Hoạt động nghiên CÚU lịch sử nói chung và nghiên cứu, gỊảng dạy lịch sử Đảng nói riêng là sự vận dụng các quy tắc khoa học để tìm tòi và giải đáp những vấn đề lịch sừ ray nói cách khác l
Trang 1DạUviìHỌC THÁNG 3/2022
PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦASỬ LIỆU HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN cứu VÀ GIẢNG DẠÝ LỊCH sử ĐẢNG
NGUYỄN QUANG ĐẠI - TRIỆU VĂN HÙNG
Lớp Cao học Lịch sử Đàng 2021, Học viện Chính trị
Ngày nhận bài: 18/02/2022; Ngày phàn biện, biên tập và sửa chữa: 24/02/2022; Ngày duyệt đăng: 02/03/2022
ABSTRACT
Historical data is a part of historical events, used by historians to restore historical events and serve the research process Teaching Party history is the process of educating awareness about the Party It is necessary to have Party historical documents to build histoneal events, to use historical data to prove the Party ’ s leadership Therefore, historical documents play an important role as the foundation of Party history research and teaching activities.
Key words: History, Party history, teaching, value.
Hoạt động nghiên CÚU lịch sử nói chung và nghiên cứu, gỊảng dạy lịch sử Đảng nói riêng là sự vận dụng các quy
tắc khoa học để tìm tòi và giải đáp những vấn đề lịch sừ
ray nói cách khác là quá trình nhận thức một vấn đề đã
> ày ra bằng đường đi, cách thức khoa học, ngắn nhất, tim ra sự
t lật của sự kiện lịch sử Từ đó rút ra ý nghĩa, bài học của nó với
1 ch sử, hiện tại và tương lai Đối tượng của hoạt động nghiên
c úru là các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử và các quy luật lịch
s r, là những vấn đề đã xày ra, không thể tái tạo nguyên như cũ,
mà chi sắp xếp, xây dựng lại trong tư duy nhà khoa học, do vậy,
h jạt động nghiên cứu lịch sừ có những phương pháp riêng, đặc
ứ ù và yêu câu cao vê phương pháp nghiên cứu từ khôi phục các
SỊ rkiện lịch sử
Sử liệu là một bộ phận của sự kiện lịch sử, được các nhà sừ
hóc sừ dụng, khai thác đê khôi phục các sự kiện lịch sử và phục
VỊ I toàn bộ quá trình nghiên cứu Theo quan điểm sử học Mác xít,
dí biểu là Tôpolxky đưa ra định nghĩa: mọi thông tin từ đời sống
n người trong quá khứ cùng với kênh thông tin đều được coi
sử liệu Nội hàm cùa định nghĩa theo cách tiếp cận này không
CC1
là
cm nói đến dâu vêt cùa lịch sử mà còn khai thác thông tin từ đời
số rg con người qua dấu vết cùa tự nhiên và chì ra cơ sờ để xác
định nguồn sử liệu luôn gắn với lịch sù Từ khái niệm trên, có thể
hit u một cách khái quát: sử liệu là mọi nguồn gốc của nhận thức
lie 1 sử, mọi thông tin về quá khứ xã hội, dù chúng nằm ờ đâu với
những gì mà chúng truyền đạt qua kênh thông tin Tất cà những
ng tin từ quá khứ cùa thế giới tự nhiên, xà hội, hoàn cảnh sống,
phong tục tập quán cùa con người, cùng với những phương tiện
chuyên tài những thông tin đó (hiện vật, văn bàn, âm thanh, chữ
viế: ) là sứ liệu
s ừ liệu có vai trò quan trọng, có thể được coi là nền tảng cùa
