CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI THỰC PHẨM AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN Đỗ Thị Hà Phương*, Đoàn Thị Mai, Chu Th
Trang 1CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI THỰC PHẨM AN TOÀN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Đỗ Thị Hà Phương*, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang
Trường Đại học Nông lâm - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Sử dụng dữ liệu thu được từ khảo sát 150 mẫu người tiêu dùng thực phẩm an toàn (TPAT) và áp dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy đa biến, bài viết nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn trên địa bàn TP Thái Nguyên Trong đó, người dân sẵn sàng chi trả thêm chủ yếu từ 10% đến 30% cao hơn so với giá của các loại thực phẩm thông thường Kết quả nghiên cứu cho thấy biến quan tâm sức khỏe, biến Thái độ của người tiêu dùng về thực phẩm an toàn và sự tin tưởng của người tiêu dùng ảnh hưởng lớn tới quyết định mua thực phẩm an toàn và sự sẵn lòng chi trả thêm cho thực phẩm an toàn Mặt khác, biến rủi ro cảm nhận không ảnh hưởng tới sự sẵn lòng chi trả thêm cho thực phẩm an toàn Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường TPAT tại TP Thái Nguyên
Từ khóa: Mức sẵn lòng chi trả, thực phẩm an toàn, phân tích nhân tố khám phá, quan tâm tới sức
khỏe, rủi ro cảm nhận
ĐẶT VẤN ĐỀ *
Cùng với mức thu nhập tăng và chất lượng
cuộc sống được cải thiện, nhu cầu và mức độ
nhận thức của người Việt Nam về vai trò của
thực phẩm an toàn đối với sức khỏe ngày một
cao hơn Điều này dẫn đến nhu cầu về thực
phẩm sạch ngày một tăng Xu hướng này chỉ
ra tiềm năng rất lớn cho phát triển thị trường
các sản phẩm thực phẩm an toàn
Tại TP Thái Nguyên, với số dân hơn 300.000
người, cùng với mức thu nhập tăng và chất
lượng cuộc sống được cải thiện, nhu cầu và
mức độ nhận thức về thực phẩm an toàn ngày
càng cao, đặc biệt trong bối cảnh việc sử dụng
hoá chất cho thực phẩm không được kiểm
soát và những vụ ngộ độc về thực phẩm ngày
càng gia tăng Hầu hết các nghiên cứu đều
được tiếp cận từ góc độ người sản xuất và
thiên về hướng kỹ thuật Trong khi đó, để
phát triển thị trường thực phẩm an toàn bền
vững và tránh nghịch lý về cung-cầu đang tồn
tại trong thị trường này, người sản xuất và
người phân phối phải hiểu được người tiêu
dùng hiện nay đang nhận thức như thế nào về
thực phẩm an toàn (TPAT), những yếu tố nào
*
Tel: 0917 677 688; Email: phuongdth.tnu@gmail.com
tác động đến hành vi mua TPAT, mức sẵn lòng chi trả cho TPAT và yếu tố nào đang cản trở quyết định mua của người tiêu Có như vậy, người sản xuất và phân phối mới có thể hiểu được thực trạng thị trường TPAT tại TP Thái Nguyên hiện nay như thế nào, từ đó có những giải pháp marketing phù hợp nhằm phát triển thị trường Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) Xác định mức sẵn lòng chi trả (Willing to pay) của người tiêu dùng đối với TPAT trên địa bàn TP Thái Nguyên
(2) Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự sẵn lòng chi trả đối với TPAT
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường TPAT tại TP Thái Nguyên
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Thực phẩm an toàn là loại thực phẩm:
- Không chứa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật
- Không chứa tác nhân sinh học gây bệnh (vi rút, vi sinh vật, ký sinh trùng) Bên cạnh đó thực phẩm cần phải:
- Có nguồn gốc, xuất xứ đầy đủ, rõ ràng;
- Được kiểm tra, đánh giá chứng nhận về an toàn thực phẩm
Trang 2Hiện nay, tại Việt Nam, để kiểm soát và đo
lường chất lượng của thực phẩm, các cơ quan
nhà nước sử dụng Hệ thống quản lý chất
lượng HACCP (Phân tích mối nguy và kiểm
soát điểm tới hạn)
Sự sẵn lòng chi trả thêm được đo lường ở số
tiền hoặc phần trăm chi trả thêm cho sản
phẩm có tính năng vượt trội so với sản phẩm
thông thường Do đó, sự sẵn lòng chi trả thêm
được đánh giá như thước đo đo lường nhu cầu
đối với một sản phẩm mới so với sản phẩm
thông thường [4] Sản phẩm an toàn thường
được bán trên thị trường với mức giá cao hơn
