Bài viết này tập trung làm rõ phương thức dẫn thủy nhập điền của người Pháp thực hiện ở Vĩnh Yên đầu thế kỷ XX và đánh giá tác động của công tác này tới kinh tế tỉnh Vĩnh Yên những năm đ
Trang 1Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351
Tác động của công tác dẫn thủy nhập điền tới kinh tế
tỉnh Vĩnh Yên đầu thế kỷ XX
Trần Xuân Hùng * , Nguyễn Thúy Hiền **
’ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG
Hà Nội; email: hungtx@ussh.edu.vn
" Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG
Hà Nội
1 Còn được gọi với tên khác là Hiệp ước Giáp Thân.
2 Tên gọi này hợp thành từ hai chữ cái đầu cùa phú Vinh Tường và huyện Yên Lạc lúc bấy giờ.
Tóm tắt: Sau khi cơ bản binh định được Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến hành công cuộc
khai thác thuộc địa Trong quá trình đó, người Pháp đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng nhằm tối đa hóa lợi nhuận kinh tế cho chính quyền thực dân Tại tinh Vĩnh Yên (thuộc phần lớn tĩnh Vĩnh Phúc hiện nay), chính quyền thực dân Pháp tập trung đầu tư, khai thác lĩnh vực nông nghiệp - thế mạnh kinh tế của tỉnh lúc bấy giờ Trong bối cảnh đó, công tác dẫn thủy nhập điền được chú trọng và từng bước được hiện đại hóa Đây là hoạt động không phải mới trong lĩnh vực nông nghiệp, tuy nhiên, người Pháp đã sử dụng các phương thức mới cho hoạt động dẫn nước vào đồng ruộng so với cách làm truyền thống của người Việt Bài viết này tập trung làm rõ phương thức dẫn thủy nhập điền của người Pháp thực hiện ở Vĩnh Yên đầu thế kỷ XX và đánh giá tác động của công tác này tới kinh tế tỉnh Vĩnh Yên những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là nông nghiệp
Từ khóa: dẫn thủy nhập điền; nông nghiệp; tỉnh Vĩnh Yên
Ngày nhận 01/10/2021; ngày chình sửa 07/01/2022; ngày chấp nhận đăng 22/6/2022
DOI: https://doi.Org/10.33100/tckhxhnv8.3.TranXuanHung-NguyenThuyHien
1 Mở đầu
Năm 1884, những đại diện của triều đình
Huế và chính quyền Pháp ký kết hiệp ước
công nhận quyền bảo hộ của Pháp tại Việt
Nam (Hiệp ước Patenôtre*1) Các vấn đề kinh
tế, chính trị, quân sự, ngoại giao của Việt
Nam được đặt dưới sự kiểm soát của người
Pháp Trong chương trình khai thác thuộc
địa tại Việt Nam, người Pháp tập trung việc
khai thác vào nông nghiệp, khai mỏ, công
nghiệp nhẹ, những ngành kinh tế ít phải đầu
tư cơ sở hạ tầng nhưng đưa lại lợi nhuận
cao Trong quá trình đó, họ đặc biệt chú ý
tới công tác dẫn thủy nhập điền - đưa nước
336
tới các đồng ruộng và hiện đại hóa hoạt động thủy nông, bởi người Pháp hiểu được việc thiếu nước gây hạn hán hay thừa nước gây ngập úng cũng đều ảnh hưởng xấu tới năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản
Tỉnh Vĩnh Yên được thành lập vào năm
18902 bao gồm phủ Vĩnh Tường, các huyện Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc và huyện Yên Lãng tách từ tỉnh Thái Nguyên và một phần huyện Kim Anh, thủ phủ đặt tại làng Hương Canh của huyện Tam Dương (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1890) Sau đó vì nhiều lý do, tỉnh bị giải thể, đến ngày 29/12/1899, theo đệ trình của Kinh lược Bắc Kỳ, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký nghị định tái lập tỉnh Vĩnh Yên
Trang 2337 Trần Xuân Hùng, Nguyễn Thủy Hiền / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, sổ 3 (2022) 336-351
Địa giới của Vĩnh Yên bao gồm: Phủ Vĩnh
Tường, huyện Yên Lạc, huyện Lập Thạch,
huyện Tam Dưcmg và huyện Bình Xuyên,
năm 1913 có thêm tỉnh Phúc Yên được sáp
nhập vào Tỉnh lỵ của Vĩnh Yên đặt tại núi
An Son, xã Tích Sơn (ủy ban nhân dân thị
xã Vĩnh Yên 1999) Vĩnh Yên nằm ở khu
vực châu thô Băc Kỳ nên mang những đặc
trưng của khí hậu nhiệt đới âm gió mùa Do
đặc điếm địa lý, nơi đây có nhiều đồi núi,
các sông thường có độ dốc lớn, tốc độ dòng
chảy tương đối cao Châu thổ Bắc Kỳ có hai
hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và
hệ thống sông Thái Bình giữ vai trò chi
phối, quy định nhiều đặc trưng trong đời
sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân bản
địa Trong đó, sông Hồng có vị trí quan
trọng hơn cả
Chảy qua địa bàn tỉnh tỉnh Vĩnh Yên có
hệ thống sông Hồng với dòng chính sông
Hồng và hai nhánh lớn là sông Đà ở hữu
ngạn và sông Lô ở tả ngạn Bên cạnh đó là
hệ thống sông Cà Lồ gồm sông Cà Lồ (một
