NGHIÊN CỨU - PHÁTTRIỂN LÝ LUẬN 29QUAN ĐIỂM CỦA C.MĂC VÀ PH.ÀNGGHEN VE GIA ĐINH VA VẠN DỤNG TRONG XÂY DựNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM ★ GS, TS NGUYẺN HŨU MINH Viện Hàn lảm Khoa học xã hội Việt N
Trang 1NGHIÊN CỨU - PHÁTTRIỂN LÝ LUẬN 29
QUAN ĐIỂM CỦA C.MĂC VÀ PH.ÀNGGHEN
VE GIA ĐINH VA VẠN DỤNG TRONG XÂY DựNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
★ GS, TS NGUYẺN HŨU MINH
Viện Hàn lảm Khoa học xã hội Việt Nam
• Tóm tắt: Bài viết phân tích những tư tưởng cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
vẽ gia đình và ý nghĩa của gia đình đối với sự phát triển xã hội Từ các kết quả nghiên cứu khoa học được công bố, bài viết phân tích, nhận diện một số thách thức chủ yếu đang đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong việc đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số vấn để cần quan tâm hơn nữa nhằm vận dụng tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen vế gia đình, phát huy tốt hơn vai trò của gia đình đáp ứng yêu cấu phát triển xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới.
• Từ khóa: C.Mác, Ph.Ảngghen, gia đình, xây dựng gia đình Việt Nam.
khảngđịnh, lúc đầu, giađìnhlà “quan hệ xã hội
duy nhất”,chỉ khi dânsố tăng lên đẻ ranhu cầu
mói vàkhinhu cầutăng lên đẻra những quanhệ
xã hội mới thì quan hệ gia đình mói trở thành
quan hệ phụ thuộc Nói cách khác, chính quá
trình tồn tạivàpháttriểncủagiađình vói những
nhucầuvật chất và tinhthầnđãthúc đẩy quá trình phát triển sản xuất nói chung và sựphát
triển nền đạicông nghiệp nóiriêng Do gia đình
có vai ừò quan ưọng trong mốiliênhệ cúa nó vói cácquanhệ khác trong lịch sử xã hội mà khảosát
và nghiên cứu giađìnhcần căn cứvàonhững tư
liệu kinh nghiệmhiện có(2)
Đồngthời, C.Mácvà PhĂngghen khẳng định
mối quan hệ biện chứng giữagiađình và sự phát triển của nềncông nghiệp Chínhquá trình phát
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Số 524 (10/2021)
1 Quan điểm của C.Mác và Ph.Àngghen
về gia đình và ý nghĩa của nó đối vói sự phát
triển xã hội
Theo cácnhà sáng lập chủnghĩaMác,gia đình
làtế bào củaxã hội,gia đìnhcó vaiưò quanữọng
đối vớisự phát triển củaxã hội,đồng thời chịu sự
tác độngcủa các quá trình phát triển kinhtế - xã
hội Trong tácphẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và
PhĂngghenđã cho ràng, quan hệ giađìnhcó vị
tríquan trọng trong các mối quan hệ con người
được hình thành ttong lịch sử nhân loại, nó
“tham dự ngay từ đầuvào quá trình phát triển của
lịch sử hàng ngàytái tạora đời sống của bảnthân
mình, conngười bắt đầu tạo ranhữngngười khác,
sinh sôi nảy nở- đó là quan hệ giữa chồng và vợ,
cha mẹ vàconcái”(1) C.Mác và PhĂngghen còn
Trang 230 NGHIÊN CỨU - PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN
triến nền công nghiệp đã tác động trở lại gia
đình, làm thay đổi kếtcấugia đình,thay đổinhu
cầuvật chấtvà tinhthần của mỗi một thành viên
trong gia đình Trong Tuyên ngôn của Đáng
cộng sản, c.Mácvà PhĂngghen chỉ rõ, với sự
hình thành và phát triển của nền đại công
