1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời gian bốn mùa trong thơ ca nữ thi nhân trong toàn đường thi và manyoshu

10 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 286,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này, dưới góc nhìn thi pháp học và van héa học, người viết tập trung khảo sát bộ phận thơ ca do các nữ thì nhân sảng tác trong hai bộ thi tuyén vĩ đại Toàn Đường thi và

Trang 1

THO! GIAN BON MUA TRONG THO CA CAC NU THI NHAN

TRONG TOAN DUONG THI VA MANYOSHU

NGUYEN ANH THAN’

Tóm tắt: Bến mùa là hình tượng thời gian quan trọng trong văn học cổ điển phương Đông Nó không chỉ phản ảnh tư duy nghệ thuật của tác giả mà còn ẩn chứa nội hàm văn hóa — xã hội sâu sắc Trong nghiên cứu này, dưới góc nhìn thi pháp học và van héa học, người viết tập trung khảo sát bộ phận thơ ca do các nữ thì nhân sảng tác trong hai bộ thi tuyén vĩ đại Toàn Đường thi và Manyoshu, từ đó khám phá những tương đồng và dị biệt trong quan niệm về mùa của người Trung Quốc và Nhật Bán cổ xưa, đồng thời chỉ ra 3 nghĩa của xuân, hạ, thu, đông trong việc hỗ trợ thi nhân thể hiện cảm xúc nội tâm của mình

Từ khóa: Toàn Duong thi, Manyoshu, Nit thi nhân, Bén mia, Thi pháp học

oàn Đường thi và Manyoshu là hai

bộ thi tuyển lớn của Trung Quốc và

Nhật Bản, đồng thời là đối tượng quan trọng

hang đầu trong nghiên cứu thơ ca cô điển hai

nước Trong số hàng nghìn nhà thơ góp phần

hình thành nên Toàn Đường thi và

Manyoshu, ngoài lực lượng các nhà thơ nam

vốn chiếm vị trí chủ đạo, nhất là Lý Bạch,

Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị (đối với Toàn Đường

thi) và “Vạn Diệp ngũ danh bút? (đối với

Manyoshu), ching ta khéng thé bé qua su

xuất hiện của 251 nhà thơ nữ cùng 1109 thi,

phẩm của họ Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng

nhỏ, song số lượng thi nhân và thi tác nêu

trên vẫn thuộc loại cao nhất trong số các bộ

thi tuyển thời tiền cận đại của Trung Quốc

và Nhật Bản Do đó, nghiên cứu thơ ca của

các nữ thi nhân trong hai bộ thi tuyển giá trị

nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc và

* Nghiên cứu sinh Khoa Đông phương học, Trường Đại

học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà

Nội

Nhat Ban rất có ý nghĩa đối với việc đánh

giá những đặc trưng về nội dung và hình thức của mảng trước tác “phi chủ lưu” này Trong quá trình khảo sát hai bộ thi tuyển nêu trên, người viết nhận thấy rằng xét về phương diện hình thức thơ ca dưới góc nhìn

thi pháp học, bốn mùa là hình tượng thời

gian tiêu biểu, góp phần giúp thi nhân bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mình cũng như phản

ánh-những diễn biến của thiên nhiên và đời sống xã hội Hơn thế, thông qua cách nhìn

nhận bốn mùa của các nhà thơ, chúng ta còn

có thể khám phá quan niệm về thời gian và

tư duy nghệ thuật của họ Dưới đây, người

viết sẽ tiến hành nghiên cứu 4 hình tượng

xuân, hạ, thu, đông trong sáng tác của các

nhà thơ nữ trong hai bộ thi tuyển, từ đó đối chiếu những nét tương đồng và dị biệt trong quan niệm bốn mùa của nữ giới đương thời nói riêng và của thơ ca cổ điển hai nước nói

chung

56

Trang 2

Nghiên cứu khoa học

1 Mùa xuân

Mùa xuân là hình tượng thời gian bốn

mùa quan trọng nhất trong trước tác của các

nữ thi nhân trong Toàn Đường thí với 106

bài thơ và xếp thứ hai trong trước tác của các

nữ thi nhan trong Manyoshu với 19 bài thơ

8o với ba mùa hạ, thu, đông, cách nhìn

nhận mùa xuân của các nữ thi nhân Trung

Quốc và Nhật Bản khá thống nhất với biểu

hiện là cảnh sắc thiên nhiên được miêu tả

trong thi phẩm về cơ bản luôn ở trạng thái

rực rỡ, tràn ngập sức sống với sự xuất hiện

của nhiều loài thực vật, động vật cùng các

hiện tượng thời tiết tích cực như: liễu rủ tơ

xanh, muôn hoa đua nở, cổ cây um tim,

chim oanh ca hat, chim én va chim nhan bay

về sau khi di tránh rét, gió xuân Ấm áp,

Hiện tượng này hoàn toàn dễ hiểu bởi đối

với các nước có khí hậu cận nhiệt đới và ôn

đới như Trung Quốc và Nhật Bản (chỉ tính

phần lãnh thổ vào thời Đường và thời kỳ

Asuka — Nara), mùa xuân là thời điểm bắt

đầu một năm mới, là giai đoạn chuyển tiếp

giữa hai hình thái thời tiết chủ yếu (nóng,

lạnh) với đặc điểm thời tiết ấm dân lên, vạn

vật được tiếp thêm nguồn sống, không

ngừng sinh sôi nảy nở Đối với con người,

mùa xuân còn gắn liền với nhiều hoạt động

sống tích cực như tiến hành một mùa trồng

trọt mới, tham gia lễ hội, thực hiện việc giao

duyén hay két hén Chinh vi vay, trén ly

thuyét, day 1a giải đoạn lý tưởng nhất trong,

một năm với tiềm năng đem lại cho con

người những cảm xúc vui tươi trước phong

cảnh thiên nhiên, niềm hạnh phúc khi được ở

bên người yêu, người thân cùng nhiều khát

khao, ước vọng Trong số 125 thi phẩm

thuộc phạm vỉ khảo sát, chúng ta có thể

chứng kiến không ít trường hợp đi theo

hướng này như Xuân dụ khúc, Tảo xuân dạ

yến (57 bài) Tuy nhiên, đa phần trong số

này là thơ tả cảnh thuần túy hoặc thơ giao tiệp xã hội mang tính ca ngợi, còn thơ tự tình chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ (4 bài)