so với giá của sản phẩm thông thường bởi chi
phí đầu vào cao và năng suất đầu ra thấp
Chính vì vậy, thực phẩm an toàn chỉ có thể
tồn tại trên thị trường khi người tiêu dùng
chấp nhận chi trả thêm một khoảng hợp lý để
mua sản phẩm này
Thái độ là sự đánh giá tốt hay xấu của cá thể,
được hình thành trên cơ sở những tri thức
hiện có và bền vững về một khách thể hay ý
tưởng nào đó, những cảm giác do chúng gây
ra và phương hướng hành động có thể có [5]
Trong nghiên cứu này, biến thái độ được xem
xét như kì vọng đối với việc sử dụng thực
phẩm an toàn
Quan tâm sức khỏe là một động cơ thúc đẩy
hành vi người tiêu dùng Do đó, biến quan
tâm đến sức khỏe được sử dụng trong nhiều
nghiên cứu trong lĩnh vực thực phẩm, họ có
thường sẵn lòng mua sản phẩm với giá cao
nhưng an toàn cho sức khỏe của họ [3]
Rủi ro cảm nhận được định nghĩa là cảm
nhận của khách hàng về những hậu quả có
thể xảy ra khi tiêu dùng sản phẩm Trước khi
quyết định mua hàng, người tiêu dùng
thường cảm nhận mức độ rủi ro nhất định
liên quan đến việc lựa chọn sản phẩm mình
mua [3] Khi đó, người tiêu dùng có xu
hướng lựa chọn thực phẩm an toàn đảm bảo
về chất lượng giúp họ có thể giảm thiểu
những rủi ro tiềm ẩn trong việc sử dụng thực
phẩm thông thường Do đó, biến rủi ro cảm
nhận đối với thực phẩm thông thường được
kỳ vọng có thể giải thích hành vi sẵn sàng trả
thêm cho các loại thực phẩm an toàn, một sản phẩm thay thế [5]
Các loại thực phẩm an toàn chỉ có thể tồn tại trên thị trường nếu người tiêu dùng có sự tin tưởng vào sự đảm bảo chất lượng do đây là sản phẩm có tính thay thế cao và giá cả thường cao hơn so với các loại thực phẩm thông thường Yếu tố sự tin tưởng có ảnh hưởng lớn tới mức sẵn lòng chi trả đối với thực phẩm an toàn [1]
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu lý thuyết được đề xuất, các giả thuyết dưới đây sẽ được kiểm định:
H1: Thái độ của người tiêu dùng có ảnh hưởng thuận chiều tới mức sẵn lòng chi trả thêm cho TPAT
H2: Sự quan tâm tới sức khỏe của người tiêu dùng có ảnh hưởng thuận chiều tới mức sẵn lòng chi trả thêm cho TPAT
H3: Rủi ro cảm nhận đối với sản phẩm có ảnh hưởng nghịch chiều tới mức sẵn lòng chi trả thêm cho TPAT
H4: Tin tưởng vào ngành hàng thực phẩm có ảnh hưởng thuận chiều tới mức sẵn lòng chi trả thêm cho TPAT
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong mô hình nghiên cứu này, tác giả đề xuất
17 biến quan sát có thể được sử dụng trong phân tích nhân tố khám phá Tác giả đã tiến hành lựa chọn 150 người tiêu dùng trên địa bàn
TP Thái Nguyên để phỏng vấn Cuộc điều tra được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng
03 năm 2017 đến tháng 04 năm 2017
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng hỏi, thông qua phỏng vấn trực tiếp một cách ngẫu nhiên người tiêu dùng đang mua sắm tại các siêu thị, cửa hàng có bán TPAT
Việc định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng đối với TPAT trên địa bàn TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên được tiến hành thông qua
3 bước:
Bước 1: Sử dụng hệ số tin cậy Cronbachs
Alpha để đánh giá mức độ chặt chẽ và sự tương quan giữa các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Trang 3Bước 2: Sử dụng mô hình phân tích nhân tố
khám phá (Exploratory Factor Analysis) để
kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhậndiện
các nhân tố được cho là phù hợp với mức sẵn
lòng chi trả thêm cho TPAT
Bước 3: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh
hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
này đến mức sẵn lòng chi trả thêm cho TPAT
của người tiêu dùng
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá mức sẵn lòng chi trả đối với
TPAT
Sự sẵn lòng chi trả được đo lường ở số tiền hoặc phần trăm chi trả thêm cho sản phẩm có tính năng vượt trội so với giá thông thường Với câu hỏi “So sánh giá TPAT cao hơn giá rau thường bán ở chợ khoảng bao nhiêu phần trăm thì anh/chị có thể sẵn lòng mua?”, 94,7% người sẽ sẵn sàng chi trả thêm cho TPAT Kết quả cũng chỉ ra tỷ lệ phần trăm cao nhất (23,3) là sẵn sàng chi trả cho mức giá cao hơn trong khoảng từ >10 – 20%