nhánh tách ra từ sông Hồng ở Yên Lạc, chạy
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi nhập
vào sông Cầu) và một số chi lưu như sông
Phan, sông cầu Bòn, V.V Ngoài ra, ở Vĩnh
Yên còn có hạ lưu sông Phó Đáy Bên cạnh
đó, tỉnh Vĩnh Yên cũng có mạng lưới đầm,
hồ tự nhiên khá rộng, như đầm Vạc, đầm
Rưng, vực Xanh, đầm Cốc Lâm, V.V Hệ
thống sông ngòi và đầm, hồ có tác dụng hỗ
trợ công tác tưới tiêu cho đồng ruộng Tuy
nhiên, vào mùa mưa, khi lượng nước từ trên
núi Tam Đảo đố dồn xuống quá lớn không
kịp thoát vào sông Cà Lồ để chảy đi những
nơi khác, nước thường bị ứ lại ở sông Phan,
sông Cầu Bòn và đầm Vạc, gây ngập lụt lớn
trên diện rộng Hiện tượng ngập lụt này diễn
ra chủ yếu ở vùng trũng của tỉnh, còn những
khu vực có địa hình đồi núi thấp và trung du
lại thường chịu tình trạng khô hạn vấn đề
quan trọng nhất trong công tác thủy nông ở
khu vực đồi núi và trung du là tưới nước cho
các vùng đất canh tác có địa hình dốc, khó giữ nước, nhanh thoát nước, ít phải đối mặt với việc ngập lụt vào mùa mưa nhưng lại dễ xảy ra tình trạng thiếu nước khi thời tiết khô hạn Đồng thời, đối với khu vực đồng bằng cũng cần có biện pháp đế sử dụng nguồn nước sông tưới cho đồng ruộng khi hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng tới hoạt động canh tác
Trong canh tác nông nghiệp truyền thống, đặc biệt là nghề trồng trọt, người Việt dựa vào tự nhiên nhưng cũng sớm tích luỹ, đúc rút các kinh nghiệm Với nghề trồng lúa, thì nước là số một (nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống), nên công tác thuỷ lợi đặc biệt được chú trọng Các công trình thủy lợi đầu tiên được thiết lập tại châu thổ Bắc Kỳ và vùng phụ cận là những bờ ruộng ngăn nước, rồi dần phát triển thành những bờ sông, con
đê, ngòi rãnh, kênh mương, sông, V.V Dưới thời quân chủ, nhà nước là tổ chức lãnh đạo nhân dân đắp đê, xây dựng hệ thống kênh mương, phát triến kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, trong lĩnh vực thuỷ lợi, ít có những công trình quy mô lớn Việc tưới tiêu nước vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên Các nông cụ truyền thống được người nòng dân
sử dụng phục vụ cho việc tưới nước là gầu sòng và gầu giai, nhưng hiệu quả thấp và tiêu tốn sức lao động Theo Pierre Gourou, với nhịp độ 22 lần tát (múc nước) một phút, một người làm bảy tiếng đồng hồ (sử dụng gầu sòng) một ngày có thế tát 100m3 nước, một mẫu ruộng trong điều kiện tưới tốt nhất cần bốn ngày lao động chuyên cần nếu muốn tát vào đó một lớp nước cao 10cm, tức
là 11 ngày công cho 1 ha; hai người sử dụng gầu giai với nhịp độ 20 động tác một phút nếu muốn tát nước cho Iha với lớp nước 10cm thì tốn tới 33 ngày công (2015: 114- 115)
Trong khi một số tộc người vùng thượng
du Bắc Kỳ từ xa xưa đã biết thiết lập các xe
Trang 3Trần Xuân Hùng, Nguyễn Thúy Hiền / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhản văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351 338
dẫn nước để đưa nước tự động từ sông, suối
vào ruộng đồng thì tại vùng châu thố Bắc
Kỳ, trong đó có Vĩnh Yên, lại chưa thấy có
sự xuất hiện của một hệ thống tưới có thê
dẫn nước từ sông vào đồng ruộng Vĩnh Yên
còn là tỉnh có địa hình tự nhiên khá đa dạng,
bao gồm cả đồng bằng và đồi núi, nếu tận
dụng được diện tích đất đai ở vùng thượng
Vĩnh Yên - nơi có nhiều đồi thấp và trung
bình để trồng các loại cây công nghiệp và
một số loại cây lương thực thì sẽ mang lại
hiệu quả kinh tế lớn Tuy nhiên, từ thế kỷ
XIX trở về trước, vùng đất này về cơ bản
vẫn chưa được khai thác đúng với tiềm
năng Chính vì vậy, trong quá trình khai phá
thế mạnh nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Yên,
người Pháp đặc biệt quan tâm tới công tác
dẫn thủy nhập điền Điều này sẽ góp phần
làm thay đổi diện mạo kinh tế Vĩnh Yên nói
chung, nhất là kinh tế nông nghiệp
2 Công tác dẫn thủy nhập điền của người
Phápờtỉnh Vĩnh Yên
Năm 1893, Bắc Kỳ xảy ra nạn lụt lớn,
hai năm sau (năm 1895) lại xảy ra hạn nặng
Mùa hè năm đó, tại Vĩnh Yên chỉ có một vài
trận mưa nhỏ, các cơn giông, trận bão, kể cả
mưa ngâu tháng 7 cũng gần như không xuất
hiện Hạn hán khiến ruộng đồng nứt nẻ, mùa
màng thất bát Tình trạng này tiếp tục kéo
dài cho đến đầu năm 1896 Nạn đói trở nên
trầm trọng, bao trùm khắp Bắc Kỳ nói chung
và tỉnh Vĩnh Yên nói riêng (Lễ khánh thành
công việc đào sông dẫn thủy nhập điền ở
tỉnh Vĩnh Yên 1923: 8-9) Trước tình hình
trên, tháng 5/1899, đại diện chính quyền
Pháp ở Vĩnh Yên đã trình bày trước Thống
sứ Bắc Kỳ Augustin Julien Foures ý tưởng
về xây dựng công trình sử dụng nước sông
Phó Đáy để tưới cho một phần khu vực
thượng Vĩnh Yên Tuy nhiên, trên thực tế kế
hoạch này đã không được thực hiện (Phủ
Thống sứ Bắc Kỳ 1902)
Chưa từ bỏ “ý tưởng lớn” về một công trình thủy nông, từ năm 1905 tới năm 1911, chính quyền thực dân Pháp một lần nữa khởi động chương trình nghiên cứu xây dựng mạng lưới tưới nước cho toàn bộ khu vực Vĩnh Yên Mặc dù mạng lưới này tuy mới chỉ được dự kiến từ những năm đau thế kỷ
XX, nhưng trên thực tế thiết kế của nó đã tương đối đầy đủ và có các yếu tố của một
hệ thống thủy nông hiện đại Hệ thống thủy nông được định nghĩa là một hệ thống liên hoàn từ công trình đầu mối đến công trình kênh mương các cấp đế dẫn nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp (Trần Phương Diễm 2001: 86) Trong đó, công trình đầu mối thường bao gồm hồ chứa, đập dâng, trạm bơm tưới, công trình xả nước, cống lấy nước Trong việc thiết kế một hệ thống thủy nông, bên cạnh các công trình trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tưới nước cho đồng ruộng thì việc thiết lập các cầu giao thông, đường giao thông, cống qua đường v.v cũng là việc làm cần thiết
Năm 1904, kỹ sư cầu đường Desbos khởi động chương trình nghiên cứu về việc thiết lập các hệ thống tưới nước bằng trọng lực chứ không phải bằng bơm như thông thường3 Bắc Kỳ, trong đó bao gồm khu vực tỉnh Vĩnh Yên Theo đó, kiểu công trình này thường được thực hiện ở những nơi địa hình có nhiều đồi núi, người Pháp cũng muốn lợi dụng chính đặc trưng địa hình này
để nước có thể dễ dàng chảy xuống từ công trình đầu mối tới mạng lưới kênh mương các cấp và tới ruộng đồng Như vậy, chi phí cho việc vận hành hệ thống sẽ được tối thiểu hóa Theo một số tài liệu, ý tưởng đầu tiên
về việc sử dụng nước sông Phó Đáy đế tưới tiêu cho khu vực Vĩnh Yên thuộc về hai kỹ
sư Godard và Damenne (1898), nhưng chưa
có một nghiên cứu thực sự nghiêm túc nào
3 Tiêu biểu cho hệ thống tưới bằng bơm được thiết lập vào thời Pháp thuộc là hệ thống tưới nước Sơn Tây, bắt đầu khởi công từ năm 1928 và hoàn thành vào năm 1932.
Trang 4339 Trần Xuân Hùng, Ngưỵễn Thúy Hiền / Tạp chí Khoa học Xă hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351
được thực hiện Kiến nghị của Mezieres với
Thống sứ Bắc Kỳ năm 1899 cũng là sự kế
thừa của ý tưởng này và trên thực tế nó đã
không thực hiện được
Từ năm 1905, các kỹ sư, trong đó tiêu
biểu là Auphelle, Peytavin và Mariage, bắt
đầu đi vào thực địa để nghiên cứu và lên
phương án vị trí xây dựng đập nước, thiết
lập các mương, cống, công trình phụ cận
V.V Tuy nhiên, công tác khảo sát này
thường xuyên bị gián đoạn bởi nhiều lý do
nên mãi tới năm 1911 mới kết thúc Nhờ có
bản đồ miền hạ du với tỷ lệ 1/25.000 được
vẽ bởi các kỹ sư người Pháp mà công tác
điều tra thực địa xây dựng hệ thống thủy
nông Vĩnh Yên phần nào được đơn giản
hóa “Bản họa đồ có liệt rõ ràng từng phân
từng ly, vì rằng ở mặt đất mà sai lạc chỉ một
vài phân, một vài ly, dẫu là mắt không trông
thấy được, song sẽ rất quan trọng về cái thế
nước chảy, cho nên trong bản họa đồ không
được có khuyết điểm gì cả, vả lại cũng đã
khởi cuộc khảo cứu về cái thế nước các
dòng sông nữa” (Lễ khánh thành công việc
đào sông dần thủy nhập điền ở tỉnh Vĩnh
Yên 1923: 16) Năm 1911, dự án dần thủy
nhập điền, sử dụng nguồn nước sông Phó
Đáy để tưới nước cho ruộng đồng ở vùng
Vĩnh Yên được đệ trình Hai năm sau, ngày
26/12/1913, dự án này chính thức được
thông qua Kinh phí dự trù toàn bộ cho việc
xây dựng hệ thống thủy nông Vĩnh Yên là
2.800.000 francs4, số tiền này được lấy một
phần từ ngân sách chính quyền thuộc địa,
phần còn lại là từ nguồn tiền 90.000.000
francs của chương trình vay vốn năm 1912
được sử dụng trong công tác xây dựng các
công trình thủy nông nói chung (Bulletin
économique de Tlndochine 1915: 762)
4 Một số tài liệu ghi số tiền dự trù chi là 1.200.000 đong
Đông Dương.
s Trụ pin là trụ chịu lực cùa công trình.
6 Cữa van là kết cấu cùa chắn giữ và điều tiết nước được lắp đặt giữa hai trụ pin, đây là thiết bị có thể điều khiển xoay hoặc trượt.
Toàn bộ quá trình xây dựng công trình
dẫn thủy nhập điền ở Vĩnh Yên được đặt
dưới sự chỉ đạo của Kỹ sư trưởng
Normandin, hỗ trợ cho viên kỹ sư này là các
kỹ sư Rouen, Auphelle, Dessaily, Cordonnier và Fabre Trong hệ thống dẫn thuỷ nhập điền dự kiến xây dựng thì đập Liễn Sơn (huyện Lập Thạch) là công trình quan trọng đóng vai trò đầu mối sử dụng nước từ sông Phó Đáy, với tông chiều dài đạt khoảng 150m, mặt nghiêng là 100m, chiều cao là 4m50 Theo Henri Le Grauclaude, đập Liễn Sơn là một công trinh kiến trúc kỳ vĩ (1933: 37), người ta mất tới 3 năm (từ tháng 12/1914 tới tháng 5/1917) mới có thể hoàn thiện được nó Ban đầu, các
kỳ sư dự tính sẽ sử dụng đá làm vật liệu chính cho việc xây dựng đập Liễn Sơn, tổng thể tích đá cần có khoảng 5.000m3 Tuy nhiên, sau đó kế hoạch được điều chinh và vật liệu được thay thế toàn bộ bằng xi măng
và bê tông Mặt cắt đập Liễn Sơn được thiết
kể theo kiểu ô-phi-xê-rốp và là đập tràn tự
do (không có trụ pin5 và cửa van6), đặc trưng của thiết kế này là “dòng chảy nối tiếp nhau tương đối thuận, đường viền dưới của lưỡi nước bám sát theo mặt đập chảy từ thượng lưu xuống hạ lưu”, chức năng chính
là “mùa cạn dâng mực nước sông, tạo ra đầu nước để lấy nước tưới, mùa lũ thì tháo lũ xuống hạ lưu với các câp lưu lượng lũ tương ứng với tần suất khác nhau” (Trần Quốc Thưởng và cộng sự 2007: 7) Phía thượng lưu của đập là một hồ chứa nước có tác dụng ngăn giữ nước nguồn, tích nước lại bên trong đó và phân phối dần phục vụ công tác tưới nước Đồng thời, người ta cũng thiết lập
ở khu vực này 5 cửa cống có thể điều khiển đóng - mở để lấy nước, lưu lượng thiết kế 17m3/s Bên cạnh đó là các con đê và công trinh phụ trợ khác nhằm bảo vệ vùng đập Liễn Sơn khỏi các trận lũ lụt, ngăn nước sông tràn vào ruộng đồng V.V
Trang 5Trần Xuân Hùng, Nguyền Thúy Hiền / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351 340
Bên cạnh đập Liễn Sơn, cống ngầm Vũ
Di cũng là một công trinh quan trọng trong
toàn bộ hệ thống thủy nông Vĩnh Yên Công
trình này được xây dựng từ tháng 11/1921 và
hoàn thành vào tháng 7/1922 với tổng chiều
dài 180m, có tác dụng dẫn một phần nước tới
khu vực phía Nam của tỉnh Vinh Yên, đồng
thời cũng được sử dụng để tiêu thoát nước lũ
Vật liệu chính được sử dụng là bê tông
Trong hầu hết các hạng mục thi công, chính
quỵền thực dân đã tổ chức các cuộc đấu thầu
nhằm tìm kiếm các nhà thầu đáp ứng yêu
cầu7 Chỉ riêng đập Liễn Sơn và cống ngầm
Vũ Di là được thực hiện trực tiếp bởi các
viên chức của Ban Thủy lợi, cùng với việc
huy động sức lực của nhân dân Ước tính,
2.500.000m3đất được đào đắp, 28.000m3 đất
đá và 122 tấn sắt, gang, thép được đưa vào sử
dụng (Les Cahiers Coloniaux 1923)
7 Một trong những cuộc đấu thầu đầu tiên được tổ chức là
cuộc đấu thầu ngày 6/7/1914 để tìm nhà cung cấp khoảng
5.000 m 3 đá xây cho việc xây dựng đập Liễn Sơn Người
trúng thầu là ông Bay-Hop-Nguyen Tuy nhiên, do sự
thay đổi về vật liệu xây dựng nên gói thầu này đã bị hủy
bò vào tháng 10/1915.
8 Những số liệu về thiết kế của hệ thống tưới nước ở tinh Vĩnh Yên như trên được tính tới năm 1923 khi công trình chính thức khánh thành và được tổng hợp chù yếu từ các tài liệu: La Dépêche Coloniale lllustrée(1912),Les eaux, disciplinées ont mis en déroute la famine (1933), L 'Éveil Économique de rindochine (3/6/1923), L'Hydraulique agricole en Indochine: Inauguration des canaux d'irrigation du Vinh Yen (Tonkin) (1923).
Đẻ có thể dẫn nước từ sông Phó Đáy tới
những cánh đồng, các kỹ sư đã cho thiết lập
một hệ thống kênh, mương, sông đào và sử
dụng chính mạng lưới sông nhánh từ tự
nhiên Mạng lưới này cũng được chia thành
hai phía, tả ngạn và hữu ngạn sông Phó Đáy
Phía tả ngạn sông tưới nước cho ló.OOOha
ruộng, bao gồm kênh chính dài hơn 50km và
12 kênh phụ dài khoảng 80km Phía hữu
ngạn cung cấp nước cho l.OOOha ruộng, có
kênh dài 18km Tổng chiều dài kênh dẫn
nước đạt gần 150km Bên cạnh đó là một
mạng lưới các nhánh sông nhỏ với tổng chiều
dài khoảng 800km Các kỹ sư cũng cho xây
dựng các đập điều tiết nhằm điều chinh dòng
nước chảy (tương ứng với các cấp độ nhanh,
chậm, từ từ) vào trong đồng ruộng Trong hệ
thống công trình dẫn thủy nhập điền, các kỹ
sư còn cho xây dựng một số âu tàu; 12 van
tháo nước; 112 xi phông (một loại cống
ngầm), cầu máng, ống các loại để tiêu thoát nước mưa; 109km đường giao thông huyết mạch và 510km đường giao thông nhỏ (Bulletin économique de 1’Indochine 1938: 72), cùng với đó là sự ra đời của 68 cây cầu
bê tông cốt thép và 27 cầu nhỏ bàng gồ bắc qua các con sông hay kênh, mương lớn8
So với khoản tiền ước tính ban đầu dành cho việc thiết lập mạng lưới dẫn thủy nhập điền ờ tỉnh Vĩnh Yên, chi phí thực tế không
có sự chênh lệch đáng kể Tuy nhiên, hiện nay tổng chi phí xây dựng vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nguồn tài liệu Olivier Tessier đưa ra thòng tin tổng chi phí cho việc thiết lập hệ thống tưới nước ở Vĩnh Yên là 1.230.000 đồng Đông Dương và trung bình
là 70 đồng/ha (2012: 74) Tập san kinh tế Đông Dương xuất bản năm 1938 lại đưa ra thông tin tổng chi phí này lên tới 1.400.000 đồng Đông Dương và trung bình là 82 đồng/ha (Bulletin économique de Tlndochine 1938: 283) Trong khi đó, bàn báo cáo ngậy 28/9/1933 của Kỵ sư Blanc gửi tới Giám đốc
Sở Canh nông Bắc Kỳ, ông cho biết tổng chi phí ưên là 1.500.000 đồng Đông Dương và chi phí hàng năm cho công trình này là 12.000 đồng Đông Dương, bao gồm tiền chi cho các khoản sửa chữa lớn và trả lương cho nhân viên phụ trách mạng lưới (1 giám sát người châu Âu, 10 cai, 35 phu hay gác cửa đập) (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1933) Nhiều tài liệu khác như Địa chí tinh Vĩnh Yên (Nha học chánh Vĩnh Yên 1939: 26), v.v cũng cho rằng mức chi phí được sử dụng cho hệ thống tưới nước là 1.500.000 đồng Đông Dương
Trang 6341 Trần Xuân Hùng, Nguyễn Thúy Hiền / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351
(Nguồn: Lễ khánh thành công việc đào sông dẫn thúy nhập điển ở tình Vĩnh Yên Lim tại Thư viện Quốc gia
Việt Nam, ký hiệu KM.2907 (17))
Hệ thông tưới nước của Vĩnh Yên được
khởi công vào năm 1914, hoàn thành vào
cuối năm 1922, và chính thức tổ chức khánh
thành vào ngày 24/2/1923 Lễ khánh thành
hệ thống dẫn thủy nhập điền ở tinh Vĩnh
Yên diễn ra long trọng với sự tham gia của
nhiều quan chức cấp cao trong chính quyền
Liên bang Đông Dương như: Toàn quyền
Đông Dương Baudoin9, Thống sứ Bắc Kỳ
9 Francois Marius Baudoin được phong làm Toàn quyền
Đông Dương tạm thời từ ngày 15/4/1922 và thôi chức vụ
vào ngày 9/8/1923 Trong khoảng thời gian tổ chức lễ
Monguillot, Tông Thanh tra Công chính Pouyanne, các chù tịch của Phòng Thương mại Hà Nội và Hải Phòng, Chủ tịch Phòng Canh nông Bắc Kỳ, các kỹ sư Normandin, Dessaily, Auphelle V.V., cùng với nhiều nhà báo và các nhân vật lớn khác tới từ những
khánh thành công trình tưới nước ờ Vĩnh Yên (24/2/1923), trước đó, ngày 20/2/1923, Martial Henri Merlin đã được phong làm Toàn quyền thay thế cho Baudoin nhưng do đang ở nước ngoài, không kịp sang tới Đông Dương nên chưa chính thức nhậm chức (ỏng nhậm quyền vào tháng 8/1923) Chính vi vậy, ngày 24/2/1923, Baudoin vẫn là Toàn quyền Đông Dương đương nhiệm
Trang 7Trần Xuân Hùng, Nguyễn Thúy Hiền / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351 342
vùng làn cận (L'Hydraulique agricole en
Indochine: Inauguration des canaux
d'irrigation du Vinh Yen (Tonkin) 1923: 23-
24) Hầu hết các đại biểu và khách mời di
chuyển tới tỉnh Vĩnh Yên bằng đường sắt,
một số di chuyển bằng đường bộ Chính bởi
vậy, ngày hôm đó, ga Vĩnh Yên và đường
phố Vĩnh Yên rực rỡ hoa, băng rôn chúc
mừng Đông đảo người dân cùng tập trung
về tỉnh lỵ đe đón xem sự kiện quan trọng
này Người Pháp tin rằng sự xuất hiện của
hệ thống dẫn thủy nhập điền ở tỉnh Vĩnh
Yên có tác dụng không chỉ làm thay đôi
hoàn toàn bộ mặt của tỉnh mà còn là bộ mặt
của vùng đất An Nam nói chung: “Vùng đất
An Nam cũ vốn khốn khổ và bị giày vò bởi
những cuộc nội chiến và ngoại xâm đã biến
mất để nhường chỗ cho một quốc gia hiện
đại, được giải phóng khỏi ách nô lệ cổ xưa
và hưởng những lợi ích của hòa bình Pháp”
(L’Hydraulique Agricole en Indochine
1923:33)
3 Tác động của công tác dẫn thủy nhập
điền đến kinh tế tỉnh Vĩnh Yên
Chuyển biến kinh tế và xã hội tỉnh Vĩnh
Yên đầu thế kỷ XX chịu tác động từ chương
trình khai thác thuộc địa của người Pháp, mà
một trong số đó là công tác dẫn thủy nhập
điền Việc đưa nước vào đồng ruộng, giải
quyết nạn thiếu nước vào mùa khò đã tác
động trực tiếp làm kinh tế nông nghiệp trồng
trọt của Vĩnh Yên có sự thay đổi đáng kể
với việc tăng sản lượng và diện tích cây
trồng Sự phát triển của nông nghiệp cũng
ảnh hưởng tới các ngành kinh te khác Thực
tể, khi hệ thống dẫn thủy nhập điền được
đưa vào sử dụng, sau một thời gian, cũng có
thể nhận thấy thủ công nghiệp và thương
nghiệp ở Vĩnh Yên bắt đầu khởi sắc
Công trình dẫn thủy nhập điền ở Vĩnh