Trên thực tế, bất chấp bối cảnh không

gian tươi đẹp mỗi độ xuân về, tâm trạng các nhà thơ nữ Trung Quốc thời Đường và phụ

nữ Nhật Bản thời kỳ Asuka — Nara thể hiện trong các thi phẩm của mình chủ yếu vẫn là

những cảm xúc tiêu cực như tâm trạng cô độc quạnh quế trong Độc đu gia viên; niềm tương tư nhung nhớ người yêu trong Xản

khuê oán, bài 15-3752; nỗi tiếc thương dành

cho người đã khuất trong Yến Tử lâu 3, Đề Đường An tự các bích; cảm xúc bịn rtịn

quyến luyến trước thời khắc fi biệt trong

Xuân nhật tống phu chỉ Trường An, bài 9- 1776; dự cảm bất an về tình yêu trong bài 8-

1451; vị đắng khi phải chấp nhận tình yêu chấm dứt trong bài 8-1459; tâm sự tiếc

thương tuổi trẻ trong Tích hoa ngâm, Liễu; mnặc cảm thân phận kỹ nữ không một bờ vai nương tua trong Liéu n/ut: Hién tượng này cho thấy mùa xuân đã được thi nhân sử dụng

để tạo nên sự đối lập mạnh mẽ giữa vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời cùng cảm giác yêu thương hạnh phúc mà mùa xuân mang lại

với tâm trạng thực sự của mình, từ đó khắc

hoạ rõ nét hơn những đẳng cay, đau khổ bản thân phải chịu đựng

Một điểm đáng chú ý trong việc xây dựng hình tượng thời gian mùa xuân của các nhà thơ nữ thời Đường — Ngũ Đại là sự xuất hiện của thời điểm cuối xuân (tàn xuân, mộ xuân, xuân thâm, xuân tận), điều hoàn toàn không

xuất hiện trong các mùa khác Dựa trên 10

bài thơ viết về khoảng thời gian nảy, chúng

ta có thể nhận thấy cảnh sắc thiên nhiên

Trang 3

Nghiên cứu khoa học

thường được miêu tả trong trạng thái tàn tạ,

thiếu sức sống, khác hẳn mùa xuân rực rỡ,

tươi mới vừa phân tích ở trên với hình ảnh

hoa lá rụng cành (J#u sở tư, Xuân vọng từ 3

Tặng viễn 2), sương khĩi mịt mù (Mộ xuân

hữu cảm ký viễn nhân, Thư bích), ánh trăng

mờ tỏ (Mộ xuân hữu cảm lý viễn nhán),

Trên thực tế, khĩ cĩ thể nĩi rằng cảnh tượng

thiên nhiên ảm đạm như trên là đặc trưng

của thời tiết tháng 3 bới sau đĩ vạn vật vẫn

cịn cả một mùa hè để sinh sơi nảy nở để rồi

dan tiến đến mùa thu hoạch trước khi đơng

về Trên cơ sở nhận thức như vậy, chúng ta

dễ thấy rằng quang cảnh thiên nhiên vào thời

điểm “mộ xuân” nêu trên thực chất mang

nhiều tính chủ quan với dụng ý nghệ thuật rõ

rệt hơn là sự miêu tá khách quan Căn cứ vào

tình cảm chủ đạo được tác giả gửi gắm trong

những bai thơ này, khơng gian ảm đạm ấy

trước hết được thi nhân sử dụng làm bối

cảnh gợi sự tương cảm với tâm trạng của

mình, ví dụ như sự cơ độc khơng nơi nương

tựa của Ngư Huyền Cơ trong Mộ xuân hữu

cảm lý hữu nhân, nỗi nhớ người phương xa

của Trương Yếu Điệu trong Hữu sở tư hay

tâm trạng lo lắng khi thanh xuân vụt qua tam

tay trong Xuân vọng từ 3 Lý giải cho sự tồn

tại của hình tượng thời gian đặc biệt này,

người viết cho rằng nĩ liên quan mật thiết

với quan niệm về mùa xuân của người Trung

Quốc Cụ thể, lãnh thổ Trung Quốc thời

Đường chủ yếu nằm trong vùng khí hậu lục

địa cĩ mùa đơng và mùa hạ kéo dài, mùa

xuân và mùa thu khá ngắn ngủi, nhiều khi

chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp, khác với

khí hậu bốn mùa kéo dài khoảng 3 tháng khá

đồng đều như Nhật Bản với cương vực thời

Asuka ~ Nara chỉ tính từ khu vực Kanto trở

về phía Tây, khơng bao gồm vùng Tohoku

2

va Hokkaido ngay nay’ Sự ngắn ngủi mang tính tự nhiên ấy đã khiến người Trung Quốc

dan nay sinh cảm giác luyến tiếc đối với mùa xuân Hơn thế, trong quan niệm thời gian sinh mệnh, mùa xuân cịn tượng trưng cho tuổi trẻ, thanh xuân của một con người, thế nên sự tiếc nuối ấy càng được nhân lên

gấp bội Kết quả, ngay từ thời cổ dai, Kink Thi da nêu quan niệm rằng: “Xuân nữ bị, thụ

si bi, nhi tri vat hĩa hề” với hàm ý rằng thời

mùa xuân của đất trời cũng ngắn ngủi như tuổi xuân của người phụ nữ, mùa xuân qua