Dưới đây là kết quả điều tra về sự sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng đối với sản phẩm TPAT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1 Mức sẵn lòng chi trả thêm của người tiêu dùng đối với TPAT
Mức sẵn lòng
Bảng 2 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo và kết quả phân tích nhân tố khám phá
Quan sát Trung bình thang
đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Tương quan biến tổng
Cronbach’s Alpha nếu loại biến
Factor loading
1 Thái độ (Cronbach’s alpha 0.932)
2 Quan tâm tới sức khỏe (Cronbach’s alpha 0.884)
3 Sự tin tưởng vào TPAT (Cronbach’s alpha 0.876)
4 Rủi ro cảm nhận đối với thực phẩm thông thường (Cronbach’s alpha 0.917)
Trang 4Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới mức sẵn
lòng chi trả đối với TPAT
Bước 1: Kiểm định thang đo Kiểm định độ tin
cậy của thang đo (kiểm định Cronbach’s
Alpha) mức sẵn lòng chi trả của người tiêu
dùng đối với TPAT với 17 biến quan sát
thuộc 4 nhóm nhân tố có hệ số Cronback’s
Alpha đều lớn hơn 0.6 Do đó, các biến đo
lường này đều chấp nhận được về mặt tin cậy
và được sử dụng trong phân tích EFA
Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá
Sau khi kiểm tra độ tin cậy các thang đo, tác
giả tiến hành bước phân tích nhân tố khám
phá Kết quả phân tích nhân tố khám phá
(EFA) sau 2 vòng với các kiểm định được
đảm bảo như sau:
(1) Hệ số tương quan đơn giữa các biến và
các nhân tố Factor loadings (hệ số tải nhân tố)
> 0,5 hệ số này lớn cho biết nhân tố và biến
có liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu các hệ số
tương quan nhỏ (< 0,30) sử dụng EFA không
phù hợp [2]
(2) Kiểm định tính thích hợp của mô hình để
sử dụng EFA, KMO phải lớn hơn 0,50 [2]
Kết quả phân tích cho thấy hệ số KMO có giá
trị 0,945, mô hình phân tích nhân tố khám phá
đạt sự thích hợp cao trong phân tích
(3) Kiểm định Bartlett về tương quan của các
biến quan sát (Sig = 0,000 < 0,05) [2]; Các
giá trị eigenvalue > 1 và kiểm định phương
sai cộng dồn = 81.81% (lớn hơn 50%)
Kết quả phân tích nhân tố cho thấy, thang đo
các nhân tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi
trả đối với TPAT vẫn đa hướng với 4 nhân tố
và 17 biến quan sát (sau khi loại biến ATT5 -
“Tôi thấy hứng thú với thực phẩm an toàn”)
Bước 3: Phân tích hồi quy tuyến tính
Mô hình hồi quy tuyến tính được áp dụng để xem xét tầm quan trọng của từng nhân tố ảnh hưởng trong việc đo lường mức độ sẵn lòng chi trả cho thực phẩm an toàn 4 nhân tố bao gồm: (1) X1: Thái độ; (2) X2: Quan tâm tới sức khỏe; (3) X3: Sự tin tưởng vào TPAT; (4) X4: Rủi ro cảm nhận đối với thực phẩm là biến độc lập trong mô hình hồi quy giải thích mức sẵn lòng chi trả, biến phụ thuộc (Y) trong mô hình nghiên cứu được đo lường bằng giá trị sẵn lòng chi trả thêm cho TPAT của người tiêu dùng được tính bằng % Kết quả mô hình hồi quy cho thấy 3 nhân tố trong số 4 nhân tố có mối tương quan với mức sẵn lòng chi trả cho TPAT của người tiêu dùng và đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5% Quan sát các hệ số Beta chuẩn hóa đều mang dấu dương cho thấy các nhân tố đều có mối quan hệ tuyến tính cùng chiều với mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dung đối với TPAT Hệ số phóng đại phương sai (Variance inflatinon factor - VIF) khá thấp, với hệ số VIF nhỏ hơn 10 ta có thể bác bỏ giả thuyết mô hình bị đa cộng tuyến
Các hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa cho biết khi người tiêu dùng đánh giá các nhân tố:
“Thái độ”, “Quan tâm sức khỏe”, “Tin tưởng” tăng lên 1 điểm, mức độ sẵn lòng chi trả của
họ sẽ tăng thêm lần lượt là 0.346, 0.329 và 0.401 điểm
Bảng 3 Kết quả Phân tích hồi quy
Giả
thiết Biến độc lập
Hệ số hồi quy
Thống kê t P-value
Hệ số VIF Chưa
chuẩn hóa
Chuẩn hóa
R2= 0.316; F = 16.650; P-value = 0.000
*** có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, ** có ý nghĩa thống kê ở mức 5%,
Trang 5Một số giải pháp nhằm nâng cao thúc đẩy
sự phát triển của Thực phẩm an toàn trên
địa bàn TP Thái Nguyên
