1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nhận diện vấn đề thân thể trong thơ trữ tình việt nam giai đoạn sau 1986 đến nay

9 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu nhận diện vấn đề thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam giai đoạn sau 1986 đến nay
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản Chưa rõ
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 816,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thân thể trong văn học ở các thời kì khác nhau, chúng ta có thể nhận ra sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người, sự thay đổi của nguyên tắc thẩm mĩ cũng như những

Trang 1

BƯỚC ĐÀU NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ THÂN THẺ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SAU 1986 ĐẾN NAY

CHUNG THỊ THÚY«

Tóm tắt: Thân thể vừa là đối tượng miêu tả, vừa là kí hiệu thẩm mĩ đặc biệt trong sáng tác văn

học Nghiên cứu thân thể trong văn học ở các thời kì khác nhau, chúng ta có thể nhận ra sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người, sự thay đổi của nguyên tắc thẩm mĩ cũng như những biến động trong văn hóa, xã hội, lịch sử Thơ trữ tình giai đoạn sau 1986 có những đổi mới quan trọng trên

cả phương diện hình thức nghệ thuật lẫn chiều sâu quan niệm về thế giới, về con người Bài viết này, trước hết, sơ lược về vấn đề thân thể ưong văn học, trên cơ sở đó, tiến hành khái quát và phân tích một

số đặc điểm cơ bản về thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam giai đoạn sau 1986: thân thể đầy di chứng của chiến tranh, thân thể gắn với ý thức về cá tính, thân thể gắn với khát vọng sáng tạo, thân thể gắn với ý thức về nhan sắc, về tính dục, về thiên chức nữ.

Từ khóa: vấn đề thân thể, thơ ca sau 1986, hậu chiến, cá tính.

Abstract: Human body has always had aesthetic value in literary works Through history,

literature has witnessed and represented the changing conceptions of the human body in relation to culture, society and history Vietnamese romantic poetry in the post-1986 period made significant innovations in conceiving and aestheticizing the world and humans This article specifically engages with the representations of the human body in post 1986 Vietnamese romantic poetry, and unearths preoccupations with understanding the human body in the aftermath of war, body as a manifestation of personality and creativity, and the gendered responses to the beauty and sexuality of the human body.

Keywords: the body subject, poetry after 1986, post-war, personalities.

1 Đặt vấn đề

Con người trở thành đối tượng trung

tâm của văn học, do đó, những gì thuộc về

con người, liên quan đến con người đều

là vấn đề mà văn học quan tâm Thân thể

con người từ lâu đã được miêu tả trong tác

phẩm văn học, có vai trò quan trọng trong

việc kiến tạo giá trị nghệ thuật cùa tác

phẩm, thậm chí là “không có thân thể thì

không có miêu tả nghệ thuật” [3, tr.90], nó

là đối tượng để người đọc chiêm ngưỡng,

suy tư Vẻ đẹp của những nàng công chúa,

thân hình cường tráng của những chàng

trai trong truyện cổ tích, những vị tướng kì

khôi hoặc những “kì hình dị tướng” trong

văn học trung đại, những thân thể hoàn mĩ

hoặc những thân thể bất toàn; sự phát triển

•"’ThS - Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa.

Email: chungthuy362@gmail.com.

hay suy tàn được thể hiện trên thân thể của những nhân vật văn học , tất cả đều được nhà văn chú ý miêu tả cũng như gợi lên những trạng thái cung bậc cảm xúc khác nhau của người đọc bao đời Nhưng thân thể không chỉ là đối tượng thể hiện, mà còn trở thành phưomg tiện để thể hiện tư tưởng nghệ thuật, trở thành một loại ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, một phưcmg diện mới của thi pháp, một loại kí hiệu thẩm mĩ đặc thù trong tác phẩm văn học: “Thân thể trở thành đối tượng miêu tả của nghệ thuật

và do đó trở thành một ngôn ngữ để miêu

tả về con người Thân thể trở thành một phưong diện mới của thi pháp” [3, tr 124] Loại kí hiệu thẩm mĩ này là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo, quan niệm nghệ thuật về con người, chịu sự chi phối của bối cảnh thời đại Chính vì vậy, nghiên cứu thân