đi khiến họ cũng cĩ cảm tưởng rằng thời thanh xuân của mình khơng cịn Trên cơ sở này, việc xây dựng nên hình tượng “mộ xuân” cĩ thể xem là một biện pháp nghệ

thuật gĩp phần nhân mạnh sự chấm đứt của

khoảnh thời gian ngắn ngủi ấy, khiến nỗi

“thương xuân”, “tích xuân” càng thêm mãnh liệt, rõ nét hơn

2 Mùa hạ

Mùa hè trong 18 bài thơ của các nữ thi nhân trong Tồn Đường thi cĩ liên quan hiện lên với những dấu hiệu nhận biết khá đa đạng như tiếng ve, hoa sen, hoa kim đăng,

hơi nĩng cùng quần áo mùa hạ, bên cạnh các

từ chỉ thời gian khá rõ ràng như tháng năm, tết đoan ngọ, ngày hè Tuy nhiên, hầu hết hình ảnh thực vật, động vật, đồ vật nêu trên

đều chỉ gợi nên bối cảnh đơn thuần cho những hoạt động sống của con người như hái

sen (Cung từ 24), hĩng mát, du ngoạn (Hạ nhật du Thạch Tơng), thưởng hoa (Kim đăng hò) Mặt khác, trừ hái sen mang đặc trưng '#lXA, [fldrffilrl42 2L 84 BR OI#fEfØiMlclfl†2#Ax#I T'tl8ixil 1

1982#: 9, (Matsuura Tomohisa, “Mùa xuân ~

mùa thu và mùa hạ - mùa đơng trong thơ ca cỗ điển Trung Quốc — Bản ghỉ nhớ về ` ý thức thời gian trong thơ ca”, Tập

san Thơ văn Trung Quốc, số 1, 1982: tr 1-14)

Trang 4

Nghiên cứu khoa học

của mùa hè, các hoạt động hóng mát hay du

ngoạn có thể diễn ra vào bất cứ mùa nào

khác trong năm, hay nói cách khác, nếu

không có từ định danh “hạ” trong tiêu để hay

nội dung bài thơ, chúng ta rất khó xác định

hình tượng thời gian trong tác phẩm Chính

vì vậy, ý nghĩa của việc sử dụng thời gian

mùa hè làm bối cảnh thời gian cho đời sống

sinh hoạt của con người không thực sự rõ rệt

Trong khi đó, số lượng thơ tả tình gắn với

thời gian mùa hè chỉ chiếm tỷ lệ 1/3 voi 6

bài thơ Tuy nhiên, ngay cả trong những bài

thơ này, cảm giác mùa hè mang lại cho thi

nhân cũng không phải yếu tố quyết định đến

tâm trạng của nhà thơ, ví dụ: Mùa hè trong

Văn Lý Đoan Công thùy điều hỗi lý tặng chỉ

xuất hiện thông qua hương sen ngào ngạt

trên chiếc áo Lý Dĩnh mặc, mang tính miêu

tả và không liên quan đến thông điệp tình

yêu Ngư Huyền Cơ muốn gửi đến người

trong mộng trong hai câu thơ cuối

So với Toàn Đường thi, đâu hiệu nhận

biết mùa hè trong 14 bài thơ thuộc

Manyoshu o6 phan it hon véi 2 dau hiéu cha

dao: tiéng chim hototogisu (11 bai) va hoa

quýt (2 bài) Tuy nhiên, đối với các nữ thi

nhân thời Đường — Ngũ Đại, mùa hè chỉ đơn

thuần là bối cảnh cho những hoạt động sống

thì trong mắt các nữ thi nhân thời Asuka —

Nara, mùa hè lại tràn đầy tình cảm được

khơi gợi và hoà quyện với hai biểu tượng

nêu trên Cụ thể, tiéng chim hototogisu 1

biểu tượng của nỗi nhớ người thân, nhớ

người yêu, nhớ bạn bè, nhớ người đã khuất

Chính vì vậy, hầu hết những bài thơ xuất

hiện âm thanh của loài động vật này đều ấn

chứa tâm trạng tương tư đau khổ của các nữ

thí nhân, ví đụ như các bài tho 2-112, 8-1484

hay 20-4437 Trong khi đó, những bông hoa

quýt thơm ngát không chỉ gắn với tập tục

làm kusudama để trừ tà mỗi khi tháng năm

về, mà còn thể hiện sự quan tâm của công nương Otomo no Sakanoue dành cho người yêu, tiêu biểu là bài 8-1502 của công nương Otomo no Sakanoue Dac biét, trong bai 8-

1492, cây quýt trở thành hình anh 4n dy cho người yêu của tác giả, cây quýt ra quả đồng

nghĩa với sự kiện ý trung nhân đã kết hôn

với người khác, khiến nhân vật trữ tình khó tránh nỗi khổ đau tiếc nuối cho cảnh ngộ hữu duyên vô phận của bản thân

Qua những phân tích nêu trên, có thể thây thời gian mùa hè trong Toàn Đường thí mang tính bối cảnh là chính, trong khi đại đa s6 thi phdm gin véi mba hé trong Manyoshu lại ngập tràn tình cảm Tuy nhiên, cần chú ý rằng sự khác biệt này chủ yếu xuất phát từ bối cảnh lịch sử giữa hai nước và sự biến đổi

ý nghĩa của biểu tượng chỉm cuốc (đỗ quyên

trong tiếng Hán và hototogisu trong tiếng Nhat):

Thứ nhất, trong thơ ca Trung Quốc, chim cuốc gắn liền với điển cố Thục để mắt nước hóa đễ quyên được ghi lại trong Sưu thần ký Chính vì vậy, không ít thi nhân thời xưa đã mượn tiếng chim cuốc để nói lên tiếng lòng đau khổ của mình trước cảnh đất nước suy tan và tiếc nuối cho một thời vàng son đã

mất hoặc nỗi nhớ quê hương khi phiêu bạt

xử người, ví dụ như trong Dé quyén của Đỗ Muc hay Tuyén thành kiến đỗ quyên hoa của

Lý Bạch Chính mối liên kết này đã khiến

biểu tượng đỗ quyên thường xuất hiện trong

thơ ca nam giới với những trăn trở mang tằm

vi mô dành cho quốc gia, dân tộc, ít xuất

hiện trong thơ ca nữ giới khi phạm vi hoạt động của họ chỉ gói gọn trong không gian

Trang 5

Nghiên cứu khoa học

gia đình, ít tham gia hoạt động chính trị xã

hội Mặt khác, trong bối cảnh Trung Quốc

thời Trung ~ Văn Đường đang trên đà suy

yếu, việc sử dụng biểu tượng đỗ quyên để

bây f sự lo lắng của mình đành cho đất

nước của các nhà thơ nam giới là điều có thể

dễ dàng lý giải Ngược lại, Manyoshu ra đời

trong bối cảnh nước Nhật đang trên đà xây

dựng chính quyền trung ương và đây mạnh

phát triển đất nước, chính vì vậy, biểu tượng

chim hototogisu được sử dụng trong thơ ca

phụ nữ nói riêng và toàn bộ thỉ phẩm trong

Manyoshu noi chung không thể rập khuôn

hoàn toàn theo nghĩa nước mất nhà tan, mà

tập trung vào hướng biểu đạt nỗi nhớ, nỗi

tiếc thương dành cho con người và quê

hương, một ý nghĩa cũng hàm chứa trong

biểu tượng đỗ quyên của Trung Quốc song

không chiếm vai trò chủ đạo

Thứ hai, trong thơ Trung Quốc, thời gian

chim đỗ quyên xuất hiện không cố định Đó

có thể là mùa hè, nhưng cũng có thể là mùa

xuân, ví dụ như Đồng đô sở cư hàn thực hạ

tác của Trần Nhuận Chính vì vậy, chim

cuốc có thể gắn với mùa hè song điều này

không mang ý nghĩa tuyệt đối Trong khi đó,

ngay từ thời Asuka — Nara, hototogisu đã trở

thành kigo tượng trưng cho mùa hè, tức là

bai tho nao xuất hiện chim hototogisu thì nó

chắc chắn được xếp vào thơ mùa hè Sự kết

hợp giữa ý nghĩa tự tình và mùa của biểu

tượng hototogisu đã khiến cho thơ mùa hè

trong Manyoshu mang đậm màu sắc tình

cảm Giả sử hototogisu không đại diện riêng

cho mùa hè, thay vào đó là một mùa khác, tỷ

lệ thơ tự tình gắn với thời gian mùa hè sẽ

giảm đi đáng kể

3 Mùa thu Mùa thu là hình tượng thời gian bốn mùa quan trọng nhất trong thơ ca của các nữ thí nhân trong Manyoshu voi 29 bài thơ và đứng thứ hai trong thi ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường thí với 58 bài thơ

Tương tự như mùa xuân, mùa thu trong cả hai bộ thi tuyển luôn được gắn với những hình ảnh thiên nhiên và sự vật cụ thể, khác với thời gian mùa đông và mùa hè đôi khi chỉ được nhắc đến qua các từ định đanh “hạ”,

“đông” hoặc từ chỉ thời gian cụ thể Tuy nhiên, xét về sắc thái thiên nhiên, khuynh

hướng nghệ thuật chủ đạo và tình cảm trọng

tâm được thể hiện trong tác phẩm, thơ ca

mùa thu của các nhà thơ nữ trong hai bộ thi tuyển vẫn có một số nét khác biệt:

a Cảnh sắc mùa thu trong Toàn Đường

thi về cơ bản là tiêu điều, hoang vắng với

cây cối chuyển màu rụng lá (T#øt nhật tdi kg,

Tinh thư ký Tử An), mưa thu rà rích (Đắc Diêm Bá Quân thự, Cửu nhật ngộ vii), am

thanh rền rĩ của các loài động vật giữa màn đêm thanh tĩnh (tiếng vượn trong Vọng

nguyệt, tiếng chìm trong Ám l¡ biệt, tiếng dể

trong Ký Phi Khanh) hay những cánh chim nhạn bay về phương nam tránh rét trong Giang biên Ngay cả những bài thơ mang

cảnh sắc tươi đẹp thì đó cũng thường là vẻ

đẹp áo não, lặng lẽ, không phải cái đẹp rực

rỡ, tràn ngập sức sống như mùa xuân, ví dụ

như trong Cưung từ 110 và Giang Nguyệt lâu

Đây chính là bối cảnh giúp thi nhân xây

dựng nên hình tượng thời gian tương thông,

đồng cảm với những tâm trạng u buồn của

mình như sự cô độc của những phi tần nơi

cung vàng điện ngọc nhưng luôn thiếu thôn hơi ấm của tình người (Cung từ 35), niêm tương tư nhung nhớ nguời chồng đi xa mãi