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài một số
giải pháp nhằm phát triển thị trường TPAT tại
TP Thái Nguyên
(1) Người tiêu dùng có xu hướng tăng mức
sẵn lòng chi trả của mình đối với thực phẩm
an toàn nếu họ cảm thấy hài lòng về chất
lượng của thực phẩm Các nhà tiếp thị cần
đưa vào chương trình Marketing nhằm thiết
lập thái độ tích cực đối với việc tiêu dùng
thực phẩm an toàn, thông qua việc so sánh
trực quan giữa thực phẩm an toàn và thực
phẩm thông thường
(2) Chiến lược marketing cần khuyến cáo
người tiêu dùng trong việc lựa chọn thực
phẩm không có nguồn gốc vì những sản phẩm
này có thể chứa hàm lượng chất kích thích,
hóa chất có hại cho sức khỏe Và thực phẩm
an toàn giúp người tiêu dùng có thể hạn chế
rủi ro bởi việc tuân thủ những tiêu chuẩn nuôi
vô cùng khắt khe, được kiểm soát hàm lượng
về hóa chất sử dụng
(3) Tăng cường niềm tin của người tiêu dùng
vào người nông dân, nhà bán lẻ và nhà khoa
học Người tiêu dùng rất khó nhận biết được
sự khác biệt giữa thực phẩm an toàn và thực
phẩm thông thường thông qua cảm nhận bên
ngoài Các chương trình quảng bá cần chỉ ra
nguồn thông tin tin cậy để chứng minh được
những ưu điểm vượt trội của thực phẩm an
toàn cũng như chứng nhận kiểm định chất
lượng của cơ quan nhà nước
KẾT LUẬN Thông qua số liệu khảo sát thực tế và ứng dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu đã xác định mức sẵn lòng chỉ trả và các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chỉ trả của người tiêu dùng đối với TPAT, trong đó người dân trên địa bàn
TP Thái Nguyên sẵn sàng chi trả thêm chủ yếu từ 10% đến 30% cao hơn so với giá của các loại thực phẩm thông thường; nhân tố quan tâm tới sức khỏe có tác động mạnh nhất đến mức sẵn lòng chi trả TPAT của người tiêu dùng Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao phát triển thị trường thực phẩm an toàn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Huỳnh Thị Ngọc Diệp, Hồ Huy Tựu (2013),
"Sự sẵn lòng chi trả thêm đối với sản phẩm cá Basa nuôi sinh thái của người tiêu dùng tại Thành
phố Nha Trang", Tạp chí Khoa học trường Đại
học Cần Thơ, 27, tr 94 – 103
2 Hoàng Mộng và Chu Hoàng Mộng Ngọc (2008)
“Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 2”, Nxb Hồng Đức, TP Hồ Chí Minh
3 Magnussona M K, Arvolaa A., Hursti U K., Abergb L and Sjodena P (2003), “Choice of organic is related to perceived consequences for human health and to environmental friendly
behaviour”, Appetite, 7, pp 15–26
4 Sundström K and Andersson H (2009),
"Swedish Consumer’s Willingness to Pay for Food
Safety", Working paper of AgriFood Economics
Centre
5 Yeung R M W and Yee W M S (2005),
“Consumer Perception of Food Safety Related
Risk, A Multiple regresstion approach”, Journal of
International Food & Agribusiness Marketing,
17(2), pp 195- 222
Trang 6SUMMARY
FACTORS INFLUENCING WILLINGNESS TO PAY FOR SAFETY FOOD
IN THAI NGUYEN CITY, THAI NGUYEN PROVINCE
Do Thi Ha Phuong*, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang
University of Agriculture and Forestry - TNU
Using data from a survey of 150 consumers of safe food (TPAT) and applying the EFA exploratory factor analysis and multivariate regression analysis, this article evaluates and explains the willingness of consumers to pay for safe food in the Thai Nguyen city In particular, customers are willing to pay more mainly from 10% to 30% higher than the price of common foods The results of the study show that the health consideration, consumers' attitudes to food safety and customer reliability on food have impact on the decision to pay more for safe food On the other hand, risk perception on food does not affect the willingness to pay extra for safe food The aticle also proposes solutions to develop the safe food market in Thai Nguyen city
Keywords: willingness to pay, safe food, exploratory factor analysis, health consideration, risk
perception
Ngày nhận bài: 09/6/2017; Ngày phản biện: 26/6/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017
*
