lưỡng Đây là một sự ghi nhận có tính chất đổi mới đối với bộ phận văn học đô thị miền Nam trước 1975 Đánh giá

về Dương Nghiễm Mậu, Thụy Khuê viết: “Dương Nghiễm Mậu là một trong những nhà văn đã góp phần từ bỏ lối viết hiện thực xã hội để thử nghiệm lối viết

Trang 12

hiện thực hiện sinh”, ông là “một trong những nhà văn Việt Nam thế hệ 60-70 đã đào rất sâu vào bản chất của cuộc hiện sinh con người, con người Việt Nam với chiến tranh và nhược tiểu Ông đứng riêng một cõi, dường như không có bạn đồng hành và đã tạo được một lối cấu trúc về truyện ngắn, truyện dài trong nhân sinh quan bao quát của triết học hiện sinh vô thần” Tiếp tục quan điểm này, trong tiểu luận “Dương Nghiễm Mậu, con người nội soi trong bạo lực chiến tranh

và thân phận nhược tiểu”, Thụy Khuê đã phân tích rất kĩ bút pháp phân tích tâm

lí đặc sắc của tác giả và chứng minh sự gần gũi với triết học hiện sinh của văn xuôi Dương Nghiễm Mậu Thụy Khuê khẳng định trong văn học Việt đến nay

chưa có nhà văn nào khai triển con người hư vô, một cách triệt để như Dương

Nghiễm Mậu

Trong bối cảnh đổi mới,việc tái bản văn học miền Nam giai đoạn 1954-

1975 trong đó có bộ phận văn học đô thị đã được một số đơn vị tư nhân quan tâm Năm 2007 sau khi Công ty Phương Nam xuất bản 4 tác phẩm (Đôi mắt trên

tr ời, Cũng đành, Tiếng sáo người em út và Nhan sắc) của Dương Nghiễm Mậu,

một cuộc tranh luận về Dương Nghiễm Mậu đã diễn ra Một phía đại diện là Vũ Hạnh, Lê Anh Đào tiếp tục phê phán các sáng tác của nhà văn này, một phía khác đại diện là Phạm Xuân Nguyên, Chi Mai… đã khẳng định đóng góp và vị thế của Dương Nghiễm Mậu trong lịch sử văn học và sự tiếp nhận của độc giả đương đại

Năm 2013, lần đầu tiên Dương Nghiễm Mậu trở thành chủ để chính của

số chuyên san Tạp chí Thư quán bản thảo (số 55) Có thể nói đây là một dấu mốc quan trọng về tiếp nhận Dương Nghiễm Mậu sau 1975 Số chuyên san vừa là một

cuộc kiểm kê sự nghiệp của Dương Nghiễm Mậu, khôi phục lại bản gốc hoàn chỉnh văn bản một số tác phẩm đã từng bị cắt xén khi xuất bản trước đó, giới thiệu thêm các bút ký khá hiếm gặp viết về biến cố lịch sử của miền Nam của ông, đồng thời đăng tải nhiều bài “đọc và viết” giàu trải nghiệm, có tính hồi ức hoặc nhận xét tinh tế trong ý thức đối thoại về Dương Nghiễm Mậu của Khuất Đẩu, Nguyễn Xuân Thiệp, Đinh Cường… Trong đó đáng chú ý nhất là bài của Trần Văn Nam và Phạm Xuân Nguyên Trong tiểu luận “Dương Nghiễm Mậu, thử xét giới hạn ba lối viết trong ba thời kỳ”, Trần Văn Nam lựa chọn phân tích

Trang 13

ba tác phẩm để làm rõ ba lối viết truyện của Dương Nghiễm Mậu: hiện thực xã

hội thời chiến (Cũng đành), tra vấn hiện sinh phi lí (Niềm đau nhức của khoảng

tr ống), dòng ý thức (Bên sườn núi đá).Phạm Xuân Nguyên thể hiện một cái nhìn

sắc sảo với lời bình phẩm về văn chương Dương Nghiễm Mậu:“Đọc văn Dương

Nghiễm Mậu là đọc những trăn trở, hoài nghi, lo âu, dằn vặt trước những hoàn cảnh có thể biến con người thành chuột, hạ cấp nhân tính thành thú tính (Những

chu ột), trước sự bạo hành của cái ác có thể khiến con người dửng dưng với nỗi đau của đồng loại (Lấy máu) Tính biểu tượng của truyện Những chuột buộc

người đọc từ hoảng sợ đến thức tỉnh Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những day dứt lựa chọn của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử: xuất

xử hay hành tàng, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành

động theo hướng nào Cả tập Nhan sắc gần như có thể nói là được viết cho

đường hướng tư tưởng này, bằng những truyện dã sử và giả sử Từ Hải, Kinh Kha, Hồ Quý Ly, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ, Phạm Thái khi trở thành nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đã đặt nhà văn vào những tình thế lựa chọn, và họ đã phải lựa chọn theo cách của con người hiện đại muốn ở họ Họ phải lựa chọn để không ngừng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống”(Phạm Xuân Nguyên, 2016).Theo

Phạm Xuân Nguyên, tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu có sự ảnh hưởng lớn đối với quá trình tiếp nhận của người đọc được toát lên thông qua những câu chữ lời văn khiến cho người đọc phải suy nghĩ trăn trở về những nhân vật, số phận con người hay những day dứt của chính tác giả về hướng đi của cuộc đời.Đọc Dương Nghiễm Mậu “độc giả sẽ được phát hiện một nhà văn xuất sắc với một lối viết hiện đại, thấm đầy chất hiện sinh, đi sâu vào thân phận con người, phơi bày

những cảnh ngộ làm người trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lí Do đó đọc ông không thể đọc theo kiểu ngoại quan mà phải bằng con mắt nội quan” (Việt

Trang 14

đánh giá thấp, lên án và bài trừ, nhất là bộ phận văn học đô thị; ở miền Nam cách đọc chính trịnhường chỗ cho cách đọc văn, theo đó vấn đề vốn sống, nhân sinh quan, tư tưởng hiện sinh, thế giới nhân vật, đề tài, bút pháp, lối viết… của Dương Nghiễm Mậu được phân tích kĩ lưỡng

Thứ hai, sau 1975, vẫn còn không ít công trình, bài viết thể hiện cách đọc văn Dương Nghiễm Mậu từ lập trường chính trị, đây đó việc phê bình Dương Nghiễm Mậu rơi vào tình trạng xã hội học cứng nhắc, máy móc, nhìn nhận khá khắt khe, cực đoan đối với bộ phận văn học đô thịmiền Nam giai đoạn 1954-

1975 Tuy vậy cũng cần thừa nhận rằng, từ đầu những năm 2000 trở lại đây, việc tái bản tác phẩm Dương Nghiễm Mậu bước đầu được chú ý, những đánh giá có tính chất học thuật, thể hiện tinh thần hòa giải, nhân văn, khách quan, cởi mở, đổi mới

Thứ ba, dù có đổi mới, điều chỉnh trong đánh giá Dương Nghiễm Mậu nhưng đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đặt vấn đề vận dụng lý thuyết hiện đại (ngoại trừ việc vận dụng triết học hiện sinh) đểnghiên cứu, để đi đến những đánh giá truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu khách quan, có cơ sở khoa học Đây đó vấn đề người kể chuyện, nhân vật, lối viết được đề cập nhưng việc làm sáng tỏ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu vẫn còn là một khoảng trống, mời gọi những nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống

3 M ụcđích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

ng ắn Dương Nghiễm Mậu, mụcđích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ

những nét đặc trưng trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu như: người kể chuyện, điểm nhìn nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ

3.2.Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứucủa đề tài luận văn là

truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, trong đó chủ yếu tập trung khảo sát các bình diện tự sự như: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ góp phần tạo nên phong cách truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

khổ của luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu 4 tập truyện ngắn:

- Cũng đành (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)

Trang 15

- Đôi mắt trên trời (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)

- Ti ếng sáo người em út (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)

- Nhan s ắc (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, luận văn sử dụng hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau đây:

Hướng tiếp cận từ lý thuyết tự sự được sử dụng chủ yếu trong luận văn

này để khảo sát, đánh giá vềcác yếu tố: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ,để thấy ý nghĩa nhân sinh, sự thức tỉnh nhân tính, những biểu hiện của

chất nhân văn toát lên từnghệ thuật xây dựng hình tượng của tác phẩm Dương Nghiễm Mậu.Qua đólàm nổi bật những nét đặc trưng trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

Phương pháp lịch sử- xã hội được vận dụng để xem xét truyện ngắn của

Dương Nghiễm Mậu gắn với hoàn cảnh lịch sử- xã hội, đời sống văn học, văn hóa mà nó được sản sinh để có cái nhìn cụ thể - lịch sử trong việc đánh giá, giá trị của văn bản

Phương pháp loại hình giúp tác giả luận văn trong khi triển khai thực hiện

đề tài có thể tiếp cận, lý giải tư duy nghệthuật của nhà văn qua thể loại truyện ngắn

Trong quá trình triển khai đề tài, người thực hiện luận văn cũng sử dụng phương pháp thống kê phân loại, các thao tác so sánh đối chiếu, phân tích - tổng hợp giúp hiểu sâu hơn về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

5 Đóng góp của đề tài

Với đề tài Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dương Nghiễm

M ậu người thực hiện đề tài hy vọng góp tiếng nói thẩm định thành công về nghệ

thuật tự sự, phương diện tạo thành phong cách sáng tác trong truyện ngắn của

Dương Nghiễm Mậu trong dòng văn học Việt Nam hiện đại

6 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương:

Trang 16

Chương 1 Khái quát về tự sự học, tác giả Dương Nghiễm Mậu trong văn

học miền Nam Việt Nam 1954 - 1975

Chương 2 Người kể chuyện và điểm nhìntrong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