Trang 6

Nghiên cứu khoa học

chẳng về của các phụ nữ gia đình (Cổ hứng

2), nỗi nhớ quê hương, gia đình của người lữ

thứ (Quan sơn nguyệt), sự lo lắng cho chồng

của người vợ hiền (Ký phu) hay tâm trạng

tiếc thương tuổi xuân: (Đáp Hàn Hoành)

Trăng và hoa cúc có lẽ là hai hình ảnh mang

vẻ đẹp rực rỡ nhất, song suy cho cùng, trăng

thu sáng tròn trên nền trời cao vợi, gợi đến

khung cảnh đoàn viên gia đình hay đôi lứa

yêu đương hạnh phúc lại chỉ càng khiến cho

nỗi cô độc của thi nhân thêm quặn đắng như

trong Thu oán của Ngư Huyền Cơ hay Trung

thu đạ bạc Vũ Xương của Lưu Thục Nhu

trong khi sắc vàng của cúc cũng không thể

xoa dịu nỗi buồn của Tiết Đào và Ngư

Huyền Cơ khi bỏ lỡ dịp cùng bạn bè đăng

cao, gặp gỡ vào tiết Trùng Dương (Cửu nhật

ngô vũ 1; Trùng Dương trở vñ) Nhìn chung,

cảm xúc mùa thu khơi gợi nơi các nữ thi

nhân thường mang sắc thái tiêu cực, những

bài thơ mùa thu không gắn với tâm trạng

buồn đa số là thơ tả cảnh thuần tuý, thơ tế lễ

hoặc ca tụng của các nữ thi nhân cung đình,

ví dụ như: Võ hậu Minh Đường nhạc

chương- Thương âm, Cửu nguyệt cửu nhật

thượng hạnh Tù Ân tự đăng Phù D6 quan

thần thượng cúc hoa thọ tửu, Cung từ 131

b Trái ngược với các nữ thí nhân trong

Toàn Đường thí, các nữ thí nhân trong

Manyoshu thường miêu tả cảnh sắc mùa thu

theo hướng tích cực, bất kế họ thuộc tầng

lớp phụ nữ cung đình hay bình dân Đó có

thể là màu tím biếc của hagi, loài hoa đặc

trưng của Nhật Bản, tương đương với hoa

cúc ở Trung Quốc trong các bài 8-1558, §-

1559, 8-1560, 8-1621, 8-1622; vẻ yêu kiều

mong manh của hoa nadeshiko trong các bài

8-1610, 8-1616; những bông lúa chín trên

cánh đồng ngày mùa trong các bài 8-1624,

8-1635; sắc vàng của cây lá khi chuyển mùa trong các bài 2-159, 8-1623, 15-3704; hay tiếng hươu nai gọi bạn đời đầy tha thiết trong cdc bai 8-1561, 8-1611 Thiên nhiên mùa thu mang màu sắc ảo não chỉ xuất hiện trong 4 bài thơ 2-88, 8-1564, 8-1583, 8-1593, chiếm tỷ lệ 14% Tuy nhiên, đối nghịch với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp ấy, tâm trạng của các nhà thơ nữ Nhật Bản thời kỳ Asuka — Nara cũng thấm đẫm nỗi buồn khi hướng tới những người thân yêu của minh, một điểm khá tương đồng với các nữ thị nhân trong Toàn Đường thị khi số lượng thơ tình cảm mang sắc thái tiêu cực chiếm tỷ lệ lên đến 69% (20 bài), tiêu biểu như nỗi nhớ

em gái khắc khoải không nguôi của đại

nuong Otomo no Tamura trong bai 8-1621,

niềm tiếc thương người chồng đã khuất của

thiên hoảng Jito trong bai 2-159 hay khát khao tình yêu của quận chúa Kasanui trong

bài 8-1611 Điểm sáng đuy nhất có lẽ là sự

cảm động của quận chúa Kume khi gặp lại người yêu trong bài 8-1583 và lời chấp nhận nguyện vọng kết hôn từ chàng rễ của một ni

cô trong bài 8-1635

Theo người viết sự khác biệt trong cách miêu tả cảnh sắc mùa thu nêu trên gắn liền

với quan niệm về mùa thu của hai dân tộc:

* Đối với người Trung Quốc, mùa thu

luôn gắn với cái “sầu” và “cái bỉ” Chữ

“sầu” gồm chữ “thu” đặt trên chữ “tâm” nên

theo phép chiết tự, có thể nói rằng “sầu”

chính là tâm trạng của mùa thu Hơn thế, trong cái nhìn sinh mệnh “thiên nhân hợp

nhất”, coi bốn mùa ứng với các giai đoạn

trong cuộc đời của một con người, mùa thu

lại tương ứng với tuổi già, khi con người ta

bước vào sườn dốc bên kia của cuộc đời, vì

thế ngay từ cỗ địa, Kính Thị đã ghi rằng:

Trang 7

“Xuân nữ tư, thu nam bi, nhỉ trí vật hóa hề”

với hàm nghĩa người đàn ông bước vào tuổi

già cũng giống như thiên nhiên tàn tạ khi thu

sang Quan niệm này tiếp tục được các thi

nhân thời sau kế thừa Do đó, tuy mùa thu ở

Trung Quốc không hề thiếu cảnh đẹp, song

qua lăng kính văn hóa, vẻ đẹp ấy cũng

không khiến con người thóat khối nỗi ám

ảnh sầu bi về cuộc đời ngắn ngủi của mình

Trong tương quan giữa thơ ca nam giới và

nữ giới, điểm khác biệt giữa họ chỉ là nam

giới thường đau buồn vì tuổi già đến mà chí

lớn chưa thành còn nữ giới lại tiếc nuối nhan

sắc tuổi xuân Ngoài ra, không ít điển cố liên

quan đến nỗi buồn cũng được gắn liền với

mùa thu, khiển sự xuất hiện của một sự vật,

hiện tượng nhỏ cũng khiến thi nhân dễ liên

tưởng đến những sầu đau, bị lụy ẩn chứa

trong đó Đối với người phụ nữ, điển cố mùa

thu tiêu biểu nhất có lẽ là chiếc quạt tròn

kinh sợ gió thu bắt nguén tir bai Odn ca

hành của Ban tiệp dư thời Hán Tâm tình u

uất của một cung phi thất sủng chất chứa

trong chiếc quạt đã biến nó trở thành biểu

tượng cho nỗi lo sợ bị bỏ rơi của những phụ

nữ chịu cảnh chồng năm thê bảy thiếp trong

xã hội nam quyền

* Trong khi đó, người Nhật với cái nhìn

coi tự nhiên là biểu tượng của thần linh, họ

luôn tôn sùng những vẻ đẹp của mùa thu,

khiến tất cả những gì mà thơ Trung Quốc

không nhắc đến được hiện ra trước mắt

người đọc Đương nhiên, điều này không

hàm nghĩa rằng người Nhật hoàn toàn không

có ý thức về sự trôi chảy của thời gian, trong

đó mùa thu là một mốc đánh dấu bước ngoặt

quan trọng giữa tuổi trẻ và tuổi già Các bài

thơ viết về momiji như 3-459, 15-3693

cho thấy người Nhật cũng có nhận thức này,

Nghiên cứu khoa học song số lượng thi phẩm trong đó momiji

tượng trưng cho cái chết và liên quan đến cái

chết hay nơi an táng chỉ có 19 bài”, so với 94

bài thơ coi momji gắn liền với vẻ đẹp Sự

khác biệt này phải chăng là do nằm ở thái độ

đối điện với thời gian của người Nhật khi họ

có phần bình tĩnh khi đối điện với bước đi của thời gian hơn người Trung Quốc và sống hết mình với cuộc đời trần thế?

4 Mùa đông

Mùa đông là hình tượng thời gian bốn

mùa xuất hiện với tần số ít nhất trong trước tác của các nữ thi nhân trong Toàn Đường thi và Manyoshu

a Mùa đông trong 10 thi phẩm của các

nhà thơ nữ trong Toàn Đường thi được thé hiện dưới bai hình thức chính:

* Thứ nhất là thông qua các từ chỉ thời

gian giúp người đọc nhận biết được sự tồn tại của mùa đông như “lạp nhật”, “đông nhật”, “long đông”, “tam đông quý nguyệt”

Ở đó, mùa đông không đóng vai trò khơi gợi cảm xúc nơi người đọc, chỉ đơn thuẦn gắn

với các sinh hoạt và phong tục tập quán của con người, hơn nữa đặc điểm thời tiết cũng không thật rõ ràng, ví dụ: Giá hạnh Tân Phong On Ti uyén cung được Thượng Quan Uyén Nhi sáng tác vào ngày 12 tháng 12

năm 709 trên đường tuỳ giá Võ Tắc Thiên đi thị sát dân tình kết hợp với tắm suối nước nóng tại Tân Phong Ôn Tuyển cung Tương

tự, Cung íừ 107 ghi lai sự kiện lựa chọn

cung nữ theo hầu hoàng để đi săn vào ngày

Lạp nhật còn Vỡ hậu Minh Đường nhạc

{BEAR [EIX#{FEin2sbRitR+ob+URf kéo: , [ftrxittSfAiRdlieEl 8, 20114: 36-37, (Nishio Rie, “Quan nigm vé momiji Nhật Bản nhìn từ các tác phẩm Quốc văn và quá

trình hình thành của nó”, Kỷ yếu tập bài giảng Lịch sử -

Văn học ~ Xã hội, số 8, 201 1: tr 29-46)

Trang 8

Nghiên cứu khoa học

Chương ~ Vũ âm là bài nhạc sử dụng trong

nghị thức tế thần mùa đông Cá hai đều gắn

liền với những tập tục của người Trung

Quốc cổ xưa và nguồn gốc của chữ “lap”

Cu thé, người ta tin rằng chữ “lạp” bắt

nguồn từ chữ t “liệp” (săn bắt) Theo đó, vào

thời điểm cuối năm, người ta thường đi săn

để làm vật củng tế dâng lên thần linh, tế tiên,

cầu nguyện phúc đức, mùa màng bội thu

Cung từ 107 và Võ hậu Mình Đường nhạc

chương - Vũ âm chính là biểu hiện cụ thể

của phong tục ấy

* Hình thức tồn tại thứ hai của mùa đông

là thông qua các hiện tượng thời tiết đặc

'rưng với tính chất rõ ràng qua các tính từ đi

kèm như “tuyết”, “băng”, “hàn phong” (gió

lạnh), Tất cả vẽ một cảnh tượng lạnh giá,

khắc nghiệt Đặc biệt, nó có thể được đặt

trong không gian du hành - biên tái với sự

xuất hiện của nhân vật người chồng — người

yêu của các nữ thi nhân, từ đó giúp nhân vật

trữ tình bộc lộ sự quan tâm, lo lắng của mình

dành cho người lữ thứ (Cổ hứng 3, Xuân tình

ký Tử An) hoặc không gian sinh hoạt cá nhân

để nhấn mạnh thêm sự cô đơn của mình

(Đông dạ ký Ôn Phi Khanh)

Khác với Toàn Đường thi, mùa đông

trong 11 trước tác của các nữ thi nhân trong

Manyosiu không tồn tại với ý nghĩa xác

định thời gian đơn thuần, mà thường xuất

hiện trong trạng thái cảnh vật thiên nhiên

tươi đẹp Cụ thể, đó là sắc trắng tỉnh khôi

của tuyết (bai 2-104, 8-1654, ) và vẻ đẹp

kiên cường của hoa mai (bài 8-1648, 8-

1652, ) Tuy nhiên, nói vậy không đồng

nghia rang, mba déng trong Manyoshu chi

có tính miêu tả thiên nhiên đơn thuần

Ngược lại, bên cạnh nổi lo lắng cho người

yêu khi phải trải tuyết sương trong bài ló-

3805 có phần khá giống với một số ví dụ đã

được trình bày ở trên, chúng ta còn chứng kiến không ít cảm xúc hạnh phúc đẩy tích cực của các nữ thỉ nhân dành cho những người thân của mình, tiêu biểu là cuộc trò chuyện vui vẻ giữa phu nhân Fujiwara và thiên hoàng Mommu trong bài 2-104 hay khát khao được chia sẻ khoảnh khắc ngắm tuyết rơi đầy thi vị với người yêu trong bài

§-1658 Trường hợp ngoại lệ duy nhất trong

số này là lời chúc phúc của thiên hoàng Gensho đành cho thân vương Nagaya trong bài 8-1637 liên quan đến tập tục phơi khô cỏ lau trong mùa đông đẻ lợp nhà, thay vì hình ảnh của tuyết và hoa mai như trong các bài thơ khác

Qua khảo sát nêu trên, có thể thấy, sự cảm

nhận về mùa đông của các nữ thi nhân trong

hai bộ thi tuyển có đôi chút khác biệt: một thiên về khuynh hướng lãng mạn với vẻ đẹp của tự nhiên và tình cảm tích cực của con người; một thiên về khuynh hướng hiện thực với sự khắc nghiệt của thời tiết cùng nỗi lo lắng không nguôi, hoặc gắn với phong tục tập quán Theo quan điểm của người viết, điều này có thể được lý giải bởi một số nguyên nhân như sau:

Trước hết, khuynh hướng lãng mạn trong Manyosbu có lẽ xuất phát từ tín nguỡng sùng

bái tự nhiên, coi tất cả hiện tượng tự nhiên

đều gắn với sự hiện điện của thần linh của

người Nhật Theo đó, tuyết tượng trưng cho tính chất thần bí của các ngọn núi thiêng

Chính vì vậy, họ không chỉ vui vẻ đón nhận

sự xuất hiện của tuyết, hơn thế còn coi đó là

điềm lành, báo hiệu một năm mùa màng bội

Trang 9

thu” Ngược lại, trong văn học cổ Trung

Quốc, trừ trường hợp được ví với sự trong

sạch của nhân cách con người, tuyết đa phần

gắn với những ý nghĩa tiêu cực như trở ngại

trên con đường làm quan, lý tưởng chưa

được thực hiện và sự cô độc buồn bã đối với

các sĩ phu hay sự khó khăn, giá lạnh của

mùa đông đối với người nông dân nghèo khể

hoặc khơi gợi nỗi nhớ kẻ lữ thứ của người ở

nhà và nỗi nhớ người thân cùng quê hương

bản quán của ké tha hương”

Thứ hai, cũng cần chú ý rằng, thơ vịnh

tuyết của phụ nữ trong Ä4anyosbu đa phần do

thi nhân cung đình và quan lại sáng tác (8/9

tác giả) và miêu tả quang cảnh thiên nhiên

mùa đông Với một cuộc sống đầy đủ, no ấm,

việc họ nhìn nhận tuyết từ góc độ thắm mỹ

là điều đễ hiểu Trong khi đó, nếu tính riêng

mang tho viết về mùa đông gắn với các biện

tượng thời tiết, thay vì chỉ có các từ chỉ thời

gian, dễ thấy cả 5 bài thơ hữu quan trong

Toàn Đường thi đều do các nữ thì nhân bình

dân sáng tác và gắn với hoàn cảnh éo le như

chịu cảnh chia ly, bị tống giam trong ngục

hay sống cô độc Vì vậy, mùa đông chỉ khiến

thi nhân càng đấm chìm trong cảm xúc tiêu

cực

Ngoài ra, nếu khảo sát thêm từ góc độ địa

lý tự nhiên, chứng ta còn có thể khám phá

thêm một tầng nguyên nhân nữa tạo nên sự

khác biệt giữa nhãn quan mùa đông thiên về

lãng mạn của các nữ thi nhân trong

Manyoshu va nhan quan thiên về hiện thực

?MHIS, I4##Œ@51 [Lf\X#] 7,

956%: 414 (Murata Michio, “Tuyét song

Manyoshu", Văn học cổ đại, số 1, 1956: tr 35-46)

“EM, “ltdỹNIPRUSf#EOS°, (LNR) 8

11 HH, 2011 #; 112-113 (Tô Xuân Miêu, “Bàn về

biểu tượng tuyết trong cỗ thí”, Giáo đực văn học, số 11,

2011: tr 112-113)

Nghiên cứu khoa học

của các nữ thỉ nhân trong Toàn Đường thí

Cụ thể, Trung Quốc có khí hậu lục địa nên biên độ nhiệt giữa mùa hè và mùa đông tương đối cao, từ đó khiến con người có cảm giác mùa đông lạnh hơn Hơn thế, sự khác biệt khí hậu giữa các điạ phương trên một

lãnh thổ rộng lớn, trong đó nhiều vùng phía Nam không có tuyết rơi nên khi đối điện với

hiện tượng thời tiết đặc biệt này, người ta cũng khó thích ứng hơn và dễ cường điệu hóa sự khắc nghiệt của tuyết Ngược lại,

lãnh thổ nhà nước Yamato thời kỳ Asuka —

Nara tương đối nhỏ, phía Đông Bắc mới kéo dài đến vùng Kanto, chưa bao gồm vùng Tohoku và Hokkaido nên có khí hậu tương