Trang 2

thể trong văn học ở các thời kì khác nhau,

chúng ta có thể nhận ra sự thay đổi trong

quan niệm về con người, sự thay đổi của

nguyên tắc thẩm mĩ cũng như những biến

động trong văn hóa xã hội, lịch sử Dưới sự

tác động mạnh mẽ của hoàn cảnh lịch sử

cũng như xuất phát từ nhu cầu nội tại, văn

học Việt Nam sau 1986 nói chung, thơ trừ

tình nói riêng có những thay đổi rõ rệt trên

tất cả các phương diện Có thể nói, năm

1986 đã mở ra một giai đoạn mới trong

lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn có

những đổi mới quan trọng trên cả phương

diện hình thức nghệ thuật lần chiều sâu

quan niệm về thế giới, về con người Do

đó, thân thê trong văn học giai đoạn này

nói chung và trong thơ trừ tình nói riêng đã

bộc lộ những nét độc đáo so với thân thể

trong văn học giai đoạn trước

2 Vấn đề thân thể trong văn học

Thân thể trong văn học được thể hiện

ở toàn bộ những hình ảnh bên ngoài như

đầu, tóc, chân, tay, mắt, mũi, miệng, da,

thịt , với các hành động (đi, đứng, nằm,

ngồi, la, hét ); được thể hiện ở những yếu

tố bên trong như cảm giác, cảm xúc, tâm

trạng (nóng lạnh, cô đơn, buồn, yêu, giận,

ghét ) và gián tiếp thông qua đồ vật,

trang phục (gương, lược, quần áo ), môi

trường (cây cối, vườn, cánh đồng, rừng,

dòng sông, biển, phố, căn nhà ) có quan

hệ và tác động đến thân thể Thân thể là

một loại kí hiệu thẩm mĩ đặc biệt, nó được

cấu tạo, được sắp xếp, có tổ chức, có tính

thẩm mĩ cao, mang nhiều tầng ý nghĩa

phức tạp, thể hiện những thông tin về cá

nhân, lịch sử, xã hội, văn hóa Thân thể

thể hiện bản sắc cá nhân với những giá trị

khác biệt về con người như giới tính, lứa

tuổi, vẻ đẹp riêng, diện mạo riêng (thằng

gù, người đàn ông có khuôn mặt cười, sẹo

của AQ ); thể hiện sức sống bản năng

{Phong nhũ phì đồn - Mạc Ngôn) Hình

dạng của thân thể có vị trí của nó trong một xã hội cụ thể Từ khuôn mặt đẹp như ngọc của Khổng Minh, mặt hồng như táo

đỏ với chòm râu ba chòm của Quan Công, mặt đen sì của Trương Phi {Tam quốc diễn

nghĩa'), đến “cái mặt không chơi được”, cái mặt có hàm răng nhe như răng chó, có cái ria vểnh như cái sừng trâu của Trạch Văn Đoành, mặt ngắn ngủn của thị Nở, mặt bủng beo, đáng thương của Lang Rận (Nam Cao) , tất cả đều cho biết vị trí

xã hội, và sự đánh giá của số đông về họ Thân thể còn thể hiện bản ngã của mồi

cá nhân Con người được sinh ra với một hình hài cụ thể Cái thân thể được cha mẹ tạo thành vốn mang tính cố định, khó thay đổi, tạo thành bản sắc riêng của mồi cá thể Nhưng nó vẫn luôn vận động, trưởng thành, để trở thành một thân thể mới Thân thể là phần yếu đuối nhất, dễ

bị tổn thương nhất của con người, nhất

là khi nó ở trong trạng thái bệnh tật, chết chóc, mang thai, xấu xí, khuyết tật Với cơn cảm lạnh, Chí Phèo thấy mình đã già

và bắt đầu giấc mộng hoàn lương Hình ảnh người vợ mệt nhọc, gầy guộc, xanh xao ngủ thiếp trên võng khiến văn sĩ Hộ hối hận và thấy mình là kẻ khốn nạn hơn bao giờ hết Thân thể còn là kí hiệu thể hiện nồi đau của con người Thúy Kiều trong cảnh bị đánh đập tại lầu xanh và

ở công đường với “Thân lươn bao quản

lẩm đầu “Uốn lưng máu đo cất đầu thịt sa" {Truyện Kiều - Nguyễn Du), đều bị

đấy vào trạng thái đau đớn tột cùng về thể xác Răng rụng, tóc bạc, gầy đen, quỷ đói, ghẻ lở , đều là những kí hiệu biểu thị sự đọa đày Thử thách về tinh thần và vật chất đều in dấu trên thân thể Tất cả sự sống đều bắt đầu và kết thúc ở thân thế Thúy Kiều tự gieo mình xuống sông Tiền Đường; Chí Phèo tự giết mình, những hành động hữu thức hay vô thức này của

Trang 3

Bước đầu nhận diện 109

các nhân vật đều bộc lộ vấn đề thân thể

được phát triển, biến đổi, bị từ chối hoặc

tự hủy diệt để giải thoát những đau đớn

về tinh thần Thân thể còn là kí hiệu thể

hiện nội tâm, tính cách, thần thái, phong

điệu, nhận thức, tình cảm: “Mỹ nhân lừng

thững xem hoa rụng/ Trâm ngọc quên cài

tóc bỏ lơi/ Sương tỏa bên mình khói nhẹ/

Xiêm y tha thướt mải hiên ngoài” (Chiều

thu - Thái Can) Thân thể là phương tiện

để mỗi người cảm nhận về thế giới Theo

Hiện tượng học tri giác của Maurice

Merleau Ponty, nhờ cảm giác của thân thể

mà chúng ta tri nhận được thế giới

Thân thể trong văn học mang tính quan

niệm, mang ý thức của nhà văn hay nhân

vật về thân thể con người Ý thức về thân

thể được lớn dần lên theo sự phát triển ý

thức nhân loại Triết học từ xưa vốn quan

niệm tách rời thân thể và tinh thần, coi thân

the chỉ là phần xác thịt, chứa đựng phần

bản năng rõ nhất của con người như ăn

uống, bài tiết, tình dục , nhưng thân thể

mang tính bản năng lại được thể hiện ngày

càng rõ nét trong văn học Thân thể trong

văn học gắn quan niệm nghệ thuật về con

người Bên trong sự trang trí thân thể như

bỏ chân, răng nhuộm đen, tóc đuôi sam,

tóc ngắn, xăm mình, xỏ lô mũi, lô tai ,

bên trong trang phục như nón quai thao,

xiêm áo, khăn rằn, ảo tứ thân, áo dài tân

thời, mũ cảnh chuồn, hồngy, thanh y , là

dấu ấn văn hóa của một dân tộc, một thời

đại nhất định Thân thể là tự do, là của

riêng của mồi cá nhân, nhưng thân thể con

người được sử dụng như một ngôn ngữ

đặc thù hàm chứa dấu ấn văn hóa của dân

tộc và thời đại Thân thể cũng chịu sự chi

phối của những đặc trưng tâm lí văn hóa

của từng quốc gia khác nhau, M Foucault

đã phát hiện ra, thân thể không chỉ là sản

phẩm của tự nhiên, mà còn là sản phẩm

của văn hóa xã hội, nó trở thành nơi vận

hành của quyền lực, tri thức, diễn ngôn, nơi thể hiện của lịch sử xã hội Thân thể còn thế hiện dấu ấn và cả sự kháng cự với những thiết chế văn hóa, kháng cự các quy tắc hà khắc của xã hội Thân thể là phương diện bị áp bức, đồng thời cũng là nơi thể hiện sự phản kháng đối với những quy chế

xã hội Nhân vật Thị Màu lên chùa mà đi những bước xiên chéo qua sân khấu, dáng

đi lẳng lơ, váy áo tung tóe, mắt liếc ngang liếc dọc; nhân vật Mẹ Đốp tóm lời của xã trưởng nhét vào váy đụp của mình (chèo

Quan Ẩm thị Kính); nhân vật Xúy Vân

(chèo Kim Nham) có những động tác giả

điên dại , những hình thái vận động thân thể của họ cho thấy sự kháng cự của thân thể đối với những chuẩn mực, đòi hỏi phải được giải phóng khỏi các quy tắc đạo đức Thân thể trong văn học còn bị chi phối bởi quan niệm và tư tưởng của nhà văn Các nhà văn trên thế giới khi viết về thân thể thường hướng tới những ý tưởng như bản sắc, giới tính, ham muốn, tình dục, bạo lực, sắc đẹp, khuyết tật và dị dạng, chủng tộc và thân thể, trang phục và thân thể, quan hệ thân thể và chính trị Thân thê trong văn học là một hiện tượng lịch

sử, luôn vận động và thay đối theo quan niệm về con người Quan niệm về con người chính là nguyên tắc bề sâu chi phối cách khắc họa thân thể Trong từng thời kì lịch sử khác nhau, nguyên tắc, quy luật, công thức, kiến tạo thân thể trong văn học cũng khác nhau Nguyên tắc kiến tạo thân thế trong văn học gắn với quan niệm nghệ thuật về con người, một kiểu mô hình thế giới riêng biệt Trong thơ cổ, người con gái đẹp thường được miêu tả gắn với vẻ đẹp âm nhu, với những nét thanh, mềm mại: mặt hoa da phấn, lưng ong, má hồng, gót sen, dáng liêu, dáng hoa, bóng hồng, khuôn trăng, làn thu thủy, nét xuân sơn, tóc mây “Đôi gò bồng đào sương còn

Trang 4

ngậm/ Một lạch đào nguyên suối chửa

thông” (Thiếu nữ ngủ ngày -Hồ Xuân

Hương); “ Run rẩy kẻ đào thơ còn mảnh

mảnh ” (Tuổi già cưới vợ hầu - Nguyễn

Công Trứ); còn khi tả kẻ anh hùng, đấng

trượng phu thì gắn với vẻ đẹp cương kiện

với đường nét cứng, nét đậm: râu hùm,

hàm én, mày ngài Đầu thế kỉ XX, trong

văn thơ yêu nước, hiện lên hình ảnh một

nước Việt đau thương như một cơ thể

sống dưới ách nô lệ Con người yêu nước,

căm thù giặc, muốn làm một việc gì đó để

cứu vớt giang san Họ bầm gan, tím ruột,

vạch trời kêu, héo hon tấc dạ, lã chã giọt

châu, nghiến răng Nhóm từ thịt nát

xương tan, thịt nát xương mòn, nát thịt,

thâm gan, dù có công thức, nhưng chỉ có

tính chất mạnh mẽ, tận cùng của sự đau

đớn thân thể mới diễn tả được tính chất

đau thương của con dân nước Việt lầm

than dưới ách áp bức thực dân Thời kì

1945-1975, thân thể trong văn học cách

mạng gắn liền với ý thức công dân Vì thế

thân thể trong thơ ca giai đoạn này cũng

được khắc hoạ với nguyên tắc riêng, nổi

bật nhất là nguyên tắc ca ngợi sự hi sinh

thân thể Nghiên cứu thơ Tố Hữu, các

nhà nghiên cứu thấy rằng thi pháp quen

thuộc của thơ ông là: “Ở đâu ta cũng gặp

hình tượng con người thể chất” và “một

nguyên tắc tả người rất rõ trong thơ Tố

Hữu là: toàn bộ cơ thể trở thành cơ quan

cảm thụ thế giới” [2, tr.97] Trong thơ Tố

Hữu, có thể thấy sự tham gia của toàn bộ

cơ thể vật chất trong niềm say mê của

lí tưởng cách mạng: “Hai mươi tuôi tim

đang dào dạt máu/ Hai mươi tuối hồn

quay trong gió bão/ Gân đang săn và thớ

thịt căng da ” (Trăng trối) Thân thế công

dân ấy không phải của riêng cá nhân nào,

mà thuộc về tổ quốc, thuộc về dân tộc nên

nó được quan tâm chủ yếu ở phương diện

cống hiến, chiến đấu, chiến thắng

3 Biểu hiện của thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986

Thơ trữ tình Việt Nam giai đoạn sau

1986 vừa có sự kế thừa vừa có sự đồi mới trong lựa chọn, thể hiện thân thể so với thơ

ca giai đoạn trước Có thể thấy, thân thể trong thơ trữ tình giai đoạn này mang một

số đặc điểm như sau: thân thể đầy di chứng của chiến tranh, thân thể gắn với ý thức về

cá tính, thân thể gắn với khát vọng sáng tạo, thân thể gắn với ý thức về nhan sắc, về tính dục, về thiên chức nữ

3.1 Thân thể gan với di chứng của chiến tranh

Cũng như các thề loại khác, thơ trữ tình sau 1986 đã quan tâm nhiều hơn đến những mất mát, những nồi đau do chiến tranh để lại Chiến tranh không chỉ tàn phá điều kiện tồn tại của thân thể mà trực tiếp hủy hoại thân thể con người, để lại những

di chứng theo suốt đoạn đời còn lại của mồi cá nhân Khi viết về chiến tranh, nếu thơ trước 1986 âm hưởng chủ đạo là âm hưởng hào hùng, lạc quan, thì âm hưởng chủ đạo trong thơ sau 1986 là âm hưởng trĩu nặng suy tư Chủ đề phổ biến trong thơ là chủ đề về cái chết, bệnh tật, tàn tật, chờ đợi, già nua, đói nghèo, như là những hệ quả tất yếu khi chiến tranh vừa

đi qua Người đọc thấy được nồi đau của con người một thời qua những hình ảnh về thân thể như: máu chảy, máu loang, giọt

máu nặng như chùm quả, thịt xương, mắt nham, sốt chín da thịt, nước da mai mải, sốt kinh niên, gót chân mỏi mòn, bàn tay chai sạn, nước mat thầm lặng như sương muối Thơ giai đoạn 1945-1975 khi viết về cái chét, sự gục ngã của thân thể, dù có máu chảy nhưng không gợi cảm giác đau đớn, chỉ thấy sự oai hùng, kì vĩ: ‘‘Anh ngã

xuống khi anh đang đứng bắn/ Máu anh phun như lửa đạn cầu vồng” (Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân) Thế nhưng trong

Trang 5

Bước đầu nhận diện 111

thơ sau 1986, cái chết trong chiến tranh đã

mang âm hưởng buồn thương: “Cơm vắt

bên hông/ Bao đạn choàng trước ngực/

Máu bạn tôi thắm đỏ rừng già”; “Bạn hi

sinh/ Bạn không tên/ Suôi không tên đê

nhớ/ Tôi làm sao quên/ Tôi làm sao quên/

Chiều tháng Tư xạc xào lá đố/ Mắt bạn

khép vào suối nước vẹn nguyên” (Nơi bạn

hi sinh - Tô Hoàn); “Sốt cơn ác tính chín

da/ Chiều sau lắng lặng bạn qua đời rồi”

(Người đang yêu - Nguyễn Duy), “Tuổi

trẻ chúng tôi không kịp khóc/ Chôn bạn

lạnh lùng trần trụi dưới đồi sim” (Người

vắt sữa bầu trời - Thu Bồn) Cùng với khí

thế ra trận “cuồn cuộn” là dấu ấn vất vả,

gian nan hằn lên thân thể những người

lính: “ Thời gian sông cuồn cuộn không

ngừng/ Bàn chân Giao Chỉ miết mòn mỏi/

Lóc cóc kiếp đá cuội” Những “bàn chân

Giao Chỉ” mỏi mòn, chai sạn vì những

cuộc hành binh, vì những chuyến xe thồ

lên Điện Biên: “Đường Điện Biên gót chân

sỏi sạn” Nếu “bàn chân Giao Chỉ mòn

mỏi” vì những cuộc hành binh và chuyến

xe thồ dọc Trường Sơn, thì những “bàn

tay” lại “chai dầy”, “rộp” lên vì “ghì súng”

và “đào công sự”: “Đất làm bệ tì, tay ta ghì

sủng/ Ngửa tay là thấy nếp chai dầy/ /

Hôm nay lại rộp tay đào công sự” Những

người lính khi sống sót trở về thì thân thể

cũng mang căn bệnh chiến tranh trong suốt

quãng đời còn lại: “Đường làng tôi tiếng

xe thồ lọc xọc/ Chiếc xe thồ từng đấy tới

Điện Biên/ Ngược dòng sông Mạ lên Tây

Bắc/Ai xuôi về cũng sốt kinh niên” (Dòng

sông Mẹ - Nguyễn Duy) Đau lòng nhất

là những hình ảnh cái chết của người dân

trong chiến tranh Hình ảnh máu loang,

giọt máu, máu xương, thịt xương, xương

trắng được lặp lại nhiều lần như nhắc đến

những vụ chết chóc kinh hoàng trong chiến

tranh: “Mùa hè ẩy gạch chảy ra như máu/

Máu các anh che chở những căn nhà”

(Nhớ nắng - Nguyễn Thụy Kha); “Mưa

rửa sạch máu tươi trên đá lạnh/ Những bé

em nằm ngủ trong mồ ” (Cầu nguyện - Lưu

Quang Vũ); “Đất nhào tung cả thịt da/ Tóc

vương bay trắng cả bầu không gian” (Mái tóc mẹ bay - Anh Thơ) Cảm nhận đau đớn nhất thời hậu chiến là những cảm nhận

về thân thể khuyết thiếu, đau đớn trở về

sau chiến tranh: “Thế hệ chủng tôi/ Cõng trên lưng quá khứ/ Một hình hài tàn tật của chiến tranh ” (Người cõng quá khứ -

Nguyễn Quốc Chánh); “Nhưng đầu em một vết đạn chiến trường/ Sâu đến noi xuyên từ vùng trán rộng” (Đưa em về quê mẹ - Lê

Thị Mây); “Sau nhiều trận chết thừa sổng hụt bao phen/ Một bên chân bị bom thù cắt cụt giữa tuôi thanh niên “Máu đo xuống chiến trường, máu không vón cục/

Đe thành vàng, sổng tạm buổi hoàng hôn” (Kinh ngạc - Hoàng Cát) Sở dĩ có sự khác biệt khi viết về thân thể trong tương quan với chiến tranh so với giai đoạn trước, vì thơ ca giai đoạn này đã tiếp cận con người

từ góc độ cá nhân Khi con người hiện lên với tư cách cá nhân, thì những di chứng của chiến tranh trên thân thể sẽ là những đau đớn mà cá nhân phải chịu đựng Thân thế là nơi cảm nhận rõ nhất, nơi the hiện

rõ nhất sự hủy hoại của chiến tranh, nồi đau hiện hữu thường trực mà chiến tranh gây ra cho con người Chiến tranh không chỉ trực tiếp hủy hoại thân thể, nó còn tàn phá môi trường sống của con người Chiến tranh vừa đi qua, đói nghèo lại vẫn ở lại, in hằn lên thân thể của người bà, người mẹ, người bố, người em, trên thân thể “đồng bào tôi”, “nhân dân tôi” Đói khát in dấu lên thân thế qua những hình ảnh mặt xanh rờn, bàn tay xanh xao, con mắt trẻ đói xin

ăn, lưng trần bạc trắng, bụng nhăn lép kẹp, bụng sôi sùng sục vì đỏi, người hằn những xương, mặt hốc hác, bàn tay đê ngửa (An xin) : “Bây giờ anh vào tuổi

Trang 6

bổn mươi/ vẫn hốc hác khuôn mặt thời

lính trận/ Manh ảo miếng cơm chưa ủ ấm

nụ cười/ Lại giật thật lạnh người khi bắt

gặp một bàn tay đế ngửa" (Sấp ngửa bàn

tay - Hoàng Trần Cương) Như vậy, thân

thể trong thơ sau 1986 đã thể hiện khía

cạnh đời sống đau thương thời hậu chiến

cùng sự thức tỉnh về ý thức con người với

những nhu cầu xã hội, như đòi hỏi về công

bằng, ấm no

3.2 Thân thể gấn với ý thức cá tỉnh

Thân thể trong thơ sau 1986 là bức

tranh tự họa về cá nhân, thể hiện ý thức

về cá tính của mồi nhà thơ Ý thức về cá

tính trở thành khát vọng âm thầm nhưng

mãnh liệt của các nhà thơ sau 1986 Đê

chứng minh sự độc đáo của mình, các nhà

thơ dùng thân thể để khắc họa, họ muốn

vẽ lại mình, đi tìm lại khuôn mặt của chính

mình Hoàng Phủ Ngọc Tường họa lại

cái độc đáo của riêng mình bằng nụ cười,

nước mắt trên gương mặt, bộc lộ cuộc đời

nhiều nỗi đắng cay: “ Vẽ tôi một nét môi

cười/ Một dòng nước mắt, một đời phù

du”(Vẽ tôi) Trong thơ Quế Chi luôn có

sự tự ý thức về tồn tại của thân thể, muốn

xác nhận vị thế của thân thể trong không

gian và thời gian Cảm nhận về thân thể

ở Quế Chi còn là cảm nhận về sự lớn lên

của thể xác qua thời gian, năm tháng Ở

mỗi độ tuổi là sự chuyển biến về thân thể,

cùng với nó là sự thay đối về cảm nhận, ý

thức và trách nhiệm: “Mong những giấc

mơ đến/ Đê liếm lành vết thương Săp

19 tuổi/ Sự kiện nhẫn không đợi" (Đồng

dao Chi 18 ); “Neu dot hết âm ức/ Cơ thể

sẽ ngã bệnh/ Những ngày bat on/ cất mãi

một thanh âm" (Tản mạn tuồi mười chín)

Khẳng định cái tôi bản ngã trước tiên là

được sống đúng là mình, trung thực với

những cảm xúc của mình Xu hướng hướng

nội khiến trong thơ xuất hiện môtip tự đối

thoại, tự ngắm mình, vẽ chân dung mình,

đi tìm mình: Tự hát (Xuân Quỳnh), Người

đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Tôi vẽ mặt tôi,

Vẽ tôi, Soi gương (Lê Minh Quốc), Tản mạn với mình (Diệp Minh Tuyền), Lục

bát một mình (Trần Vàng Sao), Viết tặng nỗi buồn riêng (Lâm Thị Mỹ Dạ), Nói với

bóng mình ỉn trên vách (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Tôi nhìn thay tôi (Nguyễn Khắc

Thạch), Tôi chợt hiểu lòng tôi (Ý Nhi), Mình lại ru mình (Hồ Hồng Trâm), Tôi gọi tên tôi (Đinh Thị Thu Vân), Tôi tìm đến tôi

(Tạ Vũ Yên), Tự họa (Nguyễn Trọng Tạo), Sinh năm 1980 (Vi Thùy Linh)

3.3 Thân thể gắn với khát vọng sáng tạo

Thân thể trong thơ sau 1986 gắn liền với khát vọng sáng tạo Đối với các nữ thi

sĩ, quá trình sáng tác cũng là quá trình mở rộng các giác quan, là quá trình thụ tạo nên quả ngọt, vì thế, không sáng tạo, không viết cũng chính là “vô sinh”: "Tôi sâm sấp

mặt vũng/ Ngôn ngữ đang chết trên cánh đồng/ Gieo vần/ Gốc rễ rên noi lưỡi hái cùn/ Tôi khóc sứ mệnh/Mầm tuyên thệ hạt/

Vô sinh ” (Giấc mơ của lưỡi - Phan Huyền

Thư) Ngược lại, khi viết, sáng tạo ngôn ngữ chính là sự sống, là quá trình ’’phục sinh” của thi sĩ, ngôn ngữ là giấc mơ của

lưỡi, là biểu tượng và khát vọng viết: "Tôi

nghe sẩm phục sinh rền mặt đất / Và giấc

mơ của lưỡi/ Bắt đầu mở nguyên âm” (Giấc mơ của lưỡi - Phan Huyền Thư)

Nếu Phan Huyền Thư chú ý tới bộ phận sáng tạo nguyên âm, chữ nghĩa của cơ thê

là lưỡi, răng, môi , thì với Lynh Bacardi, viết - chính là quá trình ’’mang thai” chữ nghĩa ở ”đầu móng tay”, là quá trình đau đớn thụ tạo hoài thai để đem lại sự sống,

cô tự nhận mình như phu chữ, chuyên chở những miền cảm xúc khác nhau đến tha nhân: "Những đầu móng tay mang thai con chữ” (Chở thuê) Viết - sáng tạo cũng

là quá trình cô đơn bản thể, thụ tinh ý nghĩ

Trang 7

Bước đầu nhận diện 113

để sinh nở câu chữ: "Tình yêu vô sinh - nỗi

buồn thụ tinh ỷ nghĩ” (Viet - Phan Huyền

Thư), "Nơi sự thất vọng sụt lở, lưu trú lớp

lóp nỗi buồn/ Em tự cấy vào em hi vọng/

Những con chừ nảy hạt dưới da" (Mùa

tình - Vi Thùy Linh) Sự mở rộng các giác

quan của chủ thể sáng tạo, không chỉ gắn

với quá trình sinh nở, phục sinh mà còn là

quá trình đau đớn vật vã với con chữ, chủ

thể trữ tình huy động tối đa mọi cảm giác

của giác quan: "Những con chừ, ký hiệu

của tôi/ chen chúc trong đầu sần sùi da

thịt và tẳc nghẽn mạch máu/ chữ nghĩa/

Tôi cũng nhai nát trong miệng/ Tôi nhai

như nhai trầu/ Nước chảy đỏ như máu ”

(Kỷ hiệu - Phan Huyền Thư) Trong thơ

Vi Thùy Linh, quá trình sáng tạo thơ là sự

đau đớn, luôn gắn liền với hình ảnh ”ứa

máu”, ”bật máu”: "Tôi ứa máu những câu

thơ cầu siêu” (Sinh năm 1980), "Những

câu thơ dồn nhau không kịp ý nghĩ - Bật

máu" (Chân dung) Với Lynh Bacardi,

thì sáng tác thơ được cảm nhận ở ”các lỗ

chân lông”: "Một sinh vật có nhiều răng

và móng vuốt/ Khi thần kinh bị kích động

thì thơ viết ra từ các lỗ chân lông” (Dự

báo phi thời tiết).

3.4 Thân thế gắn với ý thức về nhan

sắc, về tính dục, về thiên tính nữ

Thân thể trong thơ sau 1986 gắn liền

với ý thức về nhan sắc, về tính dục, về

thiên chức nữ Đây có thể coi là đặc điểm

nổi bật nhất khi viết về thân thể của thơ ca

giai đoạn này Khi chiến tranh qua đi, con

người trở về với những lo âu thường nhật,

quan tâm đến những vấn đề của cá nhân,

những vấn đề riêng tư nhất Trong thơ ca

trung đại, tinh thần đạo đức được đề cao,

nên thân thể con người bị kiêng kị, nhất là

thân thể người phụ nữ Nhưng thơ ca giai

đoạn này, những yếu tố thuộc về căn tính

nữ được bộc lộ trực diện, tạo nên nét mới

mẻ trong thơ ca Nhã Ca (Trần Thị Thu

Vân) thuộc thế hệ 3X, có thể xem là người khởi xướng cho việc tôn vinh vẻ đẹp, vai trò thân thể của người phụ nữ trong thơ

ca hiện đại Việt Nam Với bà, vẻ đẹp toát lên từ thân thể người phụ nữ là khởi nguồn

sự sống của vũ trụ, là nguồn sáng tạo ra đàn ông, thậm chí, mọi hiện hữu của thiên nhiên đều là sự sáng tạo của phụ nữ, vì phụ nữ mà tồn tại Vì thế, bà tâm niệm, phụ nữ là một toàn thể tuyệt đối, đại diện cho cái đẹp vĩnh cữu, hội tụ và được cụ thể hóa bởi vẻ đẹp thân thể Nét đẹp thân thể của người phụ nữ được ví với những biểu tượng sức mạnh và vẻ đẹp quyền năng của thiên nhiên: "Bởi chủng ta đẹp đẽ và xỉnh tươi/ [ ]/ Và lửa từ mặt trời/ Mặt trời xinh đẹp/ Chị có đôi mắt sâu như giếng nước phương Nam/ Chị có tóc mun đen như dòng sông đêm Ai Cập/ Chị có lòng nồng nàn, dữ dội như biến đông” (Đàn bà