Chương 3 Kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

Trang 17

Chương 1 KHÁI QUÁT V Ề TỰ SỰ HỌC, TÁC GIẢ DƯƠNG NGHIỄM MẬU TRONG VĂN HỌC MIỀN NAM VIỆT NAM 1954 - 1975

1.1 Khái quát v ề tự sự học

1.1.1 Khái ni ệm tự sự

T ự sự là một trong những khái niệm gốc, cơ bản của tự sự học Không

hiểu đúng về thuật ngữ tự sự thì không diễn giải đúng về tự sự học Tự trong tự

sự có nghĩa là kể, sự là sự việc, sự kiện, như vậy tự sự là kể chuyện Từ điển

thu ật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên)

định nghĩa: “Tự sự là một phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện biến cố xảy ra trong cuộc đời con người Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn trữ tình và kịch” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2010) Đây là cách

hiểu truyền thống, phổ thông, quen thuộc Trong thực tiễn lý luận, tự sự và các khái niệm liên quan, gần gũi với nó được diễn giải rất đa dạng

Nhà lý luận G Genette trong công trình Tân diễn ngôn tự sự phân biệt ba khái niệm trần thuật, tự sự và câu chuyện như sau: câu chuyện là toàn bộ sự kiện được kể, tự sự là diễn ngôn về câu chuyện đó, trần thuật là hành vi trần thuật làm sản sinh ra diễn ngôn đó Phải có hành vi trần thuật thì chúng ta mới biết đến câu chuyện, mới có diễn ngôn tự sự Tự sự chính là diễn ngôn, là lời văn, là ngôn ngữ tạo ra quan hệ, ý nghĩa, trật tự của các sự kiện” (Trần Đình Sử, 2018) Tự sự chính là kết quả của quá trình trần thuật Hàng ngày chúng ta đều nghe các câu chuyện khác nhau, nghe hoặc kể để hiểu hay giải thích các sự vật hiện tượng, ở đâu có câu chuyện thì ở đó có tự sự, trần thuật Tự sự là một lĩnh vực rộng lớn

của giao tiếp đời sống con người J.H.Miller nói rằng, “tự sự là cách để ta đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng ta có được ý nghĩa, tự sự là cách tạo nghĩa cho các sự kiện, biến cố” (Trần Đình Sử, 2007) Roland Barthes

Trang 18

nhấn mạnh, đã có bản thân lịch sử loài người thì có tự sự J.Culler cho rằng, bất

kể chúng ta xem đời sống là một chuỗi sự kiện liên tục dẫn đến một mục tiêu nào

đó hay là kể bất cứ cái gì xảy ra thì tự sự là phương thức chủ yếu để con người

hiểu biết sự vật và tự sự chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa

1.1.2 Khái ni ệm tự sự học

Trong luận văn này chúng tôi không bàn về tự sự trong các lĩnh vực rộng

lớn khác của đời sống (tôn giáo, khoa học, chính trị, điện ảnh…), mà chỉ quan tâm đến tự sự nghệ thuật được thực hiện bằng ngôn từ Về mặt nguồn gốc, tên gọi tự sự học (narratology, narratologie) do nhà nghiên cứu T.Todorov đề xuất trong cuốn sách Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” năm 1969 Todorov cho

rằng, “Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự Để phát hiện và miêu tả cấu trúc

ấy, người nghiên cứu tự sự đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” ( Trần Đình Sử, 2004) Mieke Bal - một nhà nghiên cứu người Hà Lan trong sách

T ự sự học - Dẫn luận lí thuyết tự sự xuất bản năm 1985 sau bổ sung thành cuốn

D ẫn luận lí thuyết tự sự in năm 1997 định nghĩa: “Tự sự học là lí thuyết về sản

phẩm văn hóa gồm trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, sự kiện và kể chuyện”, là khoa nghiên cứu lí luận về văn bản tự sự (Trần Đình Sử, 2018)

G.Prince trong T ự sự học định nghĩa, tự sự học là khoa học nghiên cứu hình thức

và chức năng của tự sự Genette chỉ ra, tự sự học theo nghĩa rộng nghiên cứu chủ

đề, nội dung tự sự, và theo nghĩa hẹp nghiên cứu hình thức, các phương thức tự

sự C.Bremond trong Logic của các khả năng tự sự xem đối tượng của tự sự học

là các thủ pháp, phương thức tạo nên tự sự, các quy luật chi phối các sự kiện được kể ra

Theo cách hiểu phổ biến nhất, tự sự học (có khi gọi là trần thuật học, phân tích cấu trúc truyện kể…) là một ngành nghiên cứu phê bình văn học lấy tác phẩm tự sự, văn bản tự sự nghệ thuật làm đối tượng Nghiên cứu tự sự cũng chính là nghiên cứu cơ chế tổ chức văn bản tự sự, hoạt động kiến tạo nghĩa cho các sự kiện Tự sự học nghiên cứu rất nhiều yếu tố, bình diện như người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, không gian tự sự, giọng điệu, kết cấu…(Trần Đình

Sử, 2018)

Trang 19

Cách hiểu trên đây về tự sự học được luận văn sử dụng để triển khai vấn

đề nghiên cứu

1.2 Đôi nét về văn xuôi miền Nam 1954 - 1975

1.2.1 Bối cảnh văn hóa - xã hội

Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt Hiệp ước Giơnevơ và vĩ tuyến 17 không chỉ đánh dấu ranh giới địa lý, chính trị mà cả về văn hóa xã hội Miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, hoạt động văn nghệ chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Mác - Lê nin; miền Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, văn học chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Âu - Mỹ Đánh giá về biến chuyển xã hội miền Nam sau 1954, Nguyễn Đình Lê nhận xét:

“song song với súng đạn, tiền bạc, văn hóa Hoa Kỳ cũng được du nhập vào miền Nam Sự lan truyền nền văn hóa đó vào xã hội miền Nam theo hai con đường chính: một là sách báo, phim ảnh, thông tin từ chính phủ hay các cơ quan chức năng của Hoa Kỳ giới thiệu vào Việt Nam; hai là ảnh hưởng trực tiếp về lối sống Hoa Kỳ qua khoảng 3.5 triệu lượt thanh niên Hoa Kỳ trong sắc phục quân đội đến miền Nam… Lối sống Mỹ tác động hai mặt đến cộng đồng cư dân miền Nam: vừa tiêu cực, vừa tích cực Một mặt nó xa rời văn hóa truyền thống của người Việt, nhưng mặt khác giúp người ta hiểu cuộc sống đa dạng hơn” (Nguyễn Đình Lê, 2019)

So với miền Bắc, chế độ chính trị, xã hội miền Nam có nhiều biến động

phức tạp và dữ dội Từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, có hàng triệu người miền Bắc di cư vào miền Nam, chủ yếu là các gia đình tư sản, địa chủ giàu

có, các trí thức, và người Công giáo Chiến tranh giữa hai miền ngày càng khốc

liệt, sự can thiệp của Mỹ vào đời sống miền Nam ngày càng sâu sắc, đời sống chính trị miền Nam thường xuyên đảo lộn, các cuộc đảo chính diễn ra liên miên

Cả chế độ Ngô Đình Diệm và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đều triển khai nhiều biện pháp, chiến lược chống Cộng mạnh mẽ Nói riêng về mặt tư tưởng văn hóa: văn hóa Mỹ nói riêng, văn hóa phương Tây nói chung dưới nhiều hình

thức khác nhau thâm nhập vào miền Nam, làm thay đổi tư duy, cách nhìn, lối sống của người dân nơi đây Theo Võ Phiến, người Mỹ vào miền Nam “đem theo tiền Mỹ, lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ và đây là đầu mối cho nhiều thay đổi sâu xa

Trang 20

trong xã hội miền Nam” (Võ Phiến, 1986) Nguyễn Hiến Lê chỉ ra rằng, “từ năm 1960-1961, loại phim cao bồi, nhạc jazz và các tạp chí khiêu dâm Playboy ồ ạt xâm nhập Sài Gòn… Lính Mỹ qua, dân tộc ta mới tiếp xúc thẳng với người Mỹ,

mới thấy rõ được cái mặt trái của văn minh Mỹ, xã hội Mỹ và chịu ảnh hưởng tai hại của văn minh đó” (Nguyễn Hiến Lê, 1972) Nếu chiến tranh, xung đột chính trị hình thành tâm lí bi quan, chán nản, lo lắng, tuyệt vọng thì văn hóa ngoại lai hình thành tâm lí sùng ngoại, vong bản, lối sống hiện sinh, hưởng thụ trụy lạc… trong đời sống thành thị miền Nam Việt Nam những năm 1954 - 1975

Trong số các lý thuyết, trào lưu tư tưởng phương Tây du nhập vào miền Nam,

chủ nghĩa hiện sinh có ảnh hưởng sâu đậm nhất “Chủ nghĩa hiện sinh đã được một số trí thức Thiên chúa giáo du nhập vào miền Nam từ cuối những năm 50… đến khi Diệm đổ (cụ thể là từ năm 1964) thì trào lưu triết học ấy bao hàm cả hình thức hữu thần lẫn hình thức vô thần, đã gặp được những điều kiện phù hợp để lan tràn ồ ạt trong chế độ Sài Gòn” (Phong Hiền, 1984) Sở dĩ chủ nghĩa hiện sinh có chỗ đứng vững chắc, được tiếp nhận rộng rãi vì cuộc chiến tranh diễn ra trên khắp đất nước tạo ra bao đau thương tàn khốc; các cuộc đảo chính thay ngựa giữa dòng xảy ra liên tiếp làm cho xã hội miền Nam bất ổn, tan rã, sụp đổ không

lối thoát; con người đối diện sống trong nghịch cảnh ấy cảm thấy lo âu, mất niềm tin, tuyệt vọng, bế tắc, bi quan, hoài nghi hoặc nổi loạn phá phách… Tâm lý và điều kiện này tương hợp với tinh thần của triết học hiện sinh Điều đáng nói là triết học hiện sinh không chỉ ảnh hưởng đến lối sống, tư duy, tâm thế của người trí thức nói chung mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động văn học, từ dịch thuật, nghiên cứu, đến sáng tác

1.2.2 Đội ngũ và khuynh hướng văn xuôi miền Nam

Theo một thống kê chưa đầy đủ của Doãn Quốc Sĩ trong cuốn Văn học và

ti ểu thuyết, tính đến năm 1973, ở miền Nam có khoảng 50 tác giả văn xuôi Còn theo Cao Huy Khanh trong Nhà văn hiện đại tính đến năm 1974, số lượng các tác

giả văn xuôi miền Nam lên đến 200 người, trong đó khoảng 60 tác giả viết có

chất lượng Từ độ lùi trên dưới một thập kỷ, nhìn lại văn xuôi miền Nam, Võ Phiến trong Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Tổng quan) đã trình ra một kết quả kiểm kê khá gần với quan sát của Cao Huy Khanh - trong số 267 tác

Trang 21

giả hiện diện trong cuốn Tổng quan văn học miền Nam của Võ Phiến thì có hơn hai phần ba là tác giả văn xuôi Rõ ràng, đội ngũ văn xuôi miền Nam giai đoạn

1954 - 1975 rất đông đảo, chỉ tính riêng số nhà văn “thực sự có chất lượng” (theo cách nói của Cao Huy Khanh) cũng cho thấy tính chất bề thế của văn xuôi khu vực này Sở dĩ đội ngũ đông đảo là vì, bên cạnh các nhà văn sống và viết ở đây từ trước 1954, văn học miền Nam còn được bổ sung bởi đội ngũ các nhà văn di cư

từ miền Bắc, miền Trung vào Đó là Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Lưu Nghi, Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Đắc, Thanh Nam, Lê Tất Điều, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Võ Phiến, Y Uyên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Chu Tử, Nhật Tiến, Phan

Du, Nguyễn Văn Xuân, Minh Quân, Võ Hồng, Vũ Hạnh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Ngọc Tuấn, Từ Kế Tường, Cung Tích Biền, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị NgH,… Nhìn về mặt thế hệ, văn xuôi thập niên 50, 60 ở miền Nam “không có đàn anh” (Nguyên Sa, 1967)không có nhiều cách tân đột phá, những nhà văn có đóng góp nổi bật và được độc giả yêu thích nhất vẫn là những nhà văn truyền thống kiểu Bình Nguyên Lộc Phải từ giữa thập niên 60 trở đi, văn xuôi miền Nam đổi gác sang thế hệ trẻ, mới có những bước chuyển quan trọng cả về lập trường chính trị, về quan niệm sáng tác, lối viết, bút pháp và đề tài Văn chương miền Nam biến thái cùng với một mối ám ảnh thường xuyên, khốc liệt sau 1963:

ám ảnh chiến tranh và tất cả những gì xung quanh chiến tranh.Ngoài đề tài chiến tranh, đến giai đoạn này, văn học miền Nam hướng vào đề tài hiện sinh, chống Cộng, chống chiến tranh, chống chính quyền Sài Gòn đậm nét

Có thể hình dung các hoạt động văn xuôi ở miền Nam theo các nhóm văn học Nhà phê bình Cao Huy Khanh khi tổng kết 15 năm văn xuôi miền Nam chia văn xuôi đô thị thành nhiều nhóm, các nhóm này thường gắn với các diễn đàn

báo chí/cơ sở xuất bản nhất định Nhóm Người Việt (Sáng tạo) gồm Mai Thảo,

Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sĩ Tế…; nhóm Quan điểm có Vũ

Khắc Khoan, Mặc Đỗ…;nhóm Văn hóa ngày nay có Nhất Linh, Nguyễn Thị

Vinh, Linh Bảo, Duy Lam, Nhật Tiến…; nhóm Nhân loại gồm Ngọc Linh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy…; nhóm Bách khoa gồm Võ Phiến, Vũ

Trang 22

Hạnh, Võ Hồng, Phan Du…; nhóm Khởi hành có Viên Linh, Dương Nghiễm

Mậu, Cung Tích Biền…; nhóm Văn có Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Tuấn, Mường Mán, Ngụy Ngữ…; nhóm Đất nước (Trình bầy, Đối diện) có Thế

Nguyên, Thế Vũ, Võ Trường Chinh, Trần Duy Phiên, Huỳnh Ngọc Sơn,…;

nhóm Tu ổi ngọc có Duyên Anh, Từ Kế Tường, Đinh Tuyến Luyện… Sự đa dạng

của các nhóm bút cũng là sự đa dạng về phong cách, lối viết, về báo chí và xuất

bản văn học

Có quan điểm phân chia văn xuôi miền Nam thành các khuynh hướng khác nhau Một số nhànghiên cứu chia văn xuôi đôi thị miền Nam thành hai khuynh hướng: văn học tiến bộ, yêu nước cách mạng tại vùng địch tạm chiếm và văn học phản động đồi trụy, chống Cộng, phục vụ xã hội tiêu thụ tại các đô thị Cách phân chia này phản ánh tính lịch sử và giới hạn của cái nhìn mang tính lập trường chính trị Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Trang, nếu lấy giá trị văn hóa truyền thống làm tiêu chí thì có thể phân chia văn xuôi đô thị miền Nam thành hai khuynh hướng: một là khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống; hai là xa rời các giá trị văn hóa truyền thống, quan tâm đến những yếu tố hiện đại Khuynh hướng khẳng định văn hóa truyền thống (Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng,

Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Bằng, Nhật Tiến…) thể hiện ở thái độ trở về với dân tộc, quá khứ, đề cao truyền thống, đấu tranh chống các yếu tố ngoại lai, thực dân; khuynh hướng xa rời văn hóa truyền thống (Chu Tử, Dương Nghiễm

Mậu, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Trần Thị NgH…) thể hiện ở cái nhìn phủ định, phản ứng chống lại truyền thống, bi quan

về thực tại,…(Nguyễn Thị Thu Trang, 2015)

Nhìn từ góc độ ảnh hưởng của các tư tưởng triết học, văn học nước ngoài

có thể thấy văn học miền Nam giai đoạn 1954- 1975 có ba khuynh hướng cơ bản, trong đó có hai khuynh hướng thể hiện tính hiện đại, gắt kết với phương Tây và một khuynh hướng thể hiện rõ tính chất đối kháng chính trị Thứ nhất là các sáng tác chịu ảnh hưởng của phân tâm học, với Thanh Tâm Tuyền (Mù khơi…), Nguyễn Thị Hoàng (Tuổi học trò, Ngày qua bóng tối, Vòng tay học trò, Về trong sương mù, Vào nơi gió cát…), Nguyễn Thị Thụy Vũ (Khung rêu, Mèo đêm, Thú hoang …), Túy Hồng (Tóc mai nghìn năm, Vết thương dậy thì, Thở dài…), Nhã

Trang 23

Ca (Bóng t ối thời con gái, Đêm dậy thì…) Thứ hai là các sáng tác chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, trong văn xuôi có Dương Nghiễm Mậu (Con sâu, Đêm tóc rối…), Doãn Quốc Sĩ (Dòng sông định mệnh), Mai Thảo (Bên lề giấc

m ộng, chìm dần vào lãng quên), Thanh Tâm Tuyền (Bếp lửa).(Trong thơ có

Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng ) Các khuynh hướngsáng tác chịu ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng khác ở miền Nam khá đa dạng, có những dấu ấn nhất định, như chịu ảnh hưởng của các trào lưu nữ quyền, kĩ thuật dòng ý thức của tiểu thuyết mớinhưng vị thế không thể vượt lên hai khuynh hướng chúng tôi vừa nêu hoặc hòa trộn vào thành tựu của các dòng văn học đó.Thứ ba là các sáng tác chống Cộng Văn học chống Cộng là một nét đặc trưng của hoạt động văn nghệ miền Nam Tiêu biểu cho khuynh hướng này có Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Chu Tử, Võ Phiến,… Đặc điểm của văn học này là dùng văn chương nghệ thuật làm vũ khí chống miền Bắc, chống chủ nghĩa Cộng sản; ca tụng xã hội, con người và chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam

Từ sự phân chia văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 thành nhiều nhóm, theo các khuynh hướng sáng tác cho thấy hoàn cảnh xã hội đã tác động đến đời sống văn học, dẫn đến sự phân hóa dữ dội trong đội ngũ sáng tác Thực

tế này, với độ lùi của thời gian cho thấy, điều quan trọng trong nghiên cứu, đánh giá sáng tác của các nhà văn miền Nam giai đoạn này không phải là theo nhóm này hay nhóm kia mà là ở giá trị của tác phẩm, kết quả của tư duy nghệ thuật của lao động nhà văn

Với cách hiểu như trên về đội ngũ sáng tác văn xuôi miền Nam, luận văn đặt vấn

đề nghiên cứu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu hướng tới việc thẩm định giá trị của mảng truyện ngắn để khẳng định vị trí, sự đóng góp của ông cho văn học

Việt Nam hiện đại

1.3 Cu ộc đời, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu

Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 – 11- 1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông nay thuộc

Hà Nội; mất ngày 02 – 08 – 2016 tại Thành phố Hồ Chí Minh Ông được coi là

Trang 24

một trong số những nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam với bút hiệu là Hương Việt Hương Từ năm 12 đến 18 tuổi, Dương Nghiễm Mậu sinh sống và học tập ở Hà Nội Sáng tác đầu tay của ông là đoản văn, tùy bút được in ở trang

phụ trương văn nghệ của báo chuyên nghiệp Đến năm 1954, sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, Dương Nghiễm Mậu di cư vào Nam cùng với gia đình Từ năm 1957, ông viết nhiều đoản văn, truyện ngắn và truyện dài Năm 1962, ông

chủ trương Tạp chí Văn nghệ với Lý Hoàng Phong và cộng tác với các báo như: Tia sáng, Th ế kỷ, Sáng tạo, Giữ thơm quê mẹ, Giao điểm, Bách khoa Ngoài ra,

Dương Nghiễm Mậu còn chủ trương Nhà xuất bản Văn Xã.Ông nhận giải thưởng

văn chương toàn quốc (miền Nam) năm 1966 với tập truyện Cũng đành(do Tạp chí Văn nghệ xuất bản năm 1963), truyện dài Gia tài người mẹ (Văn nghệ, 1964)

Năm 1966, gia nhập quân đội Việt Nam Cộng hòa; năm 1967, Dương Nghiễm Mậu làm phóng viên mặt trận Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhà văn bị bắt đi

tù cải tạo Năm 1977, ông chuyển sang vẽ tranh sơn mài và sinh sống bằng nghề

đó tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, sau Hiệp định Giơnevơ, ông đi theo gia đình di cư vào Nam Hoàn cảnh xã hội miền Nam sau hiệp định Giơnevơ, chiến tranh lan rộng khắp miền Nam và cả nước, sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiếnkéo theo những hệ lụy làm cho xã hội miền Nam bất ổn, rối ren Bom đạn của chiến tranh, chất độc hóa học đã rải xuống mảnh đất miền Nam khiến nhiều đồng ruộng trở thành đất hoang, hàng vạn làng mạc bị tàn phá bởi bom mìn, súng đạn Quân nhân Mỹ xa nhà với cuộc sống điều kiện dư dật cần có những quán bar, tụ điểm vui chơi như phòng trà, gái nhảy, v.v Trong hoàn cảnh chiến tranh -

lối sống của xã hội tiêu thụ kéo theocác tệ nạn hút chích, cờ bạc,v.v Bên cạnh

đó, trên phương diện văn hóa, sự du nhập ồ ạt văn hóa phương Tây vào miền Nam làm cho xã hội thêm phức tạp Khác với giai đoạn tiền chiến, ở giai đoạn này, tuổi trẻ chứng kiến những biến động của xã hội cùng với việc di dân phần nào đã ảnh hưởng lối cảm, lối nghĩ, cảm quan nghệ thuật của nhà văn Với Dương Nghiễm Mậu, những tháng năm của tuổi trẻ đã trải qua và chứng kiến hoàn cảnh xã hội đó đã tạo cho ông những suy nghĩ và hướng đi mới trong việc đổi mới cách viết.Tạ Tỵ đã có nhận xét về cách tiếp cận hiện thực xã hội miền

Trang 25

Nam sau 1954 theo cảm quan của Dương Nghiễm Mậu như sau: “Dương Nghiễm Mậu tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm một dòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với

một thế đứng riêng biệt” (Tạ Tỵ, 2017) Tập truyện ngắn đầu tay Cũng đành

(xuất bản 1963) mang đậm dấu ấn về thân phận con người trong xã hội.“Tất cả các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều nghèo túng, xã hội của Dương Nghiễm Mậu là một xã hội bị chiến tranh tàn phá, ở đâu cũng còn vết tích của rạn vỡ: trong thành phố, trên cơ thể, trong tâm hồn Một xã hội con lạc cha, vợ lạc chồng, anh em hằm hè nhau như hổ đói, người với người xem nhau như súc

vật” (Đặng Tiến, 1963) Đặc biệt là sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật

đổ, sự biến động trong đời sống chính trị làm cho đời sống xã hội miền Nam càng thêm phức tạp.Chủ nghĩa hiện sinh có cơ hội phát triển Huỳnh Như

Phương trong bài viết giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh (in trong Tiến trình văn

h ọc (khuynh hướng và trào lưu), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,

2019) đã viết: “…trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt và bi thảm, xã hội miền Nam tiếp xúc sâu rộng với nền văn hóa phương Tây, triết học và văn học hiện sinh được giới thiệu, quảng bá qua hệ thống giáo dục, xuất bản và báo chí” “Từ ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật, chủ nghĩa hiện sinh đi vào quan niệm sống và lối sống, với những tác động khá tế nhị và phức tạp Một mặt không thế chối cãi rằng việc du nhập triết học và văn học hiện sinh góp phần dẫn đến phản ứng “nổi

loạn”, “tận hưởng cuộc đời” của một bộ phận thanh niên nông nổi không tìm thấy đườngđi trong chiến tranh, như Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Xuân, Lữ Phương, Thế Nguyên, Nguyễn Trọng Văn đã từng chỉ ra” (5.6 Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism ), Sđd, tr.140 -141) Từ hiện thực đời sống xã hội và văn học miền Namnhư Huỳnh Như Phương diễn giải và phân tích, một số nhà văn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong đó có Dương Nghiễm Mậu Sáng tác của Dương Nghiễm Mậu giai đoạn sau có sự biến chuyển trong tư tưởng cũng như sự dấn thân trong sáng tác Dương Nghiễm Mậu dám nói lên tiếng nói của cá nhân mình, dùng những hình tượng cũng như số phận của nhân vật để thể hiện quan điểm cũng như lập trường viết của ông Qua đó, khẳng định một vị thế

Trang 26

vững chắc một chỗ đứng riêng trong giới văn chương miền Nam của Dương Nghiễm Mậu

1.3.2 S ự nghiệp sáng tác

Dương Nghiễm Mậu đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm phong phú và đồ sộ, với hơn 20 tác phẩm, thuộc nhiều thể loại khác nhau từ truyện ngắn, truyện dài đến tiểu thuyết Chính lối viết đặc sắc, độc đáo, không lặp lại đã

tạo nên vị trí Dương Nghiễm Mậu rất riêng, một mình một thế đứng.Tiêu biểu trong thành tựu sáng tác của ông, về truyện ngắn có thể kể: Cũng đành (Tạp chí

Văn nghệ, Sài Gòn, 1963), Đêm (Giao điểm, 1965), Đôi mắt trên trời (Giao điểm, 1966), Sợi tóc tìm thấy (Những tác phẩm hay, 1966), Nhan sắc (An Tiêm, 1966), Kinh c ầu nguyện (Văn xã, 1967), Ngã đạn (Tân văn, 1970) Bên cạnh

truyện ngắn, Dương Nghiễm Mậu có những truyện dài được độc giả chú ý như:

Gia tài người mẹ (Tạp chí Văn nghệ, 1964), Đêm tóc rối (Thời mới, 1965), Tuổi nước độc (Văn, 1966), Phấn đấu (Văn, 1966), Ngày lạ mặt (Giao điểm, 1967), Gào thét (Văn uyển, 1969) Ngoài ra còn phải kể đến một số tác phẩm khác

như: Địa ngục có thật (Bút ký, Văn xã, 1969), Quê người (Văn xã, 1970)

Nhìn lại quá trình sáng tác, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu chúng tôi nhận thấy có mấy điểm đáng chú ý sau:

Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trong đời sống văn nghệ miền Nam Việt Nam từ khá sớm và nhanh chóng khẳng định được tên tuổi, phong cách Ông là nhà văn tiêu biểu của thế hệ di cư vào miền Nam Thời kỳ viết sung sức nhất, dồi dào nhất là từ khoảng 1966 đến 1974, những sáng tác kết tinh cho quan điểm, nghệ thuật, thành tựu chính, khẳng định vị trí văn học sử, đóng góp của Dương Nghiễm Mậu cho văn xuôi miền Nam thuộc về thời gian này

Nói về quan niệm sáng tác, trên Văn nghệ số 21, Dương Nghiễm Mậu cho

biết quan điểm của ông như sau: phần nhiều tác giả phải trải qua một giai đoạn viết truyện ngắn trước khi viết truyện dài; viết truyện ngắn khó hay, đòi hỏi phải

có sức nén lớn, chuẩn bị và viết công phu, tập trung, liền mạch một cách tự nhiên

- “tôi thường nuôi sẵn trong đầu một số truyện rồi lúc đó nào cóthì giờ là viết Tôi viết một hơi từ đầu đến cuối… tôi không quen cách thức làm việc kiểu thủ công nghiệp, cũng có khi điều gì đó đến bất ngờ không viết không được thì tôi

Trang 27

viết ngay.Kĩ thuật với tôi là một điều thứ yếu.Nội dung tùy thuộc vào tác giả, kĩ thuật tùy thuộc nội dung, kĩ thuật thực hiện như thế nào (từ cách chấm, phẩy, xuống dòng, ngôn ngữ…) là do nơi nội dung đòi hỏi” Dương Nghiễm Mậu cũng cho biết ông chỉ có thể viết hay được với những truyện thực -“truyện thực trong đời sống dưới mắt tôi khủng khiếp hơn nhiều tưởng tượng Tôi nhiều khi bất mãn với chính mình vì thấy mình bất lực trước việc diễn tả cuộc sống, suy nghĩ… Cây bút trên tay muốn vứt bỏ đi nhưng rồi vẫn phải viết” (Dương Nghiễm Mậu, 1963)

Dương Nghiễm Mậu sống và viết trong tình thế cực đoan của văn hóa xã

hội miền Nam.Ông vừa là nhân chứng vừa là người trong cuộc, vừa là người chịu ảnh hưởng của chiến tranh, văn hóa xã hội thời ấy, vừa là người góp phần sáng tạo ra những sản phẩm văn học phục vụ xã hội tiêu dùng

Một trong những mối quan tâm hàng đầu trong sáng tác của Dương Nghiễm Mậu là thân phận con người Phải là nhà văn gắn bó với thời cuộc, với đời sống, đối diện với hoàn cảnh bi đát nhãn tiền mới có những trang viết nặng trĩu suy tư về con người như Dương Nghiễm Mậu Tạ Tỵ nhận thấy: Dương Nghiễm Mậu không phải vô tình hay vô cớ khi đặt vấn đề thân phận con người,

nhất là tuổi trẻ trong phạm trù sinh hoạt thực tế, với bao nỗi băn khoăn, ám ảnh

về một xã hội thối nát, bất công” (Tạ Tỵ, 1971) Cắt nghĩa về đề tài này, Tạ Tỵ nhấn mạnh đến môi trường sống phân hóa, cuộc chiến khốc liệt, sự vay mượn tư tưởng của Sartre, Camus, đặc biệt là tâm lý nhìn nhận thân phận con người, trong

đó có chính bản thân nhà văn, như một định mệnh, “từ phẫn uất, Dương Nghiễm Mậu đi vào chán nản khi biết rằng thân phận mình đã bị điểm danh, nghĩa là đã được định đoạt” Thụy Khuê khi viết về Dương Nghiễm Mậu cũng nhận xét: mỗi nhân vật của Dương Nghiễm Mậu “là một trường hợp tự phân- tự nhận thức về

bản thân- họ thuộc về cái thế giới đau đớn, bi đát của những người nhìn vào cuộc sống hiện sinh, phi lý của mình (Thụy Khê, 2014)

Dương Nghiễm Mậu là một nhà văn hiện sinh, phân tích tâm lý sâu sắc Ngòi bút của tác giả không thiên về miêu tả những cái bề ngoài của xã hội và nhân vật, mà lách sâu vào đời sống bên trong “Dương Nghiễm Mậu thường tìm hình bóng mình qua kẻ khác, cũng như dùng kẻ khác để nói về mình” (Tạ Tỵ,

Trang 28

1971).Nhà văn không tìm cách trình bày, mô tả cái hiện thực nhìn thấy như nhiều nhà văn khác, mà tìm cách phơi mở ra thế giới nội tâm, không ngần ngại xoáy sâu vào cái đau không nhìn thấy, chỉ có thể cảm nhận, thể nghiệm trong mỗi bản thân con người - “những người ý thức được những ung nhọt trong thể xác và tinh thần của mình”, ông “phác họa chân dung con người với những đam mê vô ích, con người hư vô trong cuộc sống hiện sinh bi đát của một xã hội Việt Nam đang

bị dày vò, xâu xé vì chiến tranh và thù hận” (Thụy Khê, 2004) Văn xuôi của Dương Nghiễm Mậu thấm đẫm tư tưởng hiện sinh, với nhiều chủ đề đặc trưng: con người hư vô, thái độ chấp nhận thực tại phi lí và cái chết như là định mệnh, tâm trạng chán nản, bi quan, phẫn uất tràn ứ trong các suy tư, cảm giác của nhân vật…

Tiểu kết chương 1

Muốn hiểu về tự sự học cần phải nắm rõ khái niệm gốc là tự sự Trên cơ

sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về lý luận, tác giả luận văn đã lựa chọn, tổng hợp và đúc rút một cách hiểu phù hợp, có tính căn bản, dễ hình dung về tự

sự và tự sự học, làm cơ sở cho việc triển khai các chương tiếp theo Mặc dù không có điều kiện đi sâu, trình bày kĩ lưỡng, nhưng từ sự đa dạng trong quan

niệm đến những đường nét phát triển chính của ngành tự sự học đã được luận văn phác thảo lại

Song song với việc lựa chọn quan điểm lý thuyết làm điểm tựa lý luận cho

việc triển khai đề tài, luận văn đã cố gắng dựng lại bối cảnh văn hóa xã hội chi phối, ảnh hưởng đến sáng tác của Dương Nghiễm Mậu Trong khi trình bày lịch

sử vấn đề nghiên cứu, luận văn đã cố gắng bám sát nguồn tư liệu trong phạm vi

hiểu biết của mình để thấy vấn đề nghiên cứu về sáng tác của Dương Nghiễm Mậu, trong đó có mảng truyện ngắn của nhà văn là cần thiết cần được tiến hành

dựa trên những căn cứ khoa học để có những đánh giá, khách quan, thỏa đáng

Từ nguồn tư liệu người viết có được về Dương Nghiễm Mậu, chương 1 cũng đã tổng hợp, trình bày những thông tin chính yếu nhất về cuộc đời, “con người tiểu sử” của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, hướng đến hai khía cạnh, một

là cho thấy tác giả thuộc thế hệ nhà văn miền Bắc di cư vào miền Nam, và hai là bước đầu hình dung về hành trình sáng tác của Dương Nghiễm Mậu chia thành

Trang 29

hai giai đoạn (ở miền Bắc sáng tác đoản văn, tùy bút) và ở miền Nam viết truyện

ngắn, truyện dài, bút ký.Thành tựu chính xác định tư cách nhà văn hiện sinh, nhà văn tiêu biểu, quan trọng của văn học miền Nam của Dương Nghiễm Mậu tập trung ở giai đoạn sau

Trang 30

Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUY ỆN NGẮN DƯƠNG NGHIỄM MẬU

2.1 Ng ười kể chuyện trong truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu

Người kể chuyện là một bình diện của tự sự học Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác

phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác

giả sáng tạo ra, có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện

Người kể chuyện là một yếu tố của cấu trúc tự sự Người kể chuyện nghĩa đen là người kể (câu chuyện) cho người đọc nghe Đó là nhân vật trung tâm của

tự sự, bởi vì toàn bộ văn bản tự sự đều là sản phẩm của danh nghĩa người kể chuyện Đọc văn bản tự sự bao giờ ta cũng nghe thấy một lời kể, một giọng điệu, một tiếng nói cho ta biết có sự việc gì đã, đang hay sẽ xảy ra Có người xưng

“tôi”, có cá tính, có giới tính, có người chỉ nghe thấy tiếng, mà không biết ai, có truyện một người kể, có truyện nhiều người kể thay thế nhau, có trường hợp không thấy dấu hiệu của người kể, dường như “câu chuyện tự kể” (Trần Đình Sử, 2018)

N.Tamarchenco viết: Người kể chuyện là chủ thể lời nói và là người đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học người kể chuyện được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian, lẫn bình diện tu từ

mà cụ thể nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa - xã hội và ngôn ngữ cụ thể để

từ vị thế ấy nó mô tả các nhân vật khác (Trần Đình Sử, 2018)

Tz.Todorov cho rằng: Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người

kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy,

kết hợp trong mình đồng thời cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt

Trang 31

Pospelov chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện và độc giả: Người kể chuyện là người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra

Theo W.Ksayser: Người kể chuyện là một khái niệm mạng tính chất cực

kì hình thức, đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể không bao giờ người kể chuyện là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận: trong nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng được biết đến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định

Từ những ý kiến của các nhà lý luận về tự sự học đề cập cách hiểu khái niệm người kể chuyệntrên đây, tác giả luận văn rút ra một cách hiểu về người kể

chuy ện làm cơ sở cho việc khảo sát, phân tích, đánh giá yếu tố này trong nghệ

thuật tự sự của truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu Thứ nhất: người kể chuyện là một sản phẩm sáng tạo, không đồng nhất với tác giả, tiểu sửtác giả ngoài đời; một tác phẩm có thể có nhiều người kể chuyện Thứ hai: người kể chuyện thực hiện chức năng kể chuyện, truyền đạt thông tin, bình luận Thứ ba: người kể chuyện có thể can dự vào câu chuyện, có thể không can dự vào tình tiết, câu chuyện được kể

Đi vào tìm hiểu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu, chúng tôi nhận thấy yếu

tố người kể chuyện được nhà văn sử dụng ở các ngôi kể sau: người kể toàn tri,

người kể đồng hiện, người kể ngoại hiện

Người kể chuyện toàn tri là người kể biết hết, biết cả quá khứ, hiện tại, tương lai, bề ngoài và bên trong nhân vật, biết tất cả các quan hệ của các nhân vật, người này như “vị chúa tể”, đứng ra dàn chuyện và kể chuyện

Truyện Tiếng sáo người em út, kể câu chuyện của hai anh em ứng xử về

cái chết của người cha Khi người anh đi xa trở về nghe tiếng sáo của người em trong lòng cảm thấy vui, tiếng sáo nghe trầm bổng, véo von, mang một nỗi niềm

của tâm sự Cuộc nói chuyện giữa hai anh em về những câu chuyện xưa cũ, về cái chết của người em gái út, về ông nội Người anh bàng hoàng khi biết người cha đã chết:

Trang 32

“Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp:

- Cha chết rồi sao?

- Cha đi tối hôm qua

Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập vang động rồi tiếng khóc oằn lên Người em trở ra hiên nhà lấy cây sáo trúc xuống và bắt đầu thổi một khúc nhạc, âm thanh nhảy nhót tươi vui Người anh từ trong nhà bước ra, nước mắt ràn rụa Người em ngừng thổi sáo Người anh nói giọng khô:

- Cha chết mà em không buồn sao?

- Cha già thì chết, tại sao lại buồn? Anh khóc cha có sống lại không? Cha nói với em: cả đời không làm điều gì quấy, không có gì phải hối hận, cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên Con hãy thổi sáo cho cha nghe ” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Từng lớp, từng chi tiết diễn ra tưởng rất đỗi bình thường nhưng để rồi dẫn người đọc tới nỗi đau của người con sau bao năm xa nhà khi quay trở về thì người cha đã mất Dương Nghiễm Mậu như tận cùng thấu hiểu được nỗi đau đó biểu hiện qua “tiếng khóc oằn lên”, cảm giác đau đớn, bất hạnh Nhưng câu truyện không đơn giản như vậy, mà thông qua hình ảnh người em út

để nói lên cách sống, cách nhìn đời của người cha về lẽ sống nhân sinh Người

em đã thổi sáo đễ tiễn đưa người cha về bên kia thế giới với khúc hân hoan làm vơi lòng người ở lại, nhẹ lòng người ra đi Tưởng rằng người em út là người không làm tròn đạo hiếu của một người con: cha chết lại thổi sáo, bế người cha đặt vào trong cỗ áo quan, đầu gối lên cái ruột tượng nhồi thóc, không thông báo cho họ hàng làng xóm Nhưng không, người em út là một người con có hiếu, biết

nối chí cha, bám đất bám làng: “Anh nghĩ em có thể bỏ nơi này mà đi được sao?

Ai cũng bỏ đi cả thì ngôi nhà này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh

lấy đâu nơi để trở về?” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sống với người cha, rồi chứng kiến bao đổi thay, bao nhiêu cái chết của người thân,…người em đã trưởng thành và già dặn, suy nghĩtrở nên sâu sắc hơn Phải chăng người em út là bóng hình người cha để lại: “Em nghĩ: anh không phải là người để sống ở trong nhà, lại nữa bây giờ cha đã mất Từ lúc em lớn lên đến nay em thấy có mấy khi anh sống ở nhà Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh

Trang 33

đâu có sống với những điều đó? Em không nghĩ là có lúc anh trở về chuyện còn

dài” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Qua những cử chỉ, lời nói của người em út ta cảm tưởng đây không còn là một người em nhỏ bé nữa Thái độ của người em trước cái chết của cha, hành động của người em khác thường so với cách ứng xử của người đời khi cha mẹ ra đi, và ngay cả với người anh cùng cha, toát lên triết

lý sống của người lịch lãm Người em trong truyện Tiếng sáo người em út là người kể chuyện hàm ẩn, thể hiện quan niệm nhân sinh của người kể chuyện toàn

tri

Trong truyện Những chuột kể về cuộc sống của lão Chệt với lũ chuột Lão

Chệt biểu tượng cho sự tha hóa, trở về với sự hoang dã Dường như người và chuột là cùng một thế giới Lão ăn ở chung với lũ chuột: “Trong cái xóm nhỏ bé

ấy chẳng mấy khi người ta để ý đến nhau Mỗi người nghĩ và lo lấy đời sống của mình Lão Chệt sống chết gì người ta cũng không quan tâm tới, và riêng lão cũng không nghĩ tới bên ngoài, trong ba chuồng chuột lớn, hơn ba trăm con đó lão ngắm nghía, sờ soạng chơi đùa, khi nào đói lão lại bắt ra từng con nướng vào lửa

xé ăn Lão cũng chẳng cần phải nằm ở giường, mệt lão lăn ra nằm ở ngay bên lũ chuột” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Lão ăn tươi nuốt sống cả dòi bọ: “Lão nhớ

lại bữa chuột bao tử mấy hôm trước khi lão bắt được trọn ổ, tới mười bốn con chuột đỏ hỏn chưa mở mắt lão đã mang về tẩm bột rán, lão nghĩ ăn cái ấy thì bổ phải biết, cái gì vào bao tử chả bổ, đến dòi mà lão nghe nói cũng là một vị thuốc ghê gớm lắm Lão cầm lấy đầu chú chuột bóp mạnh một cái, một tiếng kêu chít rồi tắt, giữa hai ngón tay, đầu chú chuột bẹp dí tóe máu và óc, lão vứt bỏ vào góc nhà, lão đưa ngón tay lên miệng mút lấy một chút lầy nhầy của máu và óc ra chiều khoan khoái rồi lão vào trong bàn kiếm rượu để tợp một hớp Lão lấy thuốc vấn một điếu châm lửa hút” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Cuộc sống trước đây

của lão cũng không khó khăn gì: “Chẳng phải lão không có lúc sướng đâu, cái hồi lão còn làm chủ cái tiệm chạp - phô kia thì cũng chủ nhân ông lắm, nhưng cô

vợ tài hoa son phấn của lão lại trót đa mang với nàng tiên nâu đã vê tròn, đút lỗ

hết sản nghiệp vào hơi khói, đến nỗi lão cũng mắc nghiện Nhưng khi nghèo khó nuốt sái mãi không được lão phải cai - cái thuở khốn khó đó, không có chút nhựa

đã vật vã lão tưởng chết Nhưng nợ đời nó chẳng tha cho nên lão vẫn phải sống,

Trang 34

phải về đây bắt chuột bán” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Lão bắt chuột để cho con lão mang ra tiệm làm bánh bao và xíu mại bán: “Lão mơ tưởng tới một thứ

kỹ nghệ thịt chuột, nếu có chắc lão là kẻ tiên phong: nào trại nuôi chuột, rồi sữa chuột, thịt chuột đóng hộp biết đâu lại chẳng giúp cho lão có xe hơi, nhà lầu, gái đẹp, cái món sau chả cần gì miễn sao cưới được con nhỏ Xiêm, có tiền cưới ai chẳng được mà phải lo” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhưng rồi thằng Lai đã mang Xiêm đi Sài Gòn Lão Chệt làm bạn với chuột, người bạn độc nhất: “Lũ chuột đối với lão bây giờ thật đáng yêu, nó có cái gì đáng ghét đâu, nó cũng như người, chẳng qua hình thù nó khác Nó cũng ăn uống, ỉa đái, sinh nở rồi chết, cũng kiếm ăn như người vậy, có điều lão Chệt yêu chuột, hình như chuột nó có thể sống với nhau cùng một đời sống, không có giai cấp chuột Và nhất nữa thịt chuột lại có thể ăn được” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Cho đến một ngày có một con chó lông đen lù xù như chó hoang, gầy teo, đi khập khễnh: “Chào quý khách! Chào quý khách! Không bao giờ tôi lại được tiếp ngài Ngài mới ở xa tới? Xin ngài cứ tự tiện Nhà của tôi như nhà của ngài, lũ bè bạn chuột của tôi đây cũng vậy Chắc ngài chỉ ghé tạm đây trên con đường đi tìm chân lý, bình định thiên hạ Chả sao, ngài cứ tự tiện xơi những người bạn quý này nếu cần” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Cho đến một ngày lão lo sợ đến lúc nào đó nó đè lão ra nhai nên lão tìm cách đánh chết nó: “Chờ con chó ngủ, lão kiếm một cái chai để bên cạnh rồi cầm ở tay thu sức giáng một cái xuống đầu con chó Chó duỗi hai chân giãy giãy

lè lưỡi và sùi bọt mép Lão chệt mệt nhọc lắm mới kiếm được con dao mổ bụng chó, lão mổ bụng moi bộ gan nướng ăn, lão thấy tiết chó nóng và đặc sánh, lão thấy cổ khát nên vốc uống Lão ưng ý về món ăn lạ kỳ Lão vứt bỏ xác chó ra

giữa nhà, lũ chuột kéo đến ngoạm” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sau đó trong xóm xôn xao về những cái chết và người ta nghĩ ngay đến lão Chệt và phát giác

ra bệnh dịch

Câu chuyện được kể trong Những chuột mà luận văn vừa dẫn ra là một truyện kể ở ngôi thứ ba Người đọc chỉ nghe thấy giọng kể, người kể chuyện ở đây ẩn đi, điều này thể hiện rõ qua cách gọi tên nhân vật là “lão” Lựa chọn hình thức kể chuyện này, người kể trở thành một người biết tuốt, biết hết mọi việc, câu chuyện về “lão”, của “lão” được người kể nắm trong lòng bàn tay, anh ta vừa

Trang 35

như đứng bên ngoài, đứng bên trên quan sát, nắm rõ mọi nguồn cơn, diễn biến,

vừa có thể thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật, vừa quan sát hành động, lời nói nhân vật.Từnhững trích dẫn trên, người đọc rùng rợn, kinh hãi do

sự miêu tả tường tận những góc khuất tăm tối của sinh hoạt thiếu văn hóa của con người Một môi trường sống từ ăn, ở, đến hành xử,… ánh sáng văn minh không đến được Con người trở về đời sống mông muội Hậu quả của nó là dịch

bệnh, là thảm họa môi trường,… mà hiện nay con người đang phải đối mặt Cách

kể chuyện, lối miêu tả gây cảm giác mạnh vào giác quan người đọc là hiệu quả của việc tự sự chú trọng vào vai trò người kể chuyện toàn tri để thực hiện ý đồ

của nhà văn được đặt ra từ chủ đề câu chuyện

Trong tập truyện Nhan sắc, trừ tác phẩm Kinh Kha, con Chủy Thủ và đất

T ần bất trắcđan xen nhiều câu chuyện, sử dụng nhiều hình thức kể chuyện, ngôi

kể chuyện, hầu hết các truyện trong tập này đều là truyện kể theo ngôi thứ ba, người kể ở đấy là người kể toàn tri, không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm.Người tình của Trương Quỳnh Như mở đầu bằng việc người kể miêu tả hành động của hai người bạn: “Hai người bạn ôm chầm lấy nhau không thốt được lời nào, mãi sau Phạm Thái mới cầm lấy tay người bạn trẻ mời ngồi xuống

ghế đối diện với mình”.Kết thúc truyện, người kể thông tin: “Sáng mờ hôm sau, khi ra khỏi cơn say và thức dậy, Phạm Thái không còn thấy người bạn trẻ, chỉ còn lại ngoài sân dấu chân ngựa đi về hướng mặt trời mọc”.Dễ thấy từ tên truyện đến diễn tiến mạch kể cho thấy ở đây có một người kể chuyện thực hiện chức năng kể chuyện khách quan.Anh ta ẩn đi, không can dự vào câu chuyện Dương Nghiễm Mậu ở tập truyện này có chủ ý sáng tạo người kể toàn tri.Nói là tác giả

có chủ ý bởi vì có 6 trên tổng số 12 truyện thuộc lối viết này:Một người lên núi, Nhan s ắc, Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng, Gậy thần sách ước, Người tình c ủa Trương Quỳnh Như, Tiếng gọi người.Ở tập truyện Tiếng sáo người em

út thì trừ các tác phẩm:Sáng mùa xuân, Nơi máu chảy ở ngoài, Có một bông

h ồng cho đêm giáng sinh, Trên đường dài, các truyện còn lại như Tiếng sáo của người em út, Tiếng động buổi trưa, Con chim cánh trắng, Nụ cười, Thiết lộ đều

sử dụng ngôi kể thứ ba, người kể toàn tri Chúng ta thấy dường như người kể đứng bên ngoài thế giới nhân vật, đó là người kể chuyện hàm ẩn nhưng tồn tại

Trang 36

như một “thượng đế” có mặt ở khắp nơi, anh ta vừa như là người quan sát vừa là người kể lại toàn bộ những gì mình quan sát, cảm nhận được Điều này có nghĩa

là, Dương Nghiễm Mậu muốn khách quan hóa câu chuyện trong hình thức truyện

kể ngôi thứ ba Đây chính là một cách lựa chọn trong nghệ thuật kể chuyện nhằm tăng sức thuyết phục đối với người đọc trong sáng tác truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu

2.1.2 Người kể chuyện ngoại hiện

Người kể chuyện ngoại hiện là người tự miêu tả mình, giới thiệu về mình cho người đọc biết, ví như người kể xưng “tôi”, một nhân vật trong truyện, hoặc người kể ngôi thứ ba nhưng tự thể hiện quan điểm riêng của mình

Tập truyện tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tạo người kể chuyện ngoại hiện là Cũng đành, gồm 12 truyện ngắn, trong đó có8 truyện,gồm:Niềm đau nhức

c ủa khoảng trống, Cũng đành, Bồn cát tuổi thơ, Tiếng động trên da thú, Làm thân con gái , Bu ồn vàng, Mẹ và con, Cơn say mù đục, có người kể tự miêu tả

mình, giới thiệu về mình và kể câu chuyện của mình cho độc giả nghe

Trong truyện Cũng đành kể lại câu chuyện của nhân vật chính xưng tôi bị cơn sốt rét hành hạ nên trốn đơn vị trở về Hà Nội, nghe lời mách bảo cách chữa

bệnh sốt rét bằng cách nuốt những con giun đất: “Không còn cách gì hơn, tôi kiếm một con dao cùn và chiếc gáo dừa vỡ đi đào giun.Những con giun dài xanh

đỏ ưa nằm chỗ ẩm, tôi cứ việc lật những viên gạch vỡ ở bên vại nước, và đào ở các bờ rãnh hàng bát giun mang rửa và nuốt Những con giun còn sống nguyên,

bò ngoi đầu lúc nhúc, tôi cầm từng vốc bỏ vào miệng cho nó trườn vào cổ họng Những ngày đầu ghê tởm, nôn mửa qua đi Những ngày tiếp theo tôi nuốt thản nhiên” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhưng nuốt bao nhiêu, cơn sốt vẫn hành hạ chỉ còn cách vào thành kiếm ký - ninh uống Do không có giấy tờ nên phải trốn chui trốn lủi, sống lén lút và không thể về được nhà: “Muỗi kêu vo ve, những con chuột kêu thành tiếng chui vào đống rác kiếm ăn Chúng cắn chân mà tôi không muốn cựa, chúng cắn chán lại rúc, lại kêu Tôi vớ những nắm lá chuối ướt nhẹp

bỏ vào mồm nhai cho đỡ buồn miệng Tôi nghĩ chắc thịt tôi đã hết máu nên lũ chuột chả thèm ăn, và chắc chúng nó nhiều máu hơn tôi là khác, nghĩ thế tôi há lớn miệng tự nhủ: để chú nào vô phúc rúc vào mình sẽ ngậm miệng lại mà nhai

Trang 37

một miếng cho khoái bao tử”, “Tôi đến những đống rác ấy bới móc nhặt những

miếng vỏ bánh mì đen thui ấn vào mồm mà nhai mà nuốt Tôi bới hết đống này đến đống khác Tôi vét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu thối, từng chút đầu hay đuôi cá tanh lợm còn sót lại trong những chiếc ống bơ Tôi nhặt cả từng miếng bánh mặn nhỏ ấn vào hai túi áo Đi bới hết những đống rác, tôi ngồi nhai những mẩu bánh, khi cổ khô vì khát tôi tìm một cái máy nước áp mặt vào nốc”

(Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhờ người quen nên nhân vật xưng “tôi” xin được

việc làm: “Tôi không biết thổi nên nhận một chân đốt lò, khuân thủy tinh, quét dọn Buổi tối giải chiếu ngay nơi cửa lò - chỗ làm việc của bọn thợ ban ngày, mà

ngủ cho ấm” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Những cơn sốt dần lui thì lại hóa ra nghễnh ngãng, ù tai và bị đuổi việc Sau đó đi móc rác, bới những đống hôi thối

để nhặt chai, kính Đến một khuya thì bị lính bắt và mang về đồn tra khảo, trả lời lung tung nên bị đánh đập, Một không khí đến nghẹt thở, sợ hãi, con người bị đối xử không khác gì con vật Đến lúc chết cũng không biết mình là ai, từ đâu tới, cũng đành một kiếp người Ưu thế trong việc sáng tạo người kể chuyện ngoại hiện ở truyện ngắn Cũng đành thể hiện ở chỗ, Dương Nghiễm Mậu đã cho nhân vật của mình bộc lộ được nhân sinh quan, thế giới quan đậm ý vị triết học Cũng

đành là truyện ngắn hiện sinh, truyện ngắn có tính chất luận đề, nhân vật kể

chuyện xưng tôi đào sâu, tự vấn nhiều vấn đề bản thể, nó là tiểu biểu cho sự ngộ nhận, tình trạng phi lý và thái độ “chấp nhận, cũng đành” trước thực tại

Ngôi thứ nhất là người nói dùng để chỉ về mình, tôi/chúng tôi vừa là chủ thể của hành động vừa là chủ thể của lời nói Khác với người kể chuyện toàn tri đứng đằng sau nhân vật, trước mắt độc giả không thấy người nói, chỉ thấy câu chuyện được kể.Ở các truyện sử dụng người kể ngoại hiện thì nhân vật tôi/xưng

“chúng tôi” xuất hiện trực tiếp Trong truyện Lấy máu, nhân vật xưng tôi có số

phận bất hạnh, mồ côi mẹ, tự kể cuộc đời của mình, kể về những cảm nhận suy nghĩ của mình, những băn khoăn, đau đớn dằn vặt: “Tại sao mẹ bỏ con, con sẽ sống với ai? Làm sao con về được nhà” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Trong lúc

bốc trộm cơm thiu ở chiếc thùng người ta gánh về cho lợn thì nhân vật tôi bị người gánh đuổi và không cho ăn Một người đằng sau lên tiếng nói: “Mày có muốn được tao nuôi không?” - “Thưa ông con đang chết đói” (Dương Nghiễm

Trang 38

Mậu, 2007) Đó chính là cuộc gặp gỡ giữa Năm Sàigòn và nhân vật tôi Hắn sống trong một căn nhà đổ trong xó bếp chưa đổ hẳn Năm Sàigòn dạy cho nó đủ nghể

để kiếm sống từ: bán thuốc, nhăn nhở pha trò nhào lộn để gây sự chú ý của mọi người nhưng tiền kiếm không được là bao Sau đó hắn lại dạy cho đứa trẻ trò

“nực cười”: “Thưa bà con cô bác, một dịp may hiếm có, một trò lạ chỉ có một lần không hai, xin ghé lại, chúng tôi không bán thuốc, không xin tiền mà muốn được trao ông bà cô bác một kỷ niệm, đó là gói “nực cười” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Nhưng rồi trò đó cũng không ăn thua gì mà còn bị người ta đuổi đánh Hắn lại nghĩ một trò khác trò “đấm kẹo” Sau bữa đó những đồng tiền kiếm được cũng không được bao nhiêu Cuối cùng hắn dạy thằng bé nghề bán thuốc cao Giang Đông gia truyền.Để minh chứng cho điều đó, hắn rạch tay thằng bé sau đó lấy miếng dán dán lại chỗ vết thương Bao lời bàn tán xì xào xung quanh liệu có ích gì cho thằng bé: “Máu tôi nhỏ ra vì miếng cơm Nhưng còn những giọt máu của mẹ tôi do viên đạn bắn vào mạng mỡ đó - để đổi lấy cái gì - chẳng lẽ để đổi lấy cái chết do chính mẹ tôi gánh chịu - và cho tôi như thế này” (Dương Nghiễm Mậu, 2007)… Rõ ràng, hình thức người kể chuyện ngoại hiện có một hiệu quả thẩm mỹ riêng: nhân vật cũng là người kể chuyện, vừa kể câu chuyện như một sự

trải nghiệm, từng trải, vừa như một sự “thú nhận”, chia sẻ, khơi gợi sự cảm thông đồng cảm

Trong truyện Cơn say mù đục nhân vật tôi kể về cảm giác, cảm nhận của mình sau những tháng ngày bạo bệnh nay sức khỏe giảm sút: “Đưa tay sờ lên mặt tôi biết tôi gầy đi nhiều, sự cường tráng không còn nữa, đôi mắt trũng sâu, má hóp lại, trán nhăn nheo Tay mình cầm lấy tay mình khô héo, chiếc nhẫn lỏng trong ngón tay như quắt lại Tôi vuốt tay và nhổ một vài sợi tóc, tôi nhìn thấy vài sợi tóc, những sợi tóc như xỉn đi khô khan Tôi nhận ra rằng tôi cũng không còn

sống được bao lâu nữa, có lẽ tôi cũng không bao giờ đứng dậy bước đi Tôi đã chết trong một cơ thể còn sống, như đốm lửa leo lét xanh xao trong ngọn đèn đã cạn dầu, cho tới lúc dầu khô, cơn gió nhẹ thoảng qua, ngọn lửa phụt tắt” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Thời gian lấy đi sức khỏe, sự dẻo dai của con người Nằm trên giường bệnh hồi tưởng lại những ngày tháng cũ: “Tôi nhớ lại thời còn cắp sách, lúc tung mình vào cơn phẫn nộ trôi nổi không ngừng nghỉ, những ngày vui

Trang 39

say đắm mệt mề Khuôn mặt người cha, dáng dấp người mẹ, hình ảnh Đặng gò lưng chở tôi trên chiếc xe đạp cũ cao trong thị trấn nhỏ bé, nét mặt hiền dịu của Thanh, những lá bài đen đỏ bày trên mặt chiếu và tiếng kèn kéo níu trên sàn

nhảy Đã qua hết không bao giờ trở lại, phải rồi, sẽ nằm đây rồi chết, một giấc ngủ êm đềm sẽ đến và triền miên không bao giờ thức dậy ra khỏi Rồi ai cũng chết” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Quá khứ ùa về trong ký ức: “Trở về tôi sống

ba tháng trong gia đình không nghe thấy tiếng ai nói với nhau Mỗi người nằm một góc, ngồi một góc, tôi chỉ nghe thấy tiếng cha tôi hút thuốc lào, tiếng thở dài của người chị dâu Tôi muốn phát điên lên trong không khí đó Tôi không sao

chịu được Làm sao anh hiểu được làm sao để sống trong một cái nhà mồ Tôi thu xếp và đi khỏi Tôi tranh đấu cho lý tưởng cao đẹp, nào vì dân tộc, vì tổ quốc nhưng đó chỉ là một cách nói, tất cả chúng ta trước nhất vì chúng ta, vì anh

em gia đình ta sau đó mới tới những điều khác Tôi không còn lý do nữa người

ta có thể kết án tôi tội đào ngũ, nhưng với tôi mọi kết án đều vô nghĩa, mọi người không ở trong hoàn cảnh của tôi Và từ đó, máu tôi lạnh dần nhưng chắc tôi chết Trong câu nói chợt tôi nhận ra một ẩn dấu tha thiết, niềm ẩn dấu của một con người không được có đời sống như mơ tưởng” (Dương Nghiễm Mậu, 2007)

Bằng hình thức này, Dương Nghiễm Mậu đã để cho nhân vật của mình lục tung mọi kí ức, “tôi” kể về cuộc đời của chính mình đầy ắp cảm xúc, ở đây không chỉ

có sự kiện, tình tiết mà câu chuyện trở thành tâm tình Tôi chính là chủ thể cảm

nhận, quan sát, nó không chỉ có nhiệm vụ kể chuyện, dẫn chuyện mà còn là người chiêm nghiệm cuộc sống, tự phân tích tâm lý, đánh giá về hành động của mình

2.1.3.Người kể chuyện đồng sự

Người kể chuyện đồng sự là người kể chuyện mình như là một nhân vật

của chuyện, có tham gia hay trực tiếp chứng kiến sự việc

Truyện Mẹ và con kể về sự hụt hẫng của người con trai khi mẹ sắp đi lấy chồng, nhân vật xưng “tôi” bỏ đi ba ngày sau đó quay trở về nhà và không còn

cảm giác thân thuộc như xưa nữa, một sự đau nhói: “Hôm tôi bỏ đi chính là hôm

mà khuôn mặt mẹ tôi muốn xa lạ với sự quen thuộc của ngày tháng cũ Tôi không ngờ là mẹ tôi sẽ cắt bỏ cuộn tóc dài búi về đằng sau để đến hiệu uốn cho

Trang 40

hợp thời trang, nhưng từ sự nhỏ ấy tôi biết: “Mẹ tôi sắp chính thức kết hôn với ông Phúc” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sau 16 năm từ khi người bố qua đời đến nay đã có sự thay đổi và cảm giác của người con là đánh mất đi một cái gì đó:

“Mẹ vẫn nghĩ rằng thế nào con cũng về, con không chịu được sự thay đổi của mẹ

- có lẽ rằng mẹ biết chắc như thế, nhưng mẹ không muốn biết ý kiến của con Tất

cả những điều mẹ đã làm và sắp làm dù mẹ không nói con cũng hiểu ra làm sao Nhưng mẹ không biết làm sao Mẹ không còn đủ sức chỉ để sống với con - bây giờ con đã lớn, rồi mai kia con sẽ tạo một đời sống khác Mẹ sẽ lấy ông Phúc

Mẹ cũng hiểu rằng con không muốn nhìn thấy mặt ông ta Ông ta cũng chỉ có

một mình và mẹ cũng chỉ có một mình Nhưng dù lấy ông Phúc mẹ cũng vẫn nghĩ có đời sống của con ở giữa mẹ ” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Đó là những trải lòng chia sẻ của người mẹ với đứa con trai của mình, muốn đứa con hiểu cho sự lựa chọn đó, ai cũng có nhu cầu mong được hạnh phúc: “Thưa mẹ, lúc nào con cũng thương mẹ, con không bao giờ trái ý mẹ, mẹ bảo sao con làm thế - nhưng xin mẹ đừng nói thêm nữa, như 16 năm nay bố không nói một điều nào với con Con yêu mẹ như bố con - nhất là bây giờ ” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Sau đó là cuộc nói của nhân vật tôi với ông Phúc khi xuống phố: “Chúng tôi xuống phố, ông Phúc bỏ tiền mua cho tôi bốn cuốn sách - ông mua khăn tay, khung ảnh, cái gạt tàn thuốc Mẹ tôi mua vải Chúng tôi vào tiệm kem Ở đấy tôi gặp một người bạn cũ, hắn hỏi tôi đi với ai - tôi bảo tôi đi với bác tôi - một người bác họ xa - và tôi chảy nước mắt” (Dương Nghiễm Mậu, 2007) Ông Phúc chính thức trở thành dượng, nhưng khi nghĩ tới người bố quá cố thì nhân vật tôi cảm thấy không vui, tất cả mọi người như đang đánh lừa nhau: “Chúng tôi tới một quán ăn lúc đó đã vắng khách Tôi nói là muốn ăn bất cứ cái gì ông Phúc muốn

Mẹ tôi cũng cùng ý ấy Tôi nghĩ rằng chính lúc này mới là lúc đám cưới của mẹ tôi bắt đầu Tôi xin uống rượu Ông Phúc tán đồng, nhưng giữa lúc ăn tôi có cảm tưởng mọi người đang đánh lừa nhau, khi tôi không nói thì ai cũng nín lặng, và nỗi nín lặng ấy đau nhói, bao la khôn cùng, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa được dự

một đám cưới nào”, “Tôi còn đủ sức về đến nhà, và yên tâm không thấy ai Tôi ngồi ở bậc cửa, bóng đêm đè nặng sự im lìm Tôi như một vật vô tri vô giác và tôi có cảm tưởng như ở chung quanh loài thảo mộc, đang bắt rễ từ thân thể tôi -

Ngày đăng: 03/11/2022, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Vũ Hạnh (1970), Nghĩ về m ộ t s ố hi ện tượ ng trong sinh ho ạt văn nghệ hi ệ n nay, T ạ p chí Bách Khoa s ố 319 và 320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về một số hiện tượng trong sinh hoạt văn nghệ hiện nay
Tác giả: Vũ Hạnh
Nhà XB: Tập chí Bách Khoa
Năm: 1970
16. Vũ Hạnh (1972), Vài nét v ề sinh ho ạt văn họ c, ngh ệ thu ậ t t ạ i mi ề n Nam trong m ột năm qua , T ạ p chí Bách Khoa s ố 361 và 362 ngày 15 tháng 1 năm 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về sinh hoạt văn học nghệ thuật tại miền Nam trong một năm qua
Tác giả: Vũ Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Bách Khoa
Năm: 1972
19. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn họ c Vi ệ t Nam t ừ th ế k ỉ X đế n th ế k ỉ XX, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Nguy ễn Văn Kha (2012), Nh ữ ng y ế u t ố cách tân trong văn họ c qu ố c ng ữ Nam B ộ cu ố i th ế k ỉ XIX đầ u th ế k ỉ XX, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM số 35 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố cách tân trong văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Văn Kha
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM
Năm: 2012
21. Chu Khắc (1983), L ố i s ố ng th ự c dân m ớ i c ủ a M ỹ ở mi ền Nam trướ c 1975, Viện xã hội học số 2 năm 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời sống thực dân mới của Mỹ ở miền Nam trước 1975
Tác giả: Chu Khắc
Nhà XB: Viện xã hội học
Năm: 1983
22. Mã Giang Lân (2004), Văn họ c Vi ệ t Nam 1945 – 1954, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1945 – 1954
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
23. Nguyễn Văn Long (2016), Văn họ c Vi ệ t Nam t ừ sau cách m ạ ng tháng tám 1945, Nhà xu ấ t b ản Đạ i h ọc Sư phạ m Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2016
24. Iu.M.Lotman (2007), (Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch), C ấu trúc văn bả n ngh ệ thu ậ t, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: Iu.M.Lotman
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
26. Võ Phi ế n (1972), Nhìn l ại 15 năm văn nghệ mi ề n Nam, T ạ p chí Bách Khoa số 361 và 362 ngày 15 tháng 1 năm 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại 15 năm văn nghệ miền Nam
Tác giả: Võ Phiến
Nhà XB: Tạp chí Bách Khoa
Năm: 1972
27. Võ Phi ế n (2014), Văn họ c mi ề n Nam t ổ ng quan, Nhà xu ấ t b ản Ngườ i Vi ệ t books Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học miền Nam tổng quan
Tác giả: Võ Phiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Người Việt
Năm: 2014
28. Nguyễn Thụy Phương (2015), Tìm hi ể u v ề s ự ti ế p t ụ c hi ệ n di ệ n c ủ a giáo d ụ c Pháp t ạ i mi ề n Nam Vi ệ t Nam t ừ 1955 – 1975, T ạ p chí Khoa h ọc ĐHQGHN số 3 ngày 25 tháng 9 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về sự tiếp tục diễn tiến của giáo dục Pháp tại miền Nam Việt Nam từ 1955 – 1975
Tác giả: Nguyễn Thụy Phương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Năm: 2015
29. Huỳnh Như Phương (2008), Ch ủ nghĩa hiệ n sinh ở mi ề n Nam Vi ệ t Nam 1954 – 1975 (trên bình di ệ n lí thuy ế t), T ạ p chí Nghiên c ứu Văn họ c s ố 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954–1975 (trên bình diện lí thuyết)
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Năm: 2008
30. Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), T ự s ự h ọ c m ộ t s ố v ấn đề lí lu ậ n và l ị ch s ử (Ph ầ n 1), Nhà xu ấ t b ản Đạ i h ọc Sư phạ m, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2004
31. Trần Đình Sử (chủ biên) (2008), T ự s ự h ọ c m ộ t s ố v ấn đề lí lu ậ n và l ị ch s ử (Phần 2), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2008
32. Tr ần Đình Sử (ch ủ biên) (2008), Lí lu ận văn họ c tác ph ẩ m và th ể lo ại văn h ọ c (Tập 2), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học: tác phẩm và thể loại văn học (Tập 2)
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội
Năm: 2008
33. Trần Đình Sử (chủ biên) (2018), T ự s ự h ọ c lí thuy ế t và ứ ng d ụ ng, Nhà xuất b ả n Giáo d ụ c Vi ệ t Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2018
34. Trần Đình Sử(2016), Trên đườ ng biên c ủ a lí lu ận văn họ c, Nhà xuất bản Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường biên của lý luận văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Phụ nữ
Năm: 2016
35. Trần Đình Sử (2017), D ẫ n lu ậ n thi pháp h ọc văn họ c, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2017
36. Trần Hữu Tá – Nguyễn Thành Thi – Đoàn Lê Giang (chủ biên) (2013), Nhìn l ạ i t hơ mới và văn xuôi Tự l ực văn đoàn , Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn
Tác giả: Trần Hữu Tá, Nguyễn Thành Thi, Đoàn Lê Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2013
37. Đặng Tiến (1963), V ị trí con người dướ i m ắt Dương Nghiễ m M ậ u, Tạp chí Bách Khoa s ố 154 ngày 1.6.1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mẫu
Tác giả: Đặng Tiến
Nhà XB: Tạp chí Bách Khoa
Năm: 1963

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm