Lúc này, doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ rõ những điểm yếu của mình là bị động, không tự chủ về tài chính và hoạt động kinh doanh, hoạt động không hiệu quả do được Nhà nước tài trợ và đư
Trang 1Báo cáo tốt nghiệp
“Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá tại công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán – AASC”
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu……… 1
Chương 1: Cơ sở lý luận của xác định giá trị doanh nghiệp……… 6
I Cơ sở lý luận về xác định giá trị doanh nghiệp 6
1.1 Giá trị, giá trị hàng hoá và giá trị doanh nghiệp 6 1.1.1 Quan điểm của Các-Mác về giá trị, giá trị hàng hoá 6
1.1.2 Giá trị thời gian của tiền, chi phí cơ hội, chi phí sử dụng vốn vay 8
1.1.3 Doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, giá trị thực tế của doanh nghiệp 8
1.2 Tính cần thiết phải xác định giá trị Doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá 11
1.2.1 Cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước là xu hướng tất yếu khách quan khi chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường 12
1.2.2 Cổ phần hoá là giải pháp cơ bản để tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta 14
II Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 15
2.1 Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh 15
2.1.1 Môi trường kinh doanh tổng quát 15
2.1.2 Môi trường đặc thù 18
2.2 Các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp 20
2.2.1 Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp……… 20
2.2.2 Vị trí kinh doanh 21
2.2.3 Uy tín kinh doanh……… 21
2.2.4 Trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao động 22
2.2.5 Năng lực quản trị kinh doanh 23
III Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 24
3.1 Xác định giá trị doanh nghiệp là gì? 24
3.2 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 24
Trang 33.2.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần 24
3.2.2 Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính trong tương lai 27
3.2.3 Phương pháp định lượng Goodwill (lợi thế thương mại) 28
3.2.4 Phương pháp định giá dựa vào PER (Price Earning Ratio) 29
IV Quy trình xác định giá trị doanh nghiệp trong công tác kiểm toán 30
4.1 Vai trò của kiểm toán trong xác định giá trị doanh nghiệp 30
4.2 Các phương pháp kiểm toán được sử dụng trong xác định giá trị doanh nghiệp 31
4.2.1 Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ 32
4.2.2 Phương pháp kiểm toán chứng từ 35
4.3 Hệ thống mục tiêu của kiểm toán BCTC để cổ phần hoá và mục tiêu xác định giá trị doanh nghiệp 38
4.4 Lập kế hoạch tổng quát 39
4.4.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán 39
4.4.2 Thu thập thông tin cơ sở 40
4.4.3 Thu thập thông tin nghĩa vụ pháp lý của khách hàng 41
4.4.4 Thực hiện các thủ tục phân tích 42
4.4.5 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát 42
4.5 Thiết kế chương trình kiểm toán 42
4.6 Thực hiện kiểm toán, xác định giá trị DN và báo cáo xác định giá trị DN 43
V Tóm tắt quá trình phát triển của công tác xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam 44
5.1.Từ năm 1992 đến năm 6/5/1996 44
5.2.Từ 7/5/1996 đến 28/06/1998 45
5.3.Từ 29/06/1998 đến 08/09/2002 48
5.4.Từ 09/09/2002 đến nay 49
5.4.1 Các căn cứ thực tế để xác định giá trị doanh nghiệp 49
5.4.2 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt nam 50
5.4.3 Thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp 51
Trang 45.4.4 Các tài sản không nằm trong giá trị thực tế của doanh nghiệp 51
5.4.5 Đối tượng áp dụng để xác định giá trị doanh nghiệp 51
5.4.6 Căn cứ xác định chất lượng tài sản 52
Chương II: Thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước để Cổ phần hoá ở AASC ……… 52
I Đặc điểm của công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán với công tác xác định GTDN 52
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của AASC……… 52
1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 55
1.3 Quy trình kiểm toán để xác định giá trị doanh nghiệp do AASC thực hiện 58
II Thực tế xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá tại AASC……… …… ………… 60
2.1 Phương pháp định giá 61
2.1.1 Nguyên tắc định giá 61
2.1.2 Phương pháp tính 61
2.2 Thực hiện kiểm toán xác định gía trị doanh nghiệp 62
2.3 Báo cáo xác định giá trị doanh nghiệp 81
Chương III: Phương hướng giải quyết và giải pháp hoàn thiện đổi mới công tác xác định giá trị DNNN để Cổ phần hoá tại AASC ………84
3.1 Tính tất yếu phải hoàn thiện công tác xác định giá trị doanh nghiệp ở AASC 84
3.2 Định hướng hoàn thiện 86
3.3 Thực trạng công tác xác định giá trị doanh nghiệp 87
3.3.1 Đối với AASC 87
3.3.2 Đối với các chế độ hiện hành 90
3.4 Những kiến nghị để thực hiện 92
Danh mục các tài liệu tham khảo………96
Lời mở đầu
Trang 5ở nước ta, ngay từ những năm 1986, khi Nhà nước thực hiên chuyển cơ chế quản lý Nhà nước, nền kinh tế thị trường bắt đầu bung ra phát triển dần dần và mạnh
mẽ Là một trong các yếu tố quan trong của thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên mạnh mẽ Lúc này, doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ rõ những điểm yếu của mình là bị động, không tự chủ về tài chính và hoạt động kinh doanh, hoạt động không hiệu quả do được Nhà nước tài trợ và được bù lỗ khi bị lỗ, bộ máy thì cồng kềnh trong khi việc làm không có… Nhận ra những điểm yếu trên và các
ưu điểm khác, Nhà nước đã đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nứơc nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo ra loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp, huy động vốn của toàn xã hội và phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động
Nghị Quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp Hành TW Đảng khoá IX đã chỉ rõ:
‘…cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, trong đó cần sửa đổi phương pháp xác địnhgiá trị doanh nghiệp theo hướng gắn với thị trường, nghiên cứu đưa ra giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp ”
Nhà nước ta đã không ngừng cải thiện, đổi mới công tác xác định GTDN Điều
đó đựơc thể hiện qua các văn bản Thông tư số 36/TC-CN, Quyết định 202/CT ngày 8/5/1992, Thông tư 50/TC/TCDN ngày 30/8/1996, Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996, Thông tư số 104/1998/TT-BTC ngày 29/6/1998, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, Nghị định 64/2002/NĐ-CP, Thông tư số 76/2002/TT-BTC, 79/2002/TT-BTC về việc chuyển doanh nghiệp nhà nứơc thành công ty cổ phần
Và do đó, chừng nào còn doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá thì công tác xác định GTDN luôn là một vấn đề nóng hổi và quan trọng Do đó, em quyết định chọn đề
tài: “Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá tại công ty
Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán – AASC”
Xác định GTDN là một vấn đề phức tạp từ khi Nhà nước ta thực hiện CFH đến nay Từ lý luận đến thực tiễn là một vấn đề lớn Các văn bản hướng dẫn của Nhà nước
Trang 6không lường hết được các vấn đề nảy sinh, dẫn đến GTDN được xác định có sự chênh lệch khá lớn giữa các phương pháp khác nhau và các tổ chức định giá khác nhau
ở đây, cũng như tên đề tài đã nêu, tác giả đề cập đến vấn đề xác định GTDN có liên quan đến công tác kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập Như vậy, kiểm toán xác định GTDN nhà nước để cổ phần hoá bao gồm hai phần là:
- Kiểm toán từng khoản mục trên BCTC
1.1.1 Quan điểm của Các-Mác về giá trị, giá trị hàng hoá
Theo Các - Mác, hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng, giá trị được xác định ở mặt chất và mặt lượng:
Trang 7- Mặt chất của giá trị là hao phí lao động của con người
- Mặt lượng của giá trị được đo bằng thời gian hao phí lao động Khi trao đổi trên thị trường, lượng của giá trị được đo bằng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết
để sản xuất ra hàng hoá Sự cạnh tranh trong nội bộ ngành hình thành nên giá trị thị trường, cạnh tranh giữa các ngành sẽ hình thành nên giá cả sản xuất Khi tiền tệ ra đời thì giá trị của hàng hoá được phản ánh thông qua giá cả Do sự tác động của cung cầu
mà giá cả tách rời giá trị nhưng yếu tố quyết định giá cả vẫn là giá trị
- Giá trị sử dụng là khái niệm dùng để chỉ những công dụng, lợi ích mà hàng hoá
có thể mang lại cho con người khi tiêu dùng nó Mỗi loại hàng hoá đều có những công dụng riêng biệt, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào giá cả
Trên thực tế, do quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trường, giá trị của hàng hoá được đánh giá không chỉ bằng các chi phí thời gian lao động xã hội cần thiết mà còn bởi giá trị sử dụng dưới quy luật cạnh tranh Có các khái niệm giá trị hàng hoá sau:
- Giá trị nhượng bán: là giá cả của hàng hoá được hình thành trong điều kiện bình thường chịu tác động của quy luật cung cầu Nó tương ứng với khái niệm giá cả của Mác Giá trị nhượng bán còn được gọi là giá thị trường
- Giá trị đổi mới: là khái niệm dùng để chỉ các khoản chi tiêu cần thiết để thay thế mới một tài sản
- Giá trị mua vào: giá ghi trên sổ kế toán, đây chính là giá gốc, thường không tính đến yếu tố thị trường làm thay đổi giá cả
- Giá trị thanh lý: là mức giá chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tài chính Đây thường là hậu quả đối với các DN bắt buộc phải thanh lý Tài sản của DN trong những trường hợp như vậy có nguy cơ bị bán phá giá, tức không theo giá thị trường
- Giá trị hoạt động: khi bán một DN đang hoạt động, mức giá thu được thường có mức chênh lệch so với giá trị thanh lý Khoản chênh lệch giữa hai giá trị đó gọi là giá trị hoạt động, nó tượng trưng cho giá trị về mặt tổ chức
- Giá trị theo công dụng: là mức giá chỉ ra các khoản chi tiêu cần thiết để có được một tài sản tương đương tức có cùng chất lượng, quy cách
Trang 8Tóm lại mặc dù có nhiều khái niệm giá trị được đưa ra, nhưng tiêu chuẩn để nhận biết giá trị hàng hoá trong hoạt động kinh doanh có thể được chia là ba loại:
- Loại 1: Giá trị theo sổ kế toán còn gọi là giá lịch sử (historical cost) hay giá gốc
- Loại 2: Giá trị ước tính theo giá hiện hành – giá thị trường
- Loại 3: Giá trị ước tính theo công dụng của tài sản
1.1.2 Giá trị thời gian của tiền, chi phí cơ hội, chi phí sử dụng vốn vay
Trong nền kinh tế thị trường, luôn có sự biến động trong việc sản xuất hàng hoá,
có khi tại thời điểm này, khi mà nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm xuống thì số lượng hàng hoá tiêu thụ sẽ bị giảm, các nhà sản xuất sẽ giảm quy mô sản xuất xuống,
và ngược lại, khi nhu cầu tiêu dùng tăng thì các DN lại mở rộng quy mô sản xuất Cùng với sự lớn lên của giá trị hàng hoá, nhà nước sẽ phải in thêm số lượng tiền để phù hợp với sức mua hàng hoá của người tiêu dùng Do đó, luôn luôn có sự khác biệt về giá trị của đồng tiền giữa các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế
Nếu ta có một số lượng tiền trong tay, nếu ta dùng để đầu tư và giả sử không gặp rủi ro về đầu tư, trong tương lai ta sẽ thu được một khoản thu nhập từ số tiền đầu tư đó với lãi suất lớn hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ ở thời điểm hiện hành vì hoạt động đầu tư vào trái phiếu Chính phủ là hoạt động đầu tư ít rủi ro nhất Nếu ta không dùng
để đầu tư, thì sau đó, trong tay ta vẫn có từng ấy giá trị tiền Như vậy, khoản chênh lệch giữa việc đầu tư và không đầu tư chứng tỏ tiền có khả năng sinh lời, và người ta gọi đó là giá trị thời gian của tiền
Cũng từ lý luận trên, nếu ta dùng số tiền đó cho đối tượng khác vay để hoạt động kinh doanh thì sau một khoảng thời gian ta sẽ thu được một số tiền lãi từ việc cho vay
Khoản tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay gọi là chi phí sử dụng vốn vay
Chi phí cơ hội là chi phí lớn nhất trong các cơ hội có thể được lựa chọn đã bị bỏ qua
1.1.3 Doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, giá trị thực tế của doanh nghiệp
a) Doanh nghiệp
Trang 9DN là một thuật ngữ trong kinh doanh dùng để chỉ các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phân biệt nó với các hình thức kinh doanh có quy mô quá nhỏ Một tổ chức kinh
tế chỉ được coi là DN nếu nó được sự thừa nhận về mặt pháp lý trên một số tiêu chuẩn nào đó
Các tiêu chuẩn ở đây có thể là mức vốn tối thiểu (vốn pháp định), mục tiêu hoạt động, ngành nghề, địa điểm, quyền lợi, chủ sở hữu, nhiệm vụ
Xét theo mục tiêu hoạt động, người ta có thể chia DN thành 2 loại: DN công ích
và DN kinh doanh
- DN công ích: là DN được thành lập ra nhằm mục tiêu chính trị, xã hội Lợi
nhuận chỉ là mục tiêu thứ yếu, mục đích của nó là mục tiêu xã hội: không chỉ là đóng góp được bao nhiêu thuế cho nhà nước mà còn được thể hiện ở chỗ giải quyết được bao nhiêu công ăn việc làm, mang lại bao nhiêu thu nhập cho các nhà cấp vốn, tổng giá trị mà nó đóng góp vào GDP của nền kinh tế
- DN kinh doanh: là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục tiêu tối đa hoá
lợi nhuận Lợi nhuận của DN kinh doanh là lợi ích mà DN có thể mang lại cho nhà đầu
tư Lợi ích kinh doanh là ở các khoản thu nhập dưới hình thức như lợi nhuận sau thuế, lợi tức cổ phần
Theo quan điểm của Nhà nước Việt nam, công ty Cổ phần là doanh nghiệp trong đó các cổ đông cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp.Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao
DNNN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự,
tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản
lý, có tên gọi, có con dấu riêng (theo Điều 1, luật Doanh nghiệp nhà nước, 20/04/1995)
Trang 10Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của DN, DNNN còn có những đặc điểm sau:
- DNNN là tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện những mục tiêu do Nhà nước giao
- DNNN do nhà nước đầu tư vốn nên tài sản trong DN là thuộc sở hữu của nhà nước, DN quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nước
- DNNN có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo quy định của pháp luật
- DNNN là DN chịu trách nhiệm hữu hạn
Có 2 loại DNNN là DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích
- DNNN hoạt động kinh doanh là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận
- DNNN hoạt động công ích là DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng, theo các chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh…
Như vậy, DNNN là DN nắm giữ những ngành kinh tế chủ đạo có tác dụng điều hoà nền kinh tế quốc dân
b) Giá trị doanh nghiệp
Trước khi xem xét GTDN, ta thấy cần làm rõ một số đặc điểm của doanh nghiệp như sau:
- DN là một đơn vị, một tổ chức kinh tế hoạt động Thông qua sự hoạt động mà người ta nhận ra DN DN không phải là một tập hợp các loại tài sản Khi mà nó chỉ đơn giản là một sự hỗn loạn các tài sản đơn lẻ, rời rạc mà người ta có thể thanh lý, phát mãi từng thứ riêng biệt như những hàng hoá thông thường thì nó không còn đầy đủ ý nghĩa của một DN Và do vậy, khái niệm GTDN là một khái niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động
- DN là một tổ chức vừa phi vật thể, vừa là vật thể Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, DN cũng được coi là một loại hàng hoá, nó là một loại hàng hoá đặc biệt
Trang 11Nó có thể được đem rao bán trên thị trường và bị ảnh hưởng bởi quy luật giá trị và các quy luật khác trên thị trường.
- DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần tử trong hệ thống lớn – nền kinh tế Do đó, sự tồn tại của DN ở mối quan hệ của nó với các phần tử khác của hệ thống tức mối quan hệ với các đơn vị, thể nhân và pháp nhân kinh tế khác Sự tồn tại của DN không chỉ được quyết định bởi các yếu tố bên trong
DN mà còn bởi các yếu tố bên ngoài như khách hàng, người cung cấp, người cho vay, các luật, chính sách
Doanh nghiệp có tồn tại được hay không là nhờ vào các mối quan hệ trên thị trường Các mối quan hệ này mang tính quyết định đến sự phát triển, tồn tại và thành công của doanh nghiệp Do đó, khi đánh giá về doanh nghiệp, người ta phải quan tâm đến cả các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp trên thị trường
- Nếu nhìn nhận doanh nghiệp bằng con mắt của các nhà đầu tư thì việc mua sắm TSCĐ và lưu động không ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động, lợi ích của DN đối với các nhà đầu tư là ở các khoản thu nhập từ hoạt động SXKD Vì mục đích của các nhà đầu tư là liệu đặt vốn kinh doanh của mình
và thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng vốn Vì vậy, theo các nhà đầu tư thì giá trị của doanh nghiệp là giá trị của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp
có thể đem lại cho nhà đầu tư từ các hoạt động kinh doanh của mình
Tóm lại, qua việc phân tích trên ta có thể thấy tồn tại hai cách tiếp cận trong việc
xác định GTDN là:
- Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong DN
- Đánh giá giá trị của các yếu tố, tổ chức hoặc bằng một kỹ thuật nào đó để lượng hoá các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư
1.2 Tính cần thiết phải xác định giá trị Doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá
Trong nền kinh tế thị trường, DN đựơc coi như một loại hàng hoá, chúng có thể được mua bán, trao đổi Vì vậy, nhu cầu đánh giá hay xác định giá trị đối với loại tài sản này xuất hiện là một đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên Trong việc điều hành kinh tế vĩ
Trang 12mô của nhà nước cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh của các DN luôn cần thiết các thông tin về GTDN Giá trị của DN là bao nhiêu, cao hay thấp luôn là mối quan tâm của các pháp nhân và thể nhân kinh tế có lợi ích liên quan, gắn bó trực tiếp đến các DN
1.2.1 Cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước là xu hướng tất yếu khách quan khi chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường thì xu hướng CPH một bộ phận các DNNN đã diễn
ra như là một quy luật, điều này có thể được giải thích bởi 2 lý do là:
1) Các DN nhỏ nếu muốn tồn tại trên thị trường cạnh tranh gay gắt với các
DN lớn thì phải góp vốn để tạo ra DN lớn có sức cạnh tranh lớn hơn Vì ưu thế của DN lớn là có số lượng vốn lớn, quy mô sản xuất lớn, và có lợi thế trong việc nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, đổi mới quy trình công nghệ để có sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành rẻ và có thể tiêu thụ tốt hơn sản phẩm cùng loại
2) Cũng do sự cạnh tranh và rủi ro trong kinh doanh, các DN lớn tồn tại một khoản tiền vốn nhàn rỗi, không muốn gặp nhiều rủi ro nên phải phân tán số vốn của mình vào các DN khác bằng cách góp vốn mua cổ phần ở nhiều DN khác
Đây là xu hướng sát nhập các DN nhỏ thành DN lớn trên thế giới
Điều này có nghĩa là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các DN dẫn đến quy luật đào thải, các DN nhỏ sẽ bị chèn ép dẫn đến phá sản Các DN nhỏ không muốn phá sản, thì phải thu hút vốn thêm nhằm mở rộng thị trường, phát triển sản xuất Cũng do tính cạnh tranh khốc liệt của thị trường mà trong các DN lớn tồn tại một lượng vốn nhàn rỗi, để giảm rủi ro trong đầu tư, DN lớn này sẽ phân tán nguồn vốn đầu tư của mình DNNN với sự quản lý kém, hoạt động thiếu hiệu quả cũng nằm trong xu thế khách quan đó
Thực tiễn nhiều thập kỷ qua cho thấy, kinh tế quốc dân kém hiệu quả hơn kinh tế tập thể và tư nhân Các DNNN làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ Nguyên nhân chính là do không thực sự có động lực để thúc đẩy làm ra nhiều lợi nhuận Sự thua lỗ này lại được Nhà nước bao cấp, tài trợ nhằm đảm bảo cho DNNN hoạt động tốt theo chủ trương kế
Trang 13hoạch KTXH của Nhà nước Điều này làm mất tính tự chủ của DN và tạo sự ỷ lại vào nguồn vốn Nhà nước
Từ các thực tế trên cho thấy, xu hướng thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường, xu hướng đa dạng hoá các loại hình sở hữu “Sở hữu nhà nước không đồng nghĩa với hiệu quả và mục đích của sự phát triển mà chỉ là một công cụ quan trọng và hữu hiệu cùng với công cụ tài chính và tiền tệ để nhà nước thực hành việc điều tiết định hướng vào nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước chỉ nên thu hẹp ở những lĩnh vực có vai trò quyết định đến sự phát triển và ổn định của nền kinh
tế như giao thông vận tải, bưu điện,…”
Các DNNN ở Việt nam hoạt động kém hiệu quả Nguyên nhân là do:
- Hệ thống kế hoạch hoá và tài chính cồng kềnh và cứng nhắc vì được quản lý theo hệ thống hành chính từ trên xuống theo nhiều cấp trung gian
- Tính tự chủ trong quản lý và kinh doanh bị hạn chế vì nhiều quy chế liên quan đến quyền sở hữu của DN
- Sự độc quyền của các DNNN trên thị trường đựơc pháp luật Việt nam củng cố
đã làm mất đi những động lực nâng cao hiệu qủa SXKD
- Được tài trợ bởi nguồn ngân sách nhà nước, do đó không có động lực nâng cao hiệu quả kinh doanh để tồn tại trong cạnh tranh với các DN tư nhân vì không thể “bị chết”
- Hoạt động của DNNN là nhằm đảm bảo cho xí nghiệp có hoạt động dễ chịu và
ổn định, tránh né sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên, do đó dẫn đến quan niêu, mua sắm thừa thiết bị, cơ chế phình to
- Do phải tài trợ cho các DNNN bị lỗ, nên nhà nước bị thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài nhiều
Vì vậy, nhà nước ta đã thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và đã thực hiện chủ trương CPH ngay sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường
Do đó, để cải thiện DNNN cho phù hợp với cơ chế thị trường, cần thiết phải cổ phần hoá
Trang 14Tuy nhiên, CPH không phải là đơn giản, chúng ta phải giải quyết rất nhiều vấn đề phức tạp:
- Xác định GTDN như thế nào là chính xác
- Đất có tính vào GTDN không và tính như thế nào
- Giải quyết vấn đề lao động như thế nào khi DNNN chuyển sang công ty
- Đa dạng hoá quyền sở hữu và cụ thể hoá chủ sở hữu
- Thương mại hoá mọi hoạt động của DN (chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính, cắt bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động DN)
- Luật pháp hoá các tổ chức quản lý (theo luật Công ty và luật khác )
- Nâng cao hiệu quả SXKD của DN
Xét về mặt hình thức, CPH là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong xí nghiệp cho các đối tượng, tổ chức hoặc tư nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý, công nhân trong xí nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các công ty TNHH hoặc công ty cổ phần
Xét về mặt thực chất, CPH là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu (Nhà nước) thành nhiều chủ sở hữu để tạo ra một
mô hình DN phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu kinh doanh hiện đại
Trang 15II Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
Như vậy, qua trên ta đã có cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp thông qua các đặc điểm của nó Tuy nhiên, để xác định được giá trị doanh nghiệp, người ta phải quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp
GTDN được đo lường bằng khoản thu nhập mà DN mang lại cho nhà đầu tư nhưng độ lớn của thu nhập đó là bao nhiêu thì nó lại phụ thuộc rất lớn vào sự tồn tại của doanh nghiệp với các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Đó là các yếu tố vốn liếng, tài sản, kỹ thuật, khả năng thích ứng của nó với môi trường bên ngoài, các quan hệ hợp tác và các yếu tố khách quan khác như các chính sách kinh tế, môi trường kinh doanh,
2.1 Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh
Trước hết phải khẳng định GTDN chỉ được đánh giá trong một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh được chia làm hai loại là môi trường kinh doanh tổng quát và môi trường đặc thù
2.1.1 Môi trường kinh doanh tổng quát
Môi trường kinh doanh tổng quát bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môi trường văn hoá - xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường kỹ thuật và môi trường dân số
- Môi trường kinh tế:
Môi trường mà DN tồn tại là một môi trường kinh tế cụ thể DN chịu ảnh hưởng của tốc độ phát triển kinh tế, mức độ ổn định của nền kinh tế, tốc độ lạm phát, tỷ suất đầu tư, mức độ ổn định của đồng tiền, tỷ giá trên thị trường chứng khoán,… Các yếu tố trên đều là những yếu tố khách quan nhưng nó lại có tác động một cách không nhỏ đến