Yên hoàn tất đã đưa đến sự gia tăng năng
suất, sản lượng nông sản ở đây Người ta
ước tính: “Vào tháng 10, 17.000ha đất trồng trọt trước kia vốn chỉ mang lại kết quả thu hoạch tốt nếu trời mưa thuận gió hòa, thì từ bây giờ, mỗi năm nó sẽ mang lại năng suất tối đa Giá trị thặng dư kỳ vọng là 900kg thóc/ha, tức là khoảng 15.000 tấn cho n.OOOha Vào tháng 5, trong 17.00011a ruộng đất có 13.000ha không thể trồng trọt
do thiếu nước và 4.000ha cây lương thực (năng suất không ổn định) Việc tưới tiêu sẽ cải thiện (năng suất của) 4.000ha ruộng đó
và khiến 13.000ha kia củng có thể trồng trọt được, năng suất ước tính đạt 1,600kg/ha, tức
là khoảng 20.000 tấn (trên toàn bộ 17.000ha đất được tưới)” (L’Eveil Économique de ITndochine 3/6/1923: 10) Trong buổi lễ khánh thành hệ thống tưới nước ở Vĩnh Yên, Thống sứ Bắc Kỳ Monguillot đã dự đoán:
“Mặt khác, không chỉ giao thông được cải thiện mà sản lượng cũng tăng lên nhờ vào các công trình thủy lợi nông nghiệp lớn” (Tessier 2012: 74) Như vậy, với hệ thống tưới nước mới được xây dựng, các hoạt động trồng trọt của một bộ phận cư dân ở đầy cơ bản được đảm bảo về mặt nước tưới cho ruộng đồng, người dân không còn phải phụ thuộc quá nhiều vào yếu tố “mưa thuận, gió hòa” Cùng với những nỗ lực trong công tác chống lũ lụt, gia cố, tôn tạo đê điều của chính quyền, sản xuất và đời sống của nhân dân tỉnh Vĩnh Yên nói chung có nhiều tín hiệu tích cực
Sau 10 năm đưa vào hoạt động, giữa năm
1933, chính quyền thực dân đã tiến hành nghiên cứu sơ bộ về kết quả kinh tế cũng như những lợi ích mà hệ thống tưới nước mang lại cho tinh Vĩnh Yên Theo thiết kế ban đầu, hệ thống này sẽ cung cấp nước cho 17-OOOha ruộng, tuy nhiên báo cáo của kỹ sư Blanc ngày 28/9/1933 lại cho thấy diện tích ruộng được tưới trên thực tế lên tới 18.000ha (Phù Thống sứ Bắc Kỳ 1933), bao phủ khắp 5 huyện trực thuộc tỉnh Vĩnh Yên gồm Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường,
Trang 8343 Trần Xuân Hùng, Nguyễn Thíiy Hiền/Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351
Yên Lạc và Bình Xuyên Trong một thời
gian dài trước khi có một hệ thống tưới nước
đồng bộ trên toàn tỉnh bằng phương pháp sử
dụng nguồn nước dồi dào từ các dòng sông,
tỉnh Vĩnh Yên luôn bị đánh giá là một khu
vực kém phát triển Tuy nhiên, từ sau năm
1923, kinh tế nông nghiệp của tỉnh có nhiều
chuyển biến Sự thay đổi này được thể hiện
trước hết thông qua cơ cấu cây trồng mùa vụ
cũng như phương thức sử dụng, canh tác đất
nông nghiệp
Trước đây, tại Vĩnh Yên hầu hết đất canh
tác chỉ trồng được một vụ lúa trong năm (vụ
mùa - khi có mưa nhiều), trong khi đó một
diện tích đất nông nghiệp ở vùng trũng chỉ
có thể trồng được vụ chiêm Ngoài hai vụ,
còn phần lớn đất trồng trọt của tỉnh trong
thời gian này hoặc bỏ hoang, hoặc trồng các
loại cây công nghiệp (cây thầu dầu) và cây
lương thực khác (khoai lang, khoai sọ, đậu,
ngô V.V.), điều này không đem lại hiệu quả
kinh tế cao Tuy nhiên, từ sau năm 1923,
thực trạng này đã có nhiều chuyển biến theo
hướng tích cực Báo cáo ngày 28/9/1933 của
kỹ sư Blanc cho biết: “Các chủ sở hữu của
5.260 mẫu ruộng trồng hầu như ở khắp nơi
đã thay thế cây khoai sọ, khoai lang, thầu
dầu và cả ngô bằng lúa chiêm tháng 5, vì nó
sinh lợi hơn và ít công hơn” (Phủ Thống sứ
Bắc Kỳ 1933) Sau báo cáo của Blanc, Công
sứ Vĩnh Yên là Delsalle cũng cho tiến hành
một cuộc khảo sát ở 55/129 xã của 5 phủ,
huyện được hưởng lợi ích trực tiếp từ hệ
thống tưới nước ở Vĩnh Yên
Ngày 6/2/1934, một bản báo cáo của
Dalsalle được gửi tới Thống sứ Auguste
Eugène Ludovic Tholance Theo đó, 57/59
xã hoặc có thể chuyển đồi cơ cấu cây trồng,
hoặc chuyển từ đất hoang sang đất nông
nghiệp, trong khi đó một số ít làng khác lại
cho biết không có bất cứ sự thay đổi gì về
cây trồng theo từng mùa vụ Hai xã còn lại
là Ngọc Liền và Liễn Sơn đã buộc phải chuyên từ ruộng đất có thể trồng trọt vụ chiêm thành ruộng đất bỏ hoang
Hệ quả của việc tăng cường nguồn nước tưới cho các cánh đồng giúp diện tích đất bỏ hoang toàn tỉnh giảm đáng kể, vụ tháng 10 giảm 36,3% (từ 2.200ha xuống còn 1.400 ha) và vụ tháng 5 là 69,23% (từ 3.900ha xuống 1.200ha) Sản lượng cây trồng cũng
có sự tăng trưởng, tăng từ 425.300 tạ (thời
kỳ trước năm 1923) lên 603.070 tạ, tăng 41,8% Sự sụt giảm của diện tích đất bỏ hoang và tăng trưởng của sản lượng là một trong những nguyên nhân dẫn tới giá ruộng đất tăng Tuy nhiên, giá ruộng đất tăng trên thực tế lại không đồng đều giữa các giai đoạn cũng như giữa các loại ruộng Ví dụ như giá ruộng loại tốt năm 1921 là 100 đồng Đông Dương trên mỗi mẫu, đến năm 1929 (trước Đại khủng hoảng) tàng gấp đôi là 200 đồng, nhưng tới năm 1933 lại giảm còn 180 đồng; trong khi đó giá ruộng loại kém trong cùng kỳ lần lượt là 30 đồng, 80 đồng và 50 đồng (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1933) Trước thực tế trên, hầu hết nông dân thuộc các xã tham gia khảo sát đều bày tỏ thái độ hài lòng bởi hệ thống tưới đã mang lại cho họ nhiều lợi ích kinh te hơn so với trước đây Người dân xã Lồ Quynh (huyện Yên Lạc) cho biết,
hệ thống dần thủy nhập điền là tuyệt vời, nó cung cấp được nước tưới cho cả các đất xấu nhất, không trồng được trong mùa đông và
họ yêu cầu kéo dài thêm các máng nước Theo ý kiến của nhân dân xã Hòa Lạc (phủ Vĩnh Tường), từ khi có hệ thống tưới, người
ta đã thay thế cây trồng cạn bằng ruộng lúa
vì lợi nhuận lớn hơn và sử dụng ít sức lao động hơn (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1934) V.V Tuy nhiên, không phải ở bất cứ xã nào,
sự hiện diện của hệ thống dẫn thủy nhập điền cũng tạo ra những “bước tiến” trong nông nghiệp Trên thực tế, tại một số xã, hệ thống tưới giúp họ thu được lợi nhuận cho
vụ lúa chiêm (vụ ít mưa thường thiếu nước)
Trang 9Trần Xuân Hùng, Nguyền Thúy Hiền / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, sổ 3 (2022) 336-351 344
cao hơn so với giai đoạn trước, nhưng đối
với vụ lúa mùa (vụ có các tháng mưa nhiều),
tình trạng thừa nước khiến sản lượng thu
hoạch bị sụt giảm Nhân dân ở Hội Thịnh
(Tam Dương) cho rằng hệ thống tưới nước
là tốt, tuy nhiên họ thích tưới nước những
đất trước kia bị bỏ hoang chứ không phải đất
trồng cạn mà người ta phải bỏ đi vì thừa
nước Hay tại một số xã khác, người dân cho
rằng hệ thống tưới nước dù có xuất hiện hay
không cũng không mang lại sự thay đổi hay
lợi ích lớn lao nào cho họ, như tại xã Thổ
Tang (phủ Vĩnh Tường): “Tưới nước chỉ có
lợi cho các đất xấu nhất Thật ra nó chỉ có
tác dụng bớt diện tích cho trồng cạn, như thế
người ta chỉ cho là hạ sách vì trồng dưa hấu
và cà tím có lợi hơn nhiều” Một số xã khác
lại nhất trí và kiên quyết cho rằng, công
trình dẫn thủy nhập điền của tỉnh Vĩnh Yên
hoàn toàn là vô ích, gây bất lợi cho cư dân
bản địa Theo ý kiến của nông dân xã Phú
Vinh (huyện Tam Dương): “Việc tưới nước
là cái dở vì người ta chỉ trồng được lúa trong
mùa đông, mà đất cát rất khó trồng lúa”
Đồng thời, tình trạng tháo trộm nước vẫn
thường xuyên xảy ra khiến một bộ phận
nông dân có ruộng bên trong (không gần
mương dẫn nước) khó trồng trọt dù nguồn
cung nước dồi dào Nông dân xã Mộ Đạo
(huyện Bình Xuyên) cho rằng: “Sẽ là tuyệt
vời nếu có đủ nước nhưng nước lại thường
bị chiếm đoạt bởi ông Trần Viết Soạn nên
người ta chỉ có thể cấy được từ 50 tới 100
mẫu ruộng vào mùa đông” (Phủ Thống sứ
Bắc Kỳ 1933)
Tuy nhiên, những tác động không tích
cực như trên chỉ là số nhỏ Sự xuất hiện của
hệ thống dẫn thủy nhập điền ở tỉnh Vĩnh
Yên góp phần cung cấp nguồn nước tưới
cho các cánh đồng dồi dào hơn so với giai
đoạn trước Mặc dù vậy, hệ thống này không
thể cung cấp nước cho từng thửa ruộng,
chính vì vậy, người nông dân vẫn cần áp dụng các biện pháp cũ như đắp bao bờ, khơi ngòi dẫn nước từ kênh mương về ruộng, sử dụng gầu hay các công cụ múc nước khác V.V Những xung đột do tranh chấp về lợi ích, việc tháo trộm nước vẫn thường xuyên xảy ra và khó giải quyết triệt để Tình trạng này chỉ phần nào được giảm bớt khi những quy định tương đối chặt chẽ vể sử dụng nước trong trồng trọt được thể chế hóa và xuất hiện trong hương ước của các làng xã dưới tác động của công cuộc cải lương hương chính
Cùng với sự chuyến biến tích cực của nông nghiệp, dưới tác động của công tác dẫn thủy nhập điền, kinh tế thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Yên cũng có nhiều khởi sắc dù nó không nằm trong ý muốn chủ quan của người Pháp, bởi ngay từ đầu ngành kinh tế này vốn không được chính quyền thực dân chú ý đầu tư Trong khi các hoạt động thủ công nghiệp bản xứ không những không nhận được chính sách ưu đãi nào từ chính quyền cai trị, một số ngành khác có khả năng cạnh tranh với người Pháp lại bị kìm hãm Đồng thời, chính sách cai trị của thực dân Pháp còn làm cho giá nguyên liệu, nhân công tăng cao cũng phần nào làm nghề thủ công bản địa không có điều kiện để phát triển Trước và trong những năm đầu thời kỳ Pháp thuộc, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Yên có một số ngành thủ công truyền thống phát đạt như: nghề kéo mật, làm đường, làm ghế mây, đan rồ, rá, giần sàng, đúc lưỡi cày, đóng cối, làm dây thừng, sản xuất nón, áo tơi bằng lá gồi, làm nồi đất V.V Tới những thập niên đầu thế kỷ XX, những nghề này vẫn tồn tại trong quy mô làng xã, nguyên nhân chủ yếu là do nhân dân vẫn quan tâm