nghiệp thìkhông chỉcác quan hệ xã hội, màcả
quan hệ gia đình cũng đã bị thay đổi, từ quanhệ
hôn nhân đến giáo dục gia đình, mối quan hệ
giữa chamẹ và con cái(3)
Những luận điểmtương tựđã được C.Mác và
Ph.Àngghen phát biểu ởmột số tácphấmkhác,
đặc biệt, trong tác phẩm Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, tác
phấm màPhĂngghen khiêm tốn nói ràng, “tác
phẩmnày của tôichi có thểthay thếmột cách
yếu ớt nhữnggì mà người bạn đãquácố (C.Mác)
của tôi không còn có thể làm được nửa mà
thôi”(4) bởi lẽ theoông, chính Máccủng đã có dự
địnhtrình bàynhững kết quả tưong tự5) Trong
tác phẩmnày, PhĂngghen sử dụngcách phân
tích duyvật lịch sử của C.Mác vàcủa ông đểxem
xét sự biếnđổicúa gia đìnhtrong mối quan hệ
biện chứng vói sự phát triển sản xuất và xã hội,
và chi rõràng giađình vàtrình độ pháttriểncủa
gia đình cótácđộngrất quan trọngđối với sự tồn
tạivà phát triển cúa xãhội, ảnhhưởng trực tiếp
đến việctái tạo rabản thân con người, bảo vệnòi
giống cũng như tái tạo ra sức lao động chonền
sản xuấtxãhội “Những trật tựxã hội, trongđó
những con ngườicủa một thời đại lịch sử nhất
định và của một nước nhất địnhđang sống,là do
hai loại sản xuất đó quyết định: mộtmặt là do
trình độ phát triển của laođộngvàmặt kháclà
do trình độ phát triếncúa gia đình(6’ Đồng thời,
sự biếnđổigia đình gán vói những thay đổi của
sức sản xuấtvà sự pháttriển của xãhội
Như vậy,quan điểm của C.MácvàPhĂngghen
về gia đình chứa đựnghailuận điểm quantrọng:
Thứ nhất, cácôngcoi gia đình đượchình thành
và biến đổi trong quá trìnhphát triểncủa nhân
loại, đồng thòi có vai trò to lớn đối với sự phát triển xã hội; Thứ hai,sự pháttriểncủa gia đình bị
quy địnhbỏi sựpháttriểncủa sảnxuất vật chất
Những quan điểm cơ bản trên đây của
C.Mác vàPh.Ăngghen có ý nghĩa phương pháp luận sâu sác trong nghiên cứu vàđịnh hướng xâydựng gia đình Việt Nam hiện đại Cùng với
sự phát triểncủa lựclượng sản xuất và quan hệ
sán xuất qua các giai đoạn lịch sử, giađìnhViệt
Nam đãcó nhiềuthayđổi từ mô hình truyền
thống sang môhình hiện đại, đặctrưng bỏi gia đình hạt nhân là trung tâm,tỷlệ phụ nữ tham gia vào lực lượnglao động ngoài phạm vi gia đình tăng lên và sựthay đổikhuôn mâu phân
cònglao động truyền thốnggiữa vợ và chổng,
nam giớingày càng chia sẻnhiều hơnvào các
công việcgiađình Các chức năng củagia đình
như chức năng kinh tế, tâm lý tình cảm, giáo
dục xãhội hóa, tái sản xuất củng thay đổi.Gia đìnhkhôngcòn là đơn vịsảnxuấtchủ yếu nửa
mà dần chuyển thành đơn vị tiêu dùng Gia
đìnhcũngkhốngcòn là mòi trường duy nhất truyền thụ kiến thứcvà giáo dụcđạo đứccho trẻ emmà chức năng đó dần được chuyểngiao
choxã hội.Mốiquan hệgiao tiếpcúacác thành
viên không còn được thực hiện chủ yếu bàng các cuộc gặp mặt trực tiếpmà có thểthông qua
email, điện thoại, facebook, V.V Điềuđó làm
cho đời sống tình cámvàmốiquan hệcủa các
thành viên trong gia đình thay đổi Gia đình
tham giavào mọiquátrình sảnxuất, tái tạo con người vàđàotạo, bồidưỡng con người,giađình