hoạ t động nghiên cứu, giáng dạy lịch sừ Vai trò của sử liệu được
hiện qua tính chât chức năng và mối liên hệ cùa nó với các
hoạ t động nghiên cứu lịch sử Với chức năng bàn thê luận, những
thông tin từ nguồn sử liệu có thể trực tiếp phản ánh các sự kiện
sử Khi sử liệu không ra đời cùng thời với sự kiện lịch sử, sử
phản ánh gián tiếp sự kiện đó qua chủ the trung gian thứ ba
th<
the
lịch
liệu
trở lên viết lại, thuật lại Vai trò của sử liệu còn được thề hiện qua
vị tr í cùa nó bong hệ thong nhận thức lịch sử đó là: sự kiện lịch
sừ luôn được phản ánh trong sử liệu thông qua tác giả; Tác già
và s i liệu đều tham gia tạo thành sự kiện lịch sứ; Sừ liệu cũng là
biểu hiện nhận thức và hoạt động của tác già trong quá trinh tạo ra
sự kiện lịch sử Sử liệu và sự kiện lịch sử đêu tòn tại khách quan
không lệ thuộc vào nhà nghiên cứu nhưng ữèn cơ sở của các sừ
liệu mà nhà sừ học dựng lên sự kiện lịch sử Trong các mối quan
hệ C1 quá trinh nhận thức lịch sử bao giờ cũng có nhân tố sử liệu
Từ mối quan hệ trên cho thấy, sử liệu giữ vai trò là “hạt nhân” trong hoạt động nghiên cứu lịch sử, do đó, bàn thân sử liệu cũng cân một khoa học nghiên cứu vê nó, đó là những phương pháp khoa học trong phát hiện, nhận thức, phân loại và xừ lý thông tin
từ sử liệu
Phân loại sử liệu có vai ttò quan họng trong hoạt động nghiên cứu Nguồn sừ liệu tồn tại trong thực tế rất đa dạng phong phú với những đặc trưng, tính chất và loại hình khác nhau, việc phân loại sử liệu có thể dựa hên cơ sở khác nhau đó Nhà nghiên cứu
có the căn cứ vào đặc trưng cùa nguồn sử liệu đế phân thành hai loại: sử liệu thành văn và không thành văn Sử liệu thành văn tồn tại bằng dạng chữ viết (cồ ngữ, quốc ngữ và chữ nước ngoài), là nguôn quan họng hàng đâu cùa sử học vì nó cung cấp thông tin
cơ bàn, hệ thông và đây đủ nhât Sừ liệu thành vãn có thê chia làm bốn loại: loại truyền đạt thông tin có mục đích, có giá trị ổn định lâu dài, ví dụ: Cương lữih xây dựng chù nghĩa xã hội hong thời
kỳ quá độ cùa Đảng cộng sàn Việt Nam; loại truyền đạt thông tin
có mục đích nhưng chì có giá trị hong thời gian ngắn, ví dụ như các chi thị, nghị quyêt của Đảng, các loại văn bản của nhà nước; loại trực tiếp phản ánh quá trình lịch sử, giai đoạn lịch sử như các chiếu, biểu, lời kêu gọi ; loại gián tiếp phản ánh quá trinh lịch
sử, giai đoạn lịch sử như các tác phẩm văn học, hồi ký của các nhân vật lịch sử Sử liệu không thành văn là nguồn sử liệu không phái bằng chữ viêt, truyền đạt thông tin bàng biểu càm, ví dụ: tranh ảnh, hiện vật, di chi Đây là nguồn sử liệu rất phong phú
và ra đời sớm trước cà sử liệu thành văn
Trên cơ sở tính chất phàn ánh của sử liệu có thể phân loại thành
sử liệu trực tiếp và gián tiếp Sữ liệu trực tiếp là những tài liệu trực tiêp phản ánh một mặt, một bộ phận nào đó của sự kiện lịch
sử Đây là nguồn sử liệu có tính chính xác cao, nhà sứ học chỉ cần kiểm tra tính xác thực của sử liệu mà không cần xác minh độ tin cậy của thông tin; Sử liệu gián tiếp là những sử liệu không phải trực tiẽp từ sự kiện lịch sừ đó, mà qua người khác thông tin đến,
ví dụ là các bài báo, hồi ký Muốn nhận thức được nguồn gián tiếp một cách chân thực, nhà nghiên cứu vừa phải xác minh độ tin cậy của nguồn thông tin, vừa phải xác minh tính xác thực cùa sừ liệu Tuy nhiên, việc phân loại các nguồn sừ liệu như trên cũng chi
là mang tính ước lệ, tương đối cho dễ hiểu, vì các nguồn sừ liệu
có sự giao thoa nhau và một sử liệu có thể chứa đựng nhiều thông tin khai thác ờ góc độ khác nhau, ví dụ: một bia đá - vừa là sừ liệu hiện vật, vừa là sử liệu chữ viết Việc thu thập, nhận biết đặc điểm, phân loại sừ liệu có ý nghĩa quan trọng giúp cho người nghiên cứu khai thác thông tin trong những trường hợp cụ thể, song để hạn chê phạm vi và thu thập những nguôn sử liệu có giá trị, nhà sừ học cân phải năm được cách phát hiện, và đọc sừ liệu
Trang 234
Việc phát hiện sù liệu phải được tiến hành trong một phạm
vi, giới hạn nhất định Trước khi thu thập sử liệu, người nghiên
cứu phải có đề tài, xác định rõ đôi tượng, phạm vi nghiên cứu và
khung thời gian nhât định Tập trung tìm sừ liệu trong khung thời
gian và phạm vi đã xác định mà không ơàn lan Cách phát hiện
nguồn tiữớc hết là tìm và lựa chọn trong số những đề tài gần, liên
quan trực tiếp đến đề tài của mình để ke thừa, lựa chọn nguồn cần
thiết Phát hiện nguồn sử liệu qua các bài báo, các sách chuyên
khảo, các tài liệu phản diện, tài liệu thu thập của đôi phương Có
thể thông qua các nhân chứng lịch sử để phát hiện nguồn sừ liệu
Phát hiện nguồn theo cách này cần phài nắm chăc đối tượng định
khai thác đê có phương pháp phù họp, đặc biệt là phải xác định
vai trò của nhân chứng đó với sự kiện lịch sừ Cân phài có công
tác chuẩn bị thật chu đáo (định hướng nội dung, chụân bị câu
hòi Sau khi đã được cung cấp, người lấy tư liệu cận tập hợp,
hệ thong lại đưa cho nhân chứng lịch sử xem và cho kết luận cuoi
cùng Đây là việc làm bảo đàm tính chuẩn xác của và tính pháp
lý của tư liệu khai thác từ các nhân chứng lịch sử Nhà sử học có
thể qua khảo sát thực tế nơi xảy ra sự kiện để phát hiện nguồn sử
liệu hiện vật Cỏ thể tìm các nguồn khác ở thư viện, bảo tàng, các
cơ quan và cá nhân nghiên cứu Phát hiện các nguồn sử liệu đe
phục vụ cho quá trình nghiên cứu là việc làm không thể thiếu với
nhà sừ học Tuy nhiên, tuỳ theo tính chât cùa đê tài, điêu kiện cho
phép mà sử dụng kêt hợp hài hoà các cách phát hiện nguôn cho
phù hợp
Một khâu rất quan trọng, cần nắm và vận dụng trong quá trình
nghiên cứu là cách đọc sử liệu, còn gọi là nhận thức sừ liệu Một
so nguyên tẳc khi đọc sử liệu là: phải nắm được luật ngôn ngữ
dân tộc (ngôn ngữ các dân tộc hiện nay) Năm được luật ngôn
ngự thời đại (các cổ ngữ), cần phải năm luật chữ viêt và ký hiệu
(viết tắt, ký hiệu), ví dụ thời chổng Pháp bọn nguy gọi Việt Minh
là “vẹm'’ (Việt Minh = V.M = Vẹm) Thời chông Mỹ, bọn Mỹ -
ngụy gọi người cách mạng là Vi-si (Việt Cộng = v.c = V1 si) Do
ngôn ngữ và chữ viêt cũng mang tinh lịch sử Xã hội phật triên,
ngôn ngữ chữ viêt cũng phát triên Khi khai thác sử liệu cân phải
nam ngôn ngữ, chữ viet, ký hiệu của các thời kỳ, và bàn thân sự
thay đôi này cũng là những thông tin phản ánh thời gian tạo ra
sừ liệu
Một ưong những khâu quan trọng nhất trong quá trình nghiên
cứu là phê phán sử liệu hay còn gọi là xừ lý sử liệu hoặc đánh
giá sừ liệu Đảy là việc làm nhăm khôi phục sứ liệu, bảo đảm
tính chân thực của sừ liệu, tránh sai sót trong sừ dụng tư liệu
lịch sử Phè phán sử liệu được chia làm hai giai đoạn: phê phán
bên ngoài và phê phán bên trong Phê phán bên ngoài còn gọi
là phương pháp uyên bác, là bước xác định niên đại, nguôn gôc
tính chân thực cùa sử liệu, nhăm ưả lời cho câu hòi có đúng là
sừ liệu không? tức là đánh giá kênh vận chuyển thông tin sử liệu
Phê phán bên ngoài sừ liệu thường được tiên hành qua năm công
đoạn: Xác định niên đại của sử liệu; Xác định tác giả cùa sử liệu;
Xác định địa điểm (không gian) tạo ra sử liệu; Xác định sử liệu
thật hay giả; Khôi phục văn bản gốc của sữ liệu
Cùng với phê phán kênh chuyên tải thông tin theo năm công
đoạn trên, Người nghiên cứu phải tiên hành phê phán bên trong,
là kiểm tra xác định độ tin cậy, chính xác của thông tin trong sừ
liệu Đây là việc rất quan trọng nhàm xác định chất lượng giá trị
thông tin đó Phé phán bên trong, có thê dựa vào các cơ sở sau:
Dựa vào những mệnh đê cùa tác già đưa ra ưong sừ liệu (sự đánh
giá, nhận định của tác giả vê sự kiện lịch sử); Dựa vào hệ thông
giá trị của bàn thân tác giá, bao gồm trình độ nhận thức, quan
điểm tư tưởng, địa vị xã hội, nhàn sinh quan, tình cảm, tính cách
tác giá để xem xét giá trị thông tin trong sừ liệu, (tác già là người
có trình độ nhận thức chuyên môn cao, có vị trí cao trong xã hội
thi thông tin đáng tin cậy hơn), đặc biệt là xem xét lập trường
giai cấp của tác gia và điều kiện lịch sừ khi đưa thông tin; Căn cứ
vào vị trí cua tác giả nêu trong sừ liệu là trực tiêp hay gián tiêp
THÁNG 3/2022 DạUiiHỢC
Ví dụ hồi ký cùa một đồng chí lãnh đạo Đàng về đường lối chũ trương của Đảng thường có giá trị hơn hồi ký của một đãng viên thường ở cơ sở Nguồn trực tiếp sự kiện thường có thông tin tin cậy hơn người nghe lại; Có thê xét định hướng thông tin cùa tác giả Thông tin đó nhằm mục đích gì? cho đối tượng nào? Ví dụ lời khai với đối phương thông tin ít và thường là sai
Phê phán sù liệu là một khâu rât quan trọng ưong quá trình nghiên cứu, bào đảm cho nhà sử học nhận thức đúng thực tế khách quan Phê phán bên trong và phê phán bên ngoài có môi quan hệ chặt chẽ nhau, trên thực tế phải tiến hành đồng thời, phối hợp nhau vì muốn biết giá trị, độ chính xác cùa thông tin thì phải nắm được kênh thông tin đó, không thể có thông tin có giá trị trong một tài liệu già Sử liệu là mọi nguồn gốc của nhận thức lịch
sử Do đó, sử liệu học là một vấn đê căn bản trong phương pháp luận nghiên cứu lịch sử
Khoa học lịch sử Đàng là một chuyên ngành trong ngành lịch
sử, do đó, nó cũng cần đầy đủ lý luận về phương pháp nghiên cứu lịch sử nói chung cũng như lý thuyết về sử liệu nói riêng Tuy nhiên, gắn với đặc điểm đối tượng nghiên cứu là quy luật ra đời, quá trình phát triển và hoạt động lãnh đạo cùa một tổ chửc, do đó, việc cần nắm phương pháp nghiên cứu lịch sử và sử liệu học càng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu Nghiên cứu và giảng dạy lịch sừ Đàng tuy là hai lĩnh vực khác nhau nhưng có môi quan hệ găn bó không tách rời nhau, đêu có
sự cần thiết tham gia không thề thiếu của các sử liệu lịch sử Đàng Quá trình nghiên cửu lịch sừ Đàng càn phải biết khai thác sừ dụng các sử liệu lịch sử Đảng để làm rõ các sự kiện lịch sừ, quá trinh phát triển, hoạt động lãnh đạo cùa Đáng Giàng dạy lịch sử Đàng
là quá trình giáo dục nhận thức về Đảng, cần phải có các sử liệu lịch sừ Đàng để xây dựng các sự kiện lịch sừ, dùng sử liệu để chứng minh cho đường lối lãnh đạo của Đảng Bản thân sử liệu cũng có chức năng giáo dục, ví dụ: thông qua nhật ký Đặng Thuỳ Trâm có ý nghĩa hình thành nhân cách; qua những sừ liệu về Hồ Chí Minh có thể giáo dục đạo đức, lối sống, phong cách
Sữ liệu lịch sử Đàng là sứ liệu đáp ứng yêu cầu nghiên cứu quá trinh ra đời, hoạt động của Đãng Toàn bộ lý thuyêt vê sử liệu đều có thể vận dụng trong xem xét đánh giá sử liệu lịch sừ Đảng
và có vị trí rất quan trọng vì: hơn 92 năm ra đời và phát triển cùa Đảng, thời kỳ hoạt động bất hợp pháp rất dài, sừ liệu bị thất thoát,
có nhiều sử liệu không thành văn Mặt khác, khi Đảng hoạt động công khai, họp pháp có chính quyền thì công tác lưu trữ cũng chưa được quan tâm đầy đù Vi vậy, phê phán sữ liệu lịch sừ Đàng
là việc có ý nghĩa quyết định đến kết quả nghiên cứu của người nghiên cứu
Từ giá trị cùa sử liệu ưong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng, đòi hỏi người nghiên cửu phải có trinh độ kiên thức vê sử liệu học, phải biết phát hiện, phân loại, đọc sử liệu, nắm vững các khâu, các hoạt động xem xét đánh giá và kiêm tra tính chán thật cùa sử liệu Đây là yêu cầu cần thiết mang tính nguyên tắc ưong nghiên cứu, giăng dạy lịch sử Đãng
Từ nội dung của sử liệu học cũng chi ra rằng: muốn nghiên cứu, giàng dạy lịch sữ Đáng có hiệu quâ, người nghiên cửu phải biết lịch sử thế giới, lịch sử quân sự và những kiên thức phô thông khác, đòi hòi người nghiên cứu phải tích cực trau dôi, học tập nghiên cứu kiến thức các môn khoa học khác có liên quan Nghiên cứu lý thuyết về sừ liệu cũng nhận thức được ràng: nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng phải có cân cứ khoa học luôn tôn trọng và phài xuất phát từ sự thật lịch sừ, chống áp đặt chù quan tuỳ tiện, tô hồng hay bôi đen lịch sừ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Phương pháp nghiên cửu, giảng dạy lịch sử Đáng Cộng sản Việt Nam (2001), Nxb QĐND, Hà Nội
2 Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu lịch sử (1976), Uỹ ban Khoa học Xâ hội