đối đồng nhất Hơn thế, do có khí hậu mang

tính hải đương với biên độ nhiệt không quá lớn nên sự chênh lệch nhiệt độ cũng thấp hơn, con người cũng đễ thích ứng hơn, kết quả là cảm nhận về mùa đông cũng ít tính cực đoan hơn

*

Khảo sát thời gian bốn mùa trong thơ ca của các nữ thỉ nhân trong Toàn Đường thủ và Manyoshu, chúng ta dễ nhận thấy rằng mùa xuân và mùa thu là hai hình tượng thời gian

chiếm ưu thế với số lượng thi phẩm nhiều

hơn hẳn mùa hạ và mùa đông Đây không phải là hiện tượng độc hữu trong thơ ca nữ giới mà nó đã trở thành đặc trưng chung của

thơ ca Trung Quốc và Nhật Bản thời cỗ đại

Lý giải cho điều này, nhiều học giả đã đưa ra

những nguyên nhân khá xác đéng, cụ thể là

tầm quan trọng của hoạt động tế lễ dé cầu

xin các vị thần linh ban cho nhân dân một

năm mùa màng bội thu vào thời điểm bắt đầu gieo trồng và cảm tạ các vị thần sau khi đạt được ước nguyện này vào thời điểm thu

Trang 10

Nghiên cứu khoa học

hoạch, tương ứng với hai mùa xuân — thu’ va

sự khác biệt về điều kiện thời tiết, một bên

ôn hoà, đễ chịu với cảnh vật thiên nhiên tươi

đẹp, thích hợp cho việc sáng tác tho ca (mia

xuân — thu) và một bên khắc nghiệt với cảnh

vật tôn tại trong trạng thái tàn tạ, tiêu điều,

khiến cơ thể con người nảy sinh cảm giác

mệt mỏi, khó chịu (mùa hạ - đông)” Như

vậy, 265 thi phẩm có liên quan đến bốn mùa

của các nữ thỉ nhân trong hai bộ thi tuyển đã

phản ánh khá rõ nét bối cảnh xã hội, truyền

thống văn hóa và đặc biệt là quan niệm về

mùa khá tương đồng của người Trung Quốc

và người Nhật Bản thời cổ đại Hơn thế,

những tác phẩm này cũng chứa đựng giá trị

cao về mặt nghệ thuật khi thi nhân đã vận

dụng một cách hiệu quả các hình tượng thời

gian theo những cách thức khá đa dạng để

khắc hoạ sâu sắc hơn cảm xúc, tâm tình của

mình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1, GK, GMETIERE BH) , hE

Aww, Ike, 2007 2£ (Trần Di Hân,

Tăng ñính chú thích Toàn Đường thí, Nxb Văn

hóa nghệ thuật, Bắc Kinh, 2007)

2 3#£f, “WfiiWfil'PMISđ®”, (Xx

ey) ?#ổ 11 #H, 2011 ?£: 112-113 (Tô

lAiT#&, I7Z##@O©#fñll: E@##*tbkL

TC) ƒZxzU^4##£x#HxXk#Wiff6#] 2,

1994%: 18, (rie Megumi, “Quan niệm về mùa

trong Manyoshu: Lấy mùa hạ làm trung tâm”, Ky yếu

Khoa Văn học Nhật Bản Trường Đại học nữ sinh Ferris,

4: tr 17-29)

Sande Tepid BABGICISUT BAREK RA -BK

1982: 7 (Matsuura Tomohisa, “Mia xuan —

mùa thụ và mùa hạ - mùa đông trong thơ ca cỗ điển Trung

Quốc — Bản ghí nhớ về ý thức thời gian trong thơ ca”, Tập

san Tho văn Trung Quốc, số 1, 1982: tr T)

Xuân Miêu, “Bàn về biểu tượng tuyết trong cỗ thi”, Giáo đục văn học, số 11, 2011: tr 112-1 13)

cE HRKORMRRMICMT SRAB-)

[f†fifixfa#l 1, 19824: 1-14,

(Matsuura Tomohisa, “Mùa xuân — mùa thu và mùa hạ - mùa đông trong thơ ca cổ điển Trung Quốc — Bản ghi nhớ về ý thức thời gian trong thơ ca”, Tập san Thơ văn Trung Quốc, số 1, 1982; tr 1-14)

‡tàmflEfu] 8, 20 114: 29-4

6 (Nishio Rie, “Quan niém vé momiji Nhật Bản nhìn từ các tác phẩm Quốc văn và quá trình hình thành của nó”, Kỷ yếu tập bài giảng Lich

sử - Văn học — Xã hội, số 8, 2011: tr 29-46)

Michio, “Tuyét trong Manyoshu”, Van hoc cé đại, số 7, 1956: tr 35-46)

Rit RR 19 8 7 4, (Nakanishi

Susumu, Manyoshu: Nguyên văn, phiên dịch và chú thích, Nxb Kodansha, Tokyo, 1987)

KERB] 2 19944:17-29, (Irie Megumi, “Quan niệm về mùa trong Manyoshu: LÂy mùa hạ làm trung tâm”, Kỳ yếu Khoa Văn học Nhật Bản Trường Đại học nữ sinh Ferris, s6 2, 1994: tr 17-29)

NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC đ, SỐ 10(200110-2017 65

Ngày đăng: 03/11/2022, 08:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w