là mặt trời) Vẻ đẹp thân thể, đặc biệt là

vẻ đẹp của người phụ nữ được xem như một ưu thế thiên tạo, vì thế các nhà thơ nữ

đã không ngần ngại phô diễn vẻ đẹp thân thê: “Em xinh đẹp như vùng đất mới, / Những đường cong khỏa vào sóng chữ” (Say nang - Vi Thùy Linh) Neu như thơ trung đại che giấu vẻ đẹp thân thể, ca ngợi

vẻ đẹp thân thể bằng các thủ pháp ước lệ, tượng trưng, thì thơ sau 1986 lại có xu hướng ca ngợi tối đa vẻ đẹp thân thể, đem

vẻ đẹp thân thể đọ với vẻ đẹp quyền năng của tạo hóa: "Em xuống biền trần truồng/ Vòng hông loang ánh bạc/ Như thủy thần rung chuông/ ngực tròn như đồi trăng” (Trăng và biến - Phạm Thị Ngọc Liên) Tự tin ngợi ca, tôn vinh vẻ đẹp thân thể trong thơ nữ, bên cạnh sự tự ý thức về nhan sắc

là sự khao khát hoan lạc xuất phát từ bản thể nữ, là ý thức về sự trải nghiệm cảm giác thân xác, giải phóng tính dục

Đoàn Tiến Dũng cũng đồng quan điểm

về vấn đề này: “Lõa thể trong nghệ thuật

Trang 8

thường tượng trưng cho sự thuần khiết, tự

do, sự thiêng liêng, chân lí và cả sự yếu

đuôi với ít nhiêu nhục dục Lõa thê đánh

dấu sự rời xa của thơ ca vũ trụ bao la, xã

hội rộng lớn để trở về với sự chiêm nghiệm

thân thể người” [1] Tất cả như đang bứt

khỏi truyền thống, mang tới cho nền văn

học một luồng gió lạ, mới ca ngợi vẻ đẹp

hình thể, bộc lộ hi vọng phóng khoáng, mơ

ước, tự do, bình đẳng cho người phụ nữ

Có lúc thân thể trở thành ngôn ngữ của đọa

đày, trừng phạt, có lúc nó trở thành ngôn

ngữ phản kháng, cự tuyệt, hi sinh, nhưng

phần nhiều trở thành ngôn ngữ của sự thân

mật, thức tỉnh, giải phóng vẻ đẹp trần gian

Đi vào khai thác yếu tố bản ngã xuất phát

từ nhu cầu thân the, các tác giả nữ thiên

về khám phá tình yêu, đặc biệt là thế giới

nhục cảm bản năng, một phạm vi mà quan

niệm truyền thống coi là “vùng cấm” Tình

yêu trong thơ trước đây chủ yếu là tình yêu

tinh thần thuần túy Nay tình yêu gắn liền

với tình dục như một sự bổ sung để đạt

tới độ hài hòa toàn vẹn, viên mãn, chân

thực Con người là con - người nên không

thể chổi bỏ thân xác - nơi trú ngụ của linh

hồn Vi Thùy Linh không cần phải che

đậy, giống như một Thị Màu hiện đại, cô

sẵn sàng phơi trần những khao khát, dam

mê thân xác trong tình yêu: “Em yêu anh

cuồng điên/ Yêu đến tan cả em, ào tung

kí ức” (Người dệt tầm gai) Người đàn bà

trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên là người

đàn bà của những khát khao hạnh phúc đời

thường, đơn sơ, giản dị Khát khao yêu

đương không chỉ là nhu cầu hòa hợp trong

suy nghĩ mà còn là khát khao những trái

tim đập cùng nhịp để lắng nghe nỗi lòng

của nhau, mà còn là nhu cầu được gần gũi

thể xác để đặt trọn niềm tin, để được trân

trọng, được cùng chia sẻ, tìm kiếm sự bình

yên: ‘‘Khi em áp mặt vào ngực anh về phía

trái tỉm/ Sự êm dịu vỗ về như thủy triều

tràn lấp/ Giọt nước mắt lấp lánh trong ánh nhìn/ Em biết em hạnh phúc/ Không

hề chiêm bao ” (Phút lặng thầm trải tim).

Mặc dù triết học cổ đại có khi miệt thị thân xác, đặc biệt là thân thể nữ, cho đó là

dơ bẩn và nguồn gốc của mọi tội lồi, song nếu không có thân thể người phụ nữ với thiên chức làm mẹ thì không thể duy trì giống nòi, tạo dựng thế hệ mai sau Thơ Việt Nam sau 1986, đặc biệt thơ của các tác giả nữ, khao khát làm mẹ được thể hiện một cách mãnh liệt như một sự thể hiện quyền uy và thiên chức của người phụ nữ Đối với người phụ nữ, thiên chức làm mẹ luôn gắn liền với tình yêu và tình dục Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ vừa thiêng liêng, vĩ đại nhưng cũng rất đồi đời thường, là cách thức để người phụ nữ tạo dựng hình hài trong sự toàn vẹn của thiên tính nữ Nỗi khát khao thực hiện thiên chức chính đáng ấy đặc biệt cháy bỏng với người phụ nữ trong những năm tháng chiến tranh, bom đạn và thời gian cuốn phăng đi tuổi xuân phơi phới, để rồi

tự đáy sâu tâm khảm hằn in vết thương lòng Tâm sự ấy được gửi vào lời thơ da diết cháy lòng: “Là phụ nữ tôi trở về kim chỉ/Lời ru tôi hứa hẹn ngày làm mẹ” (Vô

đề - Lê Thị Mây) Thân thể người nữ trong cơn sinh nở dù đau đớn nhưng hạnh phúc vẫn trào dâng: “Người đàn bà trong com đau sinh nở/ Khao khát làm mẹ/ Căng buồm ” (Cánh buồm - Lê Khánh Mai) Đối với người phụ nữ, thân thể con là kết quả của sự giao thoa, là quả ngọt của tình yêu

và con còn là sợi dây kết nối vững bền cho hạnh phúc lứa đôi Trong thơ Phan Huyền Thư, niềm hạnh phúc vô bờ của người mẹ khi nhìn thấy hình hài đứa con: “Rút khỏi

đầu tẩm voan ảm đạm/ vắt nỗi buồn mẹ lẻn cánh trăng non/ Lập Duy/ vỗ cánh/ Gót chân hồng lanh canh/ Tiếng cười bi ve

ôm mặt trời nhồi bông/Mơ mẹ ”(Lập Duy).

Trang 9

Bước đầu nhận diện 115

Đứa con đã tạo nên một thế giới trong sáng

vô ngần, một không gian lung linh, huyền

ảo của sự sống tốt đẹp: “Vì đôi môi mở

đón anh, mà nụ hoa khắp ncri hé cảnh/Mùi

therm lũ trẻ bụ sữa phủ ngập khắp không

gian ” {Đêm của tỉm - Vi Thùy Linh) Đề

cao thiên chức của người phụ nữ liệu có

phải khiến cho người phụ nữ lại bị ràng

buộc thêm hay không? Thực ra, khác với

tư tưởng nữ quyền phương Tây, ở Việt

Nam, phụ nữ chưa bao giờ từ chối việc

sinh nở, chưa bao giờ coi chối bỏ sinh nở

như một hành động hướng tới bình đẳng

giới Phụ nữ Việt Nam nhận ra, sinh nở là

thiên chức của phụ nữ, sinh nở là thứ đặc

quyền của phụ nữ, là tạo ra sự sống, tạo ra

con người Sẽ là gượng ép nếu buộc người

phụ nữ Việt Nam phải suy nghĩ như người

phụ nữ phương Tây, bắt người phụ nữ Việt

Nam phải có cảm nhận hạnh phúc giống

như người phương Tây Người phụ nữ

phương Tây có thể thấy việc sinh nở khiến

họ mất tự do, khiến họ bị rơi vào vòng ràng

buộc, nhưng phụ nữ Việt Nam lại cảm thấy

hạnh phúc, cảm thấy ý nghĩa, thấy giá trị

trong hành động sinh nở Trong thơ sau

1986, sinh nở được nhắc đến không phải

như một nghĩa vụ, như một bổn phận, mà

được nhắc đến với tất cả niềm kiêu hãnh

của người tạo ra sự sống, tạo ra con người,

coi nó như là sự kết quả của tình yêu và

những đam mê của thân thể Sự trỗi dậy

của ý thức về thiên chức của phụ nữ không

phải với ý nghĩa bổn phận như vậy có lẽ là

một nét riêng trong nhu cầu giải phóng của

phụ nữ Việt Nam Thiết nghĩ, đây là một

ví dụ đáng để tiếp tục suy tư trong tương

quan so sánh với những tư tưởng nữ quyền

du nhập từ phương Tây

4 Kết luận

Mặc dù đối tượng trung tâm của văn

học là con người, do đó, nghiên cứu văn

học ở Việt Nam từ trước đến nay đã ít

nhiều bàn đến những khía cạnh của thân thê con người, như ngoại hình, cử chỉ, điệu bộ, cảm giác , nhưng chưa thực sự coi thân thể trong văn học như một ngôn ngữ nghệ thuật, chưa nhìn nhận nó trong tính hệ thống với những mối liên hệ với quan niệm nghệ thuật về con người với đặc trưng văn hóa dân tộc, với những tác động của đời sống xã hội Chúng ta có thể nghiên cứu thân thể trong các thể loại văn học khác nhau, nghiên cứu thân thể trong các giai đoạn văn học khác nhau, nghiên cứu thân thể trong văn học của các dân tộc khác nhau thông qua nghiên cứu thân thể, có thể nhận ra những biến đổi ở tầng sâu của văn hóa, xã hội, của quan niệm nghệ thuật về con người, của cảm hứng sáng tác Nghiên cứu thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986 có thể nhận ra, trong thơ ca giai đoạn này, thân thể được quan tâm nhiều hơn so với thơ ca giai đoạn trước, và hơn thế nữa, nó được quan tâm từ góc độ cá nhân Với những đặc điểm như mang di chứng của chiến tranh, gắn với

ý thức về cá tính, gắn với khát vọng sáng tạo, gắn với ý thức về nhan sắc, về tính dục, về thiên chức nữ, thân thể trong thơ sau 1986 đã thể hiện những biến đổi sâu sắc trong cảm hứng sáng tác và quan niệm nghệ thuật về con người

Tài liệu tham khảo

[1] Đoàn Tiến Dũng (2013), “Ngôn ngừ thân thể và hành trình đi tìm cái đẹp của Nguyễn Huy Thiệp”, Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm

Hà Nội -

VanhocVietNamhiendai/tabid/103/newstab/23/ Default.aspx.

http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/

[2] Trần Đình Sử (1995), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[3] Trần Đình Sử (2017), Dần luận thi pháp học hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

Ngày đăng: 03/11/2022, 08:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w