Trang 16sự hoạt động của DN Một DN không thể hoạt động tốt trong một môi trường mà lạm phát cao, tỷ suất đầu tư cao,…
Mỗi sự thay đổi nhỏ trong các yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng tới sự đánh giá
về DN Nền kinh tế với tốc độ phát triển cao chứng tỏ nhu cầu đầu tư tiêu dùng cao, ngược lại, nền kinh tế với mức lạm phát cao, chứng tỏ sự bất ổn định về tỷ giá đồng tiền là dấu hiệu chứng tỏ sự bất ổn về môi trường hoạt động của DN Do đó, mọi sự đánh giá về DN, trong đó có GTDN sẽ bị đảo lộn hoàn toàn
- Môi trường chính trị:
Hoạt động SXKD chỉ có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường có sự ổn định về chính trị ở một mức độ nhất định Những bất ổn trong xã hội (tệ nạn xã hội, chiến tranh,…) là những yếu tố tác động rất lớn đến hoạt động SXKD của DN
Các yếu tố của môi trường chính trị liên quan đến SXKD bao gồm +) Tính đầy đủ, rõ ràng, chi tiết, đồng bộ của hệ thống luật pháp +) Quan điểm của nhà nước đối với SXKD thông qua các văn bản pháp quy như bảo vệ SXKD, bảo vệ nhà đầu tư, bảo vệ người tiêu dùng, đầu tư nước ngoài, quan điểm phân biệt đối xử thực hiện trong luật thuế, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ
+) Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của các công dân và các tổ chức sản xuất Pháp luật đã được ban hành nhưng không trở thành hiện thực, tệ nạn buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, hàng nhái là biểu hiện của một môi trường chính trị gây bất lợi cho sản xuất
+) Xu hướng, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế của chính phủ với các quốc gia khác trong tiến trình toàn cầu hoá và quan điểm cá nhân của những người đứng đầu Chính phủ cũng tác động to lớn đến SXKD
Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế có sự tham gia quản lý của Nhà nước Do đó, các chính sách kinh tế, các luật, các quan điểm kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến SXKD của DN Môi trường kinh tế và môi trường chính trị đóng vai trò như những điều kiện thiết yếu để DN có thể hoạt động Vì vậy, khi đánh giá DN bao giờ cũng phải xem xét các yếu tố này
Trang 17- Môi trường Văn hoá - Xã hội
Mỗi DN tồn tại trong một môi trường văn hoá nhất định Môi trường văn hoá bao gồm những hệ tư tưởng của số đông cộng đồng về lối sống, đạo đức, tác phong, quan niệm về chân, thiện, mỹ, quan niệm về nhân cách, văn minh xã hội, thực hiện trong tập quán sản xuất và tiêu dùng
Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật độ
sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt
Thói quen tiêu dùng, tâm lý tiêu dùng, cơ cấu dân cư, mật độ dân số, thu nhập bình quân đầu người,… ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và cách thức SXKD SXKD chỉ có thể tồn tại khi mà nó đảm bảo các yêu cầu về Văn hoá - Xã hội như đảm bảo không bị ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt,… DN ra đời là để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng nơi DN hoạt động Chính vì thế đánh giá về DN không thể bỏ qua những yếu tố, những đòi hỏi bức xúc của môi trường Văn hoá - Xã hội trong hiện mà còn phải thực hiện dự báo được sự ảnh hưởng yếu tố này đến SXKD của DN trong tương lai
- Môi trường kỹ thuật, công nghệ
Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin Một loạt những phát minh được ứng dụng trong thực tế gây ảnh hưởng trực tiếp, rõ rệt đến đời sống hàng ngày của con người như hàng loạt các phát minh mới về công nghệ sinh học: sinh sản vô tính, công nghệ máy tính,… Những phát minh này không chỉ ảnh hưởng đễn các phương thức sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nhu cầu sản phẩm và chất lượng sản phẩm trong DN Các sản phẩm sản xuất ra ngày càng
đa dạng và phong phú, chứa đựng một hàm lượng lớn tri thức Đây là xu hướng tiến tới nền kinh tế tri thức trên toàn cầu
Trang 18Trên bình diện xã hội, đó là những bước tiến nhảy vọt của nền văn minh nhân loại Song trên giác độ DN, trong cơ chế thị trường, đó không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức đối với sự tồn tại của DN Việc thiếu nhạy bén trong việc áp dụng những thành tựu khoa học mới nhất có thể là nguyên nhân đưa DN đến chỗ phá sản
Chính vì thế, việc đánh giá DN phải xem xét chúng trong môi trường của kỹ thuật công nghệ Việc đánh giá phải chỉ ra mức độ tác động của môi trường này đến SXKD
và khả năng thích ứng của DN trước những bước phát triển mới của khoa học công nghệ
Quan hệ doanh nghiệp với khách hàng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh dẫn đễn nhu cầu đa dạng về các sản phẩm dịch vụ đầu vào Do đó, mối quan hệ với khách hàng của DN cũng đa dạng Yếu tố khách hàng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN Khách hàng của DN có thể là các cá nhân, các DN khác hoặc Nhà nước, họ có thể là khách hàng hiện tại nhưng cũng có thể là khách hàng tương lai
Để đánh giá về doanh nghiệp, người ta căn cứ vào mối quan hệ bền vững của DN với khách hàng hay mức độ uy tín thể hiện ở thời gian hợp tác với khách hàng, chất lượng khách hàng (thể hiện ở tiếng tăm của họ), số lượng của khách hàng và khả năng phát triển mối quan hệ lâu dài với khách hàng Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất vẫn là thị phần hiện tại của doanh nghiệp, thị phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ phát triển của chỉ tiêu này qua các thời kỳ kinh doanh khác nhau của DN
Trang 19DN thường phải trông đợi sự cung cấp từ bên ngoài các hàng hoá, NVL, các dịch
vụ điện, nước, thông tin tư vấn Tính ổn định của nguồn cung cấp đó có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ được thực hiện theo yêu cầu mà DN đã định ra
Do tính khan hiếm của NVL nhiều khi DN cũng gặp phải những khó khăn nếu như không có sự cung cấp kịp thời và không có NVL thay thế Vì vậy, để đánh giá sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của DN ta phải quan tâm đến khả năng đáp ứng nhu cầu của DN, mối quan hệ của DN với các nhà cung cấp
Các hãng cạnh tranh
Cạnh tranh là hoạt động tranh đua nhằm giành giật những điều kiện sản xuất và kinh doanh có lợi nhất giữa các DN cùng sản xuất và kinh doanh cùng loại mặt hàng hoặc những mặt hàng có thể thay thế được cho nhau
Cạnh tranh được thể hiện dưới ba hình thức:
- Cạnh tranh về giá cả
- Cạnh tranh về chất lượng
- Cạnh tranh về dịch vụ bảo hành, sửa chữa (hậu thương mại)
Được sự ủng hộ từ phía nhà nước, hầu hết các lĩnh vực kinh tế, mức độ cạnh tranh giữa các DN trên thị trường trong nước và quốc tế ngày càng trở nên quyết liệt hơn Sự quyết liệt trong cạnh tranh được coi là mối nguy cơ trực tiếp đến sự tồn tại của
DN Do đó, đánh gía năng lực cạnh tranh, ngoài việc xem xét trên 3 tiêu chuẩn trên còn phải xác định được số lượng DN tham gia cạnh tranh, năng lực thực sự và thế mạnh của họ là gì Đồng thời phải chỉ ra được những yếu tố và mầm mống có thể làm xuất hiện các đối thủ mới Có như thế mới kết luận được sự đúng đắn về vị thế và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường
Các cơ quan nhà nước
Trang 20Trong cơ chế thị trường, DN tuy được chủ động trong hoạt động SXKD, tuy nhiên nhưng sự hoạt động của DN luôn phải được đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước như cơ quan thuế, thanh tra, các tổ chức công đoàn… Các tổ chức này
có trách nhiệm kiểm tra giám sát đảm bảo cho hoạt động của DN không vượt ra khỏi những quy ước của xã hội bằng các luật thuế, môi trường, luật cạnh tranh, luật công đoàn,
DN có mối quan hệ tốt đẹp với các tổ chức đó thường là DN thực hiện tốt nhiệm
vụ đối với xã hội như nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, chấp hành tốt luật lao động, quan tâm giải quyết vấn đề môi trường sinh thái Đó cũng là biểu hiện của những DN có tiềm lực tài chính vững mạnh, lợi nhuận thu được không phải bằng cách buôn lậu, trốn thuế, làm hàng hoá giả Vì vậy, xác định sự tác động của yếu tố môi trường đặc thù đến SXKD còn cần phải xem xét chất lượng và thực trạng của mối quan hệ giữa DN với các tổ chức đó trong những khoản thời gian xác định
2.2 Các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp
2.2.1 Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp
Tài sản trong DN là toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình nằm trong danh mục bảng cân đối kế toán tại thời điểm đánh giá Đây là một quan niệm cần thiết để phân
biệt nó với lợi thế thương mại
Số lượng và cơ cấu các loại tài sản thường có sự khác nhau giữa các DN ngay cả khi chúng ở trong cùng ngành SXKD Khi xác định GTDN, bao giờ người ta cũng quan tâm đến hiện trạng tài sản vì:
- Tài sản DN là biểu hiện của yếu tố vật chất cần thiết, tối thiểu đối với quá trình SXKD Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và tính đồng bộ của các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng, chất lượng sản phẩm của DN Tức là, khả năng cạnh tranh của DN phụ thuộc trực tiếp vào yếu tố này
Trang 21- Giá trị tài sản của DN được coi là một căn cứ và là một sự bảo đảm rõ ràng nhất
về GTDN Vì thay cho việc dự báo các khoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc nào để nhận được thu nhập từ tài sản đó
Do đó, trong thực tế, người ta thường vận dụng phương pháp có liên quan trực tiếp đến việc xác định giá trị tài sản của DN
2.2.2 Vị trí kinh doanh
Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với SXKD Vị trí kinh doanh bao gồm các yếu tố như địa điểm, diện tích của DN và các chi nhánh của DN, yếu tố địa hình, thời tiết, môi trường sinh thái, an ninh khu vực, thu nhập dân cư trong vùng, tốc
độ phát triển kinh tế và khả năng cung cấp các dịch vụ cho sản xuất của khu vực đó
DN hoạt động thương mại có vị trí thuận lợi là DN hoạt động ở khu vực đông dân
cư, trung tâm buôn bán, các đầu mối giao thông quan trọng Với vị trí thuận lợi, DN có thể giảm được chi phí vận chuyển, bảo quản, lưu kho, giao dịch… đồng thời DN có những thuận lợi lớn để tiếp cận với nhu cầu, thị hiếu của thị trường,… Bên cạnh đó,
DN phải chịu những chi phí cao về thuê văn phòng, thuê lao động, và có thể phải di chuyển trụ sở đi nơi khác do sự quy hoạch của nhà nước
Những thuận lợi và bất lợi cơ bản của yếu tố vị trí đối với SXKD là lý do chủ yếu giải thích sự chênh lệch về giá cả đất đai, giá thuê nhà giữa các khu vực với nhau Và
vì thế, khi nói về yếu tố lợi thế thương mại, người ta thường trước hết đề cập đến yếu
tố vị trí Trong thực tế, do có sự khác nhau về vị trí kinh doanh mà có sự chênh lệch rất lớn khi đánh giá về GTDN Vì vậy, vị trí kinh doanh cần được coi là một trong các yếu
tố quan trọng hàng đầu khi đưa ra phân tích, đánh giá GTDN
Trang 22sản phẩm cao, do trình độ và năng lực quản trị kinh doanh giỏi, do có nghệ thuật quảng cáo, do thái độ phục vụ tận tình của nhân viên
Trong thực tế, có những DN trong nước có thể sản xuất những mặt hàng có chất lượng không thua kém gì hàng nước ngoài nhưng không thể bán với giá cao vì chưa gây được uy tín với khách hàng
Như vậy, có thể thấy rằng, khi sản phẩm đã được đánh giá cao trong con mắt của khách hàng thì uy tín đã trở thành một tài sản thực sự, chúng có giá, và người ta gọi
chúng là giá trị của nhãn mác hay thương hiệu Trong nền kinh tế thị trường, người ta
có thể mua bán quyền dán nhãn mác các sản phẩm, quyền dán nhãn mác có khi được đánh giá rất cao Vì vậy, uy tín của DN được đông đảo các nhà kinh tế thừa nhận là một yếu tố quan trọng hình thành nên GTDN
2.2.4 Trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao động
Một trong những yếu tố quyết định sự thắng lợi trong cạnh tranh là chất lượng sản phẩm sản xuất ra phải được thị trường đánh giá cao Chất lượng sản phẩm DN một mặt phụ thuộc vào trình độ của máy móc thiết bị, một mặt phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và tay nghề của nhân viên
Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn có thể làm giảm chi phí SXKD
do việc sử dụng hợp lý NVL, trong quá trình sản xuất, giảm được chi phí đào tạo, bồi dưỡng từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho DN
Để đánh giá về trình độ kỹ thuật tay nghề của người lao động ta không chỉ xem ở bằng cấp, bậc thợ, số lượng lao động đạt được các chuẩn mực đó mà quan trọng hơn, trong điều kiện hiện nay, còn phải xem xét hàm lượng tri thức có trong mỗi sản phẩm
mà DN sản xuất Khi đánh giá khả năng tồn tại và phát triển, khả năng sáng tạo ra lợi nhuận của DN, cần thiết phải xem xét đến trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao động, coi chúng như một yếu tố nội tại quyết định đến GTDN
Trang 232.2.5 Năng lực quản trị kinh doanh
Một trong những yếu tố quyết định đến hoạt động SXKD, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh… là khả năng quản lý Cách tổ chức tốt trong việc sử dụng các nguồn lực sản xuất, tận dụng, nắm bắt các cơ hội nảy sinh, ứng phó năng động với sự biến động của môi trường,… là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của DN trên thị trường Do đó, năng lực quản trị kinh doanh là một yếu tố quan trọng đặc biệt trong GTDN
Năng lực quản trị kinh doanh của một DN cần được xem xét về khả năng hoạch định chiến lược, chiến thuật, trình độ tổ chức bộ máy quản lý, năng lực quản trị các yếu
tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất, khả năng quản trị nguồn nhân lực
Năng lực quản trị kinh doanh là một yếu tố định tính nhiều hơn là yếu tố định lượng Vì vậy, khi đánh giá cần phải xem xét chúng dưới sự tác động của môi trường
Ngoài ra, năng lực quản trị kinh doanh còn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính của DN Do đó, thực hiện phân tích một cách toàn diện tình hình tài chính trong những năm gần đây với thời điểm đánh giá cũng có thể rút ra những kết luận quan trọng về năng lực quản trị và sự tác động của nó đến GTDN
Tóm lại,
- GTDN bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài
- Các yếu tố đã phân tích trên có tác động lẫn nhau, chúng được xác định về mặt định tính nhiều hơn định lượng Thực hiện sự đánh giá về chúng, người ta xây dựng các tiêu thức cơ bản rồi áp dụng phương pháp xếp hạng cho điểm Tuy nhiên, phương pháp này mang nặng tính chủ quan của người đánh giá, do đó để hạn chế yếu điểm này, người ta đánh giá chúng bởi số đông, có thể là một hội đồng Mặc dù vậy, quyết định xếp hạng không phải lúc nào cũng đúng Quyết định khách quan cuối cùng là thị trường
- GTDN là khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư, người mua
DN không phải là mua lấy những tài sản, uy tín kinh doanh và trình độ quản lý giỏi
mà là sự đánh đổi lấy các khoản thu nhập tiềm năng ở DN Do đó, ta phải nghiên cứu
Trang 24chúng để phân biệt các yếu tố tác động tới cấu thành DN và làm cơ sở để xác định GTDN
III Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 3.1 Xác định giá trị doanh nghiệp là gì?
Ta có các nhận xét sau:
- GTDN có thể khác xa so với giá bán DN trên thị trường GTDN được đo bằng
độ lớn của các khoản thu nhập mà DN có thể đem lại cho các nhà đầu tư Giá mua bán của DN hình thành trên thị trường chịu ảnh hưởng bởi các quy luật trên thị trường như quy luật cung-cầu DN, cung-cầu về chứng khoán và tiền tệ
- Khi nào còn tồn tại DN với tư cách là một tổ chức pháp nhân thì còn tồn tại khái niệm GTDN ngay cả khi không còn tồn tại quan hệ mua bán DN Do đó, GTDN cần bên thứ ba xác định để đảm bảo yếu tố trung thực khách quan trong việc xác định GTDN
- Xác định GTDN không đơn giản chỉ để mua bán, sát nhập, hợp nhất, chia nhỏ
DN mà còn có tác dụng cổ phần hoá, xác định vị thế tín dụng, cung cấp cho hoạt động quản lý vĩ mô,
Như vậy, xác định GTDN hay còn gọi là định giá DN thực chất là việc lượng hoá các khoản thu nhập mà DN có thể tạo ra trong quá trình SXKD làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường thuộc thị trường
3.2 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
Cùng với sự đa dạng về cách nhìn nhận, đánh giá GTDN ở các góc độ khác nhau dẫn đến tồn tại nhiều phương pháp xác định GTDN
3.2.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần a)Cơ sở lý luận
Phương pháp này dựa trên quan điểm : “giá trị của một DN được tính bằng tổng giá thị trường của số tài sản mà DN hiện đang sử dụng vào SXKD”
Trang 25DN có hoạt động được là nhờ vào số vốn và tài sản hiện có trong DN, trong quá trình hoạt động DN có thể phát triển số tài sản hoặc thâm hụt số tài sản của mình
b) Phương pháp xác định
Trong số tài sản của DN trên Bảng cân đối kế toán, có những tài sản thuộc sở hữu của DN nhưng có nhiều tài sản không thuộc quyền sở hữu của DN như các khoản phải trả (công nhân viên, người bán, nhà nước ) Do vậy, khi xác định GTDN ta phải loại
bỏ các khoản này, có nghĩa là, ta phải xác định giá trị tài sản thuần
V0=Vt-Vn
Vo: Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu DN Vt: Tổng giá trị tài sản mà DN sử dụng vào SXKD Vn: Giá trị các khoản nợ
Do đó, theo cách này, người ta có thể :
1) Xác định GTDN bằng cách dựa vào Bảng cân đối kế toán
Giá trị doanh nghiệp thuần = Tổng tài sản –
Tổng các khoản nợ Ngắn hạn và Dài hạn
2) Xác định giá trị tài sản theo giá thị trường
Cách này có ưu điểm hơn vì:
- Giá trị tài sản phản ánh trên sổ kế toán là giá gốc, có tính lịch sử nên có thể đã bị thay đổi tại thời điểm xác định GTDN