có vai trò quan trọng không chỉ đối vớisự phát
triển của mỗi cá nhân mà cả trong việc thực hiệncác chức năng xã hội, giữ gìn và chuyển giao cácgiá trị vãn hóadân tộc từ thê' hệ này
sang thếhệ khác
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ số 524 (10/2021)
Trang 32 Một số thách thức chủ yếu của gia đình
Việt Nam trong thòi kỳ mói
VỊ thế của người phụ nữ ứong gia đình chưa
được cải thiện đáng kể
Luật Bình đầng giới ban hành vàcó hiệu lực
kể từ năm 2007.Tuynhiên, cho đến nay, giữa
vẫn bản phápquyvàđòisống hiện thực vẫn còn
một khoảng cách lớn Trong quan hệ giữavợ và
chồng,việc phân cônglao động trên co sở giói
vân duytrì, mặcdùđã có sự chia sẻ cânbàng
hon giữahaigiới trong côngviệcsản xuấtkinh
doanh hoặcmộtsố loại việc khác(7) Gánhnặng
lao động “kép”, với quỹ thời gian hạn hẹp,
đang gâytrở ngại cho phụnữ pháttriển năng
lực, thậmchí cả trong bảođảm thể chất lãnđời
sống văn hoá tinhthần, do đócũng làm giảm
chấtlượng mối quan hệ vợ - chồng
Người chồngthường làngười giữ vaitrò quyết
định đối vớimột số côngviệc quantrọng trong
gia đình Vói những “việclớn”củagiađình, vai
tròra quyết định của người đàn ông,người chủ
gia đìnhvẫn là một chuẩn mựcítthayđổi(8).Mối
quan hệ vợ - chồng trong nhiều trường họp
dường như đang lặp lại hình ảnh “chồngchúa,
vợ tôi” từxa xưa(9)
Một trong những khíacạnh thể hiệnrõsự bất
bình đẳng giữa giói nam và giớinữttong giađình
là tìnhtrạng bạo lực của người chổngđối với
người vợ vẫncòn nghiêm trọng Số liệu điều tra
quốcgia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt
Nam nâm2010(10)cho thấy, có 27% phụ nữ tham
gia khảosát đãữải qua ítnhất một hình thức bạo
lực về thể chất,tinh thần hoặc tình dụctrong
vòng 12 tháng trướccuộc điều tra, trongđó có
6% đảchịu bạo lực thểchất Đáng chú ý là, đến
năm 2019, một cuộc điềutraquốc gia tương tự
về vấn đề này chi ra ràng, mứcđộ phổ biến của
cáchình thức bạolực khônggiảm đi,với 27,8%
phụ nữ thamgia khảo sát đãtrảiqua ít nhất một
hành vi bạo lực về thể chất,tìnhdục, tinhthần
vàkiểmsoáthành vi, trong đó có4,6%bị bạo lực thể chất(11)
Gán vói các mâu thuẫn, xung đột vàbạo lực gia đình làvấn đề lyhồn Số liệu thốngkê cho thấy, sốlượng cáccuộc lyhôn tàngdầnqua các nămvà tỷ lệ nữ đứngđơnly hônngày càng nhiều
hơn nam giói(12) Việc đứng đơn ly hòn củangười
phụnữ phần nào cho thấyđịa vị củangườiphụ
nữ đãthay đổi, nhận thức vềquyềncủa họ được
nânglên, ngườiphụ nữ đang ngày càng tựchủ hơn trong đời sốnghòn nhân.Tuy nhiên, thực
tế này củng phản ánhsự tác động cúanền kinh
tế thị trườngđã lenlỏivào đời sống gia đình, chi phốimốiquan hệ chồng -vợ dê rạn nứt, xung đột dẫnđến hôn nhân tan vỡ Hậu quả lớn của
các cuộc ly hôn chính làsự phát triển thiếu toàn
diện của concáicũng như sự thiếu tôntrọng của concáiđối vớicha mẹ sau này
Một khía cạnh khác của tình trạng bất bình
đảng giới trong giađình đólà sự bảolưu mạnh
mẽ xu hướng ưa thích contrai.Ý nghĩa của con trai trongđòi sống giađình Việt Namđã thayđổi, tuy nhiên, vâncòn một tỷ lệ đáng kể người dân
(36,7% người trả lời độ tuổi 18-60)(lâ) ủng hộ
quan niệm nhất thiết phải có contrai.Trong đó, động cơcó con trai đế có người nối dõi tông
đường là lý doquan trọng(14) Đáng lưuý là đối
với nhómthanh niên tuổi 14-25, những người
đại diện cho thế hệ ưẻ, quan niệm này vẫn còn
tồn tại ở một bộ phận không nhỏ Theo kết quả Điều tra thanhniên và vị thành niên ViệtNam
2009, vẫncòn12,6%thanh niên nóicần phải có
con trai.Quan niệm trọng contrai phổ biến ở nông thôn hơn ở thành thị, ở nhóm dân tộc thiểu số hơn nhóm ngườiKinh(15) Việcphân biệt
đối xử giữacon trai và con gái dảnđếntình trạng
chọnlọcgiớitínhthai nhi Tỷ số giới tính khi sinh
ở Việt Nam đang có xu hướngtăng, từ 110,5 bé
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - Sô 524 (10/2021)
Trang 4n NGHIÊN CỨU - PHÁTTRIỂN LÝ LUẬN
ưai/100 bé gái (2009) lên 112,2 (2014) và 111,5
(2019)(16).Xuhướng mất cân bàng giới tính diễn
raphổ biến ởkhu vựcđồng bàngsông Hổng với
tỷ số giớitính khi sinh là 115,5(17)
Theoxu hướng này, tỷ số giới tínhkhisinhđã
tích lũythời gianvừaqua, chívàithập niên sau,
tìnhtrạng không có đú phụ nữcho đànônglấy
làm vợ sẽ xảy ra ởnướcta (giống như tình trạng
đang xảy ra ở cácnước và mộtsố vùnglãnh thổ
của Đông Á nhưTrung Quốc, Hàn Quốc, Đài
Loanhiện nay) Khi đó khủnghoảng “thừa nam
thiếu nữ”không chỉảnh hưởngđến đời sống của
nam gióimànguycơđối với phụ nữ củng sẽ hiện
hữu: họ sẽtrởthành đối tượng bị tranh cướp,
thành nạn nhân của tình trạngmại dâm và buôn
bán phụnữ,và nhấtlà nguồn lao động của đất
nước sẽ bị thiếu hụtởmột sốlĩnh vựccần đến
bàn tay khéoléovà óc thẩmmỹtinh tếcủaphụ
nữ Đây là một hiện tượng rất bất bình thường
trong phát triển dân số và gia đình ở Việt Nam
cầnđượccácnhàhoạchđịnh chínhsáchxã hội,
các bậc cha mẹ, nhất là nhữngngườiđang trong
độ tuổi sinhđẻquan tâm
Những bất cập ưong chăm sóc ữẻ em và
người cao tuổi
Bối cảnh CNH, HĐHgóp phầnlàm nảy sinh
mộthiện tượng mói được coi là “sựphân lygia
đình” trong giai đoạn mới Để giải quyếttình
trạng nguồnđất đai canhtác ngày càng bị thu
hẹp, người nông dân buộc lòng phải dicưtìm
kiếm việc làm, kẽ cả quốc tế và trong nước
Trong mấythậpkỷqua,di cư nội địa tăng lên
nhanh chóng.Dân số dicưgiữa các tỉnh tăngtừ
2 triệu người(1999)đến 3,4triệu người (2009)và
2,8 triệu người (2019)(18).Xu hướng nữ hóa dicư
thể hiệnrõkhi tỷlệ phụnữ chiếmhơn mộtnửa
dân sô di cư ởcác loại hình dicư Phân tíchcơ
cấu tuổi của các dòng di cư qua 3 kỳ Tổngđiều
tradânsốvànhà ở (1989-2009) và Điều ưadi cư
nội địaquốc gia(2015) cho thấy, người di cư, đặc biệt là nữ, có xu hướng trẻ hơn Điều đó sẽ làm
khu vực nhận dicư có thêm nhiều lao động ưé, ưong khi đó khu vực gửingày càng phải đối mặt
vớihiện tượng già hóa dân số và những nhu cầu
đặt racúa nhómngườigià(19) Một chiều cạnh kháccủa di cưlàxuất khẩu
laođộng quốc tế Tính từ năm1990đến 2009 có
khoảng 500 nghìn người ranước ngoài laođộng tại trên 40 quốc giavà vùng lãnhthổ, trong đó
khoảng 1/3 là phụ nử20) Giaiđoạn 2010-2019 (tínhđếntrướckhibị đại dịch Covid-19) ướctính khoảng 1.115.000 ngườií21)
Điều này dân đến mộtnghịch cảnhlàtạo ra các gia đình phân lỵ giữa thời bình.Một sựphân
lygiađình rất dử dội bởi tất cả những ngườicó
sứclao động của giađình đều phải ra đi, nênở nhiều làng, xã chỉcònlại ông bà già và trẻ nhỏ
Tình trạng đó tạo ra những khó khăn cho hệ thống chăm sóc người caotuổi và trẻ em Xétvềmặt kinh tế, mức thunhập củacác gia
đình di cư đạt được khá cao so vớimức sống
trung bình tại địa phương Nhờ có khoản thu
nhập này, giađình ngườidi cư có thể trang trải được nhiều khoản chi tiêuthường trựctại quê
nhà, chảng hạn, dùng tiền để thuê mướn lao
động, đầu tư một phần tiềngửi về chosản xuất nông nghiệp, ngoàira còn dùng để chitiêuhàng ngày, trả nợ, họchành củacon,V.V Tuy nhiên, xét về mặtvănhóa, lốisống, cũng như các mối quan hệgiữacác thành viên gia đình, thìcuộc
sống ởnhững gia đìnhcóngườidi cưđang bị đảo lộn rất lớn Những mâu thuẫn vợ - chồng, sự
thiếu quantâm đến con cái, điều kiện chăm sóc người cao tuổi giảm đi, V.V trong rất nhiều trườnghọp đã phát sinh từ các gia đìnhdi cưnày Vân còn một tỷ lệ khôngnhỏ người cha và người mẹ không dành chút thời gian nào để chămsóccon cái dưới15 tuổi:6,8%ngườimẹ và
LÝ LUÂN CHÍNH TRỊ Sô 524 (10/2021)
Trang 521,5% người cha(22) Một bộ phậncácbậccha mẹ
dành rất ít thời gian chocon hoặc biết ít về các
hoạtđộngcủacon, đặc biệt là ở những gia đình
cha mẹ họcvấn thấp, ở nông thôn hoặc mức
sốngthấp(23) Sựthiếuquan tâm củacha mẹđối
với con cái có thểdãnđến nhiều hậu quả tiêu
cực cả vềmốiliên hệ tình cảmcha mẹ - con cái
hoặc tăng thêm nguycơ đối với các hànhvi lệch
chuẩn trong cuộc sống, khi mà giáo dục xã hội
chưađủ sức để đảm nhận sựthay thế này
Một thách thứckháccũngrất nghiêmtrọng là
những khókhăn đối với gia đình ưong việc chăm
sóc người cao tuổi Xu hướnggià hóadân cư
đang diễn rakhánhanh ở Việt Nam: năm 1989
tỷlệ người cao tuổi trong tổngsố dân cư là 7,1%;
đến năm 2014 là 10,2%(24) Trong thập niên vừa
qua, xà hội ViệtNamđangtrải quaquá trình già
hóamạnhmẽ vàsâu sác Vóitổng dân số hơn 96
triệungười(2019), Việt Namđã có khoảng 11,9%
dânsố đạt tuổi 60 trở lên (2019)(25)
Trước đây người caotuổi thườngsống chung
với con cháu trong gia đình mở rộng và điều này
là truyền thống tốtđẹp của văn hóa Việt Namvà
niềmvui của nhữngngười caotuổi Tuy nhiên, hệ
thống trợ giúp của gia đình cho người cao tuổi
trong tương lai gần sẽgặp những trở ngại do
những biến động của quy mô dân số vàxu thếhạt
nhân hóagia đình Việc giảm số con trong gia
đìnhsẽlàm giảm nguồnhỗ trợ chocha mẹ khi
tuổigià Sự tham giacủa phụ nữ vào lực lượnglao
động xã hội,tìnhtrạng ly hôn,ly thân vànhiều
thanh niên dicư tìm kiếm việc làm khiến cho
ngườicao tuổi càngcô đơn và thiếunơi nương
tựa.Nhiềungười cao tuổi sẽ phải sống một mình
và tự châm sóc cho bản thân,phảiđối mặt với
nhiều khó khăn về tài chínhvà bệnhtật, đó là
chưa kể một bộphận ngườicao tuổi không những
không được chăm sóc mà còn là người chăm sóc
chính các cháu do bốmẹ chúng đilàm xa
Sovới nhiềunướckhác trên thế giới, người