Trang 7oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Luu Binh Duong, Nguyen Van Tien - "Sacred" fundamental structure of customary law 3
Nguyen Thi Mai Chanh, Bui Thuy Linh - The characters of mythology in “The Republic of Wine” by
Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic
Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry
agricultural sector training program of a number of universities in the world 19 Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi
Minh ideology at University of Information and Communication Technology – TNU 25
Than Thi Thu Ngan - The 90th anniversary of the publication of "Duong Kach menh" book (1927 – 2017)
Theoretical and practical meaning of the work “Duong Kach menh” of the leader Nguyen Ai Quoc - Ho Chi Minh 31
Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the
Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning
activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai
Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the
work of laborers at Thai Nguyen Traffic Trading and Management Joint Stock Company 47
Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting
vouchers for students' practice 53
Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay
Nguyen Thi Thanh Thuy - Analysis of FPT Joint Stock Company 's financial situation 65
Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process
Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank
Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at
Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with
Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac
Giang province towards industrialization and modernization to 2020 with a vision to 2030 97
Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency
Pham Thi Huyen - Precedent and the application of precedent in Vietnam law system 109
Duong Thi Huyen - The relationship of the English's factory in Hirado (1613- 1623) with Japan government 115
Tran Nguyen Si Nguyen - Subtle mass mobilization is core of political activism art of Ho Chi Minh 121
Journal of Science and Technology
N¨m 2017
Trang 8Tran Bao Ngoc, Le Thi Luu, Bui Thanh Thuy et al - The pharmaceutical students’ perception of educational
environment at Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy by DREEM questionnare 131 Luong Ngoc Huyen - A current issue of applying mathemarics into teaching practice and assessing,
evaluating the result of learning mathemarics of 10th grade students in high schools in Tuyen Quang city,
causes and solutions 137 Nguyen Thi Hong, Nguyen Xuan Truong, Hoang Thi Giang - Geographical approaches in research of the
relationship between economic development and ensuring national defense and security for border communes,
Do Thi Quyen, Nguyen Thi Kim Tuyen - Study psychological factors which affect to the buy online behavior of
Phuong Huu Khiem, Nguyen Dac Dung, Nguyen Ngoc Ly - Developing the output product market for forest
plantations followed sustainable trend in Dong Hy district, Thai Nguyen province 155 Phan Thi Thanh Huyen, Ha Xuan Linh - Study on residental land price in Soc Son district, Ha Noi city 161 Nguyen Thi Van Anh - Attracting investment – motivation and foundation to develop sustainable economic in
Van Thi Quynh Hoa, Nguyen Lan Huong - The effects of information technology in teaching English to first
year students at University of Agriculture and Forestry - Thai Nguyen University 173 Mai Van Can - Using the character of Thach Sanh in teaching English practice at secondary school 179
Do Thi Huong Lien - Discussion on revolution of Hoang Dinh Kinh (Cai Kinh) and relationship with
Pham Van Quang, Nguyen Huy Anh - Solutions to enhance the activeness of study of students physical
Nguyen Thi Minh Thu, Bui Thi Ngoc Anh - Folk songs in fishing village of Ha Long Bay - characterristics of
Dang Anh Tuan, Ngo Thi Minh Hang, Pham Thi Trung Ha - Recovering of real estate market and business
Le Van Tho, Vu Anh Tuan - Assessment land use in urban areas in Viet Tri city – Phu Tho province from