- Giá trị còn lại của TSCĐ phản ánh trên sổ kế toán cao hay thấp phụ thuộc vào việc DN đang sử dụng phương pháp khấu hao nào, thời điểm mà DN xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọ kinh tế của TSCĐ Vì vậy, giá trị TSCĐ phản ánh trên sổ kế toán thường không phù hợp với giá thị trường tại thời điểm xác định gía trị DN
- Đối với HTK (hàng hoá, vật tư, công cụ dụng cụ ) hoặc hàng đang dùng trong sản xuất, một mặt phụ thuộc vào phương pháp tính giá hàng tồn kho, phụ thuộc vào
Trang 26tiêu thức phân bổ chi phí khác nhau cho số hàng hoá dự trữ, mặt khác chất lượng HTK tại thời điểm xác định GTDN có thể bị thay đổi do HTK đã để lâu ngày kém, mất phẩm chất, không dùng được
Để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết người ta loại ra những tài
sản không cần dùng(nếu vẫn có giá trị vẫn không tính vào tài sản của DN CPH) và
không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của SXKD, sau đó tiến hành đánh giá số tài sản còn lại trên nguyên tắc sử dụng giá thị trường để tính cho từng tài sản hoặc từng tài sản cụ thể:
- Đối với TSCĐ và lưu động là hiện vật thì đánh giá theo giá thị trường nếu trên thị trường có bán những tài sản như vậy
Nếu trên thị trường, không tồn tại loại TSCĐ đã cũ, đã qua sử dụng Khi đó, người ta xác định giá trị tài sản dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ sản xuất của tài sản
để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ trên giá trị của một TSCĐ mới
- Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì người ta áp dụng một
hệ số quy đổi so với các TSCĐ khác loại có tính năng tương đương
- Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dư trên tài khoản Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường tại thời điểm đánh giá Vàng, bạc, kim đá quý cũng được xác định tương tự như vậy
- Các khoản phải thu: Do khả năng đòi nợ các khoản này ở nhiều mức độ khác nhau nên bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ, xác minh tính pháp
lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải thu nhằm loại ra những khoản mà DN không có khả năng đòi được hoặc khả năng đòi được là thấp
- Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài DN : Về mặt nguyên tắc phải thực hiện đánh giá một cách toàn diện về giá trị đối với các DN hiện đang sử dụng khoản đầu tư
đó Tuy nhiên, nếu các khoản đầu tư này không lớn, người ta thường trực tiếp dựa vào giá thị trường của chúng dưới hình thức chứng khoán hoặc căn cứ vào số liệu của bên đối tác liên doanh để xác định theo cách thứ nhất
- Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản : Tính theo chiết khấu dòng thu nhập tương lai
Trang 27- Các tài sản vô hình theo phương pháp này người ta chỉ thừa nhận giá trị của các tài sản vô hình đã được xác định trên sổ kế toán và thường không tính đến lợi thế thương mại của DN
Ta có công thức sau:
Giá trị tài sản DN thuần
=
Giá trị của các tài sản đã được xác định
-
Các khoản
nợ
-
Khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêm của số tài sản được đánh giá tại thời điểm xác định
GTDN
Phương pháp này có đặc điểm là:
- Không coi DN là một thực thể, bỏ qua các giá trị về lợi thế DN, đánh giá tài sản
DN như một thực thể riêng rẽ, không có mối liên quan với nhau nên không phản ánh được tầm nhìn chiến lược của DN, triển vọng sinh lời của DN
- Trong nhiều trường hợp, xác định giá trị tài sản thuần trở nên phức tạp do một tập đoàn có nhiều chi nhánh lại có số lượng rất lớn các tài sản chi tiết Do vậy, chi phí đánh giá tốn kém và không chính xác do phụ thuộc vào thông số kỹ thuật của tài sản
mà các nhà kỹ thuật chuyên nghành đưa ra, vì vậy sai số đánh giá có thể rất cao
Tuy nhiên, phương pháp này lại phản ánh chính xác giá trị mà người chủ sở hữu
có được trong DN dựa trên giá thị trường của các tài sản, nó làm giá cơ sở cho việc xác định giá bán DN Phương pháp này rất phù hợp với những DN có quy mô nhỏ
3.2.2 Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính trong tương lai
Phương pháp này nhìn nhận xác định GTDN dưới góc độ đánh giá độ lớn các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong tương lai
Vo =
n t
Ft
1(1 )
Vo: GTDN Ft: Thu nhập đem lại cho nhà đầu tư ở năm thứ t
Trang 28i: tỷ suất hiện tại hoá (tỷ suất chiết khấu) N: thời gian nhận được thu nhập (năm)
Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai bao gồm:
- Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận
- Phương pháp định giá chiết khấu
- Phương pháp hiện tại hoá các dòng thu nhập của DN trong tương lai
3.2.3 Phương pháp định lượng Goodwill (lợi thế thương mại)
Phương pháp này xác định dựa trên giả định sau:
Một DN A ứng ra một lượng vốn là 100, thu về khoản lợi nhuận là 10 ( 10% tỷ suất lợi nhuận trên vốn), DN B cũng ứng ra 100, thu về một khoản thu nhập là 15 (
15% tỷ suất lợi nhuận trên vốn)
Tại sao DN B cũng ứng ra một lượng vốn như vậy lại sinh ra một khoản lợi nhuận cao hơn A, chỉ có thể giải thích được rằng vì B có vị trí kinh doanh thuận lợi hơn, mạng lưới hàng hoá rộng hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, trình độ quản lý giỏi hơn, Đó là những yếu tố vô hình, chúng hội tụ lại đã làm nên khoản lợi nhuận vượt trội (5 đơn vị tiền tệ) so với DN A
Nếu như 10% là tỷ suất lợi nhuận trung bình trên thị trường thì khoản lợi nhuận 5 (5=15-10) là siêu lợi nhuận
Như vậy, cơ sở xác định giá trị của tài sản vô hình là giá trị hiện tại của khoản thu nhập do tài sản vô hình tạo ra Tức là bằng gía trị hiện tại của các khoản siêu lợi nhuận
Vo = ANC + GW
Vo: GTDN ANC: giá trị tài sản thuần GW: giá trị tài sản vô hình (lợi thế thương mại)
1(1 )
*
Trang 29Bt: lợi nhuận năm t (t=1,n) At: giá trị tài sản đưa vào kinh doanh r: Tỉ suất lợi nhuận bình thường của tài sản đưa vào kinh doanh r*At: lợi nhuận bình thường của tài sản năm t
Bt-r*At: siêu lợi nhuận ở năm t
3.2.4 Phương pháp định giá dựa vào PER (Price Earning Ratio)
PER được xác định dựa trên các nhận định cơ bản :
- Giá cả chứng khoán phụ thuộc vào cung cầu chứng khoán, đầu cơ, Do đó, giá
cả chứng khoán thường không phản ánh đúng giá trị chứng khoán của DN đã phát hành
- Thị trường chứng khoán hoàn hảo
Giá trị của
DN =
Lợi nhuận
dự kiến đạt được * PER quá khứ
Trong đó, PER là thông tin của những công ty lớn được công bố thường xuyên trên thị trường và kể cả PER trung bình của các DN cùng một lĩnh vực kinh doanh có chứng khoán đựơc giao dịch tại thị trường này Vì vậy, người ta phải sử dụng PER ở các kỳ trước
Trang 30IV Quy trình xác định giá trị doanh nghiệp trong công tác kiểm toán 4.1 Vai trò của kiểm toán trong xác định giá trị doanh nghiệp
Có thể nói, hoạt động kiểm tra kiểm soát luôn tồn tại song song với hoạt động quản lý Hoạt động kiểm tra kế toán ra đời ngay từ khi xuất hiện hoạt động kế toán nguyên thuỷ như dấu hiệu trên các sợi dây, thân cây, lá cây, Cùng với sự phát triển của quy luật ấy, kiểm tra nói chung cũng như kiểm tra kế toán nói riêng đã được quan tâm ngay từ thời kỳ bắt đầu xây dựng đất nước Từ những năm 90, ở Việt nam, kiểm toán độc lập đã hình thành và kiểm toán nhà nước cũng được thành lập
Có nhiều quan niệm về kiểm toán, nhưng có thể nói một cách tổng quát: “Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng một hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ, nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên
cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” – Giáo trình Lý thuyết kiểm toán – Nguyễn Quang
Quynh - ĐHKTQDHN
Như vậy, có thể nói, chức năng của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến Chức năng xác minh của kiểm toán khẳng định tính trung thực của tài liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nhiệm vụ hay việc lập các BCTC Xác minh BCTC phải đảm bảo 2 mặt:
- Tính trung thực của các con số
- Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính Chức năng bày tỏ ý kiến có thể được hiểu với ý nghĩa kết luận về chất lượng thông tin và cả tính pháp lý
Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các BCTC của các tổ chức hay một thực thể kinh tế Thông thường, các bản khai này được hiểu là các bảng tổng hợp kế toán (Bảng cân đối, bảng kết quả, bảng chu chuyển tiền tệ )
Khách thể kiểm toán là thực thể kinh tế hay một tổ chức Thực thể hay tổ chức ở đây là một thực thể pháp lý (một công ty, một đơn vị của Chính phủ, một chủ sở hữu ) hoặc một bộ phận, thậm chí một cá nhân
Trang 31Chủ thể thực hiện kiểm toán là những KTV độc lập, có nghiệp vụ (Tính độc lập
của KTV được quy định ở chuẩn mực Kiểm toán Việt nam số 510)
Quan niệm độc lập ở đây được hiểu là khi tham gia vào hoạt động kiểm toán có thái độ độc lập hay độc lập về nghiệp vụ Còn trình độ nghiệp vụ là trình độ lựa chọn
và tập hợp Báo cáo kiểm toán
Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung
Các luật định hoặc chuẩn mực này bao gồm cả lĩnh vực kế toán và kiểm toán
Có thể nói, có rất nhiều đối tượng cần biết đến số liệu chính xác của GTDN CPH như các nhà đầu tư, nhà nước, Vì vậy, đảm bảo tính chính xác, trung thực và khách quan thì đảm bảo phải có một tổ chức có tính độc lập và đủ quyền hạn, trách nhiệm pháp lý để đảm đương công việc xác định GTDN Và như vậy, công ty kiểm toán độc lập thực hiện công việc này là hợp lý
Đây cũng là pháp luật quy định, vì theo nguyên tắc xác định giá trị DN năm 1998,
“khi xác định giá trị thực tế của DN không nhất thiét phải thuê kiểm toán độc lập, những DN không thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về chế độ kế toán thống
kê thì cơ quan quyết định giá trị DN xem xét thuê kiểm toán độc lập xác định”
Thực chất của kiểm toán xác định GTDN là hoạt động kiểm toán BCTC kết hợp với các đặc thù của xác định GTDN là:
- Phân loại tài sản
- Đánh giá chất lượng tài sản
- Định giá tài sản dựa trên giá thị trường của tài sản đó hay giá tương đương của tài sản đó trên thị trường
4.2 Các phương pháp kiểm toán được sử dụng trong xác định giá trị doanh nghiệp
Kiểm toán là một môn khoa học cho nên nó cũng có những phương pháp chung như những cơ sở lý luận và phương pháp luận để hình thành nên phương pháp xác minh và bày tỏ ý kiến của mình phù hợp với đối tượng kiểm toán Hoạt động kiểm toán cũng có những phương pháp thực hiện riêng của mình là kiểm toán chứng từ và ngoài
Trang 32chứng từ Thực chất của kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp mà tác giả đề cập ở đây là xác định dựa trên bảng cân đối tài sản của DN Do đó, nó cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán tài chính thông thường
4.2.1 Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
Phươn g p háp này b ao gồ m: kiể m kê, đi ều tra và trắc n ghiệ m
Quy trình kiểm kê được thực hiện theo các bước sau:
1) Chuẩn bị kiểm kê: phải căn cứ vào mục tiêu, quy mô, thời hạn kiểm kê để
bố trí lực lượng và cơ cấu nhân viên, các thiết bị đo lường phù hợp và chính xác Đây là yếu tố quyết định chất lượng kiểm kê nói riêng và kiểm toán nói chung
2) Thực hiện kiểm kê: phải theo đúng yêu cầu và ghi chép đầy đủ theo từng
mã cân, lô hàng,… Phiếu, sổ mã cân trở thành chứng từ kiểm toán
3) Kết thúc kiểm kê: cần có biên bản trong đó phải nêu rõ chênh lệch, các
nguyên nhân và xử lý cụ thể Biên bản cần được đính kèm phiếu kiểm kê (mã cân) và bảng kê chất lượng về kết quả kiểm kê
Sự khác biệt trong kiểm kê của kiểm toán BCTC ở doanh nghiệp thông thường
và kiểm toán BCTC DNNN để CPH có sự khác biệt là:
- Nếu kiểm toán BCTC hướng tới kiểm kê tất cả các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì kiểm toán BCTC DNNN để CPH chỉ tiến hành kiểm kê theo hướng phân loại tài sản đang dùng, không cần dùng, chưa dùng, chờ thanh lý và theo nguồn hình thành tài sản (từ quỹ khen thưởng, phúc lợi,…)
Trang 33- Phương pháp kiểm kê kết hợp với các phương pháp kiểm toán khác (đối chiếu tổng hợp, logic, kiểm tra chứng từ… ), nhằm bảo đảm các cơ sở dẫn liệu của kiểm toán
b) Điều tra
Điều tra là phương pháp xác định lại một tài liệu hoặc một thực trạng để đi đến những quyết định hay kết luận kiểm toán Điều tra được sử dụng rất rộng rãi trong kiểm toán Chẳng hạn:
- Tìm hiểu khách thể kiểm toán hay làm quen với khách hàng kiểm toán Có thể tìm hiểu trực tiếp hoặc thông qua KTV tiền nhiệm hoặc gửi phiếu điều tra phỏng vấn
Đây là bước điều tra sơ bộ nhằm đưa ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận kiểm toán
- Tiếp cận với các bên liên quan: dò hỏi, phỏng vấn, thu lượm, tích luỹ dữ liệu, loại dần và thu gọn đối tượng xác minh cho những vấn đề kiểm toán
- Xác minh bằng văn bản qua thư xác nhận của các bên liên quan: có hai loại thư xác nhận:
+)Thư xác nhận khẳng định (posititive confirmation): đòi hỏi thông báo quả quyết
của bên nợ trên mọi giấy yêu cầu xác nhận về khoản nợ hoặc tiền hàng của chủ nợ hoặc đúng, sai hoặc có phần lưu ý Trong trường hợp này, mọi giấy yêu cầu đều được trả lời
+)Thư xác nhận phủ định (negative confirmation): chỉ đòi hỏi thông báo của bên
nợ khi không đồng tình với số tiền ghi trên giấy yêu cầu xác nhận và găm trên báo cáo của người mua
Vì vậy, với xác nhận khẳng định, khi chưa nhận được trả lời, thường phải làm thêm những trình tự xác minh, do đó, xác nhận này là bằng chứng đáng tin cậy hơn xác nhận phủ định Ngược lại với xác nhận phủ định, việc không trả lời cũng không coi là phủ định ngay cả khi người mua không biết có yêu cầu xác nhận Cũng vì thế, chi phí cho xác nhận khẳng định lớn hơn chi phí cho xác nhận phủ định Việc sử dụng loại bằng chứng nào là tuỳ thuộc vào kinh nghiệm và phán đoán của KTV
Trang 34Trong kiểm toán BCTC để xác định GTDN, phương pháp này được sử dụng nhiều trong việc xác minh giá trị các khoản nợ vay, tiền gửi ngân hàng
Độ chính xác của các bằng chứng thu thập được từ phương pháp này là lớn do tính khách quan của nó (bằng chứng thu thập được từ bên thứ ba)
- Chọn mẫu hoặc chọn điển hình các đối tượng kiểm toán, xác minh làm rõ các vấn đề kiểm toán
Để đảm bảo hiệu quả kiểm toán, điều tra cần đựơc kết hợp với hàng loạt kỹ thuật
dự báo, dự đoán cụ thể như chi tiết, phân loại, tổng hợp đối tượng kiểm toán, chọn mẫu ngẫu nhiên hoặc chọn điển hình và cả những kinh nghiệm trong việc tiếp cận, tìm hiểu những đối tượng liên quan
Cũng như với cuộc kiểm toán thông thường khác, kiểm toán BCTC của DNNN
để CPH, cũng chọn mẫu đối tượng kiểm toán khi số lượng các đối tượng chi tiết kiểm toán là quá lớn
Từ một đối tượng các mẫu nhỏ, đặc trưng, mang tính đại diện cao mà cụ thể là có giá trị lớn, KTV sẽ ước lượng, xác định giá trị đối với tổng thể Nhưng đối với những tài sản chiếm phần lớn giá trị trong tổng tài sản của DN thì KTV sẽ thực hiện kiểm toán trên toàn bộ đối tượng tài sản
Đặc điểm khác biệt lớn nhất của kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp là báo cáo tài chính thực hiện kiểm toán dựa trên giá gốc, kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp chủ yếu dựa trên giá thị trường của tài sản đó
Do đó, KTV chỉ thực hiện xác minh lại giá trị đối với những tài sản cần thiết phải dùng đễn số liệu trên sổ sách như đối với những tài sản mới mua sắm, các khoản phải thu, phải trả, nợ vay, tiền gửi ngân hàng
c) Thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp diễn lại hoặc nghiên cứu phân tích từng yếu tố cấu thành của một tài sản, một quá trình đã có, đã diễn ra cần xác minh lại Do vậy, thực nghiệm còn được gọi là phương pháp “làm lại” Chẳng hạn, để xem xét lại hao phí hoặc kết quả sản xuất có thể phải làm thử lại một mẻ hàng để khẳng định rõ những
Trang 35điểm nghi vấn VD: mức hao phí vật liệu hoặc sản lượng hoặc lao động tương ứng
Trong một số trường hợp, kiểm toán phải sử dụng nhiều cách thức trong hoá nghiệm, trong kỹ thuật hình sự, để khẳng định một vụ việc trước khi đưa ra những kết luận kiểm toán
Trong kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp, KTV sử dụng phương pháp này
để xác minh lại chất lượng hoạt động của tài sản cố định, qua đó đánh giá công suất, và xác định tỷ lệ còn lại Ngoài ra, kỹ thuật này còn được sử dụng trong xác minh lại qui trình sản xuất, để đánh giá lại sản phẩm dở dang
4.2.2 Phương pháp kiểm toán chứng từ
Phương pháp kiểm toán chứng từ bao gồm: kiểm toán các cân đối kế toán, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic
a) Kiểm toán cân đối
Phương pháp kiểm toán cân đối dựa trên mối liên hệ thống nhất và mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập của một sự vật hiện tượng Các quan hệ này được cụ thể hoá bằng các quan hệ khác nhau như cân đối giữa nguồn lực và kết quả, giữa số phát sinh Nợ và phát sinh Có, giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản đó
Trong kiểm toán, ta có phương trình cân đối tổng quát theo từng đối tượng
Ví dụ, với bảng cân đối tài sản:
Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Công nợ Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Với bảng cân đối số phát sinh
Tổng phát sinh Nợ của các Tài khoản =
Tổng phát sinh có của các Tài khoản
Trong kiểm toán cân đối phải dựa vào số ghi Nợ và số ghi Có và giữa số đầu kỳ
và số tăng trong kỳ với số cuối kỳ và số giảm trong kỳ của kế toán kép
Trang 36Kiểm toán báo cáo tài chính DNNN để CPH sử dụng kỹ thuật này để kiểm tra tính đúng đắn của số liệu được cộng dồn trên các sổ kế toán, qua đó, có hướng xác minh tiếp theo
b) Đối chiếu trực tiếp
Đối chiếu trực tiếp là so sánh về mặt lượng trị số của cùng một chỉ tiêu trên các chứng từ kiểm toán Đối chiếu này thường có trong các trường hợp sau:
1) Đối chiếu giữa số đầu kỳ và số cuối kỳ năm và giữa các kỳ trên các Bảng cân đối tài sản để nghiên cứu động thái của các mặt hoạt động tương ứng với chỉ tiêu trên đó (đối chiếu ngang) hoặc giữa các bộ phận tổng thể để xem xét cơ cấu, phân bố từng quần thể (đối chiếu dọc)
2) Đối chiếu giữa số dự toán, định mức, kế hoạch với số thực tế để đánh giá mức độ phấn đấu, thực hiện các mục tiêu thể hiện trên các chỉ tiêu tương ứng
3) Đối chiếu trị số của cùng một chỉ tiêu trong cùng một thời kỳ trên các chứng từ tổng hợp khác nhau Chẳng hạn, chỉ tiêu lợi nhuận hay lợi nhuận còn lại trên các bảng cân đối
4) Đối chiếu các con số của cùng một chứng từ được bảo quản lưu trữ ở các địa điểm khác nhau Loại đối chiếu này được thực hiện phổ biến trong kiểm toán các khoản giao dịch với ngân hàng, các khoản thu về bán hàng và các khoản chi về mua hàng
5) Đối chiếu trị số và các chỉ tiêu với các trị số cấu thành chỉ tiêu đó
Chẳng hạn, đối chiếu các yếu tố số lượng, đơn giá với số tiền trên các chứng từ gốc, đối chiếu các khoản mục cấu thành các loại tài sản hoặc nguồn vốn trong Bảng cân đối tài sản, đối chiếu các khoản thu chi với các loại hoạt động trong bảng chu chuyển tiền
tệ hoặc bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Tuy nhiên đối chiếu trực tiếp chỉ được sử dụng trong trường hợp các chỉ tiêu được hạch toán theo cùng một chuẩn mực, cùng nội dung, phương pháp, đơn vị tính toán và trong cùng một khoảng thời gian điều kiện tương tự nhau
Trang 37Trong kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp, phương pháp này được sử dụng
để tính toán, cộng dồn số liệu trên các chứng từ gốc, so sánh với sổ chi tiết, sổ cái để xác định giá trị hợp lý
c) Đối chiếu logic
Đối chiếu logic là việc xem xét mức biến động tương ứng về trị số và các chỉ tiêu
có quan hệ kinh tế trực tiếp song có thể có mức biến động khác nhau và có thể theo hướng khác nhau Ví dụ:
- HTK giảm có thể dẫn đến tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và các khoản phải thu tăng Xu hướng biến động giữa HTK và các khoản mục liên quan nói trên là ngược nhau và mức biến động cũng có thể không đồng nhất trên từng khoản mục
- TSCĐ tăng có thể dẫn đến tiền vay ngắn và dài hạn tăng hoặc chi phí xây dựng giảm Trường hợp này, có thể mức biến động tương xứng và xu hướng biến động có thể cùng chiều (nếu vay nợ) hoặc ngược chiều (nếu kết chuyển chi phí xây lắp hoặc dùng tiền để mua)
- Vốn bằng tiền giảm có thể dẫn tới hàng hoá vật tư tăng hoặc các khoản phải trả giảm
Phương pháp này được sử dụng rất sử dụng phổ biến trong việc xem xét các quan
hệ kế toán tài chính của đối tượng kiểm toán Từ đó định hướng cho việc kiểm toán các đối tượng cụ thể khi phát hiện mâu thuẫn và xua hướng biến động của các chỉ tiêu liên quan
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi hơn như những cách tư duy suy lý cho những mối liên hệ kể cả chưa được lượng hoá trong công tác kiểm toán Theo đó, kiểm toán tài chính đã hình thành 3 loại trắc nghiệm: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp các số dư, và trắc nghiệm phân tích
Cũng như trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp sử dụng phương pháp này để đánh giá tính hợp lý của số liệu, tìm ra xu hướng hoặc tìm ra những khoản mục nghi vấn, định hướng cho việc xác minh
Trang 384.3 Hệ thống mục tiêu của kiểm toán BCTC để cổ phần hoá và mục tiêu xác định giá trị doanh nghiệp
Nếu như kiểm toán báo cáo tài chính hướng tới tính hợp pháp, hợp lý và trung thực của số liệu trên báo cáo tài chính, và kết quả cuối cùng là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính đó thì kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp quan tâm đến số liệu kiểm kê thực tế qua đó định giá lại tài sản, phần liên quan đến báo cáo tài chính cũng được KTV đưa ra trong phần kiến nghị, nhận xét nhưng không phải chỉ nhận xét về báo cáo tài chính mà còn về cả các yếu tố bên trong và bên ngoài DN
ở đây, ta chỉ xem xét cuộc xác định GTDN đối với các DNNN không thực hiện
đúng chế độ kế toán hiện hành Khi đó, việc xác định giá trị DN phải đi cùng với kiểm toán các thông tin trên BCTC, phân loại tài sản và kết hợp với việc định giá lại tài sản, loại ra khỏi GTDN những tài sản không cần dùng Như vậy, việc kiểm toán BCTC để
cổ phần hoá và để xác định GTDN cũng tương tự như kiểm toán BCTC nhưng có đặc điểm là phân loại tài sản và định giá lại tài sản
Do đó, ngoài các mục tiêu chung mà kiểm toán BCTC phải hướng, kiểm toán báo cáo tài chính để xác định giá trị doanh nghiệp còn phải hướng tới các mục tiêu đặc thù
Các mục tiêu chung của kiểm toán báo cáo tài chính là:
- Tính có thực của thông tin: thông tin phản ánh tài sản hoặc vốn phải được đảm bảo bằng sự tồn tại của tài sản, vốn hoặc tính thực tế xảy ra của nghiệp vụ
- Tính trọn vẹn: thông tin không bị bỏ sót trong quá trình xử lý
- Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa giá tài sản cũng như giá phí (giá thành) đều được tính theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải chi ra đê mua hoặc thực hiện các hoạt động
- Tính chính xác cơ học: các phép tính cộng dồn khi chuyển sổ, sang trang phải được tính đúng đắn
- Tính đúng đắn trong phân loại và trình bày: phân loại tài sản và nguồn vốn đúng, định khoản phù hợp với bảng tài khoản của đơn vị,… những trường hợp đặc biệt phải được phản ánh rõ ràng
Trang 39- Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị: tài sản phản ánh trên BCTC phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị, còn vốn và công nợ phản ánh đúng nghĩa vụ của dơn vị này
Như vậy, mục tiêu chung của kiểm toán BCTC cũng là mục tiêu của kiểm toán BCTC của DNNN để xác định giá trị DN để CPH
Ngoài những mục tiêu mà kiểm toán BCTC phải hướng tới, hệ thống mục tiêu kiểm toán BCTC để xác định giá trị DNNN để CPH còn phải hướng tới :
- Tính phân loại hợp lý: các tài sản không cần dùng, chưa cần dùng, tài sản chờ thanh lý, tài sản kém, mất phẩm chất,… cần phải được phân loại đúng đắn
- Tính hợp lý về mặt định giá: đảm bảo chính xác trong kiểm kê, đánh giá chất lượng tài sản, định giá phù hợp với thị trường
- Tính hợp lý về chất lượng tài sản: đối với những tài sản đã hỏng hoặc kém phẩm
chất, cần có ý kiến của chuyên gia
4.4.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Vì ở đây ta xem xét xác định GTDN đối với những DN không thực hiện đúng chế
độ kế toán, cho nên, việc định giá tài sản phải dựa trên số liệu kế toán đã được kiểm toán và việc định giá DN dựa trên BCTC Trong quá trình thực hiện kiểm toán, việc định giá đi song song Do đó, để chuẩn bị cho kế hoạch xác định giá trị DN ta cần quan tâm đến các vấn đề sau:
Sau khi nhận đựơc yêu cầu của khách hàng, KTV phải:
Trang 40a)Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV chỉ chấp nhận kiểm toán khi
cuộc kiểm toán này không ảnh hưởng đến uy tín của KTV cũng như công ty kiểm toán
KTV xem xét về:
1) Hệ thống kiểm soát chất lượng: bao gồm tính độc lập của KTV, khả năng phục vụ tốt khách hàng của KTV và công ty kiểm toán và tính liêm chính của ban giám đốc công ty khách hàng
2) Liên lạc với KTV tiền nhiệm: KTV thông qua KTV tiền nhiệm để tìm hiểu về khách hàng
KTV phải đựơc đảm bảo rằng hệ thống kế toán của khách hàng phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng minh cho các nghiệp vụ đã phát sinh và phải đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ cần được ghi chép thì thực tế cũng được ghi lại
b)Nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng: KTV cần xác định người sử dụng
GTDN, mục đích của việc xác định giá trj DN (để CPH hay để bán…), từ đó lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp và các thủ tục kiểm toán, quy mô kiểm toán thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán
c)Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán: lựa chọn đội ngũ nhân viên
kiểm toán phải đảm bảo có ít nhất một KTV hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng, số lượng nhân viên kiểm toán phụ thuộc vào quy mô, thời gian, chất lượng của cuộc kiểm toán
d)Hợp đồng kiểm toán: sau khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán đượcc
của khách hàng, KTV sẽ thực hiện kí kết hợp đồng xác định GTDN và hẹn ngày thực hiện
4.4.2 Thu thập thông tin cơ sở
KTV tìm hiểu sơ bộ về khách hàng, qua đó đánh giá mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác
-Tìm hiểu nghành nghề, hoạt động kinh doanh của khách hàng