và sử dụng những sản phẩm thủ công truyền thống Hàng hóa Pháp cùng các sản phâm thủ công được du nhập ngày càng nhiều vào đời sống của nhân dân Vĩnh Yên cũng làm cho các ngành thủ công truyền thống phải
Trang 10345 Trần Xuân Hùng, Nguyễn Thúy Hiền / Tạp chi Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 8, số 3 (2022) 336-351
khó khăn để duy trì hoạt động Tuy nhiên,
dưới tác động gián tiếp của công tác dẫn
thủy nhập điền và sự phát triển của nông
nghiệp, một số ngành nghề thủ công tại
Vĩnh Yên lại dần có điều kiện phát triến
Chuyển biến trong thủ công nghiệp trước
tiên được thể hiện ở nghề rèn, nghề làm đồ
sắt Nghề này vốn khá phát đạt ở các làng xã
trong tỉnh và trung tâm đô thị Vĩnh Yên
Bình Xuyên làm dao, kéo, cuốc, xẻng, liềm
hái, Vĩnh Tường làm nghề rèn, Yên Lạc làm
rao rựa V.V Sự tăng trưởng diện tích trồng
trọt có tác dụng thúc đẩy nghề làm lưỡi cày
và một số nông cụ khác như cuốc, xẻng, bừa
v.v mở rộng Năm 1936, nghề sản xuất lưỡi
cày ở ba làng Hương Canh, Ngọc Canh,
Tiên Hương của huyện Bình Xuyên làm
được 160 tạ lưỡi cày, trị giá tương ứng 850
đồng Đông Dương (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ
1937) Đến năm 1938, số tiền thu được từ
hoạt động này đã là 1.000 đồng Đông
Dương (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1939) Trong
báo cáo kinh tế tỉnh Vĩnh Yên năm 1941 của
Công sứ Pháp Coillot, quý cuối cùng của
năm 1941 có 10.000 chiếc lưỡi cày được sản
xuất, sử dụng tới 500 tạ sắt luyện (Phủ
Thống sứ Bắc Kỳ 1942) Mặc dù số lượng
sản phẩm năm này làm ra rất lớn, nhưng thợ
thủ công lại thu về được lợi nhuận rất ít,
nguyên nhân là do nguồn nguyên liệu đầu
vào khan hiếm, việc cung ứng nguyên liệu
cũng gặp nhiều khó khăn, thêm vào đó giá
vật liệu và nhân công lại không ngừng tăng
Nghề đan tre, đan mây với các sản phẩm
như nong, nia, giần, sàng, bồ, cót v.v đặc
biệt là nội thất (ghế) mây cũng có nhiều
khởi sắc Một số làng thuộc huyện Yên Lạc
nối tiếng với nghề làm rố, rá, thúng, mủng
Theo báo cáo năm 1933, doanh thu từ nghề
đan lát ở một làng thuộc Yên Lạc và Lập
Thạch đưa lại là 2.500 đồng Đông Dương
(Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1934) Bênh cạnh
đó, xã Thủ Độ và Bích Chu thuộc tổng Tăng
Đố (huyện Vĩnh Tường) nối tiếng với các
sản phẩm dùng vào việc phơi thóc, gạo Nghề đan nón và áo tơi cũng được biết đến với các làng Vinh Mô, Tiên Mô, Đồng Cương, Tề Lỗ (Yên Lạc), Lại Châu (Lập Thạch) và Đông Đạo (Tam Dương)
Năm 1940, nghề đan lát trong toàn tỉnh bán được 2.000 đồng Đông Dương Một số sản phẩm đồ mây có xu hướng sụt giảm do thị hiếu của khách hàng thay đổi Trong giai đoạn nửa cuối năm 1941, riêng hai xã này đã đưa ra thị trường khoảng 3.000 chiếc thúng
và 5.000 chiếc nong, nia các loại (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1942) Vật liệu chính của các sản phấm này là tre - một loài cây quen thuộc và được trồng phổ biến trong các làng
xã ở Việt Nam, đôi khi người ta cũng sử dụng một số loại cây có họ hàng với tre như nứa để sản xuất các sản phẩm trên Chính vì nguồn nguyên liệu không khó kiếm và giá thành tương đối rẻ nên nghề thù công đan ưe
có nhiều điều kiện phát triển Sự tăng trưởng trong sản lượng cây lương thực thu hoạch được là một nguyên nhân quan trọng đê nghề đan tre có cơ hội được khởi sắc (nhu cầu sử dụng các vật dụng làm từ tre đan như: giần, sàng, thúng, mủng, bồ, v.v đế chứa thóc, gạo và các sản phẩm nông nghiệp dần tăng lên) Theo Công sứ Pháp Coillot:
“Hiện nay đó là ngành thủ công nghiệp duy nhất đem lại cho người lao động một lợi nhuận khả quan và cũng nên khuyến khích, phát triển nghề này trong tinh” (Phủ Thống
sứ Bắc Kỳ 1942)
Nghề làm đường và mật mía cũng phổ biến và phát triển ở nhiều địa phương của Vĩnh Yên Ban đầu chỉ có một vài làng làm Đến năm 1938 đã có 18 làng trồng mía và chế biến đường thô và mật mía chủ yếu thuộc 3 huyện Vĩnh Tường, Lập Thạch, Bình Xuyên (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ 1939) Năm 1934 các địa phương này sản xuất ra
23 tạ sản phẩm và thu về hơn 100.000 đồng Đông Dương, đến năm 1935, doanh thu đã tăng lên 150.000 đồng Đông Dương và