giàtại Việt Nam ở trong tìnhcảnhkhá đặcthù
Dophảitrảiqua một thời gian chiến tranh khá dài, nên phần đông người giàkhông có sổ hưu, không cósổtiết kiệm cũngnhư các nguồn tích lũy khác Cóthểnói, nhómngườicao tuổi này
đang gặp khó khăn, không chitrong việc chiưả cho các dịch vụ khám chửa bệnh vàchămsóc sứckhỏe, mà còn khó có thể tự nuôi sống bản thân Nhữngkhó khăn này đang góp phần đẩy người cao tuổi vào tình trạngphụ thuộc vào gia
đìnhvà concháumà khôngcó một sự lựachọn
nào khác khicác dịchvụxã hội chăm sóc người
cao tuổi còn hạnchế như hiện nay
Tuy nhiên, bản thân cuộc sống của gia đình cáccon cháu củng còn nhiều vất vả Theo số liệu năm2016, tỷ lệ ngườicao tuổi sống ở mức nghèo đói là khoảng 10%(26) vìvậy việcchăm sóc, phụng dưỡng cha mẹgià trong hộlà thực sự khó khăn,
trong điều kiệncác chính sáchhỗ trợ củaNhà
nước còn ít Đốivói nhiều gia đình,chi phíchữa
bệnh cho người cao tuổi làmột gánhnặng kinh
tế, vìviệcchi trảcho các dịch vụ y tế (khám chữa
bệnh, thuốc men, chăm sóc ) thường caohơn rất nhiềuso với thu nhập củahọ Ngoàira, còn những khókhăn khác như con cái bị tàntật, đau yếu, con cái không thích ởchung với bố mẹ,
công việc củacon cái khôngổn định, nhà neo
người Tình trạngnàyđòi hỏi cầncó sựquan tâm và chăm sóc tốt hơn người cao tuổi từ phía
Nhà nước,cộng đồng,gia đình vàthịtrường
Đại bộ phận con cái có sựthăm nom, chăm sóc
thường xuyênvề mặt tinh thầnđối vớingườicao
tuổi Tuy nhiên, cũng có một bộ phận con cháu
móichỉquantâmđến đời sống vậtchất của bố
mẹ già, còn cuộc sống tinhthần thì bỏ bê.Lý do chính làconcháu thiếu thời gian, không sảnsàng
lắng nghe và giữa hai bênthiếu sự quan tâm chung*27).Thậmchí ởmộtsốgia đình, người cao
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - số 524 (10/2021)
Trang 634 NGHIÊN CỨU - PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN
tuổi đang phải ưải qua cáchành vibạolực về thể
chất, tinh thầnvà kinh tế do con cháu gâyra
Những nguyên nhân chủ yếu góp phần dung
dưỡng các hànhvi bạo lựcđối vói người cao tuổi
là sựđềcaogiátrịđồng tiền ởmột sốngười, sự
khác biệt về lối sống và sựthiếu quan tâm của các
cấp chínhquyềnđoàn thểđối vói mối quan hệ
giữacác thế hệ trong gia đình Hiện tượng bạolực
đối với người giàgây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng đốivóingười cao tuổi và gia đình,xã hội(28)
3 Vận dụng quan điểm C.Mác và
Ph.Ángghen trong xây dựng gia đình Việt
Nam hiện nay
Trong nhữngthậpkỷ tới, giađình vẫn là thiết
chế khôngthế thay thếđốivớiviệc bảođảmphúc
lợi cá nhân vàtạonguồn nhân lực chosự nghiệp
CNH,HĐH Tuy nhiên, thiết chế giađình chưa
thể hiệnđầyđủ vai trò quan trọng của nó trong
việc xây dựng nguồn nhánlựccó chất lượng cao
tham giavào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
cũng như củngcố sựổn định vàphát triển xã hội
nóichung Vận dụng quan điểmcủa C.Mác và
PhĂngghen về giađình,để thựchiện mụctiêu gia
đình Việt Nam no ấm, tiếnbộ, hạnh phúcvà văn
minh theo Nghị quyếtĐại hộiXIII của Đảng,
đồngthời phát huy vai tròcủa giađình đápúng
