1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SSI

81 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SSI
Thể loại KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Năm xuất bản 2022
Thành phố HÀ NỘI
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SSI HÀ NỘI 2022 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 2 MỤC LỤC 3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6 DANH MỤC SƠ ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU 6.

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Kết cấu của khóa luận 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC

1.1 CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY

1.1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán 91.1.2 Cạnh tranh của công ty chứng khoán 121.1.3 Nguồn lực cạnh tranh của công ty chứng khoán 131.1.4 Chiến lược và công cụ cạnh tranh của công ty chứng khoán 151.1.4.1 Chiến lược cạnh tranh của công ty chứng khoán 151.1.4.2 Công cụ cạnh tranh của công ty chứng khoán 181.2 ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY

1.2.2 Sự cần thiết phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

Trang 3

1.2.3 Nguồn vốn đầu tư nâng cao NLCT của CTCK (chưa biết) 241.2.4 Nội dung đầu tư nâng cao NLCT của CTCK (chưa biết) 241.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư nâng cao NLCT của CTCK

241.2.5.1 Các chỉ tiêu định tính 241.2.5.2 Các chỉ tiêu định lượng 261.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 271.3.1 Các nhân tố khách quan 271.3.2 Các nhân tố chủ quan 311.4 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ CÔNG TY VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TY CHỨNG KHOÁN SSI (Chưa làm) 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CTCP CHỨNG KHOÁN SSI 322.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của CTCPCK SSI 322.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức và chức năng các phòng ban của CTCPCK

2.1.3 Lĩnh vực hoạt động của CTCPCK SSI 352.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCPCK SSI 372.1.4.1 Kết quả kinh doanh 2021 372.4.1.3 Nguồn vốn và kinh doanh tài chính 422.1.4.4 Dịch vụ ngân hàng đầu tư 442.1.4.5 Quản lý quỹ 462.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNGKHOÁN SSI (Chưa làm) 472.2.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nâng cao NLCT của CTCPCK SSI 472.2.2 Chiến lược và công cụ cạnh tranh của CTCPCK SSI 472.2.3 Quy mô và nguồn vốn đầu tư nâng cao NLCT của CTCPCK SSI 472.2.4 Nội dung đầu tư nâng cao NLCT của CTCPCK SSI 472.3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SSI 47

Trang 4

2.3.1 Kết quả đạt được trong hoạt động đầu tư nâng cao NLCT của

2.3.1.1 Năng lực về vốn 472.3.1.2 Thị phần môi giới 492.3.1.3 Mức độ tăng doanh thu 502.3.1.4 Về khả năng sinh lời và cơ cấu tài chính 512.3.1.5 Chất lượng nguồn nhân lực 522.3.1.6 Quy mô mạng lưới, chi nhánh 552.3.1.7 Trình độ công nghệ 562.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 582.3.1.1 Những mặt hạn chế 582.3.1.2 Nguyên nhân (Chưa làm) 59

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH

3.1 ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SSI TRONG THỜI GIAN

3.1.1 Chiến lược phát triển của CTCPCK SSI trong thời gian đến 2025 593.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰCCẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÔNG TY CP CHỨNG KHOÁN SSI 683.2.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ở Công ty CP chứng khoán

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng mớichỉ được thành lập tại Việt Nam hơn một thập kỷ Trước năm 2000, thuật ngữTTCK còn khá xa lạ Từ cuối tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam đi vào hoạtđộng nhưng chưa có dấu hiệu của sự sôi nội, đối tượng tham gia chủ yếu là cáccông ty chứng khoán (CTCK) và một số ít nhà đầu tư cá nhân Đến cuối năm

2006, TTCK Việt Nam mới thực sự bùng nổ Có được kết quả này là do địnhhướng phát triển và hội nhập kinh tế đúng đắn của Đảng và Chính phủ, do môitrường đầu tư tại Việt Nam ngày càng thuận lợi hơn

Trước cơ hội TTCK Việt Nam phát triển chưa từng thấy, các đối tượng tham giathị trường đã tận dụng nhiều nguồn lực để đầu tư kiếm lời TTCK Việt Nam đãđược ví như “cỗ máy hái ra tiền” hiệu quả thứ hai trên thế giới, chỉ sau TTCKZimbabwe, đó là lý do khiến giới đầu tư không thể đứng ngoài cuộc Cũng xuấtphát từ lợi ích không nhỏ đó, cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể thị trường đượcđẩy lên cao hơn bao giờ hết Năm 2007 — 2008 đánh dấu sự bùng nổ về sốlượng các công ty chứng khoán, với con số trên 100 công ty được cấp giấy phépthành lập cho đến thời điểm nảy Trên phương diện nhà đầu tư, các tổ chức, cánhân trong nước và nước ngoài liên tục mở tài khoản giao dịch tại các CTCK, sốlượng tài khoản và lượng tiên đồ vào thị trường tăng vọt theo từng ngày, cácCTCK phục vụ hết công suất nhưng đôi lúc cũng không đáp ứng được hết nhucầu của khách hàng Một số CTCK lớn đã phải hạn chế lượng khách hàng đếngiao dịch Trên phương diện trung gian thị trường, các CTCK cũng cạnh tranhnhau gay gắt để giành lấy thị phần Đổi mới công nghệ, miễn và giảm phí môi

Trang 6

giới, dịch vụ khách hàng tốt, tặng tiền khi khách hàng mở tài khoản giao dịch,

là những chính sách thu hút khách hàng khá hiệu quả của một số CTCK mới gianhập thị trường

Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội năm 2011 - 2012 gặp những bất ổn do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Thị trường chứng khoán mấtđiểm liên tục, nhà đầu tư mất niềm tin, dòng tiền rút khỏi thị trường, các công tychứng khoán liên tục làm ăn thua lỗ Điều này buộc các công ty chứng khoánphải đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng của công ty về mọimặt Đến đầu năm 2013, thị trường đang dần được phục hồi, việc các công tychứng khoán tăng cường đề giành lấy thị phần của mình là điều dễ hiểu Tronghoàn cảnh đó, cạnh tranh đang dần trở thành một khái niệm không xa lạ đối vớicác doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung cũng như các công ty chứng khoánnói riêng Riêng với các công ty chứng khoán, hoạt động đầu tư nâng cao nănglực cạnh tranh là điều tất yếu, nó không những giúp nâng cao vị thế của công tytrên thị trường mà còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứngkhoán Việt Nam Từ những ngày đầu, trung thành với sứ mệnh “Kết nối vốn và

cơ hội đầu tư”, SSI nỗ lực huy động vốn qua TTCK, góp phần hình thành mộtkênh dẫn vốn, kích thích tạo vốn và phân phối vốn dài hạn theo cơ chế thị trườngcho nền kinh tế; khơi dậy và huy động nguồn lực to lớn cho Đất nước, thúc đẩykinh tế phát triển Công ty luôn đặt ra và giữ vững mục tiêu là định chế tài chínhhàng đầu tại thị trường Việt Nam, dần vươn ra thị trường quốc tế; với nguyên tắctôn trọng khách hàng, lấy sự thành công của khách hàng làm tôn chỉ kinh doanh

để không chỉ hoạt động hiệu quả, có lãi, mà còn bảo vệ được nhà đầu tư khôngthất thoát tài sản.Với mục tiêu như trên, Công ty

cũng cần thúc đẩy quá trình cạnh tranh ở mọi mặt Với mong muốn đóng gópmột số ý kiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty em đã chọn đề tài:

“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCPCK SSI”

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vào một số vấn đề cơ bản như sau:

Thứ nhất, hệ thống những vấn đề có tính lý luận về hoạt động của CTCK, cạnh

tranh và năng lực cạnh tranh, những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranhcủa CTCK, chiến lược hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranhchủ yếu của CTCK

Thứ hai, khái quát quá trình hình thành và phát triển của CTCPCK SSI Phân

tích và đánh giá thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCPCKSSI

Thứ ba, khái quát chiến lược phát triển của CTCPCK SSI đến năm 2025, từ đó

đưa ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranhcủa CTCPCK SSI

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: CTCPCK SSI, thực trạng hoạt động đầu tư nâng cao nănglực cạnh tranh và giải pháp cho hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranhcủa CTCPCK SSI

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh và kết quả đạt được của Công tyTNHH Chứng khoán ACB trong năm 2020 - 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích - so sánh, tổng hợp

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục bảng biểu,Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư nâng cao NLCT của CTCK

Chương 2: Thực trạng đầu tư năng lực cạnh tranh của CTCPCK SSI

Trang 8

Chương 3: Giải pháp đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCPCK SSI

Do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và thực tế và cách diễn đạt ý, nên luậnvăn này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo,góp ý của các thầy cô giáo để luận văn của em ngày càng hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn TS Đào Văn Thanh, Ban lãnh đạo công ty, các anhchị trong phòng Môi giới chứng khoán của CTCPCK SSI đã tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn này

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰCCẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TYCHỨNG KHOÁN

1.1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứngkhoán thông qua việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ chứng khoán với mục đíchtìm kiếm lợi nhuận

Ở Việt Nam, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phầnhoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp và đượcUBCKNN cấp Giấy phép thành lập và hoạt động Tùy theo vốn điều lệ và đăng

ký kinh doanh mà một công ty có thể thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp

vụ kinh doanh như: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh pháthành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán

Hiện nay trên thế giới tồn tại ba mô hình tổ chức của công ty chứng khoán:

Công ty chứng khoán chuyên doanh: là loại hình công ty chứng khoán chỉ được

thực một hoặc một số hoạt động nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nhất định

mà không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán Theo

mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và

Trang 9

chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng khôngđược tham gia kinh doanh chứng khoán

Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạođiều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnhvực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển Mô hình này được áp dụngkhá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc,Thái Lan…

Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngàynay một số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ,chứng khoán, bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành các công ty mẹ, công ty con

và có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau

Công ty kinh doanh chứng khoán đa năng: hoàn toàn là loại hình tổ chức dưới

hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứngkhoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính Theo đó, các ngân hàngthương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm

và kinh doanh tiền tệ Mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức sau:

- Loại đa năng một phần:theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanhchứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toánđộc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ Mô hìnhnày còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Anh

- Loại đa năng hoàn toàn:các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanhchứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như cácdịch vụ tài chính khác Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân hàngkiểu Đức

Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinhdoanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoáđầu tư Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của

Trang 10

ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính Mặt khác, các ngânhàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn,

cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về khách hàng cũng như các doanh nghiệpkhi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án

Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chức tín dụng

là vừa là tổ chức kinh doanh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyên mônkhông sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh Điều này sẽ làm cho thịtrường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảothủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của thị trườngchứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán,quản lý danh mục đầu tư

Đồng thời, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanhchứng khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh, các ngânhàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đó các biến động trên thịtrường chứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dâychuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính Bên cạnh đó, do không có

sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các ngân hàng có thể sử dụng tiềngửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng khoán, và khi thị trường chứng khoánbiến động theo chiều hướng xấu sẽ tác động tới công chúng thông qua việc ồ ạtrút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả Do những hạn chế như vậy,nên sau khi khủng hoảng thị trường tài chính 1929 - 1933, các nước đã chuyểnsang mô hình chuyên doanh, chỉ có một số thị trường (như Đức) vẫn còn áp dụng

mô hình này

Công ty chứng khoán đa nghiệp vụ: là loại hình công ty chứng khoán được thực

hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thuộc về công ty chứng khoánkhác nhau Nhưng để hạn chế xung đột lợi ích giữa các hoạt động nghiệp vụ mà

Trang 11

công ty chứng khoán thực hiện thì pháp luật quy định rõ phải tách biệt các hoạtđộng nghiệp vụ kinh doanh có khả năng dẫn đến xung đột lợi ích.

Các ngân hàng, các công ty bảo hiểm muốn kinh doanh chứng khoán phải thànhlập công ty chứng khoán trực thuộc có tư cách pháp nhân để tiến hành kinhdoanh chứng khoán Loại hình công ty chứng khoán này có ở các nước thuộcchâu Âu lục địa

1.1.2 Cạnh tranh của công ty chứng khoán

Thuật ngữ “'cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến, rộng rãi trên toàn cầu trongnhiều lĩnh vực như: kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự mỗi lĩnh vựclại đưa tới một khái niệm về cạnh tranh theo các góc độ khác nhau cho nên tớihiện nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả để đưa ra một khái niệmchính xác nhất về cạnh tranh Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quátthì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay cácnhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợinhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác

Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa nhữngchủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợitrong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa đề từ đó thu được nhiều lợi íchnhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với ngườitiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữanhững người tiêu dùng với nhau để mua được hàng hóa rẻ hơn; giữa nhữngngười sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

Có quan điểm cho rằng: Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phầnthắng về mình trong môi trường cạnh tranh Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếmlợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mực lợi nhuận trung bình mà doanhnghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trongngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Trang 12

Cạnh tranh không phải là “chiến tranh” và cũng không phải là “hòa bình” Cạnhtranh không còn là những động thái của tình huống, không phải chỉ là nhữnghành động mang tính thời điểm mà là cả tiến trình tiếp diễn không ngừng khi đócác doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ khách hàng tốt nhất thì điều đó

có nghĩa là không có giá trị gia tăng nào có thể giữ nguyên và tồn tại vĩnh viễn

mà có sự biến đổi mới lạ

Như vậy, “cạnh tranh của công ty chứng khoán là sự ganh đua về kinh tế

giữa những doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán trong việc giành lấy thị phần nhằm mục đích cuối cùng là gia tăng lợi nhuận Cạnh tranh là một quá trình diễn ra liên tục nhằm mang đến một chất lượng phục vụ tốt nhất cho khách hàng và nâng cao thương hiệu của đơn vị ”

1.1.3 Nguồn lực cạnh tranh của công ty chứng khoán

Ngành kinh doanh chứng khoán có những tính chất đặc thù riêng biệt, nó tuânthủ theo những tính đặc thù của ngành kinh doanh tài chính Những ngành kinhdoanh chứng khoán có những nét đặc thù rất riêng, đó là của các tổ chức kinhdoanh chứng khoán Do vậy ngoài các thực lực chung mà mỗi doanh nghiệp cần

có thì nguồn lực cạnh tranh của công ty chứng khoán mang những nét đặc thùriêng biệt thể hiện qua một số những nguồn lực sau:

- Tiềm lực tài chính vững mạnh thể hiện thực lực và cũng là lợi thế cạnhtranh quan trọng đối với CTCK nói riêng và tổ chức kinh doanh trong lĩnhvực tài chính nói chung Với tiềm lực tài chính mạnh CTCK sẽ có khảnăng đầu tư mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của mình

để thu hút khách hàng

- Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm và trình độ chuyênmôn cao trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán là nhân tố mang tính chấtquyết định tới năng lực cạnh tranh của CTCK Là đối tượng trực tiếp tiếpxúc với khách hàng, thái độ phục vụ và trình độ của nhân viên sẽ là nhân

Trang 13

tố tạo ra chất lượng cho dịch vụ tài chính, dịch vụ của CTCK Do vậy tàisản quý giá nhất của CTCK chính là đội ngũ cán bộ nhân viên chuyênnghiệp, có năng lực và đạo đức kinh doanh.

- Năng lực quản trị cao cấp, có tầm nhìn chiến lược của đội ngũ lãnh đạocũng là một yếu tố quyết định tạo nên năng lực cạnh tranh của công ty.Đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực sẽ hướng công ty đi theo nhữnghướng phù hợp với sự phát triển của thị trường Do vậy, đội ngũ lãnh đạophải là người thực sự có tầm nhìn và năng lực quản lý để đưa ra nhữngquyết định sáng suốt, kịp thời trên thị trường đầy sóng gió như thị trườngchứng khoán

- Trình độ công nghệ cao cũng là một nhân tố tạo ra năng lực cạnh tranh củaCTCK Khi nền kinh tế thế giới đang phát triển như vũ bão Quá trình toàncầu hóa đang kéo thế giới xích lại gần nhau thông qua sự phát triển đi đầu

là lĩnh vực công nghệ thông tin Đầu tư vào công nghệ thông tin cao sẽgiúp các CTCK nâng cao những giá trị hữu ích về chất lượng dịch vụ chokhách hàng so với các đối thủ cạnh tranh

Như vậy, các CTCK phải nhanh chóng tìm hiểu về khung pháp lý, chuẩn mực vàcác quy trình nghiệp vụ nâng cao tiềm lực tài chính, đầu tư nguồn nhân lực cóchất lượng cao để hội nhập nhanh chóng cùng sự phát triển của TTCK trong khuvực và trên thế giới

Năng lực cạnh tranh giúp cho các doanh nghiệp tiếp tục đứng vững trên thịtrường và phát triển hơn nữa vị thế của mình Nhưng không phải doanh nghiệpnào cũng biết tận dụng lợi thế và thực lực của mình để tạo thành năng lực cạnhtranh trong ngành Hiện nay, lĩnh vực chứng khoán đang ở trạng thái cạnh tranhkhốc liệt, muốn tiếp tục tồn tại thì họ phải xác định mình đang ở vị trí nào và còncần phải tiếp tục hoàn thiện thêm những yếu tố gì

Trang 14

1.1.4 Chiến lược và công cụ cạnh tranh của công ty chứng khoán

1.1.4.1 Chiến lược cạnh tranh của công ty chứng khoán

Xây dựng chiến lược kinh doanh và triển khai chiến lược cạnh tranh cho doanhnghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà nhà đội ngũ lãnh đạo của tổchức cần tập trung Việc xác định những yếu tố tác động trực tiếp đến chiến lượccạnh tranh của doanh nghiệp và hành động cần làm để nâng cao cơ hội cạnhtranh của doanh nghiệp là những việc rất quan trọng đối với sự phát triển củacông ty chứng khoán Đặc biệt là trong thời điểm thị trường chứng khoán ViệtNam đang tiến tới việc nâng hạng thị trường, sẽ có rất nhiều biến động vậy nêncông ty cần có một chiến lược phát triển đúng đắn

“Chiến lược cạnh tranh là hệ thống các kế hoạch triển khai ngắn hạn và dài hạn mà tổ chức vạch ra với mong muốn đạt được mục tiêu là gia tăng lợi thế cạnh tranh của mình so với các đối thủ khác, đồng thời chủ động đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu, mọi cơ hội và thách thức trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh và thực hiện so sánh với chính mình trong cách thức triển khai trước kia.”

Mục đích của việc lên chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp là nhằm tạo dựngmột vị trí của doanh nghiệp trong ngành, lĩnh vực của họ và tạo ra sự vượt trộiđối với lợi tức đầu tư (ROI) Hiện nay, chiến lược cạnh tranh có vai trò vô cùngquan trọng, đặc biệt là khi ngành kinh doanh chứng khoán đang ngày càng pháttriển, thay đổi với tốc độ nhanh, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao đối vớinhững sản phẩm, dịch vụ đang được các doanh nghiệp cung cấp gần như giốngnhau

Việc đề ra chiến lược cạnh tranh phù hợp nhất phụ thuộc nhiều yếu tố, bao gồm:Các mục tiêu chiến lược, nguồn lực, khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp đang

ở giai đoạn nào của chu kỳ sống, các chiến lược marketing của đối thủ cạnh

Trang 15

tranh và đặc điểm của nền kinh tế, quy mô và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệptrên thị trường

Xét theo vị thế cạnh tranh, ta có thể chia các công ty chứng khoán thành bốnnhóm:

- Các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường: Trong thị trường, có một doanh

nghiệp sẽ được công nhận là đứng đầu Nếu doanh nghiệp này chọn mụctiêu tăng trưởng nhanh và chiến lược tập trung thì kế hoạch marketing cóthể chọn một trong hai mục tiêu tăng trưởng

Thứ nhất, doanh nghiệp đứng đầu thị trường có thể tăng thị phần nhằm đạtmục tiêu tăng trưởng nhanh Chiến lược marketing được sử dụng là mộttrong các chiến lược đã làm tăng quy mô thị trường hoặc điều chỉnh lạimột trong các khâu của công tác marketing Các doanh nghiệp đứng đầuthị trường trong khi chọn mục tiêu tăng trưởng ổn định và chiến lược tậptrung thì cũng phải chọn mục tiêu sao cho có thể bảo vệ được thị phầnhiện có Bảo vệ thị trường không có nghĩa là chọn phương án thụ động màphải liên tục cảnh giác trước sự tấn công của các đối thủ thách thức mạnhhơn

Thứ hai, chiến lược củng cố Đây cũng là phương pháp chủ động nhằmbảo toàn sức mạnh trên thị trường Những điều được chú trọng là giữ mứcgiá hợp lý và đưa ra các sản phẩm với quy mô, hình thức và mẫu mã mới.Thứ ba, chiến lược đối đầu Thường bao gồm việc phản ứng nhanh nhạy

và trực tiếp trước đối thử thách thức Hình thức của chiến lược này có thể

là các cuộc “chiến tranh” khuyến mãi, “chiến tranh” về giá

- Các doanh nghiệp thách thức trên thị trường: Đây có thể là các doanh

nghiệp lớn nhưng không phải là số một trên thị trường, các mục tiêu tăngtrưởng nhanh ở cấp doanh nghiệp và chiến lược tăng trưởng tập trung rất

Trang 16

thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng marketing nhằm giànhthêm thị phần Trước khi xem xét mục tiêu này được thực hiện như thếnào, trong bản kế hoạch marketing, doanh nghiệp phải xác định xem phảigiành thị phần từ tay doanh nghiệp nào

Một trong những phương án là tấn công vào đối thủ đứng đầu thị trườngmột cách trực tiếp hoặc chính điện Cách này có thể mang lại hiệu quảsong đối thủ thách thức phải là doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh mạnh

và bền vững hoặc khi doanh nghiệp đứng đầu thị trường có điểm yếu cóthể lợi dụng Cách thứ hai là thâu tóm thị phần từ các đối thủ cạnh tranhkhác nhỏ và yếu thế hơn Cách thứ ba là tìm cách tránh đối đầu trực tiếp Bất kỳ một sự kết hợp nào được sử dụng nhằm giành thị phần đều cần tậptrung vào năm chiến lược quan trọng:

- Giữ giá ở mức thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh

- Đổi mới (hoặc cải tiến) sản phẩm hoặc kích thích các nhu cầu mới

- Cải thiện dịch vụ, đặc biệt là sự nhanh chóng, minh bạch; có ý thức

về dịch vụ

- Bố trí lực lượng giao dịch tốt hơn và rộng lớn hơn, hoặc xây dựng

hệ thống phân phối tốt hơn

- Tăng cường và cải thiện công tác quảng cáo và khuyến mãi

- Trong quá trình thực hiện chiến lược giành thị phần cần tránh hànhđộng quá chậm, làm chưa đúng mức, làm không trôi chảy, khôngđánh giá hết đối thủ cạnh tranh và không xác định được điểm dừng

- Các doanh nghiệp đi sau: Các doanh nghiệp này thường không thách

thức với các doanh nghiệp dẫn đầu trong thị trường Mặc dù thị phần của

họ thường nhỏ hơn so với các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, nhưngtổng số lợi nhuận của họ có thể ở mức ổn định hơn

Trang 17

Đối với các doanh nghiệp đi sau, mục tiêu marketing thường là bảo vệ thịphần hiện có Các doanh nghiệp này không ngừng phấn đấu giữ các kháchhàng hiện có và tìm kiếm thị phần nhờ các khách hàng mới Chìa khoá đểcác doanh nghiệp đi sau trong thị trường đạt được thành công là phải triểnkhai các khâu mang lại lợi nhuận mà không gây ra sự phản kháng cạnhtranh dữ dội.

- Các doanh nghiệp đang tìm chỗ đứng trên thị trường: Các doanh nghiệp

này cố gắng tìm kiếm và chiếm các vị trí nhỏ trên thị trường mà dườngnhư các doanh nghiệp lớn bỏ qua hoặc không chú ý tới Muốn đạt đượchiệu quả trong việc phục vụ các đối tượng thị trường này, thông thườngphải tạo ra sự khác biệt ở một mặt nào đó dựa trên đặc điểm khách hàng,địa lý, loại sản phẩm, phẩm chất, dịch vụ hoặc chất lượng sản phẩm Các doanh nghiệp thành công trong việc tìm kiếm chỗ đứng trên thịtrường có xu hướng chia cắt thị trường của họ một cách công phu, sử dụngnguồn vốn nghiên cứu một cách hiệu quả, chọn mức tăng trưởng một cách

kỹ càng và có một CEO giỏi, giàu kinh nghiệm quản trị

1.1.4.2 Công cụ cạnh tranh của công ty chứng khoán

Chất lượng của sản phẩm, dịch vụ: Trên thị trường nếu nhiều sản phẩm, dịch

vụ như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua sản phẩm,dịch vụ nào có chất lượng cao hơn Do đó, đây là công cụ đầu tiên và quan trọng

mà các công ty sử dụng để thắng các đối thủ cạnh tranh

Giá cả sản phẩm, dịch vụ: Hai sản phẩm, dịch vụ có cùng công dụng, chất

lượng như nhau thì người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm, dịch vụ nào có giá rẻ hơn.Giá cả sản phẩm được quyết định bởi giá trị hàng hoá Song sự vận động của giá

cả còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người tiêu dùng Mức sống cònthấp, người tiêu dùng tìm mua những hàng hoá có giá rẻ

Trang 18

Áp dụng khoa học - kỹ thuật và quản lý hiện đại: Sức cạnh tranh hàng hoá,

dịch vụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả sản phẩm, dịch vụ cá biệt của họthấp hơn giá cả trung bình trên thị trường Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanhnghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí

và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm làm cho giá trị sản phẩm, dịch

vụ cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội Muốn vậy các doanh nghiệp phảithường xuyên cải tiến công cụ lao động, nhanh chóng ứng dụng những thành tựukhoa học - kỹ thuật và quản lý hiện đại vào quá trình kinh doanh Thực tiễn đãchứng minh các doanh nghiệp trên thế giới tồn tại và phát triển được cần có côngnghệ mới, hiện đại có phương pháp tổ chức quản lý khoa học

Thông tin: Thông tin là một công cụ cạnh tranh lợi hại của Doanh nghiệp.

Thông tin về thị trường mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giả

cả, đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Đủthông tin và xử lý đúng thông tin, một mặt, giúp các doanh nghiệp hạn chế rủi rotrong kinh doanh; mặt khác, qua thông tin có thể tìm ra và tạo ra lợi thế so sánhcủa doanh nghiệp trên thị trường, chuẩn bị và đưa ra đúng thời điểm những sảnphẩm mới thay thế để tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ

Phương thức phục vụ và thanh toán của doanh nghiệp: Phương thức phục vụ

và thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan trọng Ai nắm được công cụ này sẽthắng trong cạnh tranh Bởi vì, công cụ này tạo được sự tiện lợi cho khách hàng.Phương thức phục vụ và thanh toán trước hết được thể hiện ở giai đoạn của quátrình bán hàng: trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bánhàng

Trước khi bán hàng, các Doanh nghiệp thực hiện các động tác như: Quảng cáo,giới thiệu, hướng dẫn thị hiếu khách hàng Những động tác này nhằm hấp dẫn,lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình Trong

Trang 19

quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật chào mời khách hàng.Điều này đòi hỏi người bán hàng phải thật sự tôn trọng khách hàng, lịch sự, âncần và chu đáo, bên cạnh đó cần tư vấn cho khách hàng sử dụng dịch vụ thíchhợp nhất Sau khi bán hàng, phải có những dịch vụ như giải đáp thắc mắc, chămsóc khách hàng Những dịch vụ này tạo sự tin tưởng, uy tín của doanh nghiệpđối với người khách hàng Sau nữa, phương thức phục vụ trên sẽ phát huy tácdụng khi được bảo đảm các yêu cầu sau: Các dịch vụ phải nhanh, chính xác.Phương thức thanh toán phải linh hoạt, đa dạng.

Tính độc đáo của sản phẩm: Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trường đều

mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt " vòng đời " của nó sẽ rút ngắn khixuất hiện sự cạnh tranh Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệpdùng nhiều biện pháp trong đó có biện pháp thường, xuyên cải tiến mọi mặt sảnphẩm , tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trường những sản phẩm mớithay thế sản phẩm cũ Sự thường xuyên có những dịch vụ mới cũng như việckhông ngừng nâng cao chất lượng, sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triểncủa các doanh nghiệp hiện nay

Uy tín: Uy tín là công cụ cạnh tranh của Doanh nghiệp Trong quá trình kinh

doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành giật khách hàng vềphía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toán Những hành vi nào sẽ thực hiện tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng cólòng tin với nhau Do vậy, uy tín trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh

Các yếu tố mới sáng tạo và sự mạo hiểm, rủi ro: Trong kinh doanh, lợi nhuận

doanh nghiệp thường tỉ lệ thuận với sự mạo hiểm, rủi ro Các chủ thể kinh doanh

có khuynh hướng đầu tư kinh doanh ( kể cả đầu tư nghiên cứu khoa học) vàonhững mặt hàng mới, những lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thường cao Đây cũng

là khuynh hướng khách quan, vì nó hy vọng thu được lợi nhuận cao trong tươnglai Mặt khác, nó giảm được áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện tại Sự

Trang 20

mạo hiểm chấp nhận rủi ro nhằm thu được lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trongkinh doanh là công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, nhưng cũng cực kỳ nguy hiểmtrong quá trình cạnh tranh Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi các doanhnghiệp phải có tài năng và bản lĩnh

1.2 ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TYCHỨNG KHOÁN

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh củacông ty chứng khoán

1.2.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh và đầu tư nâng cao năng lực cạnhtranh của công ty chứng khoán

Để cạnh tranh được và thành công trên thị trường, các chủ thể cần có năng lựccạnh tranh Năng lực cạnh tranh là năng lực tồn tại trong kinh doanh và đạt đượcmột số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượngcác

sản phẩm để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trườngmới

Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán là thể hiện thực lực và lợi thế củacông ty so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất và đòi hỏi củakhách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao Như vậy, năng lực cạnh tranh củacông ty chứng khoán trước hết phải được tạo ra từ thực lực của công ty Đây làcác yếu tố nội hàm của mỗi công ty chứng khoán, không chỉ được tính bằng tiêuchí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp một cáchriêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùnglĩnh vực, cùng một thị trường

Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán là khảnăng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho công ty

Trang 21

Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán với thị phần mà

nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất năng lực cạnh tranh của công tychứng khoán với năng suất lao động,

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình là chưa đủ, bởi trongđiều kiện kinh tế toàn cầu hóa, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định.Thực tế chứng minh một số công ty chứng khoán rất nhỏ, không có lợi thế nộitại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giớicạnh tranh khốc liệt nhưng hiện nay

Nói một cách đơn giản và đầy đủ, năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán

là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ranhững sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thuđược lợi nhuận ngày càng cao và cải thiện vị trí so với các đối thủ cạnh tranhtrên thị trường

Như vậy, “đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán là

sử dụng nguồn lực hiện tại (chủ yếu là nguồn lực tài chính) để khai thác tốt

và có hiệu quả thực lực và lợi thế bên trong, cũng như thay nắm bắt nhanh chóng các lợi thế bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải thiện vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.”

1.2.1.2 Đặc điểm đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoánVới những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong lĩnh vực kinhdoanh chứng khoán cũng có những đặc thù nhất định:

Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh của công ty chứng khoán có liên quan trực tiếp

đến nhiều các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Do đó:

- CTCK cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng đểphục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị trí địa lý nào

Trang 22

- CTCK phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với kháchhàng vì bất kỳ một sự khó khăn nào của công ty chứng khoán cũng có thểdẫn đến sự suy sụp của nhiều chủ thể có liên quan.

Thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của công ty chứng khoán là dịch vụ, đặc biệt là

dịch vụ có liên quan đến tiền tệ Đây là một lĩnh vực nhạy cảm nên:

- Năng lực của đội ngũ nhân viên công ty chứng khoán là yếu tố quan trọngnhất thể hiện chất lượng của sản phẩm dịch vụ của công ty chứng khoán.Yêu cầu đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng là phải tạo được sự tin tưởngvới khách hàng bằng kiến thức, phong cách chuyên nghiệp, sự am hiểunghiệp vụ, khả năng tư vấn và đôi khi cả yếu tố hình thể

- Dịch vụ của công ty chứng khoán phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện,bảo mật và đặc biệt quan trọng là có tính an toàn cao đòi hỏi công ty phải

có cơ sở hạ tầng vững chắc, hệ thống công nghệ hiện đại Hơn nữa, sốlượng thông tin, dữ liệu của khách hàng là cực kỳ lớn nên yêu cầu CTCKphải có hệ thống lưu trữ, quản lý toàn bộ các thông tin này một cách đầy

đủ mà vẫn có khả năng truy xuất một cách dễ dàng

- Ngoài ra, do dịch vụ tiền tệ có tính nhạy cảm nên để tạo được sự tin tưởngcủa khách hàng chọn lựa sử dụng dịch vụ của mình, ngân hàng phải xâydựng được uy tín và gia tăng giá trị thương hiệu theo thời gian

Thứ ba, để thực hiện kinh doanh tiền tệ, CTCK phải đóng vai trò tổ chức trung

gian huy động vốn trong xã hội Nguồn vốn để kinh doanh của CTCK chủ yếu từvốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự có của ngân hàng Do đó yêucầu CTCK phải có trình độ quản lý chuyên nghiệp, năng lực tài chính vữngmạnh cũng như có khả năng kiểm soát và phòng ngừa rủi ro hữu hiệu để đảmbảo kinh doanh an toàn, hiệu quả