yêu cầu phát triểnxãhội trong giaiđoạn mới,theo
chúngtôi cầnquan tâmđến mộtsô'vấnđềsau:
Một là, cầnnhậnthức đầy đủ honvaitrò quan
trọng của giađình đối với sự pháttriển xãhội nói
chung, từđó chú ýphát triển gia đình toàn diện
Cácchính sách kinh tế - xã hội cần tínhtóinhững
tác độngđối với đờisống gia đình Do đó cần tiến
hành các nghiêncứuvề gia đình ởquy mô lớn để
námđược thường xuyên sự vận độngvà biến đổi
của gia đình cũng như tácđộng của gia đình đối
với sự phát triển xãhội,làm cơsở thực tiễn cho
còng táchoạch định và thựcthi các chínhsách
kinh tế -xã hội nhàm phát huy vai ưò của gia
đình trong phát triển xã hội bềnvững Đồngthời, cần nghiêncứu sự tác động, ảnh hưởng của các
quá trình pháttriểnxã hội, đặc biệt là sự giatăng
đô thị hóa nhanhchóng ở Việt Namhiện nay,đối vớisựphát triển cúagia đìnhđể nhận diện rõ các
tác động tích cực, tiêu cực củaquátrìnhnàytới
sựphát triển giađình, gópphần dự báo và định
hướng gia đìnhphát triển hài hòa, bảo đảm cho
sự phát triểnbềnvữngđất nước
Hai là, sự phát triển củagia đình gán liềnvói tăng trưởng kinh tếvàpháttriểncác dịch vụ xã
hội phục vụgiađình Bên cạnh phát triểnsản xuất, nâng caomứcsống của người dân, cần tăng
cường hơn nữa côngtácquảnlý nhà nước về gia
đình, đặc biệtthôngqua việccủng cố hệ thống
dịch vụ công thuộc lĩnhvựcgia đình, trong đó xác định rỏ 03 loạihìnhquảnlý: (1) Nhà nước quản
lý hoàn toàn, (2) Nhà nước và nhân dân cùng
làm, (3)Nhà nước tạo cơ chế cho dân tự làm
Ba là, sự biến đổi chuẩn mựcvai trò của nam
giói vànữ giói trong gia đìnhđặtranhữngvấnđể móivềmối quan hệgiữa bình đảng giới và củng
cố quan hệ gia đình trong bối cảnh hiện nay Vì
vậy,bên cạnh việc phát triển các dịch vụ xãhội
phụcvụ gia đình,cần quan tâm củng cốchức
năng giáo dụccủa gia đình, xây dựng mối quan
hệ mới giữa chamẹvàcon cáitrên cơ sở tiếpthu
những giá trịnhânvăn mới và kế thừanhững giá trịtốt đẹp củagiađình Việt Nam truyền thống Tăng cường giáo dục, làm thay đổi tâm lý truyền thống về vai tròcủa contrai, tạo dựng quan niệm bình đảng giữa con trai và con gái trong trách
nhiệm châm sóccha mẹ già vàthờphụng tổ tiên
để giải quyếtnạn mất cân bàng giới tính
Bốn là, cùng với quá trìnhcông nghiệp hóa,
đô thị hóa, xuthế giảm chứcnăngchâm sóctrẻ
em và người cao tuổi của giađình làkhôngthể
đảo ngược, do đó, xã hội cầnchuẩn bị tốt cho hệ
thống an sinh xãhộicôngvàpháthuy vaitrò của
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - số524 (10/2021)
Trang 7cộng đồng để phụcvụnhu cầu củachãmsóc trẻ
emvàngười cao tuổi,đồng thời tạo điều kiện
cho các dịch vụ tư nhântham gia vào việc chăm
sóc trẻem và hỗtrợ ngườicao tuổi
Năm là, bạo lực gia đình đang diễn ra khá
nghiêm trọngtạicác địaphương, ảnh hưởng tiêu
cực đếnchấtlượng các mối quan hệ gia đình, đe
dọa sựbềnvững của gia đình Cần thiết phái có
những giải pháp triệt để hơn nhàm thay đổi
nhậnthức xã hội vềbạo lực gia đình,tăngcường
côngtác bảovệvà giúpđỡ nạnnhân
Ngày nhận bài: 16-8-2021; Ngày phản biện:
8-10-2021; Ngày duyệt đăng: 22-10-2021.
(1), (2) C.Mác vàPh.Ăngghen: Toàn tập,t.3, Nxb
Chínhtrịquốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.41,41
(3)Xem:C.Mác và PhĂngghen: Toàn tập,t.4,Sđd,
ư.619-620
(4), (5), (6) C.Mác- Ph.Àngghen: Toàn tập, t.21, Sđd,
tr.43,43-44,44
(7), (8) Xem: Nguyễn Hữu Minh và TrầnThị Hồng:
“Một sốđặc điểmsự biến đổigia đình ViệtNam
trong mấythậpniên qua”,Tạp chí Nghiên cứu Gia
đình và giới, số 4-2018, tr.3-15
(9), (13), (22) Tổng cục Thống kê - UNICEF: Kết quả
điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, HàNội, 2008
(10) TổngcụcThống kê: Im lặng là chết: Kết quả
nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ
nữ tại Việt Nam,NxbThống kê, Hà Nội,2010
(11) BộLaođộng,Thươngbinhvà Xãhội UNFPA:
Báo cáo Kết quả Điều tra quốc gia về bạo lire đối với
phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 - Hành trình để thay
đổi,HàNội, 2020
(12) Xem: Vu Manh Loi, Tran Nguyet Minh Thu,
Hoang Van Dung 2018 Divorce in Vietnam: Pre
liminary'Resultsofa Survey in Hanoi, Khanh Hoa
and Tien Giang Journal of InstituteofSociology
Volume 6 Number 1 June2018
(14) Xem:Viện nghiên cứu Gia đìnhvàGiới: Số liệu Điều tra Nhận thức và Thái độ về gia đỉnh của người dân Hà Nội, 2011
(15), (23) Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Hồng:
“Thái độ của thanh thiếu niênViệt Nam về hôn nhân vàgia đình”, Tạp chíNghiên cứu Gia đình và
Giới, số 4-2011,tr.3-14
(16) (17),(18), (25)Ban chỉđạoTổngĐiều ữa dân số và nhà ỞTrung ương Kếtquả Tổng điều ữa dân số và nhà
ởthòi điểm 0giờngày1 -4-2019, Nxb Thống kê, 12-2019
(19) Xem: Tổng cụcThống kê và Qũy Dân số Liên
Họp quốc:Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015: Các kết quả chủ yếu, Nxb Thông tấn, HàNội
(20) Dântheo: Phan Lương Cừ:“Luật về Người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và những vấn đề đặt ra trongviệc thực hiện luật”, trong Hội thảotọa đàm chuyên gia, ủy ban các vấn đềxàhội
của Quốc Hộitổchức, 8-2010
(21) Xem: Anh Quyền: Xuấtkhấu lao động, chờcơ
hội phục hồi từ năm 2022”, Tạp chíKinh tế và Dự báo (online),truycập ngày11-6-2021
(24) Tổng cục Thống kê:Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ thời điểm 1-4-2014: Các kết quả chủ yếu,
Nxb Thống kê, Hà Nội, 9-2015
(26) ủy ban Quốc giavềNgười cao tuổi ViệtNam và
Quỹ Dân số Liên Họp quốc:Chuyên khảo Hướng tới chính sách quốc gia toàn diện thích ứng với già hóa dân số ở Việt Nam, 2019
(27) Nguyễn Hữu Minh: Chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam và một sô' vấn đề chính sách cẩn quan tâm, Tạp chí Xã hội học,số 3-2018, ư.42-54
(28) Xem:Trần Tuyết Ánh, NguyễnHữu Minh,Hoa HữuVân (đồng chủ biên): Bạo lực gia đình ở Việt Nam và giải pháp phòng, chống, Nxb Lao động,Hà
Nội; Nguyễn Hữu Minh: “Phòng, chốngbạolực gia đình ở ViệtNam: Thành tựu,tháchthức chúyếu và một số vấn đề chính sách cần quan tâm”, Tạp chí
Nghiên cứu Gia đình và Giới,số6-2019,tr.5-14
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ số 524 (10/2021)