Thứ tư, chất liệu kinh doanh của CTCK là tiền tệ, mà tiền tệ là một công cụ

được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế Do đó, chất liệu này được

Trang 23

Nhà nước kiểm soát chặt chẽ Hoạt động kinh doanh của CTCK ngoài tuân thủcác quy định chung của pháp luật còn chịu sự chi phối bởi hệ thống luật phápriêng cho CTCK và chính sách UBCKNN

1.2.2 Sự cần thiết phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công tychứng khoán

nang-luc-canh-tranh-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam.htm

https://text.123docz.net/document/293500-su-can-thiet-phai-nang-cao-1.2.3 Nguồn vốn đầu tư nâng cao NLCT của CTCK (chưa biết)

1.2.4 Nội dung đầu tư nâng cao NLCT của CTCK (chưa biết)

1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư nâng cao NLCT của CTCK1.2.5.1 Các chỉ tiêu định tính

Khi xem xét đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung cũngnhư công ty chứng khoán nói riêng thì các chỉ tiêu định tính đóng vai trò quantrọng, đặc biệt là trong ngành kinh doanh nhiều chất xám như kinh doanh chứngkhoán Những chỉ tiêu định tính phản ánh năng lực cạnh tranh của công ty chứngkhoán cho biết mức độ hiệu quả trong hoạt động đầu tư của công ty chứngkhoán:

Chất lượng của nguồn nhân lực: Trong mọi hoạt động, con người luôn đóng

vai trò, vị trí then chốt, có tính chất quyết định đến kết quả cuối cùng của cácloại hoạt động Trong thị trường chứng khoán, nhân sự là yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến chất lượng và tạo ra sự khác biệt giữa các tổ chức định chế tài chínhtrung gian trên thị trường Trong ngành chứng khoán, muốn hoạt động có hiệuquả thì chắc chắn các chủ thể kinh doanh cần phải đầu tư chất xám đề phân tíchcác thông tin, các nhân tố tác động, các chỉ tiêu tài chính Mặc dù có sự phụ trợcủa các phần mềm công nghệ hiện đại nhưng đội ngũ nhân sự của công ty chứngkhoán vần là yếu tố chủ yếu tối quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ trên.Thành công của đội ngũ nhân viên chính là yếu tố góp phần tạo nên thành công

Trang 24

cho công ty chứng khoán Vì vậy, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên

sẽ là một tài sản vô hình phản ánh tiềm năng và năng lực cạnh tranh của côngchứng khoán Việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của công ty chứng khoánđược thực hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ học vấn, kinh nghiệm trongkinh doanh, tính chuyên nghiệp và tư cách đạo đức của các nhân viên và banlãnh đạo của công ty

Sự đa dạng và chất lượng sản phẩm dịch vụ: Kinh doanh chứng khoán là lĩnh

vực kinh doanh đặc biệt mà trong đó các sản phẩm tạo ra mặc dù chứa đựng hàmlượng chất xám cao tuy nhiên lại rất dễ bị bắt chước Hơn thế nữa, trong điềukiện thị trường chứng khoán ngày càng phát triển mạnh mẽ, khách hàng khôngnhững yêu cầu sản phẩm dịch vụ được cung cấp phải đạt chất lượng cao mà nhucầu về các sản phẩm mới để đáp ứng phục vụ cho các mục đích đầu tư khác nhaungày càng cao Do đó các công ty chứng khoán muốn chiếm lĩnh thị trường, thuhút và giữ chân khách hàng cần liên tục sáng tạo tìm ra những sản phẩm mớiđồng thời với nhiệm vụ không ngừng nâng cao chất lượng các sản phẩm đã có đề

có thể tồn tại và phát triển ổn định Có thể thấy , với đặc thù của lĩnh vực đầu tưchứng khoán và số lượng lớn các công ty chứng khoán tồn tại trên thị trường,khách hàng luôn có xu hướng tìm tới những công ty chứng khoán có thể đáp ứngtốt nhất yêu cầu của mình với chi phí hợp lý nhất Chính vì vậy, sự đa dạng hóa

và chất lượng sản phẩm dịch vụ là nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng tớikhả năng thu hút và giữ chân khách hàng từ đó quyết định tới khả năng cạnhtranh của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán sở hữu những sản phẩmdịch vụ đa dạng đáp ứng được nhiều yêu cầu của khách hàng và đồng thời cũng

có những sản phẩm đạt chất lượng tốt sẽ có lợi thế lớn trong cạnh tranh trên thịtrường

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ: Kinh doanh chứng khoán là lĩnh vực kinh

doanh có sự gắn kết chặt chẽ với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó quan

Trang 25

trọng nhất là công nghệ thông tin Chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng khoa học kỹ thuậtđánh giá về cơ sở vật chất của trụ sở cũng như các chi nhánh và khả năng ápdụng các công nghệ tiền bộ nhất vào hoạt động kinh doanh của công ty chứngkhoán Công ty chứng khoán nào sở hữu cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, hệthống công nghệ tiên tiên sẽ có khả năng cung ứng các dịch vụ chất lượng cao,thực hiện các hoạt động kinh doanh chính xác, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian

và chi phi; từ đó có được khả năng cạnh tranh tốt hơn so với các đối thủ không

có được cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt

Thương hiệu, uy tín công ty: Trong hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng

như các hoạt động kinh doanh khách thì nhân tố thương hiệu, uy tín của công ty

là một yếu tố mà hầu hết các khách hàng sẽ xét tới trước khi lựa chọn cho mìnhnhà cung cấp dịch vụ tốt nhất Thương hiệu cũng như uy tín của công ty thườngđược hình thành qua quá trình hoạt động kinh doanh lâu dài thông qua việc cungcấp các sản phẩm chất lượng: qua sự chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp, tậntình; qua kết quả kinh doanh tốt trong một khoảng thời gian dài liên tục, Khôngnhững thế sau khi gây dựng được uy tín, thương hiệu, việc duy trì được nhữngthành quả đã tạo ra còn khó khăn gấp nhiều lần Dó việc đánh giá thương hiệu và

uy tín của công ty chứng khoán trên thị trường ở thời điểm hiện tại cũng chính làđánh giá mức độ hiệu quả của đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh

1.2.5.2 Các chỉ tiêu định lượng

Thị phần công ty: Thị phần là phần thị trường mà một CTCK chiếm lĩnh được.

Đây chính là tiêu chí rõ nhất cho thấy năng lực cạnh tranh của một CTCK vàmức độ hiệu quả của hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh Thị phầncàng lớn thì càng chứng tỏ năng lực cạnh tranh của công ty lớn Đẻ có được thịphần lớn đòi hỏi CTCK phải có lợi thế cạnh tranh với các công ty khác như kinhnghiệm, uy tín, sản phẩm dịch vụ phải có chất lượng tốt Thường thì các CTCKlớn, có nhiều uy tín và kinh nghiệm chiếm phần lớn thị phần trên thị trường Thị

Trang 26

phần của công ty chứng khoán biểu hiện băng tỷ lệ khách hàng của công ty trêntổng khách hàng của toàn bộ công ty chứng khoán trên thị trường Khách hàngchính là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào vàcũng là động lực thúc đẩy các công ty nâng cao năng lực cạnh tranh Trên thịtrường, các CTCK luôn tìm cách thu hút khách hàng thông qua giá phí và chấtlượng các dịch vụ tiện ích hỗ trợ khách hàng Một CTCK có thể thu hút đượckhách hàng của các công ty khác, gia tăng số lượng khách hàng của công tymình chứng tỏ công ty đó có năng lực cạnh tranh cao Số lượng khách hàng cànglớn thì càng chứng tỏ lợi thế cạnh tranh của công ty trong việc thu hút kháchhàng.

Mức độ gia tăng doanh thu: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng

thời là hoạt động tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Doanh thu của CTCK làkhoản thu lãi chênh lệch bán chứng khoán tự doanh của CTCK, khoản doanh thucung cấp dịch vụ của các hoạt động dịch vụ chứng khoán (như thu phí môi giớichứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, đại lý bán chứng khoán, chiếtkhấu chứng khoán bảo lãnh phát hành, phí tư vấn đầu tư chứng khoán và các loạiphí khách ), doanh thu từ các hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính khác củacông ty (như thu lợi tức cổ phiếu, lãi trái phiếu, cho thuê thiết bị, ) Doanh thu

có ý nghĩa lớn đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung

và CTCK nói riêng Doanh thu là nguồn tài chính tiềm năng để trang trải cáckhoản chi phí hoạt động kinh doanh, là nguồn quan trọng để các CTCK có thểthực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước như nộp các khoản thuế như luật định, lànguồn để tham gia góp vốn cổ phần, tham gia liên doanh liên kết với các đơn vịkhác Khi doanh thu không đủ đảm bảo các khoản chi phí đã bỏ ra doanh nghiệp

sẽ gặp khó khăn về tài chính Nếu tình trạng này kéo dài, sẽ làm cho CTCKkhông đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường và sẽ gặp khó khăn trong kinhdoanh

Trang 27

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰCCẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.3.1 Các nhân tố khách quan

Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong và ngoài nước: Thị trường chứng

khoán nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng được coi là một bộ phậntrong cơ thể nền kinh tế nói chung Do đó, một khi cơ thể đó không khỏe thì các

bộ phận trong nó cũng sẽ không thể hoạt động bình thường được Thực tế chothấy rằng, trong giai đoạn vừa qua, nền kinh tế thế giới rơi vào một cuộc khủnghoảng trầm trọng đã kéo theo sự sụt giảm đáng kể của thị trường thế giới nóichung và thị trường trong nước nói riêng Ở Việt Nam thời gian qua đã có khánhiêu công ty làm ăn thua lỗ, bị phá sản, buộc phải sáp nhập hoặc bị mua lại.Trong tình hình đó, chỉ có những công ty có tiềm lực, có hoạt động đầu tư nănglực cạnh tranh thì mới có thể trụ vững

Cũng tương tự như vậy đối với tình hình chính trị Nếu như chiến tranh thế giớixảy ra thì chắc chắn nền kinh tế không thể phát triển bình thường được Một hệquả tất yếu là các bộ phận cấu thành nên nó cũng sẽ không thể khỏe mạnh được.Như vậy thì sẽ không còn sức đề có thể cạnh tranh được nữa Tóm lại, khi màtình hình kinh tế — chính trị - xã hội trong và ngoài nước không ổn định thì càngđòi hỏi các công ty phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể đứngvững

Sự phát triển của thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán là một bộ

phận quan trọng cấu thành nên thị trường tài chính, là một trong số các kênh huyđộng vốn trung và dài hạn hữu hiệu của nền kinh tế Sự phát triển của thị trườngchứng khoán có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế nói chung và hoạt động củacác công ty chứng khoán nói riêng Có thể thấy rằng, khi thị trường chứng khoánmới thành lập, còn non trẻ thì số lượng các công ty chứng khoán được thành lập

là không nhiều và với số vốn không lớn Lúc này trên thị trường chứng khoán

Trang 28

mức độ cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán là còn yêu và không cần phảiđầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh nhiều Nhưng khi thị trường đã phát triểnhơn thì hàng loạt các công ty chứng khoán được thành lập và vốn điều lệ của cáccông ty cũng tăng lên đáng kể Cạnh tranh lúc này trở nên gay gắt hơn Các công

ty chứng khoán mới thành lập muốn cạnh tranh được với các công ty chứngkhoán đi trước thì buộc phải đầu tư để tăng năng lực cạnh tranh của mình hướngtới mục tiêu đứng vững trên thị trường

Môi trường pháp lý và cơ chế chính sách của Nhà nước về hoạt động kinh doanh chứng khoán: Thị trường chứng khoán là một hình thức thị trường đặc

biệt nơi diễn ra các giao dịch hàng hóa là các tài sản tài chính Thị trường chứngkhoán có cấu trúc và cơ chế giao dịch phức tạp thể hiện sự kết hợp và liên hoàncủa toàn bộ thị trường Chính vì điều này mà thị trường chứng khoán cần có mộttrình độ tổ chức cao và chịu sự quản lý giám sát chặt chế của hệ thống pháp lýhoàn chỉnh và đồng bộ Một môi trường pháp lý hoàn thiện và thống nhất sẽ thúcđẩy các chủ thể tham gia thị trường yên tâm đầu tư, từ đó là nhân tố ảnh hưởngtrực tiếp đến môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty chứngkhoán

Khi tham gia thị trường chứng khoán, các công ty chứng khoán, tổ chức pháthành và các định chế tài chính khác phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà phápluật về chứng khoán quy định như về vốn, về yêu cầu kinh doanh có lãi,… Nhờ

có các quy định chặt chẽ và hợp lý, các công ty chứng khoán sẽ có được môitrường để tiến hành hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả, đồng thời ngăn cảncác công ty chứng khoán không đủ điều kiện hoạt động đề bảo đảm quyền lợi chỉnhà đầu tư và các công ty chứng khoán đạt tiêu chuẩn

Bên cạnh đó, các chính sách của Nhà nước cũng quy định chặt chẽ về việc công

bố thông tin ra công chúng của chủ thể phát hành và các công ty chứng khoán.Điều này tạo ra cơ chế giám sát, kiểm soát các chủ thể tham gia thị trường chứng

Trang 29

khoán và tạo ra cho các hoạt động được lành mạnh, bảo đảm nguyên tắc côngkhai, công bằng và minh bạch.

Các chính sách vĩ mô cũng tác động mạnh mẽ đến hoạt động của thị trườngchứng khoán và gián tiếp ảnh hưởng tới các công ty chứng khoán Các tổ chứchoạt động trên thị trường chứng khoán có thể hoạt động trên nhiều lĩnh vực nênmỗi chính sách của Nhà nước đều nhận được nhiều sự chú ý Chính sách tạo ra

sự thúc đẩy hay hạn chế đối với các nhà đầu tư, các tổ chức niêm yết trên thịtrường chứng khoán đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh, khả năng cạnhtranh của công ty chứng khoán

Đối thủ cạnh tranh: Một quy luật tất yêu trong sự vận động và phát triển của

nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, đây chính là động lực của sự phát triển Môitrường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt khi thị trường chứng khoán pháttriển, điều này đòi hỏi các công ty chứng khoán phải nâng cao năng lực cạnhtranh cho mục tiêu tồn tại và phát triển

Các đối thủ là một nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ lĩnh vực nào Không cóđối thủ thì sẽ không có cạnh tranh, không có cạnh tranh thì sẽ không có động lực

để các công ty phát triển Khi trên thị trường xuất hiện một công ty mới thì chắcchắn sẽ thu hút sự quan tâm, chú ý của các công ty đã có Họ sẽ tìm mọi cách đểtìm ra được điểm khác biệt giữa học và công ty mới này, từ đó không ngừng đầu

tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Chính sự xuất hiện của đối thủ mớinày đã kích thích khả năng tiềm ẩn của các công ty khác phát triển Càng cónhiều đối thủ thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt và càng đòi hỏi các công typhải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nếu không sẽ bị đàothải khỏi thị trường

Nhân tố khách hàng: Khách hàng đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự tồn

tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và công ty chứng khoán nói riêng.Đặc biệt đối với công ty chứng khoán thì công chúng đầu tư là trọng tâm sự cạnh

Trang 30

tranh và là động lực thúc đây các công ty chứng khoán phải nâng cao năng lựccạnh tranh Đề tiếp cận khách hàng thì yêu cầu với các công ty chứng khoán làphải cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt nhất; để giữ chân khách hàng thì lạicần phải có dịch vụ chăm sóc khách hàng chu đáo nhất.

Đối tượng khách hàng của công ty chứng khoán là khá đa dạng, có thể là cá nhânhoặc tổ chức với sự hiểu biết về thị trường chứng khoán là khác nhau Vì vậy sảnphẩm dịch vụ của công ty chứng khoán không chỉ giúp họ tiếp cận với thị trườngchứng khoán để đưa ra quyết định đầu tư mà còn phải hạn chế được rủi ro

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

Tiềm lực tài chính: Vốn chính là nền tảng cho mọi hoạt động trong công ty.

Không có vốn thì sẽ không có công ty, không có cơ sở vật chất kỹ thuật, không

có đội ngũ nhân sự Mà không có những yếu tố này thì một công ty cũng khôngthể hoạt động được Nếu một công ty có tiềm lực tài chính vững mạnh thì sẽ cóđiều kiện để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mua sắm thiết bị công nghệ hiện đại hayđào tạo được đội ngũ nhân sự trình độ cao Những yếu tố này tạo nên tính cạnhtranh giữa các công ty Tuy nhiên, không phải công ty nào có tiềm lực tài chínhvững mạnh cũng có năng lực cạnh tranh cao Bởi nêu nguồn vốn đó không được

sử dụng hợp lý thì cũng không thể phát huy được hiệu quả, gây lãng phí

Năng lực quản trị điều hành: Trong điều kiện hiện nay, dưới sức ép và tác động

từ nhiều phía của môi trường kinh doanh, những yêu cầu về sản phẩm dịch vụ

mà công ty chứng khoán cung cấp ngày càng cao và đòi hỏi phải đáp ứng đượcnhững tiêu chuẩn hết sức khắt khe Cùng với đó, khoa học về quản lý kinh doanhnói chung và quản trị kinh doanh nói riêng ngày càng phát triển và có nhữngbước nhảy vọt đáng kế dưới sự trợ giúp của những tiến bộ khoa học kỹ thuật.Chính vì vậy, công ty chứng khoán muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải

có một bộ máy điều hành quản lý kinh doanh đủ mạnh để sử dụng tốt nhất cácnguồn lực trong quá trình hoạt động kinh doanh, biết tận dụng tiềm năng và cơ

Trang 31

hội kinh doanh, ứng phó một cách linh hoạt với những biến động của môi trường

và thị trường để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Từ đó, năng lực điềuhành hay khả năng quản trị kinh doanh được coi là một yếu tố đặc biệt quantrọng tác động tới hiệu quả đầu tư năng lực cạnh tranh trong kinh doanh củacông ty chứng khoán Một công ty chứng khoán sở hữu bộ máy quản trị tốt cóthể tận dụng được các cơ hội kinh doanh, đối phó hiệu quả với các biến động,giảm chi phí, thời gian cho mỗi hoạt động kinh doanh từ đó nâng cao được hiệuquả cho hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh

Chiến lược kinh doanh: Việc có đầu tư vào nâng cao năng lực cạnh tranh

phương thức quản lý hoạt động đầu tư đều phụ thuộc vào hay chiến lược kinhdoanh Mỗi một công ty trong những ngành nghề khác nhau, thậm chí trong cùngmột ngành nghề lại có những đặc điểm khác nhau, có thể là về nguồn vốn, vềnhân sự hay các sản phẩm dịch vụ Do đó, mỗi công ty sẽ có một chiến lược kinhdoanh của riêng mình, có thể là chiến lược chủ động, thụ động hay kết hợp cảhai Điều này còn tùy thuộc vào tình hình của thị trường và đặc điểm của mỗicông ty Đặc biệt, kinh doanh chứng khoán là một ngành nghề kinh doanh nhiềurủi ro do thị trường luôn biến động và rất khó nhận định Chính vì thế, nhữngchiến lược kinh doanh mang tính ngắn hạn, sẽ là phù hợp với các CTCK Mộtcông ty có chiến lược kinh doanh tốt, linh hoạt và phù hợp với những biến độngcủa thị trường thì sẽ phát triển tốt hơn, thu lợi nhuận cao hơn vả có điều kiện đểđầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường Đây cũng là mộtyếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư năng lực cạnh tranh của cáccông ty chứng khoán

Trang 32

1.4 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANHCỦA MỘT SỐ CÔNG TY VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TYCHỨNG KHOÁN SSI (Chưa làm)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNHTRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SSI

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CTCP CHỨNG KHOÁN SSI

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của CTCPCK SSI

Năm 1999, Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI được thành lập vào tháng 12được đặt trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh Đến ngày 05/04/2000 chínhthức đăng ký Giấy phép thành lập và hoạt động số 03/GPHĐKD với số vốn điều

Đến 2006, SSI tăng vốn điều lệ lên 500.000.000.000 VND và thực hiện thànhcông đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi đầu tiên trên Thị trường chứng khoánViệt Nam cho chính SSI Đến cuối năm 2006 - năm 2007, Cổ phiếu SSI chínhthức đăng ký giao dịch tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Thànhphố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và TP Hồ ChíMinh), đánh dấu cột mốc lớn cho quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Cổ phần Chứng khoán SSI

SSI là một trong những công ty hoạt động lâu đời nhất tại Thị trường Chứngkhoán Việt Nam Sau 21 năm vận hành theo cơ chế thị trường, công ty đã phát

Trang 33

triển trở thành một định chế tài chính lớn nhất trên thị trường, có tốc độ pháttriển nhanh nhất với mức vốn điều lệ tăng hơn 1500 lần (đến tháng 11/2021, SSItăng mức vốn điều lệ của mình lên mức 9.847 tỷ VND) Bằng tiềm lực tài chínhvững mạnh hoạt động quản trị doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế, đội ngũnhân sự hùng hậu và chuyên nghiệp, SSI luôn cung cấp cho khách hàng nhữngsản phẩm, dịch vụ vượt trội và toàn diện, đảm bảo lợi ích tối đa lợi ích cổ đôngĐến hiện tại, Công ty đã có mạng lưới hoạt động rộng rãi tại những thành phốlớn trên cả nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng với 16 Phònggiao dịch Năm 2020, SSI vinh dự đón nhận danh hiệu cao quý “Anh hùng Laođộng" thời kỳ đổi mới do Đảng, nhà nước trao tặng SSI cũng là công ty chứngkhoán tư nhân đầu tiên được trao tặng danh hiệu cao quý này

2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức và chức năng các phòng ban của CTCPCKSSI

Trong năm vừa qua, cơ cấu tổ chức của SSI vẫn được ổn định, đồng thời ACBScũng tiếp tục hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của các phòng ban tại Hội sở chophù hợp với thực tế tình hình hoạt động của Công ty

Trang 34

Chức năng một số phòng ban:

- Hội đồng quản trị: Hội đồng thành viên nhân danh chủ sở hữu công ty tổchức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; có quyềnnhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu tráchnhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền

và nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật doanh nghiệp mới và phápluật có liên quan Quyền, nghĩa vụ nhiệm vụ cụ thể và chế độ làm việccủa Hội đồng thành viên đối với chủ sở hữu công ty được thực hiện theoquy định tại Điều lệ công ty và pháp luật có liên quan

- Ban tổng giám đốc: Là người điều hành hoạt động kinh doanh của công ty,chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên vê thực hiện các quyền vànghĩa vụ của mình

Trang 35

- Công ty quản lý quỹ SSIAM: chuyên nghiệp hóa quy trình xử lý nợ, tậptrung vào hoạt động kinh doanh chính là quản lý quỹ và quản lý danh mụcđầu tư chứng khoán; xây dựng các đề án,

- Trung tâm phân tích và tư vấn đầu tư: hực hiện việc phân tích tài chínhdoanh nghiệp niêm yết trên sàn đề từ đó cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tưchứng khoán cho nhà đầu tư Thực hiện các hoạt động tư vấn như: tư vấnniêm yết, tư vấn cổ phần hóa, tư vấn tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp.2.1.3 Lĩnh vực hoạt động của CTCPCK SSI

Dịch vụ chứng khoán:

- Sản phẩm, dịch vụ đối với Chứng Khoán Niêm Yết như: Mở tài khoảnGiao Dịch, Môi giới, Tư vấn giao dịch, Thực hiện lệnh, Thanh toán tiền,Lưu ký; Hỗ trợ chuyển nhượng đối với chứng khoán chưa niêm yết; Bánchứng chỉ quỹ mở; Bán chứng chỉ ETF; Bán chứng chỉ tiền gửi, trái phiếudoanh nghiệp; Đại lý đấu giá IPO và chứng quyền có bảo đảm; Giao dịchchứng quyền có bảo đảm;

- Sản phẩm,Dịch vụ đối với chứng khoán phái sinh như:Mở tài khoản giaodịch, Môi giới, Tư vấn giao dịch, Thực hiện lệnh, Thanh toán tiền;

- Sản phẩm Dịch vụ Tài chính: Giao dịch ký quỹ (margin) và phối hợp vớingân hàng hỗ trợ khách hàng giao dịch chứng khoán;

- Sản phẩm Dịch vụ Giao dịch Điện tử:Web Trading,Pro Trading,MobileTrading, Smart Trading, Contact Center và SMS;

- Sản phẩm Tư vấn Đầu tư: Báo cáo vĩ mô, Báo cáo khuyến nghị đầu tư,Báo cáo nhận định thị trường hàng ngày, Báo cáo phân tích ngành, Báocáo phân tích cổ phiếu, Báo cáo tư vấn định giá cổ phiếu, Báo cáo phântích thị trường tiền tệ, Báo cáo phân tích dòng lưu chuyển vốn, Báo cáophân tích kỹ thuật;

Trang 36

- Các hoạt động tiếp cận và tìm hiểu doanh nghiệp: Tổ chức cho khách hàng

đi thăm các công ty niêm yết, Tổ chức hội thảo giới thiệu cơ hội đầu tưcho khách hàng tại Việt Nam và nước ngoài

Nguồn vốn và kinh doanh tài chính:

- Kinh doanh nguồn vốn bao gồm các hoạt động giao dịch tiền tệ, đầu tưvốn thông qua các Hợp đồng tiền gửi, Hợp đồng tiền vay, Ủy thác, Muabán lại (Repo) trái phiếu, Kinh doanh giấy tờ có giá lãi suất cố định và cácloại giao dịch được cơ cấu đặc biệt khác;

- Dịch vụ liên quan đến trái phiếu bao gồm Môi giới, Hỗ trợ hiện thực hóacác nhu cầu mua bán của Nhà đầu tư thông qua phương thức đấu thầu,Bảo lãnh phát hành trái phiếu;

- Dịch vụ thiết kế, xây dựng,kinh doanh các sản phẩm phái sinh,cấutrúc để đáp ứng các nhu cầu của công ty và khách hàng

Dịch vụ ngân hàng đầu tư:

- Tư vấn Tài chính doanh nghiệp:Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp,Tưvấn tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp, Tư vấn niêm yết cổ phiếu trênTTCK, Tư vấn cổ phần hóa doanh nghiệp;

- Tư vấn Mua bán & Sáp nhập doanh nghiệp (M&A);

- Tư vấn Huy động vốn trên thị trường vốn trong và ngoài nước: Tư vấnphát hành và Bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các sản phẩm pháisinh, bao gồm phát hành ra công chúng, phát hành riêng lẻ

Công ty TNHH quản lý quỹ SSI (SSIAM):

Trang 37

- Huy động và quản lý các Quỹ đầu tư trong và ngoài nước;

- Quản lý danh mục đầu tư,bao gồm Quản lý danh mục đầu tư toàn bộ hoặctheo chỉ định cho các khách hàng tổ chức trong và ngoài nước, Quản lý tàisản cho các khách hàng cá nhân trong và ngoài nước có giá trị tài sản lớn;

- Tư vấn đầu tư cho các khách hàng tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước,

Tư vấn định hướng chiến lược đầu tư và phân bổ tài sản

2.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCPCK SSI

2.1.4.1 Kết quả kinh doanh 2021

Năm 2021 đánh dấu bước tăng trưởng mạnh mẽ của TTCK Việt Nam bất chấpcác tác động của Đại dịch Covid-19 đến nền kinh tế nói chung Chỉ số VNIndexlập đỉnh tại mức 1.500,81 điểm vào phiên ngày 25/11/2021, mức cao nhất trong

21 năm hoạt động của TTCK Cùng với đó là giá trị giao dịch bình quân đạt xấp

xỉ 26,6 nghìn tỷ VNĐ/ phiên, tăng trưởng 2,5 lần so với bình quân năm 2020,đỉnh điểm lên tới 56,1 nghìn tỷ VNĐ/ phiên trong tháng 11/2021

Sự bùng nổ của thị trường kéo theo sự tăng trưởng mạnh mẽ của số lượng nhàđầu tư gia nhập thị trường Theo thống kê của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán(VSD), tính đến hết ngày 31/12/2021, số lượng tài khoản mở mới năm 2021 đạttrên 1,5 triệu tài khoản, bằng con số của hơn 4 năm trước cộng lại Số lượng tàikhoản giao dịch chứng khoán được mở mới tăng mạnh cho thấy triển vọng vàtính hấp dẫn của TTCK Việt Nam, góp phần trong việc duy trì thanh khoản củathị trường

Trong bối cảnh thị trường tích cực, SSI cũng đã thiết lập kỉ lục mới trong hoạtđộng kinh doanh Doanh thu thuần đạt 7.786 tỷ VNĐ tăng 72% - so với năm

2020 Lợi nhuận trước thuế toàn công ty đạt 3.365 tỷ VNĐ, vượt 60% kế hoạchnăm với mức tăng trưởng 116% so với năm 2020, và tăng 26% so với 2019 và

2020 cộng lại Đây là mức lợi nhuận kỷ lục mà SSI ghi nhận sau hơn 20 nămhoạt động Thành công này đạt được từ sự đóng góp của tất cả các mảng kinh

Trang 38

doanh: Dịch vụ Chứng khoán, Đầu tư, Nguồn vốn và Kinh doanh Tài chính,Dịch vụ Ngân hàng Đầu tư, và Quản lý quỹ; đồng thời ghi nhận sự nỗ lực củaBan Lãnh đạo cùng toàn thể nhân viên Công ty đã kịp thời đưa ra nhiều giảipháp duy trì hoạt động kinh doanh trong bối cảnh dịch bệnh, phát triển cải tiếncác sản phẩm, dịch vụ, tận dụng cơ hội thị trường để đưa SSI đạt kết quả kỷ lụctrong 21 năm hoạt động, tăng đáng kể về quy mô vốn đồng thời không ghi nhậnrủi ro.

Trong đó, các mảng kinh doanh đều ghi nhận hoạt động hiệu quả và tăng trưởng

Cụ thể, năm 2021, Dịch vụ Chứng khoán SSI phá vỡ kỷ lục với mức doanh thuđạt 4.140,7 tỷ VNĐ, chiếm 52% tổng doanh thu, tăng trưởng 200%, xấp xỉdoanh thu của 3 năm giai đoạn 2018 đến 2020 cộng lại Bên cạnh thuận lợi đến

từ sự tăng trưởng chung của TTCK và niềm tin của nhà đầu tư mới, SSI cũng ghinhận những nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới và tư vấnđầu tư, kết nối giao dịch hiệu quả, phát triển các sản phẩm mới và tính năng mớitrên nền tảng giao dịch, mở rộng mạng lưới chi nhánh và nhân viên môi giới vàđáp ứng nhu cầu khác nhau của từng phân khúc khách hàng

Trang 39

Hoạt động Đầu tư mang lại doanh thu lớn thứ hai cho Công ty với 2.727 tỷVNĐ, chiếm 35%, tăng trưởng 33,2% so với 2020, nhờ sự thăng hoa của thịtrường, khả năng nhạy bén của đội ngũ đầu tư – không chỉ trong đầu tư thịtrường cơ sở mà còn rất linh hoạt trong việc triển khai các nghiệp vụ của thịtrường phái sinh.

Nguồn vốn và Kinh doanh Tài chính SSI tiếp tục khẳng định vai trò quan trọngtrong việc quản lý hiệu quả dòng vốn của Công ty và Khách hàng, đảm bảo tínhlinh hoạt và nhanh chóng, và hơn cả là đảm bảo tính thanh khoản trong mọi thờiđiểm Với kết quả doanh thu đạt được là 838 tỷ VNĐ, Khối Nguồn vốn và Kinhdoanh Tài chính đóng góp doanh thu lớn thứ ba của Công ty với tỉ lệ 11%

Mảng Dịch vụ Ngân hàng Đầu tư cũng ghi nhận một năm hoạt động thành công,tiếp tục giữ vai trò là nhà tư vấn uy tín cho các doanh nghiệp, triển khai cácthương vụ lớn trên thị trường với chất lượng tư vấn cao và tích cực bám sát, hỗtrợ doanh nghiệp Doanh thu từ mảng kinh doanh này của SSI ghi nhận đạt 93,8

Trang 40

2.1.4.2 Dịch vụ chứng khoán

Sự tăng trưởng mạnh mẽ về giá trị giao dịch toàn thị trường và sự tham gia củanhóm nhà đầu tư mới cao nhất từ trước tới nay đã giúp hoạt động kinh doanh củaDịch vụ Chứng khoán SSI cũng ghi nhận kết quả ấn tượng, với doanh thu năm

2021 đạt hơn 4.140,7 tỷ VNĐ, tăng gấp 3 lần so với năm trước đó và lợi nhuậnđạt hơn 1.870,2 tỷ VNĐ, tăng gấp 4,5 lần so với 2020 Về cơ cấu, doanh thu từnhóm khách hàng cá nhân chiếm 94%, chủ yếu bao gồm phí môi giới và doanhthu từ các sản phẩm tài chính; doanh thu từ nhóm khách hàng tổ chức chiếm 6%,bao gồm phí môi giới, các khoản thu từ các hợp đồng tư vấn khuyến nghị chocác quỹ đầu tư, các hoạt động tư vấn quan hệ nhà đầu tư (IR) cho các doanhnghiệp và các hoạt động bán chéo với các Khối kinh doanh khác Thị phần môigiới cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ tại HOSE đạt 11,05%, tại HNX đạt 6,77%

Ngày đăng: 03/11/2